Danh mục bài viết

Cập nhật 7/3/2021 - 17:9 - Lượt xem 4425

Thứ Hai tuần 3 Mùa Chay

"Như Elia và Elisêô, Chúa Giêsu không phải chỉ được sai đến người Do-thái mà thôi đâu".

Tin Mừng: Lc 4, 24-30

Khi ấy, Đức Giêsu nói với dân chúng rằng: “Tôi bảo thật các ông: không một ngôn sứ nào được chấp nhận nơi quê nhà của mình. Thật vậy, tôi nói cho các ông hay: vào thời ông Êlia, khi trời hạn hán suốt ba năm sáu tháng, cả nước phải đói kém dữ dội, thiếu gì bà goá ở trong nước Israel; thế mà ông không được sai đến giúp một bà nào cả, nhưng chỉ được sai đến giúp bà goá thành Sarepta miền Siđôn. Cũng vậy, vào thời ngôn sứ Êlisa, thiếu gì người phong hủi ở trong nước Israel, nhưng không người nào được sạch, mà chỉ có ông Naaman, người xứ Syria thôi.” Nghe vậy, mọi người trong hội đường đầy phẫn nộ. Họ đứng dậy, lôi Người ra khỏi thành - thành này được xây trên núi. Họ kéo Người lên tận đỉnh núi, để xô Người xuống vực. Nhưng Người băng qua giữa họ mà đi.

 

Suy niệm :

1. Băng qua giữa họ mà đi - Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ.

Trong Mùa Chay Giáo Hội cho chúng ta nghe 
về kết cục khá bất ngờ và đau đớn của Đức Giêsu 
khi Ngài trở về với hội đường của làng Nazareth thân quen. 
Nơi đây Ngài gặp lại những người đồng hương. 
Họ ngỡ ngàng trước những lời Ngài giảng. 
Họ muốn Ngài làm những điều Ngài đã làm ở Caphácnaum (Lc 4, 23). 
Nhưng Đức Giêsu đã đáp lại bằng câu tục ngữ: 
“Không một ngôn sứ nào được chấp nhận nơi quê nhà của mình” (c. 24). 
Đức Giêsu tự nhận mình là một ngôn sứ. 
Như những ngôn sứ khác trong lịch sử Israel, 
Ngài cũng không được đón nhận và tin tưởng bởi những người cùng quê. 
Họ nghĩ mình đã quá biết Ngài, biết gia tộc, biết nghề nghiệp, 
biết quá khứ từ ấu thơ đến lúc trưởng thành. 
Chính cái biết ấy, đúng nhưng không đủ, 
lại trở thành một chướng ngại cho việc họ nhận ra Ngài thật sự là ai. 
“Ông này không phải là con ông Giuse sao?” (Lc 4, 22). 
Đúng Ngài là con ông Giuse, một người thợ mộc. 
Đúng ngài là ông thợ mộc độc thân người làng Nazareth. 
Giêsu Nazareth là tên được ghi trên thập tự, 
Nazareth sẽ mãi mãi đi với tên Ngài để phân biệt ngài với những Giêsu khác. 
Đức Giêsu chẳng bao giờ coi thường Nazareth, quê nhà của mình. 
Ngài quen biết những khuôn mặt trong hội đường này và yêu mến họ. 
Nhưng sứ mạng của Ngài trải rộng hơn Nazareth nhiều. 
Ngài cho thấy mình không bị trói buộc bởi mối dây làng xã, 
cũng không bị giữ chân bởi những người đồng bào cùng tôn giáo. 
Để biện minh cho thái độ rộng mở của mình, 
Đức Giêsu đã nhắc đến hành động của hai vị ngôn sứ thời Cựu Ước. 
Êlia, vị ngôn sứ đầy quyền năng, được Thiên Chúa sai đến với một bà góa. 
Bà này là một người dân ngoại sống ở Siđôn vùng dân ngoại. 
Êlisa, vị ngôn sứ học trò của Êlia, đã chữa bệnh phong cho Naaman. 
Ông này là người dân ngoại, chỉ huy đạo quân của Syria. 
Như thế các vị ngôn sứ nổi tiếng đã không bị bó hẹp trong dân Do thái. 
Họ đã mở ra với dân ngoại. 
Đức Giêsu cũng chẳng bị giới hạn bởi bất cứ biên cương nào. 
Ngài chẳng dành cho quê nhà Nazareth một ưu tiên nào. 
Phải chăng vì thế mà Ngài làm họ phẫn nộ đến độ muốn xô Ngài xuống vực? 
Nỗi đe dọa lại đến từ chính những người đồng hương. 
Làm sao chúng ta nhận ra và chấp nhận những ngôn sứ bề ngoài rất bình thường 
đang sống trong cộng đoàn chúng ta hôm nay? 

Lạy Chúa Giêsu, 
dân làng Nazareth đã không tin Chúa 
vì Chúa chỉ là một ông thợ thủ công. 
Các môn đệ đã không tin Chúa 
khi thấy Chúa chịu treo trên thập tự. 
Nhiều kẻ đã không tin Chúa là Thiên Chúa 
chỉ vì Chúa sống như một con người, 
Cũng có lúc chúng con không tin Chúa 
hiện diện dưới hình bánh mong manh, 
nơi một linh mục yếu đuối, 
trong một Hội thánh còn nhiều bất toàn. 
Dường như Chúa thích ẩn mình 
nơi những gì thế gian chê bỏ, 
để chúng con tập nhận ra Ngài 
bằng con mắt đức tin. 
Xin thêm đức tin cho chúng con 
để khiêm tốn thấy Ngài 
tỏ mình thật bình thường giữa lòng cuộc sống. 

 

2. Không chừng sẽ mất ơn cứu độ vì kiêu ngạo! - Tu sĩ Jos. Vinc. Ngọc Biển, S.S.P.

Quê hương đã trở nên máu thịt cho mỗi người. Nó chẳng khác gì tâm tư của nhà thơ Chế Lan Viên: “Khi ta ở đất chỉ là nơi đất ở, khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn”. 

Với nhà thơ Đỗ Trung Quân thì:“Quê hương là chùm khế ngọt, nếu ai không nhớ, sẽ không lớn nổi thành người”. Vì thế, trong dân gian, người ta không ngớt khen ngợi quê hương và tự hào: “Không nơi đâu đẹp bằng quê hương mình”; hay để nói về tình nghĩa quê hương, người ta cũng thường nhắc nhở nhau: “Ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn”. 

Những tâm tình ấy cho chúng ta thấy một điều là: nơi mà mình đã từng chôn nhau cắt rốn sẽ theo ta suốt cuộc đời, và dù có đi muôn phương ngàn lối, nhưng ai cũng chỉ có một chốn để về, đó là quê hương.

Có lẽ mang trong mình tâm tình ấy, nên Đức Giêsu cũng đã trở về quê hương của Ngài, nhưng điều oái oăm thay, dân làng đã không đón nhận Ngài, ngược lại, họ tìm cách để hãm hại Ngài. Vì thế, Đức Giêsu đã nói một câu bất hủ mang tính tiên tri: “Không tiên tri nào được sùng mộ nơi quê hương”.

Thật thế, người đương thời với Đức Giêsu, họ không thể chấp nhận một con người bình dân học vụ như thế mà lại là Đấng Cứu Thế! Dưới mắt họ, Ngài chỉ là con của ông thợ mộc Giuse và bà Maria, bản thân Ngài không hơn không kém một thanh niên như mọi thanh niên khác trong làng. 

Chính sự coi thường, khinh khi, nên lòng họ ra chai cứng, không còn khiêm nhường, nhạy bén để nhận ra Đấng Uy Quyền, là Chúa Tể trời đất đang ở giữa họ, vì thế, họ đã khước từ chân tính đích thực của Đức Giêsu. Thấy vậy, Đức Giêsu mặc khải cho họ biết: họ sẽ không được bằng dân ngoại, và ơn cứu độ lẽ ra đến với họ trước tiên và phong phú, nhưng khi đã từ chối thì ơn đó sẽ đến với dân ngoại.

Xuyên suốt câu chuyện Tin Mừng cho chúng ta thấy, người Dothái "thích sự thật khi sự thật tán tụng họ, nhưng họ căm ghét sự thật khi sự thật lên án họ" (thánh Augutstinô). 

Sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy biết khiêm tốn nhìn nhận sự yếu hèn của mình để cần đến ơn cứu độ. Cần tránh thói hư là: “Gần Chùa gọi Bụt bằng anh”; hay  “bụt nhà không thiêng”. Hãy biết tôn trọng anh chị em mình trong sự thật, đừng vì ghen ghét, hiềm khích hay sợ người anh em trổi trang hơn mình mà ra tay làm hại hay nói năng những lời nguy hại đến thanh danh tiếng tốt của họ! Làm như thế, ấy là chúng ta đang đi vào vết xe đổ của những người đồng hương với Đức Giêsu, và như một lẽ tất yếu, chúng ta sẽ mất ơn cứu độ vì không thuộc về Thiên Chúa.

Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho chúng con biết tôn trọng và yêu mến mọi người. Nhất là những người cùng sống và làm việc trên quê hương với chúng con. Amen.

 

 

3. Tin là chấp nhận 

Trong bài Tin Mừng hôm nay Chúa Giêsu đã chỉ trích thái độ tự mãn, ích kỷ của người Do Thái. Người Do Thái trong hội đường Nagiarét đã tìm cách hãm hại Chúa Giêsu khi Ngài lên tiếng chê trách niềm tin của họ. Có lẽ ai trong chúng ta cũng bất bình về việc làm của nhóm người này, nhưng kỳ thực nhiều khi trong cuộc sống chúng ta đã sao chép nguyên bản việc làm ấy. Tự hào là Kitô hữu, là người nắm giữ niềm tin, nhưng rồi với một mớ lễ nghi hình thức, niềm tin trong chúng ta chỉ còn là ngọn đèn leo lét, chỉ là thân cây mất hết nhựa sống chờ ngày gãy đổ. Ðó là thứ niềm tin mà tác giả cuốn sách Ðường Hy Vọng đã nhắc nhở: "Nhiều người nói tôi có đức tin, tôi còn đức tin, có lẽ đức tin của đời sống. Ít người sống theo đức tin. Ðừng bao giờ mê tín mãn nguyện với một đức tin lý thuyết, hình thức, nhưng phải sống một đức tin chân thật, thiết ái, trung thành."

Tự mãn với chính mình mà không chịu mở lòng đón nhận khiến người Do Thái mất đi Chúa Giêsu - nền tảng của niềm tin. Cũng vậy, nếu Kitô hữu chỉ đóng khung trong một nghi thức, luật lệ, thì sớm muộn gì họ cũng xa cội nguồn sự sống, vì sống là gì nếu không phải là một luân lưu trao đổi. Con người sẽ chết khi hệ tuần hoàn không luân chuyển, hệ thần kinh không vận động. Ðời sống đức tin cũng đòi hỏi một sự luân lưu trao đổi với Thiên Chúa và với anh em.

Ðối với người Kitô, tin trước hết là chấp nhận được cứu rỗi, được tha thứ, được yêu thương. Chúa không phải là Ðấng bắt con người phải kính mến. Nói đúng hơn Thiên Chúa là Ðấng mà con người phải để cho Ngài yêu thương vô hạn. Tin là chấp nhận Chúa Kitô và quyết tâm sống chết cho Ngài.

Trong mùa Chay này, xin cho chúng con biết trở về, trở về trước hết trên căn bản của một đức tin không co cụm trong lý thuyết, trong nghi lễ, nhưng là biết mở rộng lòng đón nhận để tìm được ý nghĩa đích thực của đời sống đức tin.

 

4. Không một tiên tri nào

Lại thêm một lần đòi dấu lạ. Con người nổi dậy chống Thiên Chúa, họ đòi Ngài phải chứng tỏ sử vụ tiên tri của Ngài bằng cách làm hài lòng và thỏa mãn họ. Nhưng Thiên Chúa phải cúi phục trước con người sao ? Thiên Chúa ban ơn cứu độ, nhưng Ngài chỉ ban cho kẻ tin kính vâng lời Ngài, cho kẻ trông chờ trong kiên nhẫn âm thầm. Ngài đòi có đức tin, vâng lời nhận lãnh biết ơn đối với tất cả tâm tình của họ.

Dân làng Na-gia-rét không nhận biết Đức Giê-su: vì họ phán đoán hoàn toàn theo sở thích loài người. Đức Giê-su là ngôn sứ, Người hành động theo sứ mạng Thiên Chúa.

Không phải những đòi hỏi của người trần ấn định cho hành động của các ngôn sứ, của Đức Ki-tô, các ngài không hành động vì lợi riêng cho mình. Các ngài chỉ hành động theo ý Thiên Chúa. Ngôn sứ không được hành động theo quyết định bản thân mình, nhưng luôn luôn theo quyết định của Thiên Chúa, Đấng đã sai mình.

Thiên Chúa quyết định cho hai ngôn sứ : Ê-li-a và Ê-li-sê đến làm phép lạ cứu giúp những người lương dân chứ không cứu người đồng hương. Đức Giê-su không hoàn toàn đến thực hiện ơn cứu độ cao cả cho quê hương mình, Người phải đi cứu độ những người dân xa lạ. Thiên Chúa dành cho mình có quyền tự do phân phát ơn cứu độ.

Không ai có thể đòi quyền được ơn cứu độ. Quả thật như vậy, không ai được phép đòi có quyền đó, phải tin ơn cứu độ mình được là nhưng không. Nước Thiên Chúa mà Đức Giê-su rao giảng và thực hiện ơn cứu độ cho những người Thiên Chúa yêu thương, ơn cứu độ là một ân huệ chứ không do công lao mình làm. Nhưng đó là ân huệ chúng ta được quyền hưởng vì Đức Giê-su đã chết cho chúng ta, và chúng ta phải sống hoàn toàn theo ý Cha của Người, đó là điều kiện căn bản, còn chúng ta vẫn có tự do đón nhận hay từ chối ơn cứu độ.

Nhờ Đức Giê-su, Thiên Chúa đến viếng thăm dân Ngài và ban các ân huệ dồi dào, xưa kia Ngài cũng ban cho dân như vậy qua các ngôn sứ, số phận các ngôn sứ thế nào thì số phận Đức Giê-su cũng vậy.

 

5. Người đồng hương không đón nhận Người

“Không có tiên tri nào được sùng mộ nơi quê hương” (c.24)

Người đời vẫn nói “Không nơi đâu đẹp bằng quê hương”. “Ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn”. Điều này minh chứng bất cứ ai cũng yêu mến quê hương, nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Đây là xét về mặt tình cảm cá nhân dành cho quê hương đối lại với cá nhân thì phải nhận ra chân lý bất hủ này của Chúa Giêsu “Không tiên tri nào được sùng mộ nơi quê hương” (c.24). Hãy nhìn sang tôn giáo bạn, chẳng hạn, đức Khổng, đức Phật đều là thứ “bụt nhà không thiêng”. Đó là quan niệm cố hữu bình dân.

Chính thân phận Chúa Giêsu cũng thế. Ngoại trừ có lần lên 12 tuổi (Lc 2,41), được nổi nang giữa các luật sĩ. Còn ra suốt 30 năm trời im lặng, làm những người đồng hương ngỡ ngàng khi thấy một chàng thanh niên giảng dạy xuất chúng và kèm theo những phép lạ kinh hoàng. Người ta không thể ngờ 30 năm im lặng của Chúa là cái im lặng của một cánh rừng già trước giông bão bùng, là cái im lặng của một võ sĩ trước khi lên võ đài. Sự im lặng của một vì Thiên Chúa nấp sau bản tính loài người... đã làm những người đồng hương hiểu lầm đến nỗi khi thấy Chúa truyền thông giáo lý mới cùng với những phép lạ cả thể thì họ đều coi là Chúa “bị mất trí” (Mc 3,10).

Đứng trước sự khôn ngoan của Chúa họ cũng ngạc nhiên, nhưng họ hồ nghi vì đâu có thấy Ngài học hay xuất thân từ một trường biệt phái bao giờ, và họ còn bàn tán “Ngài chẳng phải là con bác thợ mộc và bà Maria sao ?” (6,3). Còn về những phép lạ thì họ cắt nghĩa là Chúa thông đồng với tướng quỉ Beelgiêbuth (Mt 12,24. Mc 3,22). Thật ra dân chúng cũng đã từng ngạc nhiên tự hỏi: “Bởi đâu ông này được khôn ngoan và làm nhiều phép lạ như vậy” (Mt 15,53). Họ cũng biết nhìn cái bảng hiệu bên đường. Nhưng lại không đi theo bảng hiệu đã chỉ. Họ cũng đã thấy nơi Ngài có những điều siêu phàm, nhưng không muốn tìm hiểu gì hơn.

Họ không thể hiểu được nơi Chúa Giêsu là kết tinh của một vì Thiên Chúa và một con người nhân loại, là Đấng vĩnh cửu ở trong thời gian 33 năm, là Chúa trời đất trong trời đất, là Đấng vinh quang phải tôn thờ, nhưng lại bị sỉ nhục... Điều đó làm họ vấp phạm, đến phản bội lại chính Ngài là con của cùng một quê hương. Chúa Giêsu đã không thể làm phép lạ nơi quê nhà, vì họ không tin (Mc 6,5). Và như bài Phúc âm hôm nay nơi họ còn cố ý gài bẫy Chúa: điệu Chúa lên triền núi để xô ngã cho chết (Lc 4,28). Họ đã nhiều lầm Chúa là Chúa của họ, là  người đồng hương của họ.

Chính Giáo hội đi vào con đường như thế, Giáo hội cũng làm chúng ta khó hiểu đến nỗi có thể thành trường hợp viên đá vấp ngã. Nơi Giáo hội, Thiên Chúa Cha đã hiện diện trong quyền vô ngộ, trong bảy bí tích, trong ơn thánh. Nhưng qua trung gian của nhân loại, lời Chúa, lệnh Chúa lại được viết bằng ngôn ngữ của nhân loại. Chúa lại dùng những chất liệu: nước, bánh, dầu... để làm thể chất cho các bí tích mà Chúa để lại cho Giáo hội. Những lời nói phát xuất từ miệng một linh mục là một phàm nhân. Nhưng lại có khả năng tha tội. Ơn sủng được ban phát bằng những nghi thức và dấu hiệu khả giác của các bí tích. Nơi Giáo hội hai yếu tố thần linh và nhân loại bổ túc cho nhau cách sâu thẳm.

Cũng là hình ảnh nơi chính mỗi con người chúng ta nữa. Nơi con người ai ai cũng mang một thân xác mỏng manh, giòn ải, yếu hèn... Nhưng lại chứa đựng một giá trị lớn hơn mọi chân ngọc trần thế là linh hồn, là đền thờ của Thiên Chúa Ba ngôi. Với đức tin chúng ta nhận ra được sự dung hòa của một Thiên Chúa làm người, của một Giáo hội tại thế, của một con người giống hình ảnh Thiên Chúa... mà mỗi một ngày sống là nên giống Thiên Chúa hơn cho tới khi về tới trời. Chúng ta nhớ Chúa Giêsu đẹp lòng Thiên Chúa Cha mọi đàng mà còn gặp hiểu lầm !!!

 

6. Đời sống đức tin thật 

Trong cuốn phim Mỹ do tài tử Marcel Marso thủ diễn có kể câu chuyện sau : Một thanh niên đang lim dim đôi mắt tận hưởng ánh nắng tuyệt vời vào một ngày đẹp trời. Nhưng bỗng nhiên niềm vui của anh bị quấy rầy do tiếng ồn ào của đám trẻ, tiếng chó sủa, tiếng chim hót, tiếng người qua lại. Mỗi tiếng động đều có nguyên do và niềm vui riêng của nó, nhưng đối với chàng, tất cả đều trở thành cực hình. Để chống lại sự phiền nhiễu ấy, anh xây quanh mình một bức tường ngăn các âm thanh. Mỗi tiếng động vọng tới là mỗi lần anh gắng sức xây. Cứ như thế bức tường lớn dần cao dần, cho đến lúc ngăn cản được hết mọi tiếng động, thì bức tường cũng che mất ánh nắng tuyệt vời, bức tường trở thành chiếc mộ khổng lồ giam hãm anh trong đó.

Dân Do Thái cũng đã được tắm gội ánh sáng. Đó là niềm tin được trao ban từ Tổ phụ Abraham. Tuy nhiên, vì tự mãn, ích kỷ, họ đã hành động chẳng khác gì chàng thanh niên trên. Không chịu mở lòng đón nhận khiến niềm tin của họ trở nên khô cằn mất sức sống. Xây lên bức tường để bảo vệ mình hóa ra lại tự hại chính mình.

Chúa Giêsu đã chỉ trích thái độ đó trong bài Tin mừng hôm nay. Người Do Thái  trong Hội đường Nazaret đã tìm cách hãm hại Chúa Giêsu khi Ngài lên tiếng chê trách niềm tin của họ. Có lẽ ai trong chúng ta cũng bất bình về việc làm của nhóm người này, nhưng kỳ thực nhiều khi trong cuộc sống chúng ta đã sao chép nguyên bản việc làm ấy. Tự hào là Kitô hữu, là người nắm giữ niềm tin, nhưng rồi với một mớ lễ nghi hình thức, niềm tin trong chúng ta chỉ còn là ngọn đèn leo lét, chỉ là thân cây mất hết nhựa sống chờ ngày gẫy đỗ. Đó là thứ niềm tin mà tác giả cuốn sách "Đường hy vọng" đã nhắc nhở  : "Nhiều người nói tôi có đức tin, tôi còn đức tin, có lẽ đức tin của giấy khai sinh, không phải đức tin của đời sống. Ít người sống theo đức tin. Đừng bao giờ mãn nguyện với một đức tin lý thuyết, hình thức, nhưng phải sống một đức tin chân thực, thiết ái, trung thành".

Tự mãn với chính mình mà không chịu mở lòng đón nhận khiến người Do Thái đã mất đi Chúa Giêsu - nền tảng của niềm tin. Cũng vậy, nếu Kitô hữu chỉ đóng khung trong một nghi thức, luật lệ, thì sớm muộn gì họ cũng xa cội nguồn sự sống, vì sống là gì nếu không phải là một luân lưu trao đổi. Con người sẽ chết khi hệ tuần hoàn không lưu chuyển, hệ thần kinh không vận động. Đời sống đức tin cũng đòi hỏi một sự luân lưu trao đổi với Thiên Chúa và với anh em.

Đối với người Kitô hữu, tin trước hết là chấp nhận được cứu rỗi, được tha thứ, được yêu thương, Chúa không phải là Đấng bắt con người phải kính mến, nói đúng hơn Thiên Chúa là Đấng mà con người phải để cho Ngài yêu  thương vô hạn. Tin và Chấp nhận Đức Kitô và quyết tâm sống chết cho Ngài.

Trong Mùa chay này, xin cho chúng ta biết trở về, trở về trườc hết trên căn bản của một đức tin không có cụm trong lý thuyết, trong nghi lễ, nhưng là biết mở rộng lòng đón nhận để tìm được lý thuyết, trong nghi lễ, nhưng là biết mở rộng lòng đón nhận để tìm được ý nghĩa đích thực của đời sống đức tín.

 

7. Xác định niềm tin

Đoạn Tin Mừng được trích đọc trong thánh lễ hôm nay thuật lại cho chúng ta cuộc thăm viếng quê nhà Nazareth của Chúa Giêsu. Thánh Sử Luca ghi nhận rằng, tại đó Ngài không làm nhiều phép lạ, lý do chỉ là vì ở đó ngưòi ta thiếu niềm tin.

Trích đoạn Tin Mừng này cho chúng ta được nghe lại trong mùa Chay, Phụng vụ của Giáo Hội muốn tạo dịp để chúng ta suy nghĩ về niềm tin Kitô của chúng ta, và nhất là về mối giây liên lạc của chúng ta với Chúa.

Chúng ta có thể tự hỏi :

-Chúng ta là Kitô hữu vì chúng ta đã được Rửa Tội, vì chúng ta tuân giữ một số những nghi lễ hay là vì niềm tin của chúng ta đặt nơi Chúa Kitô, niềm tin đã thực sự định đoạt mọi suy nghĩ, mọi quan niệm, mọi hoạt động trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta ?

-Chúng ta chấp nhận niềm tin Kitô là chúng ta chấp nhận một số những điều phải tin, phải giữ, hay chúng ta chấp nhận chính con người và cuộc sống của Đức Kitô, để hằng ngày chúng ta thực hiện những gì Ngài rao giảng, và làm theo những gì Ngài đã làm?

Trả lời cho những câu hỏi trên đây là chúng ta sẽ xác định niềm tin của chúng ta. Nếu niềm tin của chúng ta là niềm tin đích thực, niềm tin chân chính, thì chính niềm tin đó sẽ khai mở nguồn ân phúc và nhân hậu của Thiên Chúa cho chúng ta. Điều này tướng quân Naaman đã là một bằng chứng cho chúng ta. Sở dĩ Naaman đã được khỏi bệnh phong cùi, chỉ vì ông đã làm một việc để bầy tỏ niềm tin của ông, đó là ông đã chịu xuống sông Giocđăng để tắm 7 lần.

Như thế không cần phải thách thức Chúa, không cần ép buộc Chúa phải làm phép lạ như dân làng Nazareth ngày xưa, mà chỉ cần bầy tỏ niềm tin của chúng ta.

Cầu xin Chúa cho chúng ta trong mùa chay này xác địng được niềm tin của chúng ta, để chúng ta đượ c hưởng muôn ngàn phép lạ mà Chúa sẽ thực hiện nơi mỗi người chúng ta. 

 


Sinh hoạt khác

Tin Giáo Hội

Mục Tổng Hợp

» Xem tất cả Video

Liên kết website

Bài viết được quan tâm