Danh mục bài viết

Cập nhật 12/6/2018 - 21:47 - Lượt xem 16305

Lược sử Giáo phận Thái Bình

Trích Kỷ Yếu 80 Năm Thành Lập Giáo Phận Thái Bình _ Nxb Hồng Đức.

 

1. Hạt Giống Tin Mừng 
Và Dấu Ấn Các Thừa Sai Dòng Tên 

Có thể nói, hạt giống Tin Mừng được gieo vào miền đất Thái Bình từ rất sớm. 

Theo sử sách để lại, năm 1638 đời vua Lê Thần Tông, niên hiệu Dương Hòa thứ tư, cha Felice Morelli - một vị thừa sai dòng Tên, người Ý, sau khi được cử đến rao giảng tại vùng Kẻ Chợ, đã xuôi dòng sông Hồng rồi rẽ vào sông Luộc đến giảng đạo tại làng Bồ Trang (thuộc xứ Bồ Ngọc, Giáo phận Thái Bình ngày nay). Cuộc gặp gỡ với người dân nơi đây đã trở thành cộc gặp gỡ lịch sử, mang đến Hồng Ân cứu độ cho người dân đất Chèo. Từ đây Tin Mừng dần dần được lan rộng ra các làng khác trong phủ Thái Bình như Lai Ổn, Ninh Cù. 

Hai năm sau khi rao giảng tại làng Bồ Trang, cha Felice Morelli thay thế cha bề trên Gaspar d'Amaral, lãnh đạo Giáo phận Đàng Ngoài. Thời gian này vua Lê, chúa Trịnh rất có cảm tình với các thừa sai, nên chúa Trịnh Tạc đã nhận cha Felice Morelli làm dưỡng tử và gọi ngài là Phúc Ông (dịch từ chữ Felice). Trong hoàn cảnh thuận lợi này, năm 1645, cha Felice Morelli đã lập xứ đầu tiên trên đất Thái Bình, đó là xứ Kẻ Bái (xứ Bồ Ngọc ngày nay). Kẻ Bái đã trở thành cái nôi Đức Tin của Giáo phận. Đây là thành quả đầu tiên của của các thừa sai nói chung, đặc biệt là cha Felice Morelli, sau những năm miệt mài với công cuộc rao giảng. Biến cố đặc biệt này, được dân gian ghi lại qua bài vè: 

“Bảy năm đi hết cả miền,
Thì thầy ở lại hẳn miền Bồ Trang,
Lập nên xứ Bái rõ ràng,
Nam xuống Lai Ổn, Đông sang Ninh Cù. 
Chuông treo trống sắm cờ mua,
Bấy giờ là lúc hết mùa Giêgiung” 
(Tiếng Latin Jejunium có nghĩa: Mùa chay) 

Năm 1649, cha Felice Morelli trao quyền lãnh đạo Giáo Hội Đàng Ngoài cho cha Girolamo Magori và trở về Macao năm 1650. 

Như vậy, chúng ta có thể quả quyết rằng, thừa sai Felice Morelli được coi là “tổ phụ” truyền giáo của Giáo phận Thái Bình. Ngài trực tiếp gieo rắc hạt giống Tin Mừng trên phần đất Giáo phận từ năm 1638 đến năm 1649. 

Năm 1659, Đức Thánh Cha Alexandro VII công bố sắc lệnh thành lập hai Giáo phận tại Việt Nam: Giáo phận Đàng Trong (gồm khu vực chúa Nguyễn, Cao Miên và Thái Lan) dưới sự cai quản của Đức cha Lambert de la Motte, và Giáo phận Đàng Ngoài (khu vực Bắc Hà) dưới sự cai quản của Đức cha Francois Pallu. Khi ấy mảnh đất Thái Bình thuộc Giáo phận Đàng Ngoài. 

Năm 1665, Đức cha Francois Pallu về Roma xin Tòa Thánh cử thêm các thừa sai, Đức cha Lambert de la Motte kiêm nhiệm Giám quản Đàng Ngoài. 

Giữa năm 1666, thừa sai Deydier - Tổng đại diện của Đức cha Francois Pallu - đã đến Đàng Ngoài, ngài cùng các thừa sai nhà MEP (Hội thừa sai Paris) đã di thăm viếng các giáo xứ do các thừa sai dòng Tên thiết lập trước đó như Kẻ Diền (xứ Duyên Lãng) và Kẻ Hệ (xứ Ninh Cù). 

Tháng 6/1669, Đức cha Lambert cũng với hai thừa sai là De Bourges và Bouchard đặt chân tới Phố Hiến bằng tàu buôn nước ngoài, đóng vai các thương gia. Sau 6 tháng hoạt động tại Đàng Ngoài, các ngài đã ban bí tích Rửa tội và Thêm sức cho nhiều người. Ngài đã tiến hành nhiều chương trình mục vụ tại Đàng Ngoài. 

Ngày 19/02/1670, ngài chính thức thiết lập Dòng Mến Thánh Giá và nhận lời khấn dòng đầu tiên của 2 nữ tu Annê và Paola, người xứ Kiên Lao (Bùi Chu) như nền tảng của hội dòng này trên toàn nước Việt Nam. 

CÔNG ĐỒNG PHỐ HIẾN (DINH HIẾN) 1670 

Đặc biệt trong hoàn cảnh cấm đạo, thiếu nhân sự. Đức cha Lambert de la Motte đã triệu tập Công đồng Giáo phận Đàng Ngoài lần đầu tiên (cũng là công đồng đầu tiên của Giáo Hội Việt Nam) tại Phố Hiến. Thực tế là cuộc họp trên một tàu buôn đang neo đậu trên sông cạnh Phố Hiến. 

Ngày 14/02/1670, nhân dịp Mùa Chay thánh, Công đồng chính thức khai mạc dưới quyền chủ tọa của Đức cha Lambert. Các thành viên tham dự gồm cha Chính Giáo phận Deydier, hai thừa sai là Bourges và Bouchard cùng 7 linh mục đầu tiên được truyền chức tại Việt Nam (Mattheu Mát, Simon Kiên, Antôn Quế, Philipphê Nhân, Giacôbê Chiêu, Leô Trung và Benedictô Trí). 

Công đồng nhằm phổ biến các nghị quyết của Tòa Thánh về trách nhiệm và quyền hành của các vị Đại diện Tông tòa, tổ chức mọi sinh hoạt trong địa phận. Đồng thời, các ngài ra Huấn thị gồm 33 điều khoản, phần lớn giống như Huấn thị của Công đồng Juthia (Thái Lan) năm 1664, chỉ sửa đổi những gì cần thiết cho phù hợp với hoàn cảnh và phong tục của Giáo Hội địa phương. Huấn thị này sau đó đã được Đức Thánh cha Clemente X châu phê ngày 23/12/1673. 

Nội dung chính của Công đồng Phố Hiến bàn về các vấn đề sau đây:

+ Chính thức nhận thánh Giuse làm bổn mạng cho Giáo Hội Việt Nam.

+ Chia Địa phận Đàng Ngoài thành 9 giáo hạt và các giáo xứ.

+ Ấn định việc đào tạo chủng sinh qua tổ chức Nhà Đức Chúa Trời.

+ Các nhà thờ phải công bố sắc chỉ của Tông tòa về quyền đại diện. Các linh mục phải 

nhận quyền từ vị Giám mục Đại diện Tông tòa mới được giảng đạo. 

Năm 1679, thừa sai Emmanuel Ferreira dòng Tên đã lập danh sách các sở điểm của dòng này ở Đàng Ngoài, trong đó có sở Cao Mại. 

Như vậy trong khoảng 40 năm từ khi cha Felice Morelli gieo hạt giống Tin Mừng trên mảnh đất Thái Bình, nơi đây đã có nhiều xứ đạo được thành lập: Kẻ Bái (Bồ Ngọc), Lai Ổn, Kẻ Hệ (Ninh Cù), Kẻ Diền (Duyên Lãng), và sở dòng Tên tại Cao Mại. 

2. Giáo phận Thái Bình từ 1679 đến 1848 

Theo dòng thời gian, số các thừa sai ngày một gia tăng, số các xứ họ được thành lập ngày càng nhiều. Nhu cầu mục vụ cũng vì lẽ ấy mà trở nên cấp thiết hơn. Năm 1679, theo lời thỉnh cầu của Đức cha Francois Pallu, Tòa Thánh đã tách Giáo phận Đàng Ngoài thành hai: Giáo phận Đông Đàng Ngoài, đặt thừa sai Deydier làm Giám mục Đại diện Tông tòa, và Giáo phận Tây Đàng Ngoài do thừa sai Jacques de Bourges làm Giám mục Đại diện Tông tòa. Phần đất thuộc Giáo phận Thái Bình ngày nay nằm trong Giáo phận Đông Đàng Ngoài (1679 - 1848). 

Trong thời gian đó, Phố Hiến trở thành Tòa Giám Mục và là nơi cư ngụ của các thừa sai – dưới danh nghĩa các thương nhân; còn vùng đất Thái Bình rộng lớn bây giờ khi đó thuộc về hạt Lai Ổn. 

Cũng trong giai đoạn này, nhiều giáo xứ đã được thành lập như: Ngọc Đồng (1698), Cao Xá (1699), Cao Mại (1706), Sa Cát (1722), Tiên Chu (1730), Cổ Việt (1793), ... Nói chung, công cuộc truyền giáo ở khu vực thuộc Giáo phận Thái Bình ngày nay tiến triển tương đối thuận lợi vì số thừa sai ngày một nhiều. 

Trong thời gian Tòa Thánh trao quyền điều hành Giáo phận Đông Đàng Ngoài cho các cha dòng Đaminh Tây Ban Nha, có hai vị tử đạo tiên khởi của dòng Đaminh hoạt động và bị bắt tại Thái Bình: Thánh linh mục Castaneda Gia (Tây Ban Nha) phục vụ tại Lai Ổn và Kẻ Diền (Duyên Lãng); thánh linh mục Vinhsơn Phạm Hiếu Liêm (Bùi Chu) phục vụ tại Lai Ổn và Lương Đống. Hai vị bị điệu về Thăng Long, và tại đây Hội đồng Tứ giáo đã diễn ra. Bằng những lời lẽ khôn ngoan, hai vị đã biện hộ cho đức tin Công Giáo và sau đó hai vị đã dùng chính mạng sống mình để minh chứng cho niềm tin đó. 

Dấu ấn đậm nét của cuộc tử đạo tiên khởi như báo hiệu một giai đoạn khó khăn mà Giáo Hội Việt Nam sắp phải gánh chịu. 

 

3. Giáo phận Thái Bình từ 1848 - 1936 

Sở dĩ có việc phân chia giai đoạn từ 1848 đến 1936, là vì năm 1848 Tòa Thánh đã chia Giáo phận Đông Đàng Ngoài thành Giáo phận Đông và Giáo phận Trung. Giáo phận Trung bao gồm phần đất Giáo phận Bùi Chu và Thái Bình ngày nay. 

Trong khoảng thời gian này, Giáo phận Trung (năm 1924 đổi tên thành Bùi Chu) trải qua hai thời kỳ rõ rệt: 

3.1. Thời kỳ bách hại : 1848 - 1862 

Từ năm 1848 tới hòa ước Nhâm Tuất (05/6/1862) là thời kỳ Công Giáo bị bách hại dữ dội. Trong những năm đầu triều vua Tự Đức (1847 - 1883) chỉ dụ chống Công Giáo không được áp dụng triệt để tại vùng Nam Định - Hưng Yên, vì tổng đốc Nguyễn Đình Tân ít nhiều có thiện cảm với đạo Công Giáo. Nhưng từ khi tàu Pháp đánh phá Đà Nẵng, tình hình trở nên căng thẳng. Tổng đốc Nguyễn Đình Tân muốn lập công với nhà vua nên các cuộc truy nã diễn ra thường xuyên, đặc biệt ở vùng Bùi Chu, mà đối tượng trước tiên là các đạo trưởng và các ông trùm. Trên phần đất thuộc Giáo phận Thái Bình ngày nay, ngoài những cuộc bắt bớ nhỏ lẻ, chỉ một lần diễn ra với quy mô lớn ở Ngọc Đường (Ngọc Đồng). Năm ngàn lính triều đình Huế bao vây xứ đạo, bắt linh mục quản xứ Đaminh Đặng Văn Huấn và nhiều giáo hữu khác đi hành quyết. Dưới triều vua Tự Đức, vùng Thái Bình - Hưng Yên có nhiều người đã đổ máu đào vì Đức tin, trong đó có 10 vị tử đạo đã được tôn phong lên hàng hiển thánh. 

3.2. Thời kỳ tự do: 1862-1936 

Hòa ước Nhâm Tuất (1862) giữa vua Tự Đức và Pháp đã mở đường cho Công Giáo được hoạt động công khai. Tuy nhiên một số nơi do tin tức thời bấy giờ còn hạn chế nên vẫn còn những khó khăn nhất định. Công Giáo chỉ thực sự được tự do từ sau hòa ước Giáp Thân (1884). 

Nhìn chung, dưới thời bảo hộ của Pháp (từ hòa ước 1884 tới 1945), chúng ta có thể nhận thấy sự phát triển mạnh mẽ và đầy sức sống của đạo Công Giáo ở vùng Thái Bình - Hưng Yên. 

Trong giai đoạn này rất nhiều giáo xứ nằm trong Giáo phận Thái Bình ngày nay được thành lập: Thân Thượng (1888), Lương Điền (1893), Thượng Phúc (1900), Quỳnh Lang (1901), Đông Thành (1903), Đồng Quan (1911), Xuân Hòa (1914),... 

Ngày 21/3/1890, tỉnh Thái Bình được thành lập, lấy phủ Lỵ của phủ Thái Bình làm tỉnh Lỵ, trụ sở cơ quan hành chính. Khi đó phủ Thái Bình có Giáo họ Kỳ Bá, thuộc xứ Sa Cát. Gọi là giáo họ nhưng thật ra số tín hữu quá ít ỏi. Kỳ Bá hay Kỳ Bố - cũng gọi là Bố Hải Khẩu - có tên gọi là Bo (như bến đò Bo, cầu Bo). Cha Phêrô Munagorri Trung - cha xứ Sa Cát - đã thấy được viễn tượng họ đạo Kỳ Bá sẽ là nơi phù hợp cho việc xây dựng Toà Giám mục. Vì thế năm 1906, cha Trung - với sự trợ giúp đắc lực của cha Andre Kiên (kiến trúc sư Tây Ban Nha), đã xây cất nhà thờ tỉnh lị Thái Bình theo kiến trúc Gothic. Sau khi làm Giám mục Giáo phận Trung, Đức cha Phêrô Munagorri Trung đã thành lập Giáo xứ Thái Bình (17/8/1908), gồm 11 họ lẻ cắttừxứCổViệtvàxứSaCát,vớihơn 2.000 tín hữu và nhận Thánh Tâm Chúa Giêsu làm quan thầy. Cha Tràng An (Marcos Gispert) được bổ nhiệm làm cha chính xứ đầu tiên. 

Sau mấy chục năm coi sóc, Đức cha Phêrô Munagorri Trung đã đưa Giáo phận đến thời cực thịnh. Năm 1934, Giáo phận Trung trở thành quá lớn đối với một chủ chăn, Đức Thánh Cha Piô XI và Bề trên Giáo phận có ý định chia Giáo phận Bùi Chu làm hai, đồng thời chuyển dần quyền lãnh đạo Giáo phận cho hàng giáo sĩ bản quốc. Ngày 12/03/1935, Đức Thánh Cha đã bổ nhiệm cha Đaminh Hồ Ngọc Cẩn làm Giám mục phó Bùi Chu với quyền kế vị. Như vậy, Giáo phận Bùi Chu là Giáo phận thứ hai chuyển giao cho hàng giáo sĩ Việt Nam (sau Giáo phận Phát Diệm). 

4. Thành lập Giáo phận Thái Bình 

Ngày 09 tháng 3 năm 1936 với Sắc chỉ Praecipuas inter Apostolicas của Đức Giáo hoàng Piô XI, Giáo phận Thái Bình chính thức được thành lập (tách khỏi Giáo phận Bùi Chu) bao gồm phần đất của hai tỉnh Thái Bình và Hưng Yên, với diện tích 2.220km2. Đây là một vùng đồng bằng trải rộng, đất đai màu mỡ, nuôi sống trên 3 triệu dân, chạy dài từ bãi biển Đồng Châu (phía Đông) tới nương khoai An Vỹ (phía Tây). 

Như vậy, Giáo phận Thái Bình được thành lập muộn nhất trong Giáo tỉnh Hà Nội. Tuy nhỏ bé về địa lý, non trẻ