Danh mục bài viết

Cập nhật 27/6/2019 - 15:2 - Lượt xem 3419

Các bài Suy niệm Lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu năm C

Lời Chúa: Ed 34, 11-16; Rm 5,5b-11; Lc 15,3-7

 

1. Mừng rỡ vác lên vai _ Lm Ant. Nguyễn Cao Siêu, SJ

Dụ ngôn về con chiên bị lạc mất được đọc trong lễ Thánh Tâm. 
Đức Giêsu nói dụ ngôn đơn sơ này 
vì thấy những người Pharisêu và các kinh sư khó chịu 
khi Ngài đón tiếp các tội nhân và hồn nhiên ăn uống với họ. 
Ngài không xa lánh họ vì họ dám đến gần Người để nghe (Lc 15, 1-2). 
Từ nơi Đức Giêsu toát ra một sự hấp dẫn những ai bị xã hội loại trừ. 
Họ biết mình được Ngài yêu thương đón nhận. 
Họ biết mình có chỗ trong trái tim nhân hậu của Ngài. 
Dụ ngôn con chiên bị mất là dụ ngôn về một trái tim. 
Trái tim nhói đau của người có đàn chiên một trăm con, và mất một. 
Anh không coi nhẹ sự mất mát này, vì anh quý từng con chiên. 
Con chiên bị lạc mất làm anh nặng lòng, không yên, 
dù một con trong đàn chiên trăm con có thể chẳng là gì cả. 
Trái tim nhói đau cũng là trái tim tìm kiếm. 
Để tìm kiếm, anh phải để lại chín mươi chín con kia trong hoang địa. 
Có thể anh phải gửi đàn chiên mình cho người bạn chăn nuôi. 
Lòng của anh bây giờ tập trung hoàn toàn vào con chiên lạc mất, 
đến độ có vẻ như anh bỏ rơi những con còn lại. 
Ta chẳng rõ anh đi tìm ở những nơi nào và bao lâu. 
Hẳn anh đã đến mọi nơi mà con chiên này có thể ẩn nấp. 
Điều chắc chắn là anh đã muốn tìm nó cho kỳ được (c. 4). 
Anh không muốn bỏ dở nửa chừng cuộc tìm kiếm vất vả này. 
Trái tim âu lo tìm kiếm cũng là trái tim nhảy mừng khi tìm thấy. 
Thấy bóng dáng con chiên lạc từ một hố sâu, 
hay nghe tiếng kêu quen thuộc của nó từ bụi rậm, 
điều đó làm anh quên hết mọi nhọc nhằn. 
Niềm vui rộn lên trong lòng anh. 
Cách anh biểu hiện niềm vui là vác con chiên tìm thấy trên vai, 
và để nó ngang đầu mình, mặt mình. 
Có thể anh không muốn dắt nó đi vì anh sợ nó mệt, 
hay vì anh không muốn mất nó một lần nữa. 
Trái tim nhảy mừng cũng là trái tim muốn chia sẻ niềm vui. 
Khi về nhà, anh đã mời bạn bè, hàng xóm lại và nói với họ: 
“Hãy chung vui với tôi, vì tôi đã tìm thấy con chiên bị mất” (c. 6). 
Niềm vui lớn quá nên không thể giữ riêng trong lòng mình được. 
Niềm vui đòi nói ra, đòi chia sẻ để được nhân lên. 
Trái tim của Đức Giêsu là trái tim của người chăn chiên, 
buồn khi mất chiên, vất vả đi tìm và nhảy mừng khi tìm thấy. 
Khi ngồi ăn với những tội nhân trên đường hoán cải, 
Đức Giêsu nếm trải niềm vui tột độ của người tìm được chiên. 
Tiếc thay những người Pharisêu không muốn chung vui với Ngài. 
Họ không hiểu được niềm vui của cả thiên đàng khi một tội nhân hoán cải. 
Đơn giản vì Thiên Chúa quý từng người và không muốn mất một ai. 
Chỉ mong mỗi linh mục có trái tim của Giêsu, người mục tử nhân hậu. 

Lạy Chúa, 
xin cho con quả tim của Chúa. 
Xin cho con đừng khép lại trên chính mình, 
nhưng xin cho quả tim con quảng đại như Chúa 
vươn lên cao, vượt mọi tình cảm tầm thường 
để mặc lấy tâm tình bao dung tha thứ. 
Xin cho con vượt qua mọi hờn oán nhỏ nhen, 
mọi trả thù ti tiện. 
Xin cho con cứ luôn bình an, trong sáng, 
không một biến cố nào làm xáo trộn, 
không một đam mê nào khuấy động hồn con. 
Xin cho con đừng quá vui khi thành công, 
cũng đừng quá bối rối khi gặp lời chỉ trích. 
Xin cho quả tim con đủ lớn 
để yêu người con không ưa. 
Xin cho vòng tay con luôn rộng mở 
để có thể ôm cả những người thù ghét con. 

 

 

2. Tình yêu linh thánh _ Lm G.B Trần Văn Hào, SDB

“Hãy học cùng ta, vì ta dịu hiền và khiêm nhường trong lòng (Mt 11,29b)

Từ nguyên thủy, trước khi có thời gian và thế giới tạo thành, Thiên Chúa đã hiện hữu, và duy nhất chỉ có mình Ngài. Tình yêu Thiên Chúa cũng đã có từ đời đời, ngày hôm nay và cho đến mãi mãi, và cũng chỉ duy có tình yêu của Ngài hiện hữu mà thôi. Chúng ta là tạo vật, là người thụ lãnh và truyền tải tình yêu Chúa cho tha nhân. Nhưng chúng ta chỉ có thể thông truyền, bao lâu chúng ta biết đón nhận tình yêu đến từ Thiên Chúa. Để diễn bày tình yêu, Thiên Chúa đã sai Con một Ngài đến trần gian. “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta (Ga 1,14). Đức Giêsu chính là hiện thân của tình yêu Thiên Chúa dành cho con người. Chỉ nhờ Người, và trong Người, chúng ta mới có thể đáp trả tình yêu linh thánh ấy.

Đức Giêsu là con Thiên Chúa, là ngôi vị thần linh trong Ba Ngôi. Đồng thời, Ngài đã mang thân phận con người, sinh ra làm con Đức Maria, sống kiếp người như chúng ta ngoại trừ tội lỗi. Ngài chính là ‘Lời’ mà Thiên Chúa ngỏ trao cho chúng ta. Ngài nói như một Thiên Chúa quyền năng, nhưng lại sử dụng ngôn ngữ của loài người. Ngài đã ngỏ lời bằng những ngôn từ giản đơn của những cư dân bình thường giống chúng ta. Ngài sử dụng những hình ảnh đời thường rất dung dị để diễn bày những chân lý cao siêu về mầu nhiệm nước trời. Từ những cánh chim trên bầu trời cao xanh, những bông hoa ngoài đồng nội, những hạt giống được gieo vãi, những cây nho xum xuê trĩu quả.. Khi muốn truyền đạt những sứ điệp quan trọng cho các học trò và đám đông, Ngài vay mươn những hình ảnh rất mộc mạc và dung dị, ví dụ: “Anh em là muối ướp mặn cho đời, anh em là đèn sáng đặt trên đế cao...” Đặc biệt, khi muốn khải thị về mầu nhiệm tình yêu Thiên Chúa dành cho con người, Ngài dùng hình tượng một trái tim nhân loại như một hình mẫu. Chúa nói: “Hãy học nơi ta, vì ta có một con tim hiền dịu và khiêm hạ. Anh em sẽ tìm được sự nghỉ ngơi và an bình”.

Những người đương thời của Đức Giêsu hiểu được những gì Ngài nói, đặc biệt nơi hình ảnh một trái tim yêu thương, một trái tim hiền dịu và khiêm tốn. Đó là một con tim nhân loại đã từng rung động trước cái chết của một thanh niên, con trai bà góa thành Naim, đã từng thổn thức và rơi lệ trước ngôi mộ của một người bạn thân, nhưng đồng thời cũng là một trái tim mang chở cả một bầu trời yêu thương cho đến vô tận. Hiểu được điều ấy, những chàng ngư phủ Galilê cho dù dốt nát và quê mùa nhưng đã dám bỏ lại tất cả, thuyền và lưới, cha mẹ và vợ con, để đi theo chúa. Các tiến sĩ luật thông thái đã ngồi lặng yên chăm chú để lắng nghe. Ngay cả một anh thu thuế oai vệ trước một núi tiền, đã dám quẳng lại tất cả để bước theo Ngài. Đám đông sau khi lắng nghe Ngài giảng đã quên đi tất cả mệt nhọc, gác lại những cơn đói cồn cào ruột gan, và bù lại, Đức Giêsu đã hóa bánh và cá ra nhiều để cho họ ăn. Những người đau yếu cố sức chen lấn để được sờ chạm đến Ngài, bởi vì tất cả những ai đến với Ngài đều có thể trải nghiệm sự bình an trong tâm hồn.

Ngày nay hơn bao giờ hết, chúng ta rất cần phải hướng về tình yêu cao cả và tuyệt vời ấy. Chúng ta đang sống trong một thế giới quá ồn ào, ồn ào vì những thông tin hổ lốn tràn ngập trên mạng của thời đại kỹ thuật số, ồn ào vì quá nhiều những tiếng động ầm ĩ của giết chóc và bạo lực, và nhất là ồn ào vì những tiếng xào xạc của tiền bạc kéo lôi con người vào một lối sống ích kỷ và hưởng thụ. Chúng ta cần sự tĩnh lặng và nghỉ ngơi. “Hãy học với Ta, vì Ta có một con tim hiền dịu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi an bình.” Trái tim Đức Giêsu chính là chân trời rộng mở của tình yêu, một tình yêu sâu xa và cao cả nhất mà Thiên Chúa đã hiến trao cho nhân loại.

Hai ngàn năm trước, Đức Giêsu đã đến trần gian không phải để sáng lập một tôn giáo như nhiều người vẫn nghĩ tưởng. Ngài cũng không đến nhằm quảng bá một học thuyết hay cổ súy một chủ nghĩa. Ngài đến chỉ với một mục đích và một sứ mạng duy nhất mà Chúa Cha đã trao phó, đó là công bố cho nhân loại một Tin mừng : Thiên Chúa yêu thương loài người chúng ta. Cái chết của Đức Giêsu trên Thập giá là cách diễn bày tình yêu Thiên Chúa một cách tròn đầy và hoàn hảo nhất. Trong cuộc sống tại thế, Đức Giêsu đã thiết lập một ngôi trường, có tên gọi là ‘Mái trường tình yêu’. Ngài đã quy tập những người học trò để truyền đạt một môn học duy nhất, cũng chính là môn học về tình yêu. Ngài nhắc đi nhắc lại “ Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy yêu thương anh em. Cứ dấu này mọi người nhận biết anh em là môn sinh của Thầy, là anh em hãy yêu thương nhau”. Tình yêu ấy được phác vẽ nơi Trái tim của Ngài, một trái tim bị đâm thâu trên Thập giá, tuôn chảy cho đến giọt nước và giọt máu cuối cùng để trao ban đến vô tận. Trong bữa tiệc ly, môn đệ Gioan đã tựa đầu vào ngực Chúa để lắng nghe từng nhịp đập nơi trái tim yêu thương của vị tôn sư khả kính. Cũng dưới chân Thập giá khi đứng bên Đức Maria, Gioan đã chứng kiến trái tim Chúa mở toang khi bị người lính đâm thủng, để ông có thể chiêm ngắm một dòng suối yêu thương tuôn chảy cho đến bất tận. Vì thế, trong sách Tin Mừng thứ tư và trong cả ba lá thơ Gioan để lại, hầu như Ngài chỉ nói về một chủ đề duy nhất : Tình yêu.

Thiên Chúa yêu thương từng mỗi con người chúng ta không loại trừ ai, cho dù người đó hiện như thế nào. Một đứa con đi hoang vẫn được vòng tay yêu thương của cha ôm đón khi nó trở về. Một cô gái điếm vẫn có thể bình lặng ngồi bên chân Chúa để được Ngài đưa dẫn vào thế giới ngập tràn yêu thương. Thậm chí một tên cướp khét tiếng với quá khứ đan kín tội ác, vẫn có thể là một vị đại thánh, được Đức Giêsu mở cửa Thiên đàng trực tiếp đưa đón vào. Tình yêu Thiên Chúa luôn là một mầu nhiệm khó hiểu, và dường như không thể hiểu nổi đối với đầu óc con người.

Con người ngày hôm nay dễ bị chết vì đột quỵ gây nên bởi suy tim. Con tim bị suy yếu do căng thẳng, do sợ hãi, do chán chường hay tuyệt vọng. Nơi mỗi người chúng ta đều có một quả tim dễ mang những mầm bệnh chết người như thế. Đây là những căn bệnh thể lý, nhưng có những căn bệnh của tâm hồn còn nguy hiểm hơn rất nhiều. Nếu chúng ta sống với một trái tim bế tắc trong cô đơn hay tuyệt vọng, nếu chúng ta mang chở nơi mình một trái tim nhét đầy dao găm và lưu đạn của oán thù, một trái tim rỗng tuếch sự cảm thương nhưng lại nhét đầy tiền bạc của tham lam và ích kỷ, chúng ta sẽ chết với một quả tim như thế. Chúng ta sẽ ngã xuống không phải vì heart-attack, vì đột quỵ hay suy tim, nhưng sẽ chết trong vũng bùn nhớp nhúa của tội lỗi.

Để tinh luyện con tim mình, chúng ta hãy nhìn lên Thập giá Đức Giêsu, chiêm ngắm trái tim của Đấng bị đâm thâu để học nơi Ngài bài học căn bản nhất như Ngài đã nói : “Anh em hãy học nơi tôi, vì tôi có một trái tim hiền dịu và khiêm hạ”. Chúng ta phải học, học mãi, và ngồi học nơi ngôi trường này, chúng ta sẽ chẳng bao giờ có thể tốt nghiệp.   

 

 

3. Chúng ta được giải hòa với Thiên Chúa nhờ Máu của Chúa Giêsu _ Ðức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm

Ngay khi Chúa Giêsu đang còn ở trên thánh giá, người môn đệ Chúa yêu, tức là người tín hữu lý tưởng, đã đứng mà chiêm ngưỡng cạnh sườn Chúa đã mở ra. Nước và Máu chảy ra từ vết thương cạnh sườn ấy đã khiến người môn đệ ấy thấy rằng Chúa đang yêu thương nhân loại. Người đổ máu hy sinh của Người ra để Nước Thánh Thần tẩy rửa tâm hồn các tín hữu và đổi mới đời sống của họ nên thánh thiện và bác ái yêu thương. Từ ngày ấy Hội Thánh không ngừng nhìn lên Ðấng chịu đóng đinh trên thập giá để cảm mến, đón nhận ơn cứu độ của Thiên Chúa.

Nhưng ở thời đại ta, khi thấy thế giới nói nhiều đến tình yêu mà lại để diễn tả ra quá nhiều cảnh thương tâm, Hội Thánh lại thúc giục con cái chăm chú hơn nữa để nhìn vào cạnh sườn Chúa chịu đóng đinh mà học với Người bài học yêu thương cứu thế. Lễ Thánh Tâm hôm nay có mục đích ấy. Và Phụng vụ muốn dùng các bài đọc để giúp chúng ta hiểu về tình yêu vô cùng của Chúa mà uốn nắn lại trái tim của mình.

1/ Lòng Chúa thương dân

Bài sách Êzêkien là một mạc khải đặc biệt. Nó nói với lòng con người chứ không luận lý với sự khôn ngoan của thế gian.

Dân Chúa bấy giờ đang ở trong hoàn cảnh tuyệt vọng. Nhìn lại quá khứ, con cái Israel cảm thấy ê chề. Từ ngày Chúa ra tay hùng mạnh cứu dân ra khỏi Ai Cập, Người không ngớt tỏ lòng thương yêu khiến các dân tộc chung quanh đều phải kinh ngạc. Không những con cái Israel đi đến đâu, các bộ lạc trên đường đều phải giãn ra hai bên để cho họ tiến vào Hứa địa. Rồi không dân tộc nào có Chúa ở gần như con cái Môsê: Họ có luật pháp cao cả khác thường. Thêm vào đó, họ không ngừng được các tiên tri đến dạy dỗ, và sự khôn ngoan của Salomon đã trở thành bia miệng giữa các dân tộc.

Thế mà Israel đã phí phạm ơn Chúa. Họ đã bỏ nguồn suối trong sạch để đi tìm những giếng nước khô cạn. Họ bỏ Thiên Chúa để đi thờ tà thần. Mà đầu mối sự dữ là vua quan cai trị dân và hàng tư tế. Nói theo kiểu thời bấy giờ, họ được làm mục tử để chăn dắt chiên; nhưng thay vì săn sóc dưỡng nuôi, họ đã đánh đập và bỏ mặc chiên bơ vơ, gầy đói. Bấy giờ dân như chiên bị giải tán và xiêu lạc khắp nơi. Người ta dẫn họ đi đày, mỗi nơi một ít.

Ða số dân chúng đã chán nản và tuyệt vọng. Một số người có lòng yêu luật pháp và quê hương lại chỉ có ý nghĩ rất trần tục. Họ nghĩ rằng chỉ có một Môsê mới, một lãnh tụ mới, mới có thể gỡ dân ra khỏi cảnh huống lầm than bi đát này. Họ chờ một biến động chính trị, một mặt tướng oai phong. Họ không ngờ Thiên Chúa lại nghĩ khác. Người sai Êzêkien đến. Và nhà tiên tri không nói giọng chính trị quân sự. Ông tuyên bố lời Chúa, những lời chỉ đầy tình thương.

Chính Chúa sẽ đến làm mục tử cho dân. Người không khiến bọn đầu mục làm việc nữa. Người đưa chiên lưu lạc của Người từ khắp nơi về núi đồi Sion. Dân sẽ có cỏ ngon ở đó... Và đây là cách thức Chúa sẽ săn sóc dân khác với trước kia. Không những Người sẽ đưa cả đàn chiên đến những đồng cỏ xanh tốt tươi và lo cho chúng ăn, chúng ngủ; nhưng lòng yêu thương săn sóc của Người còn dành cho từng con chiên theo yêu cầu của nó. Con nào đi lạc, Người sẽ đưa về. Con nào gẫy cẳng, Người sẽ băng bó; Người cũng chẳng để cho con khỏe bắt nạt con yếu.

Thái độ của Người thật là thái độ của một mục tử tốt. Người sẽ làm y như một mục tử chứ không chỉ ví mình như mục tử. Nói cách khác, Người không đặt người "cai trị" dân nữa, nhưng sẽ chỉ sai đến cho dân những mục tử để chăn dắt chiên của Người. Người muốn ở trong dân Người chỉ có yêu thương: Yêu thương của Người dành cho dân và cho từng Người; và yêu thương của mọi người dành cho nhau. Dân nhìn lên sẽ thấy lòng của một mục tử tốt và nhìn ra chung quanh sẽ thấy không ai bắt nạt ai. Ðó là ý nguyện của Chúa, là chương trình Cứu độ của Người. Chúa đã thực hiện lòng yêu thương đó thế nào, thì chúng ta hãy nhìn nơi Ðức Kitô, Ðấng Người đã sai đến.

2/ Lòng Ðức Kitô đối với chúng ta

Bài Tin Mừng theo thánh Luca hôm nay cho chúng ta thấy thái độ và việc làm của Chúa Giêsu. Ðấng mà Thiên Chúa đã sai đến trần gian để thi hành kế hoạch cứu độ của Người. Rõ ràng Ðức Giêsu đã không muốn đóng vai trò một người đến để cai trị. Người không mảy may tỏ dấu muốn đi vào lãnh vực hoạt động chuyên môn về chính trị và quân sự. Người luôn bày tỏ lòng nhân ái và tình thương với mọi người. Có lần, người ta ngăn cản trẻ em đến với Người vì tưởng Người là người lớn chỉ tiếp xúc với người lớn. Nhiều lần khác người ta lại muốn bịt miệng những kẻ tàn tật ốm đau không cho phép họ được cất tiếng xin Người để ý đến họ. Nhưng lần nào Người cũng có những thái độ lạ thường. Người cho gọi kẻ mù tới đang khi người ta muốn bịt miệng anh. Người sờ vào kẻ phong cùi đang khi mọi người xa tránh anh ta. Người ôm trẻ em vào lòng, chúc phúc cho chúng và bảo người lớn hãy biết rằng Nước Trời dành cho những ai bé nhỏ...

Những thái độ ấy làm cho hàng đầu mục trong dân thất vọng về "viễn tượng cứu thế" của người tự xưng là "được Chúa Cha sai đến". Họ còn bất mãn nữa khi thấy Người để cho phường thu thuế và tội lỗi lui tới và mời mọc ăn uống. Chính lúc ấy Người đã lên tiếng để mở mắt cho họ và nhắc nhở họ nhìn cho đúng kế hoạch cứu thế của Thiên Chúa.

Người kể dụ ngôn về một người có đàn chiên 100 con mà lạc mất một con. Chắc chắn người ấy sẽ đi tìm; và tìm thấy sẽ mừng rỡ đem nó về. Một chuyện hết sức thông thường, tự nhiên. Nhưng cách thức Chúa Giêsu kể chứng tỏ Người có nhiều ẩn ý. Người nói rằng chủ chiên sẽ bỏ 99 con chiên kia nơi hoang vắng để ruổi theo con chiên lạc. Chúng ta đừng bỡ ngỡ về từ ngữ "nơi hoang vắng". Ở thánh địa, đó là nơi chiên gặm cỏ. Người chủ chiên sẽ để yên 99 con kia ở đó để ruổi theo con chiên lạc, chính công việc chạy theo này mới đáng chú ý; vì ở đất thánh ruổi theo như thế là phải chạy trên các núi đồi lởm chởm, gai góc hoặc băng qua những nơi sa mạc nóng bỏng. Những vất vả ấy không làm cho chủ chiên bực mình khó chịu. Ngược lại tìm được chiên lạc, người ấy mừng rỡ, quàng nó trên vai mình mà đem về. Ðiều này đã khởi hứng cho nhiều danh họa vẽ. Người ta ưa vẽ lại cảnh này để diễn tả tình thương chân thật, mặn mà của Chúa.

Nhưng chưa hết, chủ chiên về nhà còn gọi bạn bè hàng xóm mà phân phô: "Bà con hãy chia vui với tôi vì nay tôi đã tìm được con chiên lạc". Thái độ này trong thực tế hơi quá đáng. Có thể người nào, tìm thấy chiên lạc cũng khoe. Nhưng việc xin bà con hãy vui mừng quả là hơi quá. Tuy nhiên Ðức Giêsu đã cố ý dùng một số nét quá đáng này để làm chú ý đến điều Người muốn nói. Người bảo: "Cũng vậy, trên trời sẽ có vui mừng vì một người tội lỗi hối cải hơn là 99 người công chính không cần ăn năn".

Ðiều này chắc chắn sẽ làm cho nhiều người giật mình, nhất là các biệt phái. Họ vẫn tự đắc là công chính và không nghĩ rằng mình phải ăn năn, hối cải. Họ là 99 con chiên không lạc. Còn các tội nhân ăn năn hối cải, như có kẻ trong số thu thuế kia, là con chiên lạc. Họ làm vui lòng Thiên Chúa hơn hạng biệt phái tự coi mình là công chính.

Nhưng đối với chúng ta và theo ý tác giả Luca, bài dụ ngôn này còn có ý nghĩa xa hơn nữa. Rõ ràng nó cho ta thấy Ðức Giêsu đang đi làm công việc của Thiên Chúa. Người là tình thương của Thiên Chúa đang đi ruổi theo con chiên lạc. Trong Êzêkien, Thiên Chúa đã trở thành mục tử, thì đây lòng của Thiên Chúa đang hoạt động nơi con người và công việc của Ðức Giêsu, Thiên Chúa là mục tử ở nơi Người. Người là Thiên Chúa mục tử. Nơi Êzêkien Thiên Chúa hứa sẽ đi tìm chiên lạc về, tức là đưa dân lưu lạc về lại Ðất Hứa. Ở đây Ðức Giêsu đi tìm tội nhân hối cải. Thái độ này đã biến bài sách Êzêkien thành lời tiên tri, không còn nói về những việc trần gian nữa, nhưng phải hiểu về bình diện Nước Trời. Dân Chúa đừng chờ đợi ơn cứu độ trần tục nữa, nhưng hãy mong ước thay đổi lòng dạ để trở nên công chính. Ơn này sẽ làm cho trên trời mừng rỡ, tức là làm cho lòng Thiên Chúa được mãn nguyện.

Do đó lòng Thiên Chúa thương dân và hứa cứu độ dân nơi sách Êzêkien đã trở thành tình thương cứu vớt kẻ tội lỗi nơi thái độ và công việc của Chúa Giêsu. Tác giả Luca đã đọc thấy điều ấy nơi dụ ngôn con chiên lạc. Nhưng thánh Phaolô còn thấy rõ hơn nữa nơi việc Chúa Giêsu chịu chết vì chúng ta. Chúng ta hãy nghe những lời thư của Ngài.

3/ Thánh Thần đã được ban cho ta

Thánh Tông đồ gợi nên cho chúng ta một số tư tưởng cần suy nghĩ: Hồ dễ có ai chết vì một người công chính! Có lẽ vì điều nghĩa có chết cũng cam! Nhưng chết vì tội nhân, thì không thể tưởng tượng được. Thế mà Thiên Chúa đã làm điều ấy cho chúng ta. Bởi lẽ đang khi chúng ta còn là tội nhân, Thiên Chúa đã sai Con của Người đến chịu chết để lấy máu Ngài mà làm cho chúng ta nên công chính.

Êzêkien khi diễn tả lòng Chúa thương dân đã không thể nghĩ đến một chuyện như thế. Và bài dụ ngôn về con chiên lạc trong sách của Luca đã gợi lên lao nhọc của chủ chiên trên đường ruổi theo con chiên tội lỗi, nhưng cũng không và chưa nói đến việc người mục tử tốt thí mạng mình vì chiên. Ở đây thánh Phaolô nói rằng mình đã nhìn thấy Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa đã chịu chết và đổ máu ra vì tội lỗi chúng ta để công chính hóa kẻ có tội.

Ðó là điều không thể tưởng tượng được. Và điều ấy rõ ràng là vì chúng ta, bởi lẽ nhờ đó bây giờ chúng ta được đầy ơn Thánh Thần ở trong lòng. Chúng ta được giải hòa với Thiên Chúa nhờ Máu của Chúa Giêsu. Chúng ta phải thấy lòng thương yêu lạ lùng của Thiên Chúa. Chúng ta phải hiểu trái tim Chúa Giêsu đã yêu thương chúng ta đến mức độ nào?

Và như vậy, chúng ta phải vững vàng nhìn về tương lai. Viễn ảnh ngày lôi đình phán xét của Thiên Chúa cũng không làm chúng ta nao núng vì khi chúng ta còn là tội nhân mà Ðức Kitô còn thương chịu chết cho chúng ta thì huống hồ là bây giờ chúng ta đã được nên công chính, Người lại không thương yêu chúng ta hơn sao? Chắc chắn chúng ta phải kiêu hãnh vì được Thiên Chúa yêu thương như vậy nhờ sự chết cứu độ của Ðức Giêsu Kitô Chúa chúng ta.

Giờ đây, các điều này lại diễn ra trên bàn thờ. Chúa Giêsu lại tự hiến thánh vì chúng ta để chúng ta được thánh hiến. Người dâng sự chết và sống lại của Người cho chúng ta được giao hòa với Thiên Chúa và lãnh được Thánh Thần yêu mến. Chúng ta không phải chỉ là chiên nhưng là con của Người. Chúng ta được đưa vào cung lòng yêu thương của Thiên Chúa, để trong ngày lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu hôm nay chúng ta nhớ lại tình yêu lao khổ của Người vì chúng ta. Chúng ta phải ăn năn, trở về với Ngài. Chúng ta phải thay lòng đổi dạ để trái tim chúng ta nên giống với trái tim của Ngài.

Ðó là trái tim mang đầy tình yêu của Thiên Chúa xuống thế gian, chấp nhận bị đâm thâu để chảy máu ra rửa sạch chúng ta, để gọi chúng ta lạc lõng trở về tình yêu của Ngài, dạy bảo chúng ta hãy sống hòa hợp yêu thương làm nên đàn chiên duy nhất của Người, thực hiện mọi điều Thánh Kinh viết hôm nay. Ước gì được như vậy. Amen!

 

 

 

 

4. Sống Lời Chúa – Lòng Chúa Nhân Từ 

Qua Phúc âm, chúng ta thấy Chúa Giêsu đã giảng dạy cho mọi người và nhất là Ngài đã niềm nở tiếp đón những kẻ thu thuế và tội lỗi, ghé thăm và dùng bữa tại nhà họ. Đó là điều khiến cho bọn biệt phái và luật sĩ, vốn tự hào là những người đạo đức và trung thành tuân giữ lề luật, không thể nào chịu đựng nổi. Họ đã thì thầm bàn tán cùng nhau :

- Nếu ông ta là một vị tiên tri, hẳn phải biết những kẻ ấy là hạng người nào. Hay ông ta chỉ là một kẻ mị dân, một tên quyến rũ, một phường vô lại mà thôi.

Để dạy cho những kẻ đạo đức giả, như bọn biệt phái và luật sĩ, một bài học  về lòng Chúa xót thương, Ngài đã kể cho họ nghe mẩu chuyện về người mục tử nhân lành, lang thang đi tìm con chiên lạc. Và khi đã thấy được, người ấy đã vác nó trên vài mà mang về nhà, rồi loan báo tin vui cho bè bạn. 

Hay mẩu chuyện người đàn bà đốt đèn tìm kiến đồng bạc đánh rơi. Và khi tìm thấy, người ấy đã mời chị em lối xóm đến để chia vui với mình. 

Và nhất là với hình ảnh người cha già mòn mỏi trông chờ đứa con hoang đàng trở về, để rồi sẽ tha thứ tức khắc và tha thứ tất cả cho cậu. 

Từ những mẩu chuyện trên, Chúa Giêsu đã đi tới một kết luận. Và chính kết luận này đã làm cho chúng ta cảm thấy được an ủi, khích lệ và thấm thía : 

- Ta nói thật với các ngươi : các thiên thần ở trên trời sẽ vui mừng hân hoan vì một kẻ tội lỗi sám hối hơn là chín mươi chín người công chính không cần ăn năn. 

Những hình ảnh và những so sánh này đã in đậm dấu ấn trong tâm hồn, giúp chúng ta hiểu được niềm vui khi một kẻ tội lỗi chổi dậy, từ bỏ con đường tăm tối mà trỡ về cùng Chúa, đồng thời thắp lên trong chúng ta ngọn lửa hy vọng, giúp chúng ta hiều được lòng Chúa xót thương đối với những kẻ lầm đường lạc lối. 

Đức Kitô không phải chỉ giảng dạy, mà hơn thế nữa Ngài còn thực hiện những gì mình đã giảng và đã dạy. Nơi Ngài, ngôn hành hợp nhất, lời nói luôn đi đôi với việc làm. 

Thực vậy, Ngài đã cải tạo trái tim của Madalêna, người thiếu phụ tội lỗi. Ngài đã tha thứ và để cho người đàn bà ngoại tình được ra về bình an. Ngài đã làm cho người thiếu phụ Samaria xúc động trước tấm lòng khoan dung. Ngài đã đổi đời cho ông Giakêu, một nhân viên thu thuế, vốn bị người Do Thái đồng hóa với phường tội lỗi. Ngài đã hứa thiên đàng cho tên trộm lành trên thập giá : ngày hôm nay, ngươi sẽ ở nơi vui vẻ cùng Ta. Ngài đã đặt Phêrô làm đầu Giáo hội, dù ông đã chối Ngài ba lần. Nỗi khổ đau của con người thì cùng cực, những tình thương của Chúa lại vô biên.

Trải qua dòng thời gian, biết bao nhiêu người đã đi theo dấu chân của Chúa, không ngừng tím kiếm những con chiên lạc, cũng như tha thứ cho những kẻ tội lỗi. 

Chẳng hạn cha thánh Vianney đã chấp nhận mọi mệt mỏi, ngồi vào tòa giải tội nhiều giờ  mỗi ngày để xoa dịu những tâm hồn tan nát vì tội lỗi. Thánh nhân thường nói : 

- Thật là vui mừng nếu như có được những con cá lớn trong mẻ lưới của tôi.

Những con cá lớn mà Ngài ám chí, đó chính là những kẻ tội lỗi..

Chẳng hạn cha Chevrier đã nói :

- Linh mục là người bị ăn. 

Và rồi cha đã vui vẻ tiếp nhận những thanh thiếu niên lầm lỡ, đã bị xã hội ruồng bỏ, dẫn họ bước vào một cuộc sống tốt lành và đạo đức. 

Gần chúng ta hơn, có những dòng tu, như Dòng Chúa chiên lành ở Vĩnh Long, đã mở rộng cánh cửa tiếp đón và nâng đỡ những chị em đĩ điếm, giúp họ làm lại cuộc đời. Hay như dòng Don Bosco, chuyên môn giáo dục thanh thiếu niên, nhất là những trẻ em bụi đời, để họ tìm thấy hướng đi cho cuộc sống của mình.

Phải chăng đó là những phản ảnh, những tiếng vọng cho tình Chúa xót thương ? Tuy nhiên, chúng ta cần phải tránh đi hai thái độ.

Thái độ thứ nhất đó là cậy trông mù quáng. Những người này chủ trương cứ việc hưởng thụ, cứ việc vui chơi và chỉ cần ăn năn vào một vài giây phút cuối cùng và rồi Chúa sẽ mở rộng cửa thiên đàng đón nhận. Lý luận như thế là một sự xúc phạm, một sự chế nhạo và coi thường lòng thương xót của Chúa. Đây không phải là con đường dẫn tới thiên đàng, mà là con đường dẫn tới hỏa ngục, bởi vì Chúa là Đấng tốt lành và nhân hậu, nhưng đồng thời còn là Đấng công bằng và ngay thẳng vô cùng. 

Thái độ thứ hai đó là mất lòng cậy trông. Dù có sai lỗi và vấp phạm, thì cũng đừng bao giờ tuyệt vọng như Giuđa, bởi vì Chúa nhân từ luôn mở rộng vòng tay chờ đón. Ngài đã lên đường tìm kiếm chúng ta, những con chiên lạc. Ngài đứng ngoài cửa và gõ. Còn mở hay không, thì đó là việc của mỗi người chúng ta. 

Hãy trỗi dậy và trở về để được hưởng nhờ lòng thương xót và ơn tha thứ của Chúa.  

      

 

5. Mục Tử

Mừng lễ Thánh Tâm hôm nay, Giáo Hội muốn con cái mình chiêm ngắm, suy niệm về tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta, và để theo chân Đức Kitô, ta cũng dám sống, và nếu cần, dám chết vì tình yêu đó. 

Lòng Chúa yêu thương loài người

Hình ảnh mà Êzêchiel và nhiều ngôn sứ khác đã phác họa là hình ảnh một mục tử lặn lội đi tìm chiên không quản ngại đường xa vạn dặm, khó khăn khôn lường. Chính Đức Giêsu cũng đã nhiều lần khẳng định lại chân lý ấy : Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta trước khi có chúng ta, và đã cứu độ chúng ta trước khi chúng ta trở về, nghĩa là khi chúng ta còn ở trong sự tội và bất tín. Thái độ lên đường tìm kiếm con chiên lạc của dụ ngôn hôm nay là một minh họa sống động cho chân lý ấy. Quả thật, Thiên Chúa yêu thương chúng ta không phải vì chúng ta tốt, hay vì một công trạng nào. Ngài không đòi hỏi chúng ta phải tốt  Ngài mới yêu thương, mà Ngài yêu thương ngay khi chúng ta còn là tội nhân. Ngài yêu thương chúng ta chỉ vì Ngài là tình yêu, chỉ vì Ngài tốt lành. Quả thật, tình yêu của Ngài là tình yêu vô điều kiện và hoàn toàn vô vị lợi, hoàn toàn nhằm hạnh phúc của người được yêu. Chỉ một mình Thiên Chúa có được thứ tình yêu cao cả như vậy. Tác giả sách “Đường hy vọng” đã có lý khi viết : “Tình yêu nhân loại giới hạn một nhóm người – Tình yêu nhân loại đáp trả sau – Tình yêu Thiên Chúa tình nguyện bước trước ; Tình yêu nhân loại kéo riêng về mình – Tình yêu Thiên Chúa hợp nhất muôn người ; Tình yêu nhân loại chỉ động đến con người – Tình yêu Thiên Chúa làm biến đổi và cải hóa con người”. 

Trải qua 2000 năm của biến cố Nhập Thể, Chúa Giêsu đã cho con người thấy được mức độ của cuộc so sánh tình yêu thương đó chính là không cột mốc biên cương, không kỳ thị chủng tộc màu da, ngôn ngữ hay giai cấp. Tình yêu ấy là tình yêu của Thiên Chúa tự nguyện tặng ban cho nhân loại chính Con Một của mình, tình yêu của con Thiên Chúa hiến thân, Tình yêu là cho loài người trở thành con Thiên Chúa và làm anh em của Đấng cứu Thế. Tình yêu đó chính là nguồn gốc của sự sống và mục đích duy nhất mà con người phải nhắm đạt tới. 

Quả thật, thái độ của Người là thái độ của một mục tử tốt. Người làm y như một mục tử chứ không ví mình như mục tử. Người muốn trong dân người chỉ có yêu thương : yêu thương của Người dành cho dân và cho từng người ; và yêu thương của mọi người dành cho nhau. Đó là ý nguyện của Chúa, là chương trình cứu độ của Người. Chúa đã thực hiện lòng yêu thương đó thế nào, chúng ta hãy nhìn nơi Đức Kitô, Đấng Người đã sai đến. 

Tình thương biểu lộ nơi lòng Đức Kitô

Trong bài Tin Mừng, Chúa Giêsu đã ví Ngài như người Mục Tử Nhân Lành, đã bỏ 99 con chiên ở lại để đi tìm một con chiên lạc. Và khi đã tìm thấy thì quên hết những nỗi vất vả cực nhọc do con chiên lạc gây ra cho mình, không trách mắng cũng không đánh đập, không cho là con chiên lạc lầm lỗi, trái lại đã vui vẻ vác chiên lên vai đưa về tận nhà. Về tới nhà, người ấy còn mời mọi người cùng chia sẻ niềm vui với ông nữa. 

Hình ảnh người Mục tử Nhân Lành đã diễn tả tình yêu thương sống động và cụ thể của Chúa Giêsu. Tình yêu thương ấy có khi khó hiểu và khó chấp nhận đối với chúng ta cũng như với nhóm Biệt Phái ngày xưa. Bởi vì chúng ta thường ích kỷ, hẹp hòi, bủn xỉn… chính những người Biệt Phái xưa cũng đã từng phiền trách khi thấy Chúa Giêsu đón tiếp và cũng ăn uống với những người tội lỗi vì yêu thương họ? Quả thật, Ngài đã khẳng định một cách không thể  hiểu khác hơn được : “Chỉ có bệnh nhân mới cần thầy thuốc” mà ở đây Chúa là thầy Thuốc, là Lương Y Từ Mẫu…mà các bệnh nhân đang mong đợi. Hơn nữa, Chúa Giêsu đã xác định mục tiêu Ngài theo đuổi trong cuộc sống : “Con Người đến để tìm và cứu những gì đã hư mất”. Ngài không đến để xét xử luận phạt, nhưng là để cứu độ, để “cho họ được sống và sống dồi dào. 

Trong dụ ngôn “người cha nhân hậu”, thái độ của người anh cả cũng hẹp hòi, bủn xỉn trước tình thương của người cha nhân lành. Anh ta không chấp nhận cho cha yêu thương đứa em đã có một quá khứ xấu xa, tội lỗi… không chấp nhận cho nó làm lại cuộc đời. Thái độ đó không phù hợp với Tin Mừng, với Trái Tim Chúa Giêsu, người Mục Tử Nhân Lành. Từ chỗ không hiểu tình thương của Chúa đối với người khác, chúng ta cũng có thể không hiểu tình thương của Chúa đối với chính mình. Đó quả là một điều tai hại ! không hiểu thì không biết cám ơn và không biết đáp trả tình yêu của Chúa. 

Tình yêu đáp trả tình yêu

Chỉ một mình Thiên Chúa của Kitô giáo có được thứ tình yêu cao cả như vậy. Chính vì thế mà đạo Công giáo được mệnh danh là Đạo Tình Yêu thương trong cuộc sống, thì người đó đánh mất chân tính của mình. Vì chưng, Chúa Giêsu đã không chỉ bộc lộ tình Thương nhân hậu của Cha, mà Ngài còn mời gọi chúng ta : “ Anh em hãy có lòng thương xót như Cha anh em là Đấng thương xót”, và còn đưa ra cho chúng ta một quy luật sống cụ thể : “Anh em phải yêu thương kẻ thù và làm ơn cho kẻ oán ghét mình phải chúc lành cho kẻ nguyền rủa mình và cầu nguyện cho kẻ nhục mạ mình”.

Trong cuộc sống, theo tâm lý chung thường chúng ta hay tự đặt mình vào tư thế quan tòa để xét xử, kết án người khác. Tục ngữ đã có câu 

Chân mình những lấm bết bê,

Lại cầm bó đuốc mà rê chân người.

Quả thật, nếu chúng ta tự cho mình là công chính, từ đó tách biệt mình khỏi đám người tội lỗi, là vô tình chúng ta đã tự loại mình ra khỏi tình yêu thương của Thiên Chúa. Chúa Kitô đã yêu thương chúng ta với tất cả con tim cuả một Thiên Chúa làm người. Ngài luôn cảm thông tha thứ mọi yếu hèn cuả con người. Ngài đồng bàn với người tội lỗi, thể hiện tình bạn với họ. Nhưng chỉ có một thái độ Ngài không thể dung tha, đó là thái độ của những người tự cho mình là thánh thiện để rồi tẩy chay và kết án người khác. Chúa Giêsu không chấp nhận thái độ như thế, vì đó là tước quyền Thiên Chúa : “chỉ có một mình Ngài mới có quyền xét xử”. Vì thế, chúng ta cần khiêm tốn và tin tưởng đến với Ngài, hãy lắng nghe lời Ngài. Đừng bao giờ tìm cách che đậy tội lỗi để tỏ ra khỏi cần đến Ngài, đó là tự lừa dối mình một cách nguy hiểm. Hơn nữa, chúng ta hãy sẵn sàng cộng tác với Chúa cách tìm đến với những người đã trót lầm lỗi, những người đang lạc đường , đang bơ vơ không có định hướng… để giúp đỡ họ , khích lệ họ, nói với họ một lời an ủi, dâng tăng họ một nụ cười tin yêu, đem đến cho họ niềm tin vào lòng thương xót của Chúa, giúp họ thực tâm hối cải.

Giờ đây, tiếp tục bước vào cử hành phụng vụ Thánh Thể, là hiện tại hóa sự chết của Đức Kitô, là biểu hiện tình thương tuyệt vời của Thiên Chúa đã dành cho chúng ta, chúng ta hãy nhờ Đức Kitô để ca tụng và cảm tạ Chúa Cha, cảm phục tin tưởng xin ơn tha thứ cho chính mình và toàn thể nhân loại, xin ơn sám hối cho các tội nhân. Amen. 

      

 

6. Tình Yêu của Người Mục Tử 

Trong đời sống thường ngày, có lẽ không có gì gần gũi, thiết thân với chúng ta hơn là tình yêu. Người ta có thể ăn đói, mặc rách, có thể chịu nhiều nỗi khó khăn trong cuộc sống của thân xác, nhưng khó có thể có được bình an, và niềm vui nếu như không có tình yêu. Tình yêu là một cái gì gắn chặt với đời sống con người. Khuôn mặt của tình yêu cũng thật là phong phú: đó có thể là tình mẫu tử, tình huynh đệ, hay là tình yêu nam nữ... Nhưng cho dù dưới hình dáng nào đi chăng nữa, thì tình yêu vẫn luôn có một vẻ quyến rũ đặc biệt khiến cho chúng ta không thể rời xa nó. 

Sở dĩ con người luôn gắn bó với tình yêu như thế, phải chăng bởi vì con người đã được dựng nên giống hình ảnh của Thiên Chúa, Đấng là khởi nguồn của mọi tình yêu ? Hay nói như Thánh Gio-an: “Thiên Chúa là Tình yêu” ( 1 Ga 4, 8 ). Tình Yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta thật là vô bờ bến, vượt hơn cả tình thương của cha mẹ đối với con cái, như lời Ngài phán qua miệng Ngôn Sứ I-sai-a: “Có phụ nữ nào quên được đứa con thơ của mình, hay chẳng thương đứa con mình đã mang nặng, đẻ đau? Cho dù nó có quên đi chăng nữa, thì Ta, Ta cũng chẳng quên ngươi bao giờ... Ta đã khắc ghi ngươi trong lòng bàn tay Ta” ( Is 49, 15 – 16a ). Còn Thánh Phao-lô thì nói: “Đức Ki-tô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi”, và thánh nhân kết luận: “Đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta” ( Rm 5, 8 ).

Nói đến tình yêu, chúng ta không thể không nhắc đến trái tim, một biểu tượng hữu hình của tình yêu. Và để bày tỏ lòng tri ân của mình đối với tình yêu bao la của Thiên Chúa, Giáo Hội đã dành riêng ngày hôm nay để mừng kính Thánh Tâm Chúa, Thánh Tâm đã bị đâm thâu vì yêu chúng ta ( x. Ga 19, 34 ). Tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta thật bao la và sâu thẳm, không thể nào nói cho hết. Tuy nhiên, dựa vào lời Chúa hôm nay, chúng ta cũng phần nào hiểu được tình yêu của Thiên Chúa dành cho chúng ta qua hình ảnh người Mục Tử Nhân Lành trong Thánh Kinh. 

TÌNH YÊU CỦA NGƯỜI MỤC TỬ:

Trở lại với bối cảnh của bài đọc một, chúng ta thấy rằng lúc bấy giờ dân Do Thái đang đứng trước nguy cơ của cảnh nước mất, nhà tan. Các vua chúa và cả hàng đầu mục trong dân đã đi vào con đường sa đoạ, chạy theo các tà thần. Họ không còn để ý gì đến việc chăm sóc cho đoàn dân mà họ được giao phó. Những người này chỉ nghĩ đến việc vơ vét, bóc lột cho thật nhiều mà không hề nghĩ đến đời sống cực khổ của dân chúng. Mặt khác, viễn ảnh ngoại xâm đang gần kề. Việc lưu đày, bị phân tán đi khắp nơi là điều không thể tránh khỏi. Toàn dân như đang sống trong cảnh tuyệt vọng. Họ chẳng còn biết bám víu vào đâu. Những chuyện kể xưa kia về việc Thiên Chúa ra tay hùng mạnh dẫn đưa họ từ Ai Cập trở về, dẹp tan các dân tộc cản lối đi của họ như đã bị chìm vào quên lãng. 

Chính lúc đó, Ngôn Sứ Ê-giê-ki-en đã được Thiên Chúa sai đến loan báo về một thời đại mới. Trong thời đại mới này, chính Thiên Chúa sẽ là mục tử chăn dắt dân của Người. Người sẽ dẫn đưa những con chiên bị phân tán trở về. Người sẽ bảo vệ và giải thoát họ khỏi bàn tay áp bức của kẻ thù đang đè nặng trên họ. Ngài nói: “Này chính Ta săn sóc đoàn chiên của Ta và Ta sẽ kiểm soát chúng... Ta sẽ giải thoát chúng khỏi mọi nơi mà chúng đã bị phân tán. Ta sẽ dẫn chúng ra khỏi các dân tộc, Ta sẽ tụ họp chúng từ khắp măt đất, và đưa chúng vào đất của chúng”. 

Không chỉ là tụ họp dân lại, Thiên Chúa còn lo cho đoàn chiên của Ngài từng miếng ăn, thức uống, như lời Ngài phán: “Ta sẽ thả chúng ăn trên những đồng cỏ màu mỡ,... chúng sẽ nghỉ ngơi trong những đồng cỏ xanh tươi, và chúng ăn trong đồng cỏ màu mỡ trên miền núi Ít-ra-en”. Cảm nghiệm được sự ân cần chăm nom của Thiên Chúa đối với cuộc sống mỗi ngày của mình, đặc biệt là giữa những lúc khó khăn nhất, Vua Đa-vít đã cất tiếng ngợi ca: “Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi, trên đồng cỏ xanh rì, Người thả tôi nằm nghỉ. Tới nguồn nước, chỗ nghỉ ngơi, Người hướng dẫn tôi, tâm hồn tôi Người lo bồi dưỡng...” Và rồi trong vòng tay yêu thương chăm sóc của Thiên Chúa, Vua Đa-vít tin tưởng khẳng định: “Dù bước đi trong thung lũng tối, tôi không lo mắc nạn, vì Chúa ở cùng tôi... Chúa dọn ra cho tôi mâm cỗ, ngay trước mặt những kẻ đối phương”. 

MỤC TỬ GIÊ-SU:

Người mục tử mà Ngôn Sứ Ê-giê-ki-en và Vua Đa-vít tiên báo không ai khác hơn là chính Đức Giê-su. Ngài chính là vị Mục Tử Nhân Hậu mà Thiên Chúa đã hứa ban cho dân. Không chỉ chăm sóc, bảo vệ, tình yêu của Đức Giê-su đối với chúng ta còn lên đến tột đỉnh khi Ngài hiến mạng sống mình cho chúng ta, như lời Thánh Phao-lô trong bài đọc thứ hai: “Thiên Chúa chứng tỏ tình yêu của Người đối với chúng ta, nghĩa là trong lúc chúng ta còn là tội nhân, thì theo kỳ hẹn, Chúa Ki-tô đã chết vì chúng ta”. Đức Ki-tô đã chết cho chúng ta ngay khi chúng ta còn là tội nhân, nghĩa là Ngài đã hy sinh cho chúng ta ngay lúc chúng ta đang còn là thù địch với Ngài, đang còn chống đối Ngài. Nhưng vì yêu thương, Ngài vẫn sẵn sàng hiến mạng sống mình, để chúng ta được sống và được giao hoà với Thiên Chúa là nguồn của mọi tình yêu. Chính nhờ cái chết của Đức Giê-su, mỗi người chúng ta nhận lãnh được ơn cứu độ của Thiên Chúa.

Kế đó, tình yêu của Mục Tử Giê-su đối với chúng ta không dừng lại ở việc chăm sóc, giữ gìn chúng ta. Tình yêu ấy đã thúc đẩy bước chân của Ngài lên đường ra đi tìm kiếm những con chiên đang sống trong lầm lạc của tội lỗi, như chúng ta vừa nghe trong bài Tin Mừng: “Ai trong các ông có 100 con chiên và nếu mất một con, lại không để 99 con khác trong hoang địa mà đi tìm con chiên lạc cho đến khi tìm thấy sao ?” Thiên Chúa không đặt dấu chấm hết cho một người nào. Cho dù chúng ta có tội lỗi, xấu xa đến đâu đi chăng nữa, thì Mục Tử Giê-su vẫn hằng mở rộng vòng tay chờ đợi chúng ta trở về. Và không chỉ là một sự chờ đợi, Thiên Chúa còn lên đường tìm kiếm, để dẫn đưa chúng ta trở về với Ngài. 

Mừng Lễ Thánh Tâm Chúa Giê-su hôm nay, chúng ta vừa cùng nhau suy niệm một vài nét về tình yêu của Ngài dành cho chúng ta. Đây quả là một tình yêu tuyệt vời, chúng ta không thể lấy gì để đền đáp cho cân xứng. Tuy nhiên, tôi thiết nghĩ, chắc chắn Thiên Chúa cũng không cần chúng ta đền đáp, vì Ngài là Đấng toàn thiện, toàn mỹ. Nơi Ngài không còn thiếu điều gì. Do đó, đáp lại tình yêu của Đức Giê-su, tâm tình đầu tiên mỗi người chúng ta cần có là đến và ở lại trong tình yêu của Ngài. Và đó chính là điều làm cho Ngài vui mừng nhất. Ngài vui mừng vì một con chiên lạc giờ đây đã trở về và ở lại trong sự chăm sóc của Ngài. Chúng ta cũng có thể nhận ra điều này khi nhìn ngắm nét mặt rạng rỡ, hân hoan của người mẹ khi ôm ấp những đứa con trong vòng tay của mình. Trong vòng tay của mẹ, có thể đứa trẻ chẳng làm gì cho người mẹ, có khi em còn quấy rầy bà nữa, nhưng tự thâm tâm, người mẹ vẫn cảm thấy vui. Bà vui vì con bà đang ở với bà, đang tin tưởng và cậy trông nơi bà. 

Cuối cùng, để đáp lại Tình Yêu của Thánh Tâm Chúa Giê-su dành cho chúng ta, mỗi người chúng ta cũng phải biết sống yêu thương nhau. Chúng ta hãy mở rộng lòng mình, để cho tình yêu của Đức Giê-su tuôn chảy qua chúng ta đến với anh chị em của mình. Nhờ đó, tất cả chúng ta sẽ hiệp nhất nên một đoàn chiên, có cùng một chủ chiên là Đức Giê-su.

 

 

7. Thánh Tâm Chúa Giêsu

“Chỉ có Tình Yêu mới đáp đền Tình Yêu” – Thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu.

Trong một cuộc phỏng vấn, Mẹ Têrêsa Calculta đã phát biểu như sau: “Trong 20 năm phục vụ người nghèo, càng lúc tôi càng ý thức rằng: Cô đơn là căn bệnh khủng khiếp nhất của con người. Ngày nay, người ta đã tìm ra được thuốc chữa bệnh phong cùi. Bệnh nào cũng có thể có thuốc để chữa. Nhưng nếu người ta không biết chìa bàn tay ra để phục vụ và không có được một quả tim biết yêu thương thì con người sẽ không bao giờ chữa lành được căn bệnh khủng khiếp này.”

Ai cũng đã hơn một lần hiểu được thế nào là cô đơn: một đứa bé rời gấu áo mẹ để cắp sách đến trường, một người ngoại quốc đặt chân đến một xứ sở xa lạ, một người bệnh nằm liệt giường lâu năm, một người tàn tật bị hạn chế trong các quan hệ với người khác v.v… Có lẽ không ai thoát khỏi sự cô đơn.

Chính Chúa Giêsu cũng cảm nghiệm sâu sắc niềm đau ấy. Mang lấy thân phận con người, chia sẻ khổ đau với con người, Ngài cũng không thoát khỏi cô đơn. Nỗi niềm ấy đã dâng cao trong nhiều giờ phút cuối đời Ngài khi bị treo lơ lửng trên không, làm trò cười cho những người xung quanh, Chúa Giêsu lại còn cảm thấy như bị chính Chúa Cha bỏ rơi. Ngài đã đi đến tận cùng sự cô đơn của con người. Nhưng cũng chính trong những giờ phút ấy, Chúa Giêsu đã mạc khải cho chúng ta chân lý tối hậu của Kitô giáo. Chân lý đó là “Thiên Chúa là Tình Yêu.” Qua thái độ tin phục và tín thác, Chúa Giêsu đã tỏ bày cho chúng ta thấy rằng: Chỉ trong Thiên Chúa Tình Yêu, con người mới tìm gặp được bản thân và thắng vượt được sự cô đơn.

Năm 1698 – Tám năm sau ngày Thánh nữ Magarita Maria Alacoque, một nữ tu thuộc Dòng Thăm Viếng tại Pháp quốc qua đời, người ta khám phá được một tập sách có tựa đề: Tôn sùng Trái Tim Chúa Giêsu. Tập sách đã khơi dậy những tâm tình sốt sắng của nhiều người Pháp đương thời đối với Thánh Tâm Chúa Giêsu.

Năm 1765, theo nhu cầu của hàng giáo sĩ, Giáo Hội tại pháp đã cho thiết lập lễ kính Thánh Tâm Chúa Giêsu. Điều đáng ghi nhận là lễ này được phát sinh vào thời kỳ được mệnh danh là Thế kỷ của Ánh sáng. Ánh sáng mà các triết gia của thế kỷ 18 đề cao chính là ánh sáng của khoa học và lý trí. Nhiều người nhân danh lý trí để bác bỏ mọi tình cảm đạo đức và ngay cả niềm tin. Do đó, lễ kính Thánh Tâm Chúa Giêsu là một nhắc nhở cho con người thời đại về Tình yêu của Thiên Chúa, một tình yêu vượt qua mọi lý giải của khoa học và lý trí của con người. Triết gia Pascal đã nói như sau: “Chính trái tim cảm nhận được Thiên Chúa, chứ không phải lý trí”. Đức tin là thế đó! Thiên Chúa cho anh trái tim chứ không phải lý trí để cảm nhận được Ngài. Phép lạ của Con Một Thiên Chúa chính là trở thành người anh em của chúng ta, với một trái tim nhạy cảm đối với nỗi khổ đau của chúng ta. Sự mới mẻ mà Chúa Kitô đã mang đến cho nhân loại là đã tỏ bày cho chúng ta một Thiên Chúa với một trái tim biết đập bằng những nhịp đập của trái tim con người.

Đó là tất cả lý do tại sao Giáo Hội không ngần ngại khẳng định trong Hiến Chế Vui Mừng và Hy Vọng rằng: “Vui mừng và hy vọng, khổ đau và thử thách của con người cũng chính là vui mừng và hy vọng, khổ đau và thử thách của Giáo Hội”. Giáo Hội chỉ có thể trung thành với Chúa bằng cách chia sẻ hoàn toàn cuộc sống của con người mà thôi. Chỉ bằng một sự cảm thông và chia sẻ như thế, Giáo Hội mới có thể tỏ bày Trái Tim của Chúa Giêsu, hình ảnh trọn hảo của Thiên Chúa. Trái Tim của Chúa Giêsu là một trái tim biết rung lên những nhịp của lắng nghe và cảm thông.

Với trái tim ấy, Ngài mời gọi chúng ta chờ đợi và nhận biết gương mặt của Thiên Chúa trong mỗi người anh em chúng ta, nhất là những người mà khổ đau làm cho biến dạng.

Với một trái tim ấy, Ngài cho chúng ta hiểu được rằng: Chính Thiên Chúa là Tình Yêu.

Với trái tim ấy, Ngài ban cho chúng ta sức mạnh cần thiết để đáp trả lại Tình yêu của Thiên Chúa bằng chính Tình yêu của chúng ta dành cho người anh em.

Với trái tim ấy, Ngài mời gọi chúng ta đặt tất cả tin tưởng và phó thác vào Tình yêu vô biên của Thiên Chúa.

Lạy Trái Tim Chúa Giêsu, Ngài đã cho chúng con một quả tim mới, một Thần khí mới, xin dạy con biết yêu như Ngài đã yêu để đền đáp lại tình yêu mà trái tim Ngài đã dành cho con.

 

 

8. Chúa Là Tình Yêu

Hôm nay chúng ta cùng với Giáo Hội mừng lễ Thánh tâm Chúa Giêsu. Mừng lễ Thánh Tâm là chúng ta nhớ đến Tình Yêu của Thiên Chúa. Thiên Chúa yêu thương chúng ta. Thánh Gioan đã viết: Thiên Chúa là tình yêu. 

Thiên Chúa Là Tình Yêu.

Tình yêu của Thiên Chúa vô tượng vô hình vô thanh vô sú. Tình yêu không có hình tượng, chẳng có hình dáng, không có âm thanh, cũng chẳng có mùi vị nhưng Tình yêu là cái gì rất thật.

Trong Thánh kinh chúng ta thấy có rất nhiều nơi nói về lòng yêu thương của Thiên Chúa đối với chúng ta: Cựu ước cũng trong Tân ước.

* Trong sách Ôsê, Thiên Chúa tự ví mình như một người mẹ âu yếm con cái. Chăm sóc con, bồng con, bồng con trên tay, ấp ủ trong lòng. Tập cho con đi. Đút cơm cho con ăn. Đó là  những cử chỉ quen thuộc của một người mẹ.

Thiên Chúa là một người cha, nhưng lại có tấm lòng của một người mẹ. Và lòng Ngài còn mênh mông hơn lòng một người mẹ. Ngài nói: "Dẫu người mẹ có quên con mình thì Ta cũng sẽ chẳng bao giờ quên các con. Thiên Chúa yêu thương chúng ta như thếá đó.

* Thánh Phaolô trong thư Êphêsô xin Thiên Chúa mở lòng trí ta, giúp ta hiểu được phần nào tình yêu mênh mông vô tận của Chúa Kitô. Tình yêu đó vượt quá trí hiểu của chúng ta: nó vừa rộng vừa dài, vừa cao vừa sâu. Xin cho chúng ta hiểu để chúng ta được no thỏa và được tràn đầy sự viên mãn của Thiên Chúa.

* Và trong Tin Mừng của Gioan chúng ta thấy tình yêu thương đã được cụ thể một cách rõ rệt hơn cả bằng cái chết đau thương của Chúa Giêsu trên Thập giá. Sau khi chết, trái tim Chúa bị còn bị một lưỡi đòng đâm thâu qua. Từ đó nước và máu đã chảy ra cho tới giọt cuối cùng.

Trái tim đó bị đâm nát, đổ đến giọt máu cuối cùng có nghĩa là Thiên Chúa yêu thương trọn vẹn, có thể thương bao nhiêu thì thương bấy nhiêu, cho đi tất cả, hiến dâng tất cả, không giữ gì lại cho mình.

Quả thật Thiên Chúa đã yêu thương ta như vậy nên dầu chúng ta có như thế nào đi nữa chúng ta cũng vẫn có một chỗ an nghỉ trong trái tim của Chúa. Chúng luôn được Thiên Chúa yêu thương tối đa. Và cái tối đa của Thiên Chúa thì thật vô cùng vô tận.

Nhưng tình thương của chúa là tình yêu như thế nào?

* Thánh Phaolô khẳng định tình thương của Thiên Chúa vượt quá sự hiểu biết của con người. Tình yêu giữa người với người còn không thế hiểu nổi huống chi tình yêu của Thiên Chúa. Phải cảm nghiệm trước đã mới có thể hiểu được phần nào.

* Còn theo Thánh Gioan thì cái không thế hiểu nổi nơi Thiên Chúa là vì Ngài yêu thương đến nỗi đã ban Con Một Ngài cho trần gian. Còn gì quý hơn Con Một Ngài, thế mà lại ban cho thế giới. Và khi ban Con Một, Ngài ban cho ta tất cả những gì có thể ban được. Mọi hồng ân của Thiên Chúa đều được thâu gồm trong Chúa Giêsu. Được Chúa Giêsu là được tất cả.

* Để thực hiện ý định yêu thương của Chúa Cha, Người Con Một ấy đã hiến thân làm lễ vật thay cho chúng ta. Đó là tình yêu hiến dâng và cứu chuộc. Một tình yêu đi tới cùng, không nửa vời. Ỳinh yêu chấp nhận mọi hậu quả. Đã yêu thương như vậy thì giá nào cũng sẵn lòng trả. Trong Kinh cầu trái tim Chúa Giêsu có một câu có vẻ mộc mạc nhưng lại rất sâu sắc: "Trái tim Chúa Giêsu tan nát vì tội lỗi chúng tôi". Đó là cái giá mà Chúa Giêsu phải trả trên Thập giá vì quá yêu thương.

Thực ra chỉ có Thiên Chúa mới có thể yêu thương tới mức độ như thế. Còn loài người chúng ta dầu có thề thốt gì với nhau đi chăng nữa cũng rất mong manh, chứa đầy bất trắc. Hoặc do lòng người thay đổi, hoặc hoàn cảnh bên ngoài cản ngăn. Tình yêu của loài người dầu mãnh liệt khiến sông sâu cũng lội, núi cao cũng trèo, vẫn tương đối, có giới hạn, nhiều kẽ hở, lắm rủi ro, có lúc yếu đuối. Biết bao tình yêu tưởng chừng thách thức thời gian, nhưng lại bị thời gian làm sói mòn, phai nhạt, rồi đi tới tan vỡ. Một nhà văn đã nhận định một cách chua cay: tình yêu cứ nhạt dần, rồi vữa ra, chua như mồ hôi.

Cuối cùng chỉ còn có tình Thiên Chúa yêu thương ta. Tình thương của Ngài chỉ có đầy mà không có vơi và lúc nào cũng đầy.

Khi yêu ta như vậy chúa muốn gì nơi ta?

Theo lời thánh Augustinô:

“Tình yêu kêu gọi tình yêu,

Tình thương Chúa kêu gọi tình yêu của loài người”

“Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.”(Ga 13,34)

Vâng phải tập cho mình biết yêu như Chúa. Chúa yêu như thế nào chúng ta hãy biết bắt chước yêu như vậy.

Có một chàng thanh niên đứng giữa thị trấn và tuyên bố mình có trái tim đẹp nhất vì chẳng hề có một tỳ vết hay rạn nứt nào. Đám đông người hiếu kỳ đều đồng ý đó là trái tim đẹp nhất mà họ chưa từng thấy.

Bỗng một cụ già xuất hiện và nói: “Trái tim của anh không đẹp bằng trái tim của tôi !".

Chàng trai cùng đám đông ngám nhìn trái tim của cụ già. Nó đang đập mạnh mẽ nhưng đầy những vết sẹo. Có những phần trái tim đã bị lấy ra và những mảnh tim khác được đắp vào, nhưng không vừa khít, nên tạo ra một bề ngoài sần sùi, lởm chởm; có cả những đường rãnh khuyết vào mà không hề có mảnh tim nào trám vào để thay thế.

Chàng trai cười nói: "Chắc cụ nói đùa! Trái tim của tôi hoàn hảo, còn của cụ chỉ là những mảnh chắp vá đầy sẹo và vết cắt”

Cụ già mới từ tốn nói: "Mọi vết sẹo trong trái tim tôi tượng trưng cho mỗi người mà tôi yêu. Người đó không chỉ là những cô gái, mà còn là cha mẹ, anh chị, bạn bè . . . tôi xé một mẩu tim trao cho họ, thường thì họ cũng xé trao lại một mẩu tim của họ để tôi đắp vào nơi vừa xé ra của tôi. Thế nhưng những mẩu tim của cha mẹ trao cho tôi lớn hơn mẩu của tôi trao cho các ngài, ngược lại với mẩu tim của tôi và con cái tôi, chúng không bằng nhau nên chúng tạo ra những sần sùi nhưng tôi luôn yêu mến vì chúng nhắc nhở tôi đã chia sẻ. Thỉnh thoảng tôi trao mẩu tim của mình nhưng không hề được nhận lại gì, chúng tạo nên những vết khuyết. Tình yêu đôi lúc chẳng cần sự đền đáp qua lại. Dù những vết khuyết đó thật đau đớn nhưng tôi vẫn luôn hy vọng một ngày nào đó họ sẽ trao lại cho tôi mẩu tim của họ để lấp đầy khoảng trống mà tôi luôn chờ đợi.

Nghe thế, chàng trai đứng lặng yên không nói lên một lời nào. Những  giọt nước mắt chảy ra lăn trên má lúc nào mà anh cũng chẳng hay. Đột nhiên anh từ từ bước tới và xé một mẩu từ trái tim hoàn hảo của mình và trao cho bà cụ: Cụ già cũng xé một mẩu từ trái tim đầy vết tích của cụ và trao cho chàng trai. Khi ráp lại thì chúng vừa với nhau, nhưng lại không hoàn toàn ăn khớp nhau, cho nên trên trái tim chàng trai xuất hiện một đường lởm chởm. Giờ đây trái tim của anh không còn hoàn hảo nữa nhưng lại đẹp hơn bao giờ hết, vì tình yêu từ trái tim của cụ già đã chảy trong tim anh.

Vâng mỗi người chúng ta hãy để cho trái tim của Chúa chảy qua trái tim của chúng ta để biến trái tim của chúng ta trở nên giống trái tim của Người. Chỉ có con đường đó chúng ta mới có thể có được một tình yêu như Chúa.

Lạy Chúa xin cho con một trái tim biết mở rộng để thay vì chỉ đóng khung trong quan điểm của mình, con biết đón nhận những khuyết điểm nơi người khác, những anh em của con.

Xin hãy cung cấp máu cho con tim của chúng con để chúng con biết sống hy sinh quên mình mà không tính toán hơn thiệt.

Xin hãy cùng cảm xúc theo nhịp đập với trái tim của chúng con để chúng con biết "vui với người vui, khóc với người khóc"

Lạy Chúa Giêsu thương mến, xin ban cho chúng con tỏa lan hương thơm của Chúa khắp mọi nẻo đường chúng con đi.

Xin Chúa hãy tràn ngập tâm hồn chúng con bằng Thần Khí và sức sống của Chúa.

Xin Chúa hãy xâm chiếm toàn thân chúng con  để chúng con chiếu tỏa sức sống Chúa.

Xin Chúa hãy chiếu sáng qua chúng con, để những người chúng con tiếp xúc cảm nhận được Chúa đang hiện diện nơi chúng con.

Xin cho chúng con biết rao giảng về Chúa, không phải bằng lời nói suông, nhưng bằng một cuộc sống chứng tá, và bằng trái tim tràn đầy tình yêu Chúa.

 

 

9. Trái tim Thiên Chúa – Trái tim con người _ + Gm Giuse Vũ Văn Thiên

Mạc khải của Cựu ước nói với chúng ta: Thiên Chúa có một trái tim! Ngôn sứ Hôsê đã quả quyết điều ấy. Thực ra, Thiên Chúa là Đấng vô hình, không có thể xác như chúng ta. Nói Ngài có một trái tim là cách diễn tả Thiên Chúa luôn quan tâm tới đời sống con người. Sự quan tâm ấy được thể hiện qua công trình sáng tạo và sự quan phòng của Ngài. Với thể loại văn chương “nhân cách hóa”, ngôn sứ Hôsê giới thiệu với chúng ta quả tim của Thiên Chúa cũng rung cảm, bồi hồi thổn thức, cũng đau buồn và ghen tỵ trước sự phản bội của con người (Bài đọc I).

Khi nói với chúng ta: Thiên Chúa có một trái tim, Kinh Thánh muốn diễn tả tình yêu thương vô bờ của Thiên Chúa. Cũng giống như khi gặp một người ngoại quốc nào đó rất yêu mến và tâm huyết với đất nước và con người Việt Nam, chúng ta nói: người này có trái tim Việt Nam. Trái tim là biểu tượng của tình yêu và lòng bao dung tha thứ. Trong suốt bề dày của lịch sử, lòng yêu thương của Chúa luôn thể hiện qua sự can thiệp của Ngài trong đời sống của Dân Chúa và đời sống cá nhân mỗi người. Con người đã nhiều lần phạm tội phản nghịch và bất tuân, nhưng Chúa không chấp tội lỗi của con người. Ngài sẵn lòng tha thứ nếu họ chân thành sám hối ăn năn. Bao dung nhân hậu là một trong những phẩm tính đặc biệt của Thiên Chúa.

Thánh Gioan là nhân chứng mắt thấy tai nghe về sự việc quân lính lấy đòng đâm thủng trái tim Chúa. Đối với tác giả Tin Mừng thứ bốn, mỗi chi tiết, mỗi sự việc đều có ý nghĩa giáo huấn và mang chiều kích thiêng liêng. Trái tim Chúa Giêsu đã mở ra, như một thế giới mới đã khởi đầu. Từ trái tim bị đâm thâu, nguồn ơn cứu độ tuôn trào như suối nguồn phong phú vô tận. Vương quốc tình yêu đã khai mở nhờ ơn Cứu độ của Chúa Giêsu. Từ trái tim rộng mở của Đấng Cứu thế, con người được tiến sâu và đời sống huyền nhiệm của Thiên Chúa tình yêu. Chính vì thế mà chúng ta tôn vinh Thánh Tâm là “kho tàng tình yêu”. Nơi đây, con người có thể được thần hóa, được đón nhận sự sống mới, trở nên tạo vật mới tinh tuyền trong ân sủng của Đấng Cứu độ trần gian. Với việc trái tim bị đâm thâu, Thiên Chúa không còn ngoảnh mặt đi trước nỗi đau chồng chất của con người.  Ngài như người cha luôn che chở dạy dỗ, như người mẹ luôn bao dung vỗ về, làm cho cuộc đời này ấm áp, hạnh phúc và bình an. Con người được đi sâu vào Trái Tim của Chúa, như một chỗ náu ẩn chắc chắn an toàn.

Nếu Thiên Chúa đối xử với chúng ta bằng trái tim, thì mỗi người chúng ta cũng cần đặt đời sống mình trên cái tâm. Trong xã hội Việt Nam hôm nay, tội ác gia tăng, bạo lực hoành hành, người ta lo sợ khi ra đường, mất niềm hy vọng trong tương lai. Vợ chồng, anh em bạn bè phản bội lừa lọc nhau. Lý do vì con người không sống với nhau bằng trái tim thực sự mà chỉ hời hợt bên ngoài. Con người ngày càng trở nên vô cảm trước nỗi đau của tha nhân. Nếu biết lắng nghe lời mách bảo của trái tim, mọi hành động trong cuộc sống của chúng ta sẽ được định hướng để đạt được những điều tốt đẹp. Chuyên tâm cầu nguyện và thực thi Lời Chúa sẽ làm cho trái tim của chúng ta giống như trái tim của Chúa, hiền hậu, bao dung và quảng đại. Nếu Thiên Chúa đã mang lấy trái tim nhân loại, thì nhờ nỗ lực cố gắng dấn thân trong đời sống thiêng liêng, con người sẽ được ban tặng một trái tim của Chúa. Đây là sự trao đổi kỳ diệu được thực hiện trong ơn cứu độ của Chúa Giêsu.

Tình yêu đền đáp tình yêu. Nếu Chúa Giêsu đã chấp nhận thập giá đau thương, là vì Người muốn tỏ cho chúng ta thấy tình yêu của Thiên Chúa lớn lao dường nào, vượt trên khả năng suy luận của con người. “Anh em hãy yêu thương nhau như Thày đã yêu thương anh em”(Ga 15,12). Điều Chúa mong muốn nơi chúng ta, đó là chúng ta hãy thực thi tình yêu thương với đồng loại, hãy sống với nhau bằng trái tim. Trái tim của người da đen và người da trắng đều giống nhau. Trái tim của người giàu cũng như của người nghèo, của người đạo đức cũng như người khô khan. Mọi trái tim đều khao khát được yêu thương và được tôn trọng. Mọi cá nhân đều ao ước sống trong an bình. Khi lấy trái tim làm nền tảng và tiêu chuẩn cho cuộc sống, chắc chắn chúng ta sẽ hạnh phúc và những chia rẽ hận thù sẽ bị loại trừ.

 

 

10. Trái Tim bị đâm thủng _ Lm. Giuse Nguyễn Văn Thông

Theo ngôn ngữ bình dân người Việt, để minh chứng cho tấm lòng chân thành của mình, họ nói: nếu lòng tôi là chiếc bánh, tôi sẽ bóc ra cho ông cho bà coi. Xem ra Thiên Chúa cao cả cũng muốn nói với chúng ta như thế để  chúng ta có thể thấy tấm lòng yêu thương vô bờ bến mà Ngài dành cho chúng ta. Và quả thật, Ngài đã mở một con đường để chúng ta đến được với Trái Tim đầy yêu thương của Chúa Giêsu. Những giọt máu và nước cuối cùng đã đổ ra minh chứng cho tình yêu cứu độ ấy. Trái Tim bị đâm thủng của Chúa Giêsu cũng là Trái Tim được mở ra.

Cựu Ước thường diễn tả Thiên Chúa như là một vị thần toàn năng toàn trí và vô cùng nghiêm khắc. Trước tôn nhan Ngài, loài thụ tạo chúng ta phải run sợ tôn thờ, nếu không sự trừng phạt có thể giáng xuống bất cứ lúc nào. Mặc dầu vậy, Ngài cũng tỏ ra là Đấng gần gũi con người và có một tấm lòng, một trái tim đầy ắp những nhịp đập yêu thương. Đoạn sách ngôn sứ Hôsê trích đọc hôm nay là một minh chứng. Tình thương của Ngài đối với dân được diễn tả như tình thương của người cha người mẹ đối với đứa con thơ, nào là nâng niu trên đầu gối, áp vào má mà nựng, đút cho ăn và đỡ cánh tay cho tập đi, nào là trái tim thì thổn thức còn ruột gan thì bồi hồi lo lắng cho đứa con mỗi khi trái nắng trở trời. Một Thiên Chúa như vậy thì làm sao có thể hành động theo cơn nóng giận, trái lại Ngài lấy dây ân nghĩa và mối ân tình để chữa lành và lôi kéo dân về với Ngài. Ngài hành động như thế vì Ngài là Thiên Chúa và là Đấng Thánh.

Thánh Gioan hôm nay muốn chúng ta nhìn lên Đấng chịu đóng đinh trên thập giá, cạnh sườn mở ra, trái tim bị đâm thủng, máu và nước chảy ra để thấy rõ, cảm nhận và tin rằng Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta như thế đó. Thật vậy, cả cuộc đời của Chúa Giêsu chỉ nhắm trình bày cho con người thấy khuôn mặt thương xót nhân từ của Thiên Chúa, từ lời nói như dụ ngôn người cha nhân hậu, đến việc làm khi tha cho người phụ nữ ngoại tình, hay nếp sống như khi Người đến nhà ông Giakêu. Và sau cùng, chính cái chết của Người trên thập giá mới là cách thức diễn tả hùng hồn, sinh động, sâu xa và hoàn hảo nhất về lòng thương xót của Thiên Chúa đối với con người. Trái Tim của Đấng Cứu Thế bị đâm thủng, những giọt máu và nước cuối cùng đã chảy ra để dệt nên bản trường ca tình yêu bất tận và vĩnh cửu. Chính Chúa đã mở một con đường để chúng ta có thể đi vào Trái Tim của Người mà đắm mình ngụp lặn trong đại dương bao la của tình yêu Chúa.

Thánh Phaolô tông đồ là người cảm nhận được tình yêu thương mà Thiên Chúa đã dành cho mình một cách mãnh liệt và thẳm sâu nhất, vì ngài đã được biến đổi và được chọn để công bố mầu nhiệm tình yêu của Thiên Chúa. Trước kia mầu nhiệm này được giấu kín thì nay được trao cho Hội Thánh để công bố cho dân ngoại. Ngài bảo rằng mầu nhiệm tình yêu này vĩ đại lớn lao vô cùng, vượt quá trí sự hiểu biết của con người, kích thức rộng dài cao sâu đến tận vô biên. Vì thế, đối với chúng ta là những tín hữu, thánh tông đồ chỉ biết cầu xin Ba Ngôi Thiên Chúa ban cho chúng ta được bén rễ sâu và xây dựng vững chắc trên đức ái, để nhờ sống trong tình yêu của Thiên Chúa và thực hành đức ái, mỗi ngày chúng ta cảm nhận rõ hơn và hiểu biết nhiều hơn về tình yêu Chúa, làm cho đời sống chúng ta phản chiếu sáng ngời về tình Chúa yêu thương.

Đức Thánh Cha Phanxicô đã quyết định thiết lập Năm Thánh Lòng Thương Xót để tạo cơ hội cho các con cái Hội Thánh khám phá những nét mới mẻ của Lòng Chúa Thương Xót, kín múc dồi dào những hồng ân đang tuôn trào từ nguồn suối vô tận là Trái Tim Cực Thánh Chúa Giêsu. Hãy để cho Tình Yêu và Lòng Thương Xót của Chúa thanh tẩy và nhào nắn chúng ta nên những tông đồ của Lòng Chúa Thương Xót, nhờ đó chúng ta sẽ đủ tự tin và lòng tràn ngập niềm vui ra đi để chia sẻ tình thương của Chúa cho mọi người. Amen.

 

 

11. Trái TimTình YêuLm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Đúng 19 ngày sau lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, ngày thứ Sáu sau lễ Mình Máu Thánh Chúa, ngày Chúa tỏ Trái Tim Tình Yêu của Người ra cho thánh nữ Maria Margarita Alacoque (16/6/1675), phụng vụ Giáo hội mời gọi chúng ta cử hành với lòng biết ơn lễ Trái Tim Cực Thánh Đức Chúa Giêsu rất hay thương « dịu hiền và khiêm nhường» trong lòng.

Trái Tim Chúa đã yêu loài người ta quá bội

Trái Tim của Thiên Chúa rung động vì cảm thương loài người luôn đổ tràn tình thương xuống cho nhân loại. Trái Tim ấy không đầu hàng trước sự vô ơn bạc nghĩa, từ chối của con người. Vì yêu, Thiên Chúa đã muốn tên lính đâm thấu và mở cạnh sườn ; máu cùng nước chảy ra (x. Ga 19, 34). Từ nguồn suối thẳm sâu của trái tim mình, Chúa Giêsu đã ban cho Giáo hội các bí tích để có thể trao ban hồng ân sự sống… ; để ai uống nước này « thì từ họ sẽ vọt lên sự sống đời đời» (Ga 4,14).

Từ Trái Tim Chúa bị đâm thủng vì tội lỗi chúng ta, đã tuôn trào nguồn ơn cứu độ đời đời cho nhân loại. Trái Tim đó không đơn giản là trái tim bình thường mà là Tình Yêu của Thiên Chúa dành cho nhân loại. Trái Tim « yêu thương» dân, « Quả tim Ta thổn thức trong Ta … vì Ta là Thiên Chúa» (x. Hs 11, 1b, 3-4, 8c-9 ). Quả Tim ấy được cụ thể nơi Trái Tim Chúa Giêsu vượt quá sự hiểu biết của con người (x. Ep 3,8-12.14-19). Ấy vậy mà con người vẫn vô ơn bạc nghĩa trước sự hy sinh cao cả của Chúa Giêsu. Chẳng những thế, con người còn xúc phạm đến Trái Tim nhân lành của Chúa. Nhưng vì là Trái Tim Tình Yêu nên : « Đời nọ tới đời kia, Thánh Tâm Chúa vẫn hằng nuôi dưỡng ý định cứu dân Người khỏi tay thần chết và nuôi sống trong buổi cơ hàn» (Ca nhập lễ). Lời thánh Gioan Maria Vianey là bằng chứng : « Linh mục là hồng ân của Thánh Tâm Chúa ban cho loại người» (GLHTCG số 1589). Làm sao ta không cảm động nhớ lại rằng chính từ Trái Tim Chúa đã trực tiếp nảy sinh hồng ân linh mục. Hôm nay chúng ta đừng quên cầu cùng Thiên Chúa Ba Ngôi cho các linh mục nhân ngày thánh hóa, để Giáo hội có được những cái máng tốt như lòng Chúa mong ước, thông chuyển tình yêu của Thiên Chúa cho thế gian.

Trái Tim Đức Chúa Giêsu là mạch đầy mọi nhân đức

Những lời Kinh Cầu vang lên trong suốt tháng Sáu như muốn nói với chúng ta rằng, tất cả những gì Thiên Chúa muốn làm cho nhân loại, đều được gửi gắm và thể hiện nơi Trái Tim Chúa Giêsu, Con yêu dấu của Thiên Chúa. Qua Trái Tim Chúa Giêsu, chúng ta thấy được sự quan phòng tình yêu từ đời đời của Thiên Chúa nhằm cứu độ thế gian. Đúng là mầu nhiệm tình yêu khôn hiểu thấu, nên chúng ta « hãy ca tụng Chúa và kêu cầu danh Người» (Tv 12, 5).

Nhìn ngắm Trái Tim Tình Yêu của Chúa Giêsu đối với Chúa Cha, trong sự viên mãn của Chúa Thánh Thần, chúng ta khám phá ra lòng nhân lành của Chúa Giêsu luôn yêu thương, ấp ủ chúng nhân, chứng tỏ Trái Tim Người là mạch đầy dẫy hằng sống và thánh thiện, là nguồn suối cứu chuộc chúng ta. Để hiểu sâu xa hơn, chúng ta phải trở về với cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu với người phụ nữ xứ Samaria thành Sykar thuộc xứ Samaria.Cô ta đến xách nước, Chúa Giêsu bảo: « Xin bà cho tôi uống nước ». Người đàn bà Samaria thưa lại: « Sao thế! Ông là người Do-thái mà lại xin nước uống với tôi là người xứ Samaria?» Thánh sử sau đó thêm rằng : (Vì người Do-thái không giao thiệp gì với người Sa-maria). Sau đó, cô nhận được phản ứng của Chúa Giêsu: « Nếu bà nhận biết ơn của Thiên Chúa ban và ai là người đang nói với bà: « Xin cho tôi uống nước », thì chắc bà sẽ xin Người, và Người sẽ cho bà nước hằng sống [...]vì nước Ta cho ai thì nơi người ấy sẽ trở thành mạch nước vọt đến sự sống đời đời »(Ga 4, 1-14). Đây là những lời nói bí ẩn.

Chúa Giêsu là nguồn suối; từ Người vọt lên sự sống thần linh. Gần Chúa, ở lại trong Chúa, chúng ta sẽ có sự sống. Nguồn suối ấy đem tưới vào đời mình ta sẽ có được sự bình an sâu thẳm và niềm hạnh phúc đích thực ở nơi Trái Tim Giêsu yêu thương.

Sùng kinh Trái Tim Cực Thánh Chúa Giêsu

Thế giới ngày hôm nay xảy ra biết bao cuộc xung đột cam go đẫm máu, rất cần sứ điệp phát xuất từ Trái Tim Chúa, nguồn mạch duy nhất, nhân loại có thể múc lấy sự khiêm nhường và lòng tha thứ để chữa lành những thương tích. Lòng sùng kính Trái Tim Chúa Giêsu có thể là nguồn mạch mọi ơn phúc cho thế giới này như lời Đức Piô X viết khi ban lệnh thi hành việc tôn sùng Trái Tim Chúa : « Việc tôn thờ Trái Tim cực thánh Chúa Giêsu là trường học hữu hiệu nhất về Tình Yêu Thiên Chúa, bởi vì Tình Yêu, vốn là nền tảng của Nước Trời, phải được xây dựng trong các linh hồn, các gia đình và các quốc gia». Đức Piô XI nhận định: «Lòng sùng kính Thánh Tâm là một phương dược phi thường cho những nhu cầu ngoại thường của thời đại chúng ta» (Caritate Christi compulsi). Trong tông huấn Tôn Sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu, Chân phước Phaolô VI viết: « Sự tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu là phương thế hữu hiệu nhất để đóng góp vào việc canh tân tâm linh và luân lý của thế giới”.Thánh Gioan Phaolô II Giáo hoàng nói : « Lòng sùng kính Thánh Tâm phù hợp hơn bao giờ hết với những mong đợi của thời đại chúng ta» (Diễn văn với Dòng Thừa Sai Thánh Tâm, 5-10-1987).

Nên giống Trái Tim Chúa

Người kitô hữu không chỉ được mời gọi chiêm ngắm, sùng kính, mà còn phải sống tình yêu ấy nữa. Chúa Giêsu đã nói, « Nếu anh em yêu mến Thầy, thì hãy giữ các điều răn của Thầy» (Ga 14, 15). Như thế, Người mời gọi chúng ta kèm theo điều kiện : nếu ta yêu mến Chúa, thì ta phải giữ các điều răn của Chúa, tuân giữ thánh chỉ của Chúa, và thực hành các giới răn mà Thiên Chúa đã chỉ cho ta, để chứng tỏ rằng ta yêu Chúa.

Chúa muốn chúng ta giữ các điều răn đã được Chúa ban cho Israel trên núi Sinai qua trung gian Môisen, nhiều người trong chúng ta lặp lại mỗi ngày trong kinh nguyện, một tập quán tốt đẹp và ngoan đạo. Chúng ta lặp lại những điều đã được viết trong Sách Xuất Hành, để tin nhận và làm mới lại những gì chúng ta nhớ.

Lạy Chúa Giêsu, xin uốn lòng con nên giống Trái Tim Chúa. Amen.

 

 

12. Trái Tim (SCĐ) 

Trái tim, một công trình tạo dựng siêu bền. Rất nhỏ được đặt trong lồng ngực, nhưng hoạt động cách không thể ngờ : Mỗi người với 24 giờ, trái tim bơm và lọc được 20.000 lít máu. Thật bất ngờ khi biết được con số, điều bất ngờ không dừng ở đấy và tôi khám phá ra công việc bơm và lọc 20. 000 lít máu của trái tim, cho tôi 24 giờ sống tinh tuyền nhất mặc dù rất nhiều bất toàn trong tôi. Tôi nhớ đến Lời Chúa nói qua tiên tri Edêkien với toàn thể dân Do thái : “Ta sẽ ban cho các ngươi một trái tim mới. Bên trong các ngươi Ta sẽ ban xuống một thần khí mới”. Lời ấy như một Lời tái tạo con người cũ thành con người mới.

Như trái tim lọc những dòng máu dơ bẩn khi đi qua các ngõ ngách của cơ thể, để thay vào đó dòng máu tinh tuyền và mang sức sống nuôi dưỡng và làm phát triển toàn thân. Thiên Chúa đang từng giây phút thanh lọc tôi bằng Lời của Người qua dòng đời tôi đang sống. Lời đã sáng tạo và Lời hằng làm nên cái mới, Thiên Chúa đang làm nên những cái mới lưu chảy trong tim tôi. Từng phút giây, Người vẫn không ngừng đổ rót hồng ân Thánh thần đổi mới cuộc sống trong tôi. Kìa cái cũ đang qua đi và cái mới đang thành sự. 

Như công việc của trái tim, tôi không thấy cụ thể những điều trái tim đang làm việc, nhưng tôi biết trái tim vẫn không ngừng rung nhịp đập với trung bình 70 lần một phút trong tôi. Theo từng nhịp đập của trái tim ấy, Thiên Chúa đang hoạt động trong tôi, bởi vì tôi biết rằng Người đã dựng nên tôi cho tôi sự sống và sự sống ấy không ngừng lưu chuyển, cho đến khi tôi được yên nghỉ trong Người. Nếu một ngày kia trái tim này ngừng đập và tôi đã trở thành người của thiên cổ, nhưng trong lòng yêu thương của Thiên Chúa tôi đang an nghỉ. Hôm nay, lúc này, xin tạ ơn Chúa trái tim vẫn còn nhịp đập. Và như vậy là đang sống và như vậy là đang lặn ngụp trong tình yêu của Thiên Chúa. Khám phá ra điều này, tôi nhận thức rằng, mỗi ngày tôi có cả ngàn lý do để tạ ơn Chúa. Sự sống nào không phải là hồng ân Chúa ban tặng để tạ ơn Người luôn mãi.

Như chức năng lọc của trái tim, Thiên Chúa đang thanh luyện cuộc đời tôi bằng Thánh Thần của Người. Lọc những vị kỷ để còn vị tha, lọc hiềm thù để còn yêu thương, lọc những gì là ô uế để còn những gì tinh trong. Nếu trái tim không lọc rửa, dòng máu sẽ trở thành dòng sông đem và chết chóc. Nếu Thánh Thần không được ban xuống trong tôi, như trái tim không còn lọc tẩy, cuộc sống sẽ chết dần chết mòn trong ô uế và tội lỗi. Thánh thần đang đổi mới cuội đời tôi. 

Như chức năng của máu là nuôi dưỡng những phần nhỏ nhất của cơ thể, Thiên Chúa Người đang tháp nhập toàn bộ cuộc sống này của tôi vào lòng yêu thương của Người bằng cách thẩm thấu. Nếu dòng máu bơm đi từ tim không tới được phần cơ thể nào, cơ thể ấy sẽ chết, và sớm cần được cắt rời khỏi thân thể. Thiên Chúa sống trong tôi và đó là điều tôi cảm nghiệm trong dòng máu lưu chuyển châu thân này, nên tôi biết trong thân thể mỏng giòn yếu đuối này, tôi cần được tham dự vào sự sống của người.

Có một lần tại Huế, ghé thăm công viên điêu khắc, tôi chiêm ngưỡng một công trình mà tôi thấy là tuyệt. Trên một chu vi khoảng 2 mét chiều dài, 1 mét chiều rộng, như một tấm đan đặt trên ngôi mộ. Tác giả đăt những khối đá đứng như cõi hỗn mang, góc cạnh tấm đan một đôi giầy, giữa tấm đan là trái tim khắc nổi. Dưới chân khắc ghi 4 câu thơ : 

“Hãy yêu như đang sống.

Hãy sống như đang yêu.

Yêu để sự sống tồn tại.

Sống để tình yêu có mặt.

Hình tượng cho tôi dòng suy nghĩ : Tình yêu làm hỗn mang trở nên màu nhiệm sự sống. Và cũng chính tình yêu ấy làm cho sự sống trường tồn bất diệt khi vượt qua sự chết. Thiên Chúa đã cởi giầy để bước vào mầu nhiệm con người bằng thân thể, bằng hình hài, và mang trái tim bằng thịt. Cuộc sống  trở nên kỳ diệu khi Thiên Chúa biểu lộ bằng trái tim của nhân loại. Thiên Chúa, Người yêu thương tôi bằng trái tim con người và bằng trái tim của Thiên Chúa. Sự chết không thể chôn kín được tình yêu, bởi sức mạnh của tình yêu là làm cho sống. 

Một trái tim bằng thịt, không phải là bằng kim khí hoạt động như chiếc động cơ do con người chế tạo. Bằng thịt nên trái tim dễ bị tổn thương, và trái tim được đặt vào lồng ngực được những hàng rào xương sườn che chắn. Người biết tôi mỏng giòn và là bình sành dễ vỡ nên người yêu thương tôi, bao bọc tôi bằng ân sủng của Người. Và khiến đời tôi vẫn không ngừng tự hỏi : “Phàm nhân là gì mà Chúa phải bận tâm”. Người yêu thương tôi nhưng sao Người lại đặt trái tim của Người bên ngoài lồng ngực của Người ?

 

 

13. Thiên Chúa Là Tình Yêu

Suy Niệm của Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi 

Lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu là lễ kính toàn bộ kế hoạch cứu độ yêu thương của Chúa. Thánh Gioan viết: “Thiên Chúa là tình yêu”. Cái chết trên thập giá của Chúa Giêsu diễn tả sâu xa nhất lời yêu thương của Ngài. Chết mới diễn tả tất cả, chết mới thốt nên lời. Lời của Chúa Giêsu trên thập tự: “Ta khát” là lời tình yêu. 

MỘT CON NGƯỜI BỊ TREO LÊN, CỨU ĐỘ MỌI NGƯỜI:

Hơn hai ngàn năm nay, nhân loại vẫn tôn thờ một con người có tên Giêsu, một con người bị bắt, bị kết án tử hình và bị đóng đinh vào thập giá. Con người đó đã bị nhiều người lên án, có người đã viết cả pho tiểu thuyết: “Thiên Chúa đã chết”, họ tưởng Ngài chết là hết, là tiêu tan, là hết hy vọng, nhưng quả thực, Thiên Chúa vẫn còn đó, Ngài vẫn sống động, Ngài vẫn hiện diện giữa mọi người, giữa dòng thế giới. Chúa Giêsu, người đã bị treo lên cao trên thập giá, người chết vì yêu: “Không có tình yêu nào cao vời bằng tình yêu của người hiến mạng sống vì người mình yêu” (Ga 15,13).

Đã hơn hai ngàn năm nay, tại sao nhân loại, tại sao nhiều người lại vẫn tiếp tục tôn thờ một con người bị treo lên thập giá? Đây là điều rất diệu kỳ: “Chúa Giêsu là tình yêu đích thực”. Nơi Ngài có một sự thu hút rất mãnh liệt, Ngài đã được hầu hết mọi người trên toàn thế giới mến phục, tôn thờ và yêu mến. Có tới chân thập giá, nhân loại mới hiểu tại sao thế giới tôn kính Chúa, yêu mến Chúa và tin tưởng Chúa: “Khi nào Ta được đưa lên khỏi đất, Ta sẽ kéo mọi người đến cùng Ta” (Ga 12, 32). Hình ảnh Chúa Giêsu trên núi Canvê: thân trần, mình trụi, hai tay, hai chân bị đóng đinh vào thập tự, đầu đội mão gai. Chúa đã chết, đã quên mình, đã hy sinh cho nhân loại, cho mọi người vì Ngài yêu thương, tình yêu của Ngài là tình yêu đích thật, tình yêu vô vị lợi, tình yêu vô biên. Trong Phúc âm đã thuật lại biết bao dụ ngôn, biết bao ví dụ nói lên tình yêu thương của Thiên Chúa đối với con người, đối với nhân loại: dụ ngôn “Người con hoang đàng”, “Con chiên lạc”, “Đồng bạc bị mất” vv... 

Tất cả những dụ ngôn ấy nói lên lòng Chúa yêu thương nhân loại, nhất là đối với những người tội lỗi biết là chừng nào. Tình yêu của Chúa là tình yêu đi bước trước. Chúa yêu nhân loại chẳng phải nhân loại có giá trị, hay cũng chẳng phải con người có nhãn hiệu Kitô-giáo Chúa yêu thương và cứu độ nhân loại trước khi nhân loại còn ở trong tội và bất tín, bất trung. Chúa chết vì yêu nhân loại, Chúa cũng mời gọi nhân loại sống tình yêu như Ngài: “Anh em hãy có lòng nhân từ như Cha anh em là Đấng từ nhân” (Lc 6, 36). Đó là mầu nhiệm của tình yêu. Đây cũng là mầu nhiệm của đức tin. 

HÃY SỐNG YÊU THƯƠNG NHƯ CHÚA:

Trong cuộc sống đời thường có biết bao trường hợp thương tâm xẩy ra: hận thù, chém giết, chiến tranh, lừa đảo vv... Sở dĩ những chuyện đó xẩy ra vì “con người thiếu yêu thương”. Chúa mời gọi con người sống yêu thương, quên mình, hy sinh vì người khác miễn người khác có được hạnh phúc. Thánh Phaolô viết: “Chúa Giêsu đã yêu chúng ta, nên đã phó mình vì chúng ta” (Eph 5, 2). Sống như Chúa, có trái tim của Chúa, con người sẽ ở trong tình yêu thật của Ngài. Người ta kể : “Vào một ngày nào đó, chú bé Adam Lester nay mới hai tháng tuổi (6/1984), sẽ biết rằng mẹ chú yêu chú biết chừng nào và đã hy sinh cả cuộc đời mình cho chú. Sau khi được các bác sĩ cho biết các loại thuốc trị bệnh ung thư sẽ để lại di chứng trên đứa trẻ đang nằm trong bụng, chị Hazel đã từ chối không dùng thuốc. Sau khi bé Adam ra đời được bảy tuần lễ, chị đã trút hơi thở cuối cùng tại Conventry nước Anh”. Đây là câu chuyện trong muôn vàn câu chuyện ở trần gian nói lên tình thương thật của người mẹ, tình thương hy sinh đến quên mạng sống vì người mình yêu. Cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá chính là thước đo tình thương của Chúa đối với nhân loại. Đây là thực tế của một con người có tên Giêsu, Ngài không chỉ nói suông, nhưng đã thực hiện đúng lời Ngài đã nói: “...hy sinh mạng sống vì người mình yêu”. Mừng lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu là tôn kính Chúa, tôn vinh tình yêu của Chúa Giêsu một cách trọn vẹn và có thể cùng với thánh Gioan thánh sử, nhân loại hãy hô to: “Thiên Chúa đã yêu thương thế gian như thế đó!”. 

Mừng kính Trái tim Chúa Giêsu, xin cho các linh mục được có con tim nhạy cảm, tấm lòng yêu thương như Chúa để các Ngài luôn trung tín, sẵn sàng hy sinh cho tình yêu, cho đàn chiên.

LỜI CẦU:

 “Thánh Tâm Chúa Giêsu, nguồn êm ái dịu dàng, xin hãy ban xuống lòng con tràn lửa say yêu một Chúa... Xin thương những người đã trót vô tình xúc phạm đến Thánh Tâm Cha”.

 

 

14. Chọn lựa cho một tình yêu

Suy Niệm của Lm. GB. Nguyễn minh Hùng 

Nhân Lễ Thánh Tâm, suy nghĩ về đời sống thánh hiến 

Tháng Sáu, tháng của những lễ phong chức, lễ khấn dòng, cũng là tháng của những lễ kỷ niệm ngày chịu chức, ngày khấn dòng… Có thể nói tháng Sáu là mùa ơn gọi. 

Tháng Sáu cũng là tháng tôn vinh Tình Yêu Thiên Chúa, được cụ thể nơi Thánh Tâm Chúa Kitô. Ngày lễ Thánh Tâm Chúa Kitô cũng nằm trong tháng Sáu, lại là ngày thế giới xin ơn thánh hóa các linh mục. 

Bởi thế, tháng Sáu nói chung và lễ Thánh Tâm nói riêng là thời điểm thích hợp để tất cả những ai sống ơn gọi tu trì có dịp nhìn lại chính mình, nhìn lại ơn gọi mà mình đã sống, từ đó tự nhắc nhở cho chính bản thân ta về một chọn lựa mà mình đã dấn bước: CHỌN LỰA CHO MỘT TÌNH YÊU. Nhưng tình yêu ấy không do bản thân ta, hay bất cứ một người nào mà có, nhưng đó chính là TÌNH TRỜI. 

Vì thế tôi muốn cùng bạn chia sẻ những suy nghĩ về chính ơn gọi và sự chọn lựa của mình. 

Bạn có biết: Cuộc sống là kết thành của những chọn lựa. Có những chọn lựa quyết định cho cả một đời, và một đời phải sống cho chọn lựa ấy. Có những chọn lựa có thể thay đổi nhưng cũng có những chọn lựa không bao giờ thay đổi. Chọn lựa luôn là điều cần thiết cho đời người. Bởi thái độ sống của mỗi người tùy thuộc và ảnh hưởng rất nhiều từ những chọn lựa mà mình đã quyết định. 

I. CHỌN LỰA: 

1. Chọn lựa cần chiến đấu:

Kẻ thù trước tiên của cuộc chiến không phải là người nọ, thế lực kia mà là cái “tôi” xấu trong chính bản thân. Bởi thế chiến đấu để tự lách mình khỏi những mối nguy cản bước ta tiến đến sự hoàn hảo, thì ngay trong sự tự chiến đấu ấy đã là chọn lựa: chọn lựa đứng về phía thiện, tách mình khỏi những sai lạc. Chọn lựa không cho phép ta ở hai tình trạng, nhưng chỉ là một, hoặc là tốt hoặc là xấu. Chọn lựa không có chỗ cho sự trung dung: “Phải chi ngươi lạnh hẳn hay nóng hẳn đi: nhưng vì ngươi hâm hẩm chẳng nóng, chẳng lạnh, nên Ta sắp mửa ngươi ra khỏi miện Ta”1. 

Chọn lựa luôn là chọn lựa một điều gì đó, không thể có chọn lựa suông. Trong chọn lựa bao giờ cũng có lý tưởng để theo đuổi. Chọn lựa là đón nhận nhưng cũng là hy sinh. Đón nhận điều mình chọn lựa và hy sinh để sự chọn lựa thành toàn. Chọn lựa bao gồm một hướng ngắm để đến, một hy vọng củng cố lý tưởng, một niềm tin nuôi hy vọng. Và khi đã chọn lựa, không có nghĩa là ngưng chiến đấu. Càng chọn lựa, nghĩa là càng đi trên con đường mà mình đã quyết định, càng phải chiến đấu: Chiến đấu để bảo vệ điều đã chọn lựa. Chọn lựa thì dứt khoát, nhưng chiến đấu thì lâu dài, bền bỉ, vì không phải chiến đấu một lần là đủ. Ngày nào ta bằng lòng với tình trạng hiện có mà không chiến đấu để vươn lên, ngày ấy báo hiệu chọn lựa ban đầu của ta đang bị chính ta đánh mất. Nếu chọn lựa cho một thái độ sống lâu dài thì chiến đấu liên lỉ không bao giờ thừa. Càng chiến đấu bảo vệ cái thiện, chống lại cái xấu, chọn lựa càng vững chắc. 

Mãi mãi chọn lựa cần chiến đấu. Kẻ thù trước tiên của cuộc chiến có khi chính là sự dữ ngự trị trong ta. 

2. Tự do chọn lựa:

Chọn lựa đòi tự do. Không những tự do cần ngay khi chọn lựa, mà khi chọn lựa rồi cũng cần có tự do để sống điều chọn lựa. Chọn lựa không tự do, không phải chọn lựa mà là áp đặt, là thế lực. Cần đập vỡ áp đặt, thế lực để lý trí, ý chí và cả tình yêu có được sự chọn lựa đúng mức. Áp đặt hay thế lực ở đây là những hào nhoáng, là danh, là lợi, là sự thúc ép của kẻ khác... khiến đương sự nhầm lẫn, cuối cùng chọn lựa sai.

Cần có tự do để dấn thân cho điều đã chọn lựa. Nếu chọn lựa không có tự do, người ta không thể dấn thân cho điều đã chọn lựa. Và chỉ có yêu thực sự một điều gì mới có thể dấn thân cho điều đó cách trọn vẹn. Một người xả thân giúp đỡ người khác, việc làm đó mang lại cho anh ta hạnh phúc, ngược lại một người làm điều gì vì bị cưỡng bức, anh ta sẽ không cảm nhận sự bình an. 

3. Thiên Chúa làm người, một chọn lựa: 

Chúa Kitô đã quyết định trở thành “Emmanuel- Thiên Chúa ở cùng chúng ta”. “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta” 1. Chọn lựa của Ngài là “trở nên người phàm”. Chọn lựa này mãi mãi không thay đổi. Đó cũng là chọn lựa tuân hành Thánh Ý Thiên Chúa. Ngài đã sống một cuộc đời cho điều đã chọn lựa, và dấn thân trọn vẹn cho chọn lựa ấy: Chúa Kitô đã “nên giống anh em mình về mọi phương diện”2. Hay “Đức Giêsu Kitô vốn vĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa. Nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Ngài lại còn hạ mình vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự”1.

Chúa Kitô “vâng lời cho đến chết”, sự “vâng lời” của Ngài là hoàn toàn tự nguyện. Ngài quyết định “hy sinh mạng sống mình cho đàn chiên”2. Quyết định này là sự lựa chọn tự do: “Không ai cất mạng sống Ta được nhưng chính Ta tự mình thí mạng sống Ta, Ta có quyền thí mạng sống Ta, và Ta cũng có quyền lấy lại, đó là lệnh truyền Ta đã lĩnh nơi Cha Ta”3. Một khi quyết định chết cho đàn chiên, Chúa Kitô đã mang lại sự sống dồi dào cho đàn chiên. 

II. CHỌN LỰA SỐNG ĐỜI THÁNH HIẾN:

1. Một chọn lựa can đảm:

Nếu chọn lựa sống đời Kitô hữu hoàn hảo đã phải chiến đấu nhiều với chính bản thân, thì chọn lựa sống đời Kitô hữu thánh hiến còn phải chiến đấu vất vả hơn. Vì chọn lựa ấy là chọn lựa “sống giữa thế gian nhưng không thuộc về thế gian”. Nhưng họ vững tin rằng, Chúa Kitô ở bên họ. Ngài cầu xin Cha: “Con cầu nguyện cho họ. Con không cầu nguyện cho thế gian, nhưng cho những kẻ Cha đã ban cho con, bởi vì họ thuộc về Cha... Con không xin Cha cất họ khỏi thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi ác thần... Lạy Cha Con muốn rằng Con ở đâu, thì những kẻ Cha ban cho Con, cũng ở đó với Con, để họ chiêm ngưỡng vinh quang của Con, vinh quang mà Cha đã ban cho Con...”4. 

2. Đời sống thánh hiến là sống những nét đặc trưng của đời sống Đức Kitô:

Những người sống đời thánh hiến đi một bước cao hơn tiến gần đến đời sống của Chúa Kitô. “Họ diễn lại cách nào đó lối sống Đức Kitô đã chọn sống, và cho thấy lối sống ấy có một giá trị tuyệt đối và cánh chung”1.

Một khi đáp lại lời mời gọi của Chúa Kitô, “Ai muốn theo Thầy phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo Thầy”2, họ muốn như nhà thương gia kia, đi tìm ngọc quý, tìm được rồi bán tất cả để chỉ mua lấy một viên ngọc3.

Viên ngọc NƯỚC TRỜI mà họ chọn lựa, buộc họ phải trung kiên cả một đời, chiến đấu cả một đời, hy sinh cả một đời, từ bỏ cả một đời. Chọn lựa vác thập giá theo Đức Giêsu, họ sẽ là người sống “các nét đặc trưng của đức Giêsu- khiết tịnh, nghèo khó và vâng phục”. “Các nét đặc trưng” ấy “trở thành hữu hình giữa lòng thế giới như một gương mẫu thường hằng”4. Vì trên thập giá, “Tình yêu khiết trinh của Nguời đối với Chúa Cha và đối với mọi người được diễn tả mạnh mẽ nhất; sự nghèo khó của Người sẽ đi đến chỗ lột bỏ hoàn toàn; sự vâng phục của Người sẽ đi đến hiến dâng mạng sống”5. 

3. Chọn lựa giữa lòng cuộc sống và chọn lựa cho TÌNH YÊU:

Là người, những người dấn thân trong đời sống thánh hiến lựa chọn hướng đi của mình ở giữa lòng cuộc sống như bao nhiêu lựa chọn của mọi người. Nhưng Tình Yêu mà họ dấn bước theo không là một mái gia đình riêng tư, không là hạnh phúc đến bởi sự thành công của những nỗ lực trong đời thường, không là những thú vui trụy lạc mà không ít người của thời nay ngụp lặn trong đó, và vẫn lầm tưởng đó là hạnh phúc, là tự do của họ… 

Vì chọn lựa sống rập theo khuôn mẫu của đời sống Chúa Kitô, anh chị em bước vào đời thánh hiến cũng sẽ nên giống Chúa Kitô, để cùng với Người, họ hiện diện giữa lòng cuộc sống. Nói một cách cụ thể hơn: họ chọn cho mình một kiểu mẫu của Tình Yêu để sống trọn đời cho Tình Yêu ấy. Một thứ Tình cao cả mà Chúa Kitô đã chọn sống và yêu. 

Bởi vậy, giống như Chúa Kitô, cũng ngay giữa lòng cuộc sống, họ thực thi sứ mạng mà Tình Yêu đòi hỏi họ. Và ngay giữa lòng cuộc sống ấy, Họ đi tìm và bắt gặp hình ảnh Thiên Chúa “đã bị bóp méo trên bộ mặt anh chị em mình, những bộ mặt hốc hác vì đói khổ, những bộ mặt chán chường vì những lời hứa chính trị, những bộ mặt uất hận của những ai bị người ta khinh dễ nền văn hóa của mình, những bộ mặt sợ hãi cảnh bạo lực mù quáng thường ngày, những bộ mặt của người trẻ, những bộ mặt tủi hổ của những phụ nữ bị xúc phạm và làm nhục, những bộ mặt mệt mỏi của đám di dân không được ai tiếp nhận, những bộ mặt u buồn của những người có tuổi không có những điều kiện để sống đàng hoàng...”1. Họ dấn thân phục vụ giữa lòng cuộc sống. Và như thế, họ tìm thấy niềm vui giữa lòng cuộc sống. Chính vì sống theo kiểu mẫu của Tình Yêu mà Chúa Kitô đã sống, những anh chị em chọn lựa sống đời thánh hiến là Chọn lựa cho một tình yêu: Tình Yêu mang tên GIÊSU KITÔ. 

III. MỘT LỜI NGUYỆN:

Lạy Chúa, diễm phúc và hạnh phúc của mọi người, xin đổ tràn hạnh phúc xuống con cái nam nữ của Chúa, mà Chúa đã chọn lựa để tuyên xưng Tình yêu cao cả, lòng nhân hậu xót thương và vẻ đẹp của Chúa.

Chúng con hiểu rằng, dù chúng con có chọn lựa, có hy vọng, có tin tưởng, thì điều trước tiên vẫn là hồng ân, là Tình yêu của Chúa đối với chúng con. Tình yêu là lời ngỏ, là động lực đưa chúng con tới lý tưởng của mình.

Lạy Chúa, trong lòng cuộc sống, có nhiều cách để chúng con chọn lựa, nhưng chúng con chọn lựa theo Chúa. Chúng con cầu xin cho chúng con luôn trung thành truyền lại Lời Chúa cho người khác, để Lời Chúa được thêm vững mạnh trong lòng mọi người. Xin làm cho chúng con trở nên xứng đáng phục vụ bàn thánh Chúa và Hội Thánh.

Chúng con kính dâng Đức Nữ Trinh Vương Maria và cầu xin Người là mẹ của Chúa Kitô, mẹ của Linh Mục Thượng phẩm đời đời gìn giữ chúng con trong hạnh phúc của đời thánh hiến, để chúng con biết trung thành theo Chúa bằng cả cuộc đời của chúng con. Chúng con biết rằng, Chúa Kitô

 


Sinh hoạt khác

Tin Giáo Hội

Mục Tổng Hợp

» Xem tất cả Video

Liên kết website

Bài viết được quan tâm