Danh mục bài viết

Cập nhật 8/2/2012 - 17:50 - Lượt xem 6125

Lược sử Giáo phận Thái Bình

Thái Bình là một trong những vùng đất hình thành các giáo xứ Công giáo tại Việt Nam. Tuy nhiên, Giáo phận Thái Bình lại là giáo phận được thành lập muộn nhất trong Giáo tỉnh Hà Nội. Ngày 9 tháng 3 năm 1936, Đức Giáo hoàng Piô XI ban Sắc chỉ Praecipuas inter Apostolicas thành lập Giáo phận Thái Bình gồm hai tỉnh Thái Bình và Hưng Yên, tách ra từ Giáo phận Bùi Chu. Ngày 15 tháng 6 năm 1936, Tòa Thánh bổ nhiệm cha Gioan Casado Thuận (Juan Casado Obispo) làm giám mục đại diện tông tòa Thái Bình. Dù là một giáo phận nhỏ nhưng Thái Bình đã đóng góp 19 trong số 117 Thánh tử đạo Việt Nam. Tuy mới thành lập, nhưng Giáo phận Thái Bình có chung bề dày lịch sử với những biến cố thăng trầm của giáo phận mẹ Bùi Chu cũng như các giáo phận khác trong Giáo tỉnh Hà Nội.

1. HẠT GIỐNG TIN MỪNG TRÊN ĐẤT THÁI BÌNH
Có thể nói, hạt giống Tin Mừng được gieo vào miền đất Thái Bình từ rất sớm. Theo sử sách để lại, năm 1638, sau khi được cử đến Đàng Ngoài loan báo Tin Mừng tại Kẻ Chợ, bằng đường sông Luộc, cha Felice Morelli đã đặt chân đến làng Bồ Trang (thuộc xứ Bồ Ngọc, Giáo phận Thái Bình ngày nay) để giảng đạo và được người dân nơi đây niềm nở tiếp đón. Từ đây Tin Mừng dần dần được lan rộng đến các làng khác trong Phủ Thái Bình. Tại Bồ Trang, cha Felice Morelli đã sao chép cuốn “Phép Giảng Tám Ngày” của cha Đắc Lộ làm tài liệu giảng đạo.
Năm 1640, cha Felice Morelli thay thế cha bề trên Gaspar d’Amaral, lãnh đạo giáo phận Đàng Ngoài. Thời gian này vua Lê, chúa Trịnh rất có cảm tình với các thừa sai, nên chúa Trịnh Tạc đã nhận cha Felice Morelli làm dưỡng tử và gọi cha là Phúc Ông (dịch từ chữ Felice). Trong hoàn cảnh thuận lợi này, cha đã lập xứ đầu tiên trên phần đất Giáo phận Thái Bình, đó là xứ Kẻ Bái (xứ Bồ Ngọc ngày nay). Kẻ Bái đã trở thành cái nôi Đức Tin của Giáo phận. Đây là thành quả đầu tiên của các thừa sai nói chung, đặc biệt là cha Felice Morelli sau những năm miệt mài với công cuộc rao giảng. Biến cố đặc biệt này, được dân gian ghi lại qua bài vè:
Bảy năm đi hết cả miền,
Thì thầy ở lại hẳn miền Bồ Trang,
Lập nên xứ Bái rõ ràng,
Nam xuống Lai Ổn, Đông sang Ninh Cù.
Chuông treo trống sắm cờ mua,
Bấy giờ là lúc hết mùa Giêgiung (Mùa Chay: Jejunium)
Năm 1649, cha Morelli trao quyền lãnh đạo giáo phận Đàng Ngoài cho cha Girolamo Magori và trở về Macao năm 1650.
Như vậy, chúng ta có thể quả quyết rằng thừa sai Felice Morelli - một linh mục Dòng Tên, quốc tịch Italy – được coi là “tổ phụ” truyền giáo của Giáo phận Thái Bình. Ngài trực tiếp gieo rắc hạt giống Tin Mừng trên phần đất giáo phận từ năm 1638 cho đến năm 1649.
Năm 1659 Đức GH Alexandro VII công bố sắc lệnh thiết lập hai Giáo phận Đàng Ngoài (gồm khu vực Bắc Hà) và Đàng Trong (gồm khu vực Chúa Nguyễn, Cao Miên, Thái Lan); và bổ nhiệm hai vị Giám quản tông tòa đầu tiên cho hai Địa phận : ĐC Phanxico Pallu làm giám quản tông tòa Đàng ngoài và ĐC Lambert de la Motte làm Giám quản Đàng Trong.
Năm 1665, ĐC Pallu về Roma để xin Tòa thánh cử thêm Thừa sai, ĐC Lambert kiêm nhiệm Giám quản Đàng Ngoài, ngài đã tiến hành nhi?u chương trình mục vụ tại Đàng Ngoài :
Tháng 6 năm 1669 cùng với hai thừa sai De Bourges và Bouchard đặt chân tới Phố Hiến Đàng Ngoài bằng tàu buôn nước ngoài, đóng vai các thương gia. Sau 6 tháng hoạt động tại Đàng Ngoài, các ngài đã ban các bí tích Rửa tội và Thêm sức cho nhi?u người.
Ngày 26-2-1670 ngài chính thức thiết lập hội Dòng Mến Thánh Giá và đã nhận lời khấn của hai nữ tu đầu tiên Annê và Paula, người xứ Kiên Lao (Bùi Chu) như nền tảng của Hội Dòng này trên toàn nước Việt Nam.  
1.1 Công đồng Phố Hiến (Dinh Hiến) 1670
Đặc biệt trong hoàn cảnh cấm Đạo, thiếu nhân sự, ĐC Lambert đã triệu tập Công đồng Giáo phận Đàng Ngoài lần đầu tiên (cũng là Công đồng đầu tiên của Giáo hội tại Việt Nam), tại Phố Hiến , thuộc trấn Nam Sơn (nay thuộc thị xã Hưng Yên, giáo phận Thái Bình). Thực tế là cuộc họp trên một tàu buôn đang neo đậu trên sông cạnh Phố Hiến.
Đó là ngày 14 tháng 2 năm 1670, nhân dịp Mùa Chay thánh, Công đồng chính thức khai mạc dưới quyền chủ tọa của ĐC Lambert. Các thành viên tham dự gồm cha Chính giáo phận Deydier, hai thừa sai là Bourges và Bouchard cùng 7 LM đầu tiên của Việt Nam (cũng nên nhắc lại : tháng Giêng năm ấy Ngài đã truyền chức cho 7 tân LM là các cha Mattheu Mát, Simon Kiên, Antôn Quế, Philipphê Nhân, Giacobê Chiêu, Lêô Trung và Benedicto Tri).
Công đồng nhằm phổ biến các Nghị quyết của Tòa thánh về trách nhiệm và quyền hành của các vị Đại diện tông tòa, tổ chức cơ cấu mọi sinh hoạt tôn giáo trong Địa phận, đồng thời ra Huấn thị gồm 33 điều khoản, phần dâ giống như Huấn thị của đồng Juthia năm 1664 tại Thái Lan, chỉ sửa đổi nh?ng gì cần thiết cho thích hợp với hoàn cảnh và phong tục địa phương, Huấn thị này sau đó đã được Đức thánh cha Clemente X châu phê ngày 23-12-1673. Ngoài việc nhắc lại nh?ng quyết định của Công đồng Juthia, công đồng còn thêm nh?ng quyết định sau đây :
  • Chính thức nhận thánh Giuse là bổn mạng cho toàn thể Giáo hôi Việt Nam
  • Chia Địa phận Đàng Ngoài ra thành 9 giáo hạt và sẽ nhóm họp hằng năm.
  •  Ấn định đào tạo Chủng sinh qua tổ chức Nhà Đức Chúa Trời.
  • Các nhà thờ phải công bố sắc chỉ của Tông tòa về quyền Đại diện Tông tòa. Các LM phải nhận quyền từ Giám Mục Đại diện Tông tòa mới được giảng Đạo và giải tội.
  • Riêng về tổ chức Nhà Đức Chúa Trời vốn đã có từ thời Cha Alexandre de Rhode, công đồng đưa ra chỉ thị gồm 5 điểm :
1. Người Nhà ĐCT lên bậc Thày phải có tinh thần thoát tục và hy sinh, phải khấn ba điều Vâng phục, Độc thân và sống chung cộng đoàn.
2. Các Thày phục vụ ở đâu phải vâng phục Linh mục nơi đó như bề trên của mình.
3. Các Thày được cử đi các họ lẻ để dạy Giáo lý và hướng dẫn bổn đạo đọc kinh cầu nguyện.
4. Những gì bổn đạo biếu tặng phải để làm của chung.
5. Buộc các Linh mục phải săn sóc dạy bảo mọi người Nhà Đức Chúa Trời thuộc quyền.
Sau cuộc khai phá Đức Tin trên vùng đất mới của thừa sai các Dòng Tên, Augustinô, Phanxicô..., năm 1673, Đức cha Francois Pallu - Giám mục tông tòa Giáo phận Đàng Ngoài - đến Philipines gặp cha bề trên Tỉnh dòng Rất Thánh Mân Côi (Dòng Đaminh) xin gửi thừa sai sang Việt Nam giúp Giáo phận Đàng Ngoài.
Kể từ năm 1676, do việc cấm Đạo đã bớt phần căng thẳng, Phố Hiến trở thành nơi tiếp đón các nhà truyền giáo, nhất là các thừa sai Dòng Đaminh từ Philipines.
Ngày 21.03.1890, tỉnh Thái Bình được thành lập, lấy phủ lị của Phủ Thái Bình làm Tỉnh lỵ, trụ sở cơ quan Hành chính. Khi đó Phủ Thái Bình có Giáo họ Kỳ Bá, thuộc xứ Sa Cát. Gọi là giáo họ nhưng thật ra số tín hữu quá ít ỏi. Kỳ Bá hay Kỳ Bố - cũng gọi là Bố Hải Khẩu - có tên gọi là Bo (như bến đò Bo, cầu Bo). Cha Phêrô Munõagorri Trung - cha xứ Sa Cát - đã thấy được viễn tượng họ đạo Kỳ Bá sẽ là nơi phù hợp cho việc xây dựng Toà giám mục. Vì thế năm 1906, cha đã xây cất nhà thờ tỉnh lị Thái Bình theo kiến trúc Gothic. Sau khi làm Giám mục, cha Phêrô Munõagorri Trung đã thành lập Giáo xứ Thái Bình (17.08.1908), gồm 11 họ lẻ cắt từ xứ Cổ Việt và xứ Sa Cát, với hơn 2.000 tín hữu. Cha Tràng An (Marcos Gispert) được bổ nhiệm làm cha chính xứ đầu tiên.
Sau mấy chục năm coi sóc, Đức cha Phêrô Munõagorri Trung đã đưa giáo phận đến điểm cực thịnh. Năm 1934, Giáo phận Trung trởû thành quá lớn đối với một chủ chăn, Đức Thánh Cha Piô XI và Bề trên giáo phận có ý định chia Giáo phận Bùi Chu làm hai, đồng thời chuyển dần quyền lãnh đạo giáo phận cho hàng giáo sĩ bản quốc. Ngày 12.03.1935, Đức Thánh Cha đã bổ nhiệm cha Đaminh Hồ Ngọc Cẩn làm Giám mục phó Bùi Chu với quyền kế vị. Như vậy, Giáo phận Bùi Chu là giáo phận thứ hai chuyển giao cho hàng giáo sĩ Việt Nam (sau Giáo phận Phát Diệm).
1.2 - Thiết lập Giáo phận
Ngày 09 tháng 3 năm 1936 với Sắc chỉ Praecipuas inter Apostolicas của Đức Giáo hoàng Piô XI, Giáo phận Thái Bình chính thức được thành lập (tách khỏi Giáo phận Bùi Chu) bao gồm phần đất của hai tỉnh Thái Bình và Hưng Yên, với diện tích 2.207km2. Đây là một vùng đồng bằng trải rộng, đất đai màu mỡ, nuôi sống trên 3 triệu dân, chạy dài từ bãi biển Đồng Châu (phía Đông) tới nương khoai An Vĩ (phía Tây).
Sau khi thành lập, Giáo phận Thái Bình ngày một thăng tiến về mọi mặt. Tính đến năm 1939, ngoài Đức cha giáo phận Gioan Casado Thuận, Giáo phận còn có: 25 linh mục Dòng Đaminh (người Tây Ban Nha), 57 linh mục người Việt Nam, 333 thầy giảng, 12 sư huynh Lasan, 10 nữ tu Dòng Thánh Phaolô, 280 nữ tu Dòng ba Đaminh, 140.000 tín hữu trong 50 giáo xứ và 552 họ lẻ (Theo thống kê năm 1939 của Les Missions Catholiques en Indochine).
2 – GIÁO PHẬN THÁI BÌNH TỪ NĂM 1936-1954
Một tháng sau, ngày 15.6.1936, cha Gioan Casado Thuận được Tòa Thánh ban sắc phong Giám mục hiệu tòa Barata, Giám mục tông tòa đầu tiên Giáo phận Thái Bình. Ngày 02.8.1936 tại nhà thờ chính tòa Thái Bình, lễ tấn phong Giám mục được tổ chức long trọng, chủ phong là Đức cha Gómez Lễ (Francois Gomez de Santago OP).
2.1 - Giáo phận Thái Bình dưới thời Đức cha Gioan Casado Thuận (1936-1941)
Vì giáo phận chưa có Toà giám mục, Chủng viện và các cơ sở cần thiết, nên sau khi được tấn phong Giám mục, ngài bắt tay ngay vào việc xây dựng cơ sở cho giáo phận. Đức cha là một nhà truyền giáo nhiệt thành, là một chủ chăn tài ba có nhiều kinh nghiệm về xây dựng(trong các nhà thờ ngài chủ trì xây dựng có các nhà thờ Thức Hóa, Nam Định). Chỉ sau một năm, (9.1937) ngài đã khánh thành cơ sở đầu tiên là trường Tiểu chủng viện Mỹ Đức. Tiểu chủng viện gồm một tòa nhà ba tầng cao 14 mét, rộng 13 mét, dài 90 mét - nằm bên tả ngạn sông Trà Lý, thuộc xã Cát Đàm, kề cận là nhà ăn, khu nhà hậu cần, chăn nuôi. Đây là nơi đào tạo nhân sự cho giáo phận, có năm lên đến 140 tiểu chủng sinh.
Đức cha cũng để ý đến việc bác ái, quan tâm đến các trẻ em bị bỏ rơi, nên ngài đã xây dựng một nhà Dục Anh cấp giáo phận, tại Giáo xứ An Lập, trao cho các chị em “nhà phước” chăm sóc.
Cùng thời gian ấy, Ngài xây dựng Toà giám mục - một tòa nhà ba tầng ngay cạnh nhà thờ Chính tòa - trên một vị trí nhìn bao quát cả thị xã Thái Bình. Năm 1940, ngài cho tu sửa nối dài phần đầu nhà thờ Chính tòa. Đồng thời nối dài phần đầu Nhà Chủng viện để làm Nhà Nguyện (1941)
Trên phần đất giáo phận thuộc tỉnh Hưng Yên, Đức cha cho xây dựng một trường thầy giảng, tòa nhà kiến trúc theo lối Tây phương với ba tầng lầu, ngay tại tỉnh lị, làm nơi đào tạo các thầy giảng, những trợ tá cho các cha xứ trong giáo phận.
Những cơ sở này, Đức cha đã hoàn thành trong một thời gian ngắn kỷ lục, nội trong có ba năm, ngài đã xây dựng cơ sở vật chất hầu như đầy đủ cho giáo phận. Ngoài ra, Đức cha còn khuyến khích tu sửa, xây dựng nhiều thánh đường, các nhà xứ, nhà phước, trường học nơi các giáo xứ.
Về phương diện tinh thần, Đức cha chú ý đến việc đào tạo nhân tài cho giáo phận bằng việc gửi đại chủng sinh đi học xa, thành lập nhiều hội đoàn và thành lập một số giáo xứ mới. Số tín hữu tăng nhanh, trung bình mỗi năm có thêm khoảng ba nghìn giáo hữu mới. Số linh mục mỗi năm cũng tăng thêm từ 3 đến 5 vị. Tu sĩ nam nữ cũng ngày càng thêm đông số.
Có thể nói, Giáo phận Thái Bình phát triển mạnh ngay từ ngày thành lập là nhờ sự lãnh đạo tài đức, khôn ngoan, nhiệt thành của Đức cha Gioan Thuận và những cộng sự viên của ngài.
Ngày 26.4.1939, Đức cha Gioan Casado Thuận lên đường đi Rôma để triều yết Đức Thánh Cha Piô XII mới đăng quang. Ngài trình bày về hiện tình giáo phận mà ngài đang đảm nhiệm, xin Đức Thánh Cha chúc lành và nâng đỡ cho giáo phận còn non trẻ. Tiện đường, Đức cha ghé Tây Ban Nha để thăm lại quê hương cũ, đồng thời quyên tiền để kiến thiết xứ sở truyền giáo, nơi ngài đang trách nhiệm.
Thế chiến thứ II bùng nổ, Đức cha Gioan không có phương tiện trở về giáo phận, ngài phải lưu lại thủ đô Madrid. Ngày 22.01.1941, một cơn bạo bệnh bất ngờ đã đưa Đức cha Gioan Casado về nước Chúa, bỏ lại Giáo phận Thái Bình thân yêu mà ngài mới kiến tạo vững chắc cả về tinh thần cũng như vật chất.
Là một vị chủ chăn nhân từ, phúc hậu, hăng hái trong việc truyền giáo, cha chính Thái đã tận tâm điều hành mọi sinh hoạt trong giáo phận một cách xuôi chảy trong thời gian một năm giữ chức vụ nhiếp chính. Tháng 2 năm 1941 một toán đặc công của một tổ chức bí mật tống tiền và bắt đi mất tích. Mấy ngày sau giáo dân đi tìm kiếm, thấy thi thể ngài tren dòng sông Trà Lý gần bến Hộ. Giáo dân đưa thi hài ngài về an táng trong khu vực nhà thờ Cát Đàm.
2.2 - Giáo phận Thái Bình dưới thời Đức cha Santos Ubierna Ninh (1942-1954)  
Trong suốt thời gian Đức cha Ubierna Ninh lãnh đạo giáo phận, đất nước luôn ở trong tình trạng chiến tranh, Giáo phận Thái Bình cũng lâm cảnh đau thương của kháng chiến chống Nhật, chống đói, chống Pháp. Vì thế, Đức cha chỉ có thể duy trì các cơ sở và giữ vững tinh thần đức tin cho cộng đoàn dân Chúa trong giáo phận qua các hội đoàn đã có sẵn. Về văn hóa, ngài đã lập Nhà In Đaminh Thái Bình để in ấn những tài liệu, sách báo công giáo cho giáo phận. Tuy ngài lãnh đạo giáo phận trong thời khó khăn, nhưng cũng mang lại nhiều thành quả tốt đẹp.
Theo thống kê năm 1954, giáo phận Thái Bình có: 21 linh mục Dòng Đaminh, 64 linh mục giáo phận, 35 đại chủng sinh, 160 ngàn giáo dân. Tổng số dân cư trên phần đất giáo phận là 1,5 triệu (chiếm tỉ lệ 10,75%). Ngài còn lập thêm nhiều giáo xứ, nâng tổng số giáo xứ trong giáo phận lên đến 63 giáo xứ.
Sau hiệp định Genève, Đức cha di cư vào miền Nam. Thời gian này, ngài đã về Tây Ban Nha thăm lại cố hương. Khi trở lại Sài Gòn, Đức cha luôn thao thức về lại giáo phận trước ngày 29 hoặc 30 tháng 5 năm 1955 (là thời hạn chót cho việc tập kết, theo hiệp định đình chiến Genève). Ngày 15.4.1955, Đức cha đã an nghỉ trong Chúa, khi ngài mới có 48 tuổi và 13 năm chăn dắt đoàn chiên Giáo phận Thái Bình.
3 - TỪ NĂM 1954- ĐẾN NAY
Vì lý do chiến tranh, hơn một nửa giáo dân di cư, hầu hết cha, tu sĩ cũng rời giáo phận ra đi (1954). Trong khi đó, cha Đaminh Đinh Đức Trụ - nguyên là linh hướng Chủng Viện Mỹ Đức, đang coi xứ Nguyệt Lãng - tình nguyện ở lại cùng với một số cha khác. Cha đã được Đức cha Ninh đặt làm bề trên tổng quản giáo phận, từ ngày 30.06.1954.
Dưới quyền cha tổng quản Đaminh Đinh Đức Trụ, giáo phận chỉ còn 13 linh mục (phần lớn đã có tuổi), 23 chủng sinh, 26 dì phước dòng ba Đaminh, và khoảng 80.000 giáo dân.
3.1 - Giáo phận Thái Bình dưới thời Đức cha Đaminh Maria Đinh Đức Trụ (1954-1982)
Sau gần 6 năm làm giám quản giáo phận, ngày 05.3.1960, Tòa Thánh ban sắc phong cha Đaminh Đinh Đức Trụ lên chức Giám mục hiệu tòa Catapas, làm Giám mục tông tòa Giáo phận Thái Bình. Đức cha Đaminh Maria Đinh Đức Trụ chào đời ngày 15.10.1909 tại Phú Nhai. Năm 16 tuổi ngài theo học Latinh tại Tiểu chủng viện Ninh Cường. Mùa thu năm 1931, ngài theo học khóa Triết tại Đại chủng viện thánh Alberto Nam Định. Mùa hè năm 1933, ngài thực tập tại Đông Chú và Đồng Lạc thuộc xứ Đồng Quan. Mùa thu 1934, cha trở lại Đại chủng viện tiếp tục học Thần Học bốn năm. Mãn khóa Thần Học, ngài được thụ phong linh mục ngày 23.05.1938.
Ngày lễ Truyền Tin (25.3.1960), cha Đaminh Đinh Đức Trụ đã được Đức Cha Giuse Trịnh Như Khuê tấn phong Giám mục tại Hà Nội với khẩu hiệu Giám mục là “Tinh binh của Chúa Kitô – Bonus Menes Christi”.
Ngày 24.11.1960, Tòa Thánh thiết lập Hàng Giáo Phẩm Việt Nam, Đức cha Đaminh Đinh Đức Trụ trở thành Giám mục chính tòa đầu tiên của Giáo phận Thái Bình.
Khi còn làm giám quản giáo phận, một trong những ưu tư hàng của của ngài là làm thế nào để bổ sung thêm nhân sự cho giáo phận còn thiếu nhiều do hậu quả cuộc di cư 1954 để lại. Do vậy, đầu năm 1956, cha Đaminh Đinh Đức Trụ khai giảng trường Mỹ Đức, tiếp nhận tất cả các con em trong giáo phận về học. Niên khoá đầu tiên 1956-1957, con số học sinh đã lên tới 350.
Ngày 16.7.1960 ngài đã truyền chức linh mục cho bốn thầy đã được hàm thụ từ trước: Joseph Đinh Bỉnh (1922), Joseph Bùi Văn Cẩm (1931), Joachim Trần Đức Uyên (1901), Joseph Vũ Văn Vân (1897). Sau đó, ngài tiếp tục đào tạo và truyền chức cho nhiều thầy nữa.
Sau một thời gian dài phục vụ giáo phận, ngày 07.6.1982 ngài đã an nghỉ trong Chúa sau 73 năm trên trần thế, với 44 năm linh mục vàø 22 năm Giám mục chính tòa giáo phận. Đức cha Đaminh Đinh Đức Trụ là một chủ chăn: đạo đức, hy sinh trong cuộc sống; khôn ngoan, sáng suốt trong lãnh đạo; hiền từ, bình dân trong giao tiếp; hăng say, quên mình trong phục vụ; can đảm, cương quyết trong trách nhiệm.
3.2 - Giáo phận Thái Bình dưới thời Đức cha Giuse Maria Đinh Bỉnh (1982-1989)
Vị Giám mục kế nhiệm Đức cha Đaminh Đinh Đức Trụ là Đức cha Giuse Đinh Bỉnh. Đức cha Giuse Đinh Bỉnh sinh ngày 02.5.1922 tại Phú Nhai, Giáo phận Trung. Học xong tiểu học, ngài gia nhập Tiểu chủng viện Ninh Cường (Bùi Chu), rồi Mỹ Đức (Thái Bình). Ngài học Thần học và Lý đoán tại Đại chủng viện thánh Alberto Nam Định. Ngày 16.07.1960 (lễ Đức Mẹ núi Camêlô), Đức cha Đaminh Đinh Đức Trụ đã truyền chức linh mục cho ngài. Từ năm 1972-1977, ngài là giám đốc Chủng viện Mỹ Đức và coi sóc các Giáo xứ Sa Cát, Phương Xá v.v. Ngài được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II ban sắc phong giám mục ngày 30-10-1979.
Ngày 08-12-1979, tại nhà thờ chính tòa Thái Bình, Đức Hồng Y Giuse Trịnh Văn Căn tấn phong Giám mục cho ngài . Nhận thức rõ nhiệm vụ khó khăn của một chủ chăn, vị tân Giám mục đã muốn phó thác cuộc đời và giáo phận trong tay Đức Mẹ. Khẩu hiệu Giám mục của ngài là “Ecce Mater tua: Này là Mẹ con”.
Nối tiếp công việc của vị tiền nhiệm, Đức cha Giuse Đinh Bỉnh luôn ưu tiên cho việc đào tạo linh mục. Đồng thời ngài tận tâm tận lực chăm sóc cho đời sống đức tin của giáo phận. Là một chủ chăn hiền lành, đơn sơ, lấy đức Ái làm phương châm cuộc sống, nên có người đã gọi ngài bằng biệt danh là “Hòa Bình”.
Còn đang mải miết lo cho giáo phận, thì vào lúc 4 giờ sáng ngày 14.03.1989, ngài đã an nghỉ trong Chúa, sau cơn nhồi máu cơ tim, hưởng thọ 67 tuổi, với 29 năm linh mục và 11 năm Giám mục.
Ngày 14.03.1989, Tòa Thánh bổ nhiệm Đức Hồng Y Giuse Trịnh Văn Căn làm Giám quản Giáo phận Thái Bình.
Hơn một năm làm Giám quản, Đức Hồng Y Giuse chú trọng đến đời sống đức tin của giáo phận; tổ chức những tuần tĩnh tâm cho các linh mục; khôi phục hội Dâng Hoa tháng Năm kính Đức Mẹ. Ngài cũng lưu tâm đến việc trùng tu các nhà thờ trong giáo phận.
3.3 - Giáo phận Thái Bình dưới thời Đức cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Sang (1990-2009)
Ngày 03.12.1990, Tòa Thánh bổ nhiệm Đức cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Sang - Giám mục phụ tá Tổng giáo phận Hà Nội - làm Giám mục chính tòa Giáo phận Thái Bình. Đức Cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Sang sinh ngày 08.01.1932 tại xứ Lại Yên, huyện Hoài Đức, ngoại thành Hà Nội. Ngài đã theo học nhiều năm tại Tiểu chủng viện Hoàng Nguyên, Đại chủng viện Xuân Bích, và trường Trung học Pháp. Ngày 18.04.1958, tại nhà thờ lớn Hà Nội, ngài lãnh nhận tác vụ linh mục. Ngày 24.03.1981, ngài được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II bổ nhiệm làm Giám mục hiệu toà Sarda, phụ tá Đức Hồng Y Giuse Maria Trịnh Văn Căn. Lễ tấn phong Giám mục của ngài được long trọng cử hành tại Nhà thờ Chính Tòa Hà Nội vào ngày 22.04.1981 với khẩu hiệu: "Chân Lý Trong Tình Thương: Veritatem in Caritate". Ngày 01.05.1981, ngài được cử giữ chức Giám đốc Đại chủng viện Hà Nội. Từ năm 1983-1989, ngài được bầu làm Tổng thư ký Hội đồng Giám mục Việt Nam trong hai nhiệm kỳ liên tiếp.
Ngày 3-12-1990, ĐTC đã chỉ định Ngài làm Giám Mục giáo phận Thái Bình. Đến ngày 05.02.1991 ngài về nhận Giáo phận Thái Bình. Khi vừa đặt chân lên đất Thái Bình, Đức cha đã “quì xuống hôn lên mảnh đất thân yêu” mà ngài được chỉ định gắn bó kết duyên.
Như các vị tiền nhiệm, Đức cha Phanxicô cũng ưu tiên lo lắng đến việc đào tạo linh mục. Việc đầu tiên là lo cho 9 linh mục được công khai làm mục vụ và gửi một số linh mục  ra nước ngoài du học. Về cơ sở vật chất, ngài lo tu sửa Toà giám mục, kiến thiết tân tạo Nhà thờ chính tòa theo kiểu mẫu tân kỳ. Chấp thuận và khích lệ việc xây sửa các cơ sở nhà thờ, nhà xứ trong giáo phận.
Năm 1996, Đức cha xin Tòa Thánh cho tổ chức Năm Thánh Giáo phận Thái Bình kỷ niệm 60 năm thành lập giáo phận và 90 năm xây dựng Nhà thờ chính tòa. Đặc biệt Toà Thánh ban ơn Toàn Xá trong ba Năm Thánh liên tiếp (1996, 1997, 1998) cho Giáo phận Thái Bình. Trong những năm này, Đức cha cùng với toàn thể giáo phận dâng lời tạ ơn Thiên Chúa. Đồng thời ngài cũng nhấn mạnh việc ăn năn sám hối và giao hòa giữa các thành phần trong Giáo Hội và xã hội.
Là một Chủ chăn năng động và tài ba, Đức Cha được cử giữ các trọng trách trong Hội đồng GM Việt Nam : Tổng thư ký , Chủ tịch Ủy Ban Giáo Dân… chính thời gian này ngài đã tổ chức Đại hội giới trẻ Công giáo trong Giáo Tỉnh Hà nội tại Thái Bình, theo gương Đại hội giới trẻ thế giới của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, mở đầu cho một phong trào Ngày giới trẻ trong các Giáo phận.
Ngày 25.07.2009, ngài đã được Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI chấp thuận cho về nghỉ hưu sau 19 năm phục vụ giáo phận.
3.4 - Giáo phận Thái Bình dưới thời Đức cha Phêrô Maria Nguyễn Văn Đệ SDB (2009-đến nay)
 Ngày 25.07.2009, Toà Thánh đã chính thức bổ nhiệm Đức cha Phêrô Maria Nguyễn Văn Đệ SDB - Giám mục phụ tá Giáo phận Bùi Chu - làm Giám mục Chính toà Giáo phận Thái Bình. Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Đệ sinh ngày 15.01.1946 tại Trí Bưu, Thạch Hãn, tỉnh Quảng Trị thuộc tổng Giáo phận Huế. Năm 1958, ngài gia nhập Dòng Salesian Don Bosco và khấn Dòng ngày 15.08.1965. Sau khi học xong trung học, ngài được gửi đi học triết học tại Hồng Kông từ năm 1965-1968. Năm 1968, về Việt Nam, ngài theo học Thần Học tại học viện Giáo Hoàng Piô X Đà Lạt từ năm 1970-1974. Ngài được thụ phong linh mục ngày 17.12.1973. Sau khi chịu chức, ngài đã lần lượt giữ chức: Bề trên Giám Tỉnh Dòng Don Bosco Salesian (1992-1997); giám đốc học viện thần học Don Bosco Salesian ( 1997-2000); giáo sư Đại chủng viện thánh Giuse Hà Nội (2000-2005). Ngày 29.11.2005, Toà Thánh chính thức ban sắc phong ngài làm Giám mục phụ tá Giáo phận Bùi Chu, hiệu toà Ammaedara. Thánh lế tấn phong Giám mục được cử hành vào ngày 18.01.2006 tại Nhà thờ chính toà Bùi Chu với khẩu hiệu : “Xin cho Tôi Các Linh Hồn - Da Mihi Animas”.
Ngày 01.09.2009, ngài chính thức nhận giáo phận. Kể từ đây, Giáo phận Thái Bình là quê hương thứ hai của ngài. Trong bài giảng ngày nhận giáo phận, ngài nói : “Xin anh chị em hãy quảng đại đón nhận tôi như một thành viên bé nhỏ vào đại gia đình giáo phận, và xin cầu nguyện nhiều cho tôi, để tôi luôn cố gắng bắt chước sống và thực hành như lý tưởng sống của thánh Phao-lô: từ nay không còn là tôi sống nữa là giáo phận Thái Bình, là anh chị em giáo dân sống trong tôi. Từ nay sự sống tôi, trái tim tôi, hơi thở tôi, vui buồn sướng khổ, thành công hay thất bại của đời tôi, xin được hoàn toàn gắn liền với cuộc sống của anh chị em, với cộng đoàn dân Chúa tại giáo phận Thái Bình”.
Sau khi nhận giáo phận, Đức cha đã lần lượt đi thăm các giáo xứ trong giáo phận. Ngài đã cùng với linh mục đoàn xây dựng bản Chỉ Nam cho giáo phận trong hiện tại và hướng đến tương lai. Từ khi có bản Chỉ Nam, Đức cha đã kiện toàn lại cơ cấu tổ chức trong giáo phận. Với hơn hai năm về coi sóc giáo phận, ngài không chỉ quan tâm đến việc xây dựng, kiến thiết cơ sở vật chất, mà còn lo lắng đào tạo nhân sự, quan tâm đến các trẻ em nghèo hiếu học, nhất là đối với những người gặp hoàn cảnh khó khăn và khuyết tật.

 


Tin cùng chuyên mục

Sinh hoạt khác

Tin Giáo Hội

Mục Tổng Hợp

» Xem tất cả Video

Liên kết website

Bài viết được quan tâm