Danh mục bài viết

Cập nhật 13/2/2019 - 5:5 - Lượt xem 2567

Thứ Năm tuần 5 Thường Niên

"Những con chó ở dưới gầm bàn cũng ăn những mụn bánh rơi của con cái".

 

Phúc Âm: Mc 7, 24-30

Khi ấy, Chúa Giêsu đến địa hạt Tyrô và Siđon. Vào một nhà kia, Người không muốn ai biết mình, nhưng người không thể ẩn náu được. Vì ngay lúc đó, một bà kia có đứa con gái bị thần ô uế ám, bà nghe nói về Người liền đến phục lạy Người.

Bà đó là người dân ngoại, dòng giống Syrôphênixi và bà xin Người trừ quỷ ra khỏi con bà.

Người nói: "Hãy để con cái ăn no trước đã, vì không nên lấy bánh của con cái mà ném cho chó".

Nhưng bà trả lời và thưa Người rằng: "Thưa Thầy, đúng thế, nhưng các chó con cũng được ăn những mụn rơi dưới bàn ăn của con cái".

Người liền nói với bà: "Vì lời bà nói đó, bà hãy về; quỷ đã ra khỏi con gái bà rồi".

Khi bà về đến nhà, thì thấy cô gái nhỏ nằm trên giường và quỷ đã xuất rồi.

 

Suy Niệm:

1. Ơn cứu độ đại đồng (trích Mỗi ngày một tin vui)

Trong nhật ký của mình, Mahatma Gandhi cho biết khi còn theo học ở Nam Phi, ông rất say mê đọc Kinh Thánh, nhất là Bài Giảng Trên Núi, đến nỗi ông xác tín rằng Kitô giáo chính là câu trả lời cho nạn kỳ thị giai cấp đã từng hành hạ dân Ấn suốt bao thế kỷ, thậm chí ông còn muốn trở thành Kitô hữu nữa. Thế nhưng, một ngày nọ, khi đến nhà thờ dự lễ, ông bị người giữ cửa chặn lại và bảo ông phải đi lễ ở nhà thờ dành cho người da đen, kể từ đó, ông không bao giờ quay trở lại nhà thờ nữa.

Chúa Giêsu không bao giờ tỏ ra kỳ thị con người như thế. Tin Mừng hôm nay là một bằng chứng. Cũng như các tác giả Tin Mừng khác, thánh sử Marcô cho thấy phần lớn hoạt động và thời giờ của Chúa Giêsu được dành cho người Do thái; chỉ sau khi sống lại, Ngài mới chính thức sai các Tông đồ truyền giảng Tin Mừng cho mọi người, bất luận là Do thái hay không Do thái. Thật ra ngay những năm rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu đã hé mở cho thấy chiều kích phổ quát của giáo lý và của ơn cứu độ mà Ngài mang lại. Ngoài những giáo huấn về tình huynh đệ đại đồng và thái độ không bài ngoại của Chúa Giêsu, Tin Mừng còn thuật lại các chuyến đi của Ngài tới vùng đất ngoại giáo, tại đây, Ngài cũng đã làm nhiều phép lạ, như trừ quỷ cho một thanh niên ở Gêrasa, cho một người câm ở miền Thập tỉnh nói được, và lần này trừ quỷ cho con gái của một phụ nữ Hy lạp gốc Phênixi.

Dựa vào những yếu tố trên, câu nói của Chúa Giêsu: "Không được lấy bánh dành cho con cái mà ném cho chó con" không thể giải thích đó là dấu biểu thi sự khinh miệt của Ngài đối với người khác đạo và khác tổ quốc; đúng hơn, Chúa muốn mọi người đừng quên ưu thế của người Do thái trong việc thừa hưởng ơn cứu độ, bởi vì Thiên Chúa đã chọn cha ông họ và muốn tỏ lòng trung thành với cha ông họ. Người Do thái được ưu tiên, chứ không phải là những người duy nhất được hưởng ơn cứu độ; vì thế, dù quan tâm săn sóc người Do thái nhiều đến đâu, Chúa Giêsu cũng không để trở thành vật sở hữu độc quyền của họ, Ngài vẫn có tự do bày tỏ tình thương đối với người khác.

Chúng ta chấp nhận sự tự do của Thiên Chúa trong việc ban phát ơn huệ và tình thương của Ngài. Dù ý thức mình chẳng là gì, chúng ta hãy tin rằng mình luôn là đối tượng yêu thương của Thiên Chúa. Với một Ðấng vô biên như Thiên Chúa, thì bất cứ hành vi nào của Ngài cũng có chiều kích vô hạn và quà tặng của Ngài cũng tràn trề sung mãn. Xin cho chúng ta cảm nhận được rằng Chúa đang yêu thương chúng ta và như thế là đủ cho chúng ta.

 

2. Những mảnh vụn (Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ)

Để có được cuộc gặp gỡ giữa Đức Giêsu với người phụ nữ, 
hai bên đã phải vượt qua nhiều đường ranh, nhiều rào cản. 
Đức Giêsu đã bỏ đất Ítraen để đến vùng Tia, vùng đất ô uế của dân ngoại. 
Người đàn bà dân ngoại đã vượt qua sự ngăn cách với người đàn ông Do thái. 
Qua câu đáp của bà, bà cũng vượt qua được sự lụy phục thường gặp nơi phụ nữ 
sống trong một nền văn hóa do đàn ông làm chủ ở thế kỷ đầu. 
Trong Tin Mừng Máccô, đây là phép lạ duy nhất nhắm đến dân ngoại. 
Rõ ràng Đức Giêsu không có ý làm phép lạ trừ quỷ này, 
Chúng ta ngạc nhiên khi thấy Đức Giêsu từ chối giúp bà ta, rồi lại đổi ý. 
Nhiều người không tin đây là cách cư xử vốn có của Đức Giêsu 
trước nỗi đau của trái tim người mẹ có đứa con bị quỷ ám. 
Tuy nhiên, nên nhớ rằng sứ vụ của ngài không bao gồm dân ngoại. 
Ngài chỉ được sai đến với dân Ítraen, 
để rồi chính môn đệ ngài sẽ chịu trách nhiệm đến với dân ngoại. 
Hãy lắng nghe cuộc đối thoại giữa Đức Giêsu và người phụ nữ. 
Bà nài xin ngài đuổi quỷ ra khỏi con gái của bà, 
nhưng bà đã phải nghe một câu trả lời rất khó chịu và có thể gây tổn thương. 
“Hãy để con cái ăn trước, 
vì không nên lấy bánh của con cái mà ném cho chó con” (c. 27). 
Đức Giêsu ví dân Do thái với những đứa con trong nhà, 
còn dân ngoại là mẹ con bà, được ví với những chó con. 
Con cái dĩ nhiên là có quyền ưu tiên rồi, được ăn bánh trước. 
Bánh của con cái đương nhiên không nên ném xuống đất cho chó con. 
Với người khác, câu trả lời gây sốc của Đức Giêsu có thể khép lại mọi hy vọng. 
Nhưng đối với bà, chính câu này lại mở ra niềm hy vọng mới. 
“Thưa Ngài, đúng thế, nhưng chó con ở dưới gầm bàn 
cũng được ăn những mảnh vụn của lũ trẻ nhỏ” (c. 28). 
Bà khiêm tốn nhận mình là chó con, 
được nuôi trong nhà, nằm dưới gầm bàn lúc mọi người ăn uống, 
nên thỉnh thoảng cũng được đám con cái cho ăn những mảnh bánh vụn. 
Như thế những đứa con cũng chẳng giữ riêng tấm bánh cho mình. 
Chúng cũng biết chia sẻ, thậm chí cho mấy chú chó con. 
Hôm nay bà chẳng xin ngài cho tấm bánh trên bàn dành cho con cái, 
Bà chỉ xin ngài cho vụn bánh dành cho chó con nằm dưới bàn. 
Đức Giêsu hẳn hết sức bất ngờ với câu trả lời này, 
vừa tin tưởng, hy vọng, vừa khiêm tốn, khôn ngoan. 
Chính câu trả lời này đã chinh phục và làm cho Đức Giêsu đổi ý. 
“Vì bà nói thế, bà cứ về đi, quỷ đã xuất khỏi con gái bà rồi” (c. 29). 
Phép lạ này rất “lạ” vì Đức Giêsu đã đuổi quỷ từ xa, 
và ngài cũng chẳng đưa ra một lời uy quyền nào để đuổi quỷ. 
Khi người mẹ này về nhà, thì thấy con gái mình đã được bình an. 
Chúng ta học được gì nơi cách cư xử của người phụ nữ? 
Chúng ta học được gì nơi thái độ của Đức Giêsu? 

Lạy Chúa Giêsu, 
có những ngày con cảm thấy 
đời sống thật nặng nề; 
có những lúc con muốn buông trôi, 
để mặc cho dòng đời đưa đẩy; 
có những khoảng thời gian dài, 
con như mảnh đất khô khan cằn cỗi. 
Xin cho con ánh sáng của Chúa 
để con biết lối mà đi. 
Xin cho con tấm bánh của Chúa 
để con có sức mà dấn bước. 
Xin cho con Lời của Chúa 
để con vững một niềm tin. 
Xin cho con sự sống của Chúa 
để con lấy lại niềm hăng say và sự tươi tắn, 
niềm vui và sáng tạo. 
Lạy Chúa Giêsu, 
con thấy mình cần Chúa 
trong mỗi giây phút của cuộc đời. 
Ước gì ai gặp con 
cũng gặp được sự hiện diện của Chúa. Amen.

 

3. Niềm tin cần được tôi luyện qua thử thách - (Tu sĩ: Jos. Vinc. Ngọc Biển, S.S.P.)

Trong đời sống đức tin của mỗi người, nhiều khi chúng ta phải mày mò đi trong đêm tối! Có những lúc tưởng chừng như Chúa đang bỏ rơi chúng ta. Có khi cuộc đời chúng ta đi vào ngõ cụt với biết bao thách đố mà chúng ta khó hòng vượt qua.

Tuy nhiên, khi chúng ta không còn biết cậy dựa vào ai, thì lúc đó Chúa có mặt và giải thoát chúng ta cách nhiệm mầu. Điều quan trọng là chúng ta có dám “lỳ” trong đức tin hay không mà thôi.

Tin Mừng hôm nay thuật lại gương sáng của người đàn bà dân ngoại. Một mẫu gương về niềm tin tuyệt đối vào Đức Giêsu. Bà thừa biết mình là người dân ngoại, nên không thể có lý do gì để xin Đức Giêsu chữa lành cho con gái bà. Thế nhưng, niềm tin và sự hy vọng đã làm cho bà vượt qua hàng rào ngăn cách đó, nên bà đã mạnh dạn đến xin Đức Giêsu chữa lành cho con gái bà.

Quả thật, Đức Giêsu đã không chữa ngay, mà ngược lại, Ngài đã nói một câu rất nặng để thử thách đức tin của bà, Ngài nói: “Phải để con cái ăn no trước đã, vì không được lấy bánh dành cho con cái mà mà ném cho lũ chó con”. (Mc 7,27). Người phụ nữ này đã không nản lòng, nhưng qua câu nói đó, bà lại càng khiêm tốn và đức tin mỗi lúc lại mãnh liệt hơn, bà thưa với Đức Giêsu: “Thưa Ngài, đúng thế, nhưng chó con ở dưới gầm bàn lại được ăn những mảnh vụn của đám trẻ con”. (Mc 7, 28).

Chính đức tin mãnh liệt như thế, nên phép lạ đã xảy ra. Đức Giêsu đã chạnh lòng thương và cứu thoát con gái bà khỏi quỷ ám.

Sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy kiên trì, trung thành và vững tin nơi Chúa. Bởi lẽ đức tin chỉ có thể trưởng thành khi chúng ta trải qua đau khổ và được tôi luyện bằng nghịch cảnh. Nhờ thế, chúng ta mới có kinh nghiệm về sự hiện diện của Thiên Chúa, đồng thời xứng đáng trở nên chứng nhân về niềm hy vọng cho con người hôm nay.

Lạy Chúa Giêsu, xin ban thêm đức tin cho chúng con, để chúng con vững tin vào quyền năng của Chúa. Amen.

 

4. Thế giới tha nhân

Thật vậy một người đàn bà có đứa con gái nhỏ bị quỷ ám, vừa nghe nói đến Người, liền vào sấp mình dưới chân Người. Bà ta là người Hy-lạp, gốc Phê-ni-xi thuộc xứ Xy-ri-trong, bà xin Người trừ quỷ cho con gái bà. (Mc. 7, 25 - 26)

Để hiểu rõ câu chuyện gặp gỡ này, đừng quên rằng Chúa Giêsu là người Do thái. Theo tâm thức của người Do thái chuyện gặp gỡ một người ngoại là điều không ổn, cũng giống như ta gặp một người nào đó không cùng chủng tộc với ta vậy.

Nhưng ở đây lòng khiêm tốn tháo gỡ tất cả, bởi lẽ lòng khiêm tốn là cánh cửa mở rộng. Trước tấm lòng cởi mở của người phụ nữ này, tâm hồn của Chúa Giêsu cũng mở rộng ra. Bà ta không phải là thành phần của dân giao ước, nhưng lòng tin của bà tiếp nối lòng tin của Ap-ra-ham. Bà ta đã đi vào chương trình cứu độ của Thiên Chúa, đã làm thay đổi hoàn cảnh lịch sử lúc đó mà trở thành con cái của Chúa Cha. Nhờ Chúa Giêsu, Chúa Cha nhậm lời bà cầu xin. Thiên Chúa mở đường cho việc rao giảng tin mừng sau này.

Và để loan báo tin mừng này, chỉ cần yêu thương, trung thực cho đến cùng. Chỉ cần sống say mê nhiệt tình : khi người ta thực tâm thực tình để chỉ lo cho một chuyện, mọi chuyện khác đều thấy là tương đối thôi.

Qua bài Phúc âm hôm nay, Chúa muốn mở mắt mở lòng ta để hướng về thế giới những người ngoại.. HoÏ là những con người biết thu lượm những mảnh vụn từ bàn ăn khi họ đòi hỏi ta phải tôn trọng sự thật, công bằng, khi họ lo lắng cho việc phục vụ những người nghèo, khi họ muốn dỡ đi những hàng rào ngăn cách do những đặc quyền đặc ân của ta đã dựng lên.

Cuộc sống của ta có loan báo điều mới lạ này không, một điều làm cho ta có được trái tim nhân lành thực nhân lành, theo đúng nghĩa của lời “không có ai nhân lành cả trừ một mình Thiên Chúa”.

 

5. Niềm tin sâu sắc

Trong một bài phát biểu mới đây, nguyên thủ tướng của Singapore là Lý Quang Diệu đã nói : "Ngày nay Aù Châu đã có đủ cơ sở để nói chuyện một cách bình đẳng với Tây phương. Ông có ý  ám chỉ đến sức mạnh kinh tế ngày càng vươn lên của Aù Châu. Ông giải thích: Aù Châu đã cóp nhặt của Tây phương để phát triển, nhưng sự phát triển đó chỉ có được là nhờ nền tảng văn hóa của Aù Châu. Do đó ông kêu gọi cái nước Aù Châu hãy bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của mình để không còn lệ thuộc truyền thống Tây phương nữa. 

Phép lạ kinh tế của Singapore, của Nhật bản, của những con rồng Á Châu là một điều đáng suy nghĩ  cho chính niềm tin Kitô giáo của chúng ta. Sự già cỗi của lục địa Âu Châu Kitô giáo, tình trạng nghèo đói bất công của những quốc gia Kitô tại Mỹ La tinh không thể không nêu lên một câu hỏi : "Kitô giáo đóng góp gì cho xã hội ? Tai sao những quốc gia có tỉ lệ Kitô giáo cao nhất lại là những quốc gia có nhiều tệ nạn xã hội nhất ? 

Không ai chối cãi được rằng văn minh ngày nay đã là văn minh Kitô giáo. Sự tiến bộ kỹ thuật và những ý  niệmvề tự do, dân chủ nhân quyền, liên đới, huynh đệ mà hầu hết cầc nước thế giới đang có đều phát xuất từ chính Kitô giáo. Tuy nhiên, khi nền văn minh ấy chỉ được tiếp nhận một cách hời hợt, nghĩa là khi những giá trị của Tin Mừng không cắm rễ sâu trong cuộc sống thì lúc đó dù cho danh hiệu Kitô giáo có được rao giảng khắp nơi, người ta chỉ làm ố danh sự đạo mà thôi.

Tình trạng của một số nước Kitô giáo ngày nay là một phản ánh của chính dân Do thái thời Chúa Giêsu. Người Do thái tự hào về địa vị Dân riêng, tuy nhiên tước hiệu Dân riêng ấy có thể chỉ là một nhãn hiệu. Chúa Giêsu đã nhiều lần lên án thái độ hời hợt giả hình của nhiều người đồng hương của Ngài. Niềm tin quả thật chưa ăn rễ sâu vào cuộc sống của họ. Trái lại, nơi một số người mà người Do thái gọi là ngoại đạo, Chúa Giêsu đã bắt gặp một niềm tin sâu sắc như niềm tin của người đàn bà xứ Phênicia được Tin mừng hôm nay ghi lại. Những người ngoại đạo có một niềm tin sâu sắc hơn những người có đạo, những người ngoại đạo có một cuộc sống gương mẫu hơn những người có đạo, đó là thực tế mà thiểu số kitô hữu chúng ta sống giữa những người không Kitô đã hơn một lần nhìn thấy.

Kitô giáo thiết yếu không phải là một hệ thống luân lý. Các kitô hữu không nhất thiết phải là những người có cuộc sống luân lý khổ hạnh hơn những người không Kitô. Tuy nhiên, cuộc sống vốn phải là một nhập thể của niềm tin. Do đó, khi cuộc sống của Kitô hữu chưa là một thể hiện của niềm tin, thì quả thật đó là điều mà chúng ta gọi là làm ố danh sự đạo.

Sống giữa những người không Kitô, người kitô hữu chúng ta không ngừng được mời gọi để cảnh giác và tự vấn. Cuộc sống chúng ta có là men làm dậy cả khối bột không ? có được Kitô hóa chưa ? Đâu là đóng góp của chúng ta vào công cuộc cải tạo xã hội ? Những giá trị Tin mừng đã thực sự thâm nhập cuộc sống hàng ngày của chúng ta chưa ?

6. Một đức tin vững mạnh

Trước sự bất tín của dân Do thái và lòng hiềm thù tăng vút mỗi ngày của đầu mục trong dân, Chúa Giêsu quay về huấn luyện các tông đồ và chữa bệnh. Như thế không có nghĩa là Chúa bỏ dân riêng Ngài để đi với dân ngoại trước đâu. Chính Chúa nói rằng: “Ta chỉ được gửi tới chiên lạc nhà Israel” (Mt 15,24). Rồi sai các môn đệ ra đi truyền giáo, Chúa dặn các ông “các con đừng đến với dân ngoại, đừng vào thành nào của Samaria” (10,6). Tuy nhiên sau phục sinh, Chúa ra lệnh cho các môn đệ đi khắp muôn dân (Mt 28,19) đến với dân ngoại. Cho nên hồi sinh tiền, Chúa mới nhắm tới phiá dân Do thái nhiều hơn dân ngoại. Nhưng cũng không vì thế mà bỏ hẳn dân ngoại. Cụ thể là trường hợp của thiếu phụ Canan hôm nay.

Thiếu phụ đây là người Hy lạp. Thánh Matthêu còn ghi rằng bà thuộc miền Cana (22,15). Thánh Marcô còn ghi rõ hơn là bà thuộc miền Syro Phênici (c.24). Rõ ràng bà không là người Do thái. Nhưng bà đã chịu nhục nhã, chịu xua đuổi để được một ơn lộc. Có thể nói tinh thần của những dụ ngôn xin bánh ban đêm (Lc 11,5-8), góa phụ trước cửa quan (18,1-5) đều có nơi thiếu phụ ngoại giáo này. Đó là tinh thần cầu nguyện, gan lì. Bền đỗ tới cùng sẽ được (Mt 10,22). Chúng ta thấy mẫu gương kiên trì của bà. Các môn đệ tỏ thái độ muốn đuổi đi vì bà kêu van mãi nhức đầu (Mt 15,23). Còn Chúa, Chúa nói Ngài chỉ đến với dân Israel và không được lấy bánh vứt cho con chó (c.27).

Cách từ chối của Chúa thật ra chỉ là tinh luyện đức tin của bà. Chúa muốn bà nhận ra mình là ai, là dân ngoại, là người ngoài chứ chưa phải là con cháu trong nhà đâu mà đòi thụ hưởng. Mặt khác, khi nhận ra như thế rồi, Chúa vẫn tỏ ra như từ chối, từ chố tạm thời để tăng cường lòng tin cho bà. Chính nhờ lòng tin mà bà đã trở nên con cái thật của Abraham, Chúa muốn từ sự bất tín của Do thái dựng nên lòng tin của một lớp dân mới là miêu duệ của Abraham (Mt 3,9). Từ sự sa ngã của dân cũ mà có sự phục sinh cho lương dân không còn phải qua Do thái nữa (1Pr 2,1). Đúng như lời sách Công vụ “Thiên Chúa đã tinh luyện con tim lương dân bằng đức tin” (15,9) và Thiên Chúa “đã ghé mắt đoái nhìn các lương dân để làm thành một dân tộc thờ kính danh Ngài” (Sđcv 15,140. Điều này cho thấy Thiên Chúa toàn năng tự do lựa chọn dân Ngài và Ngài thương yêu hết mọi người. Chỉ ai từ  chối Ngài mới không có tình yêu mà thôi.

Lời cầu xin của thiếu phụ cuối cùng đã được Chúa ban phép lạ. Điều này cho thấy ngược hẳn lại với quan niệm của Do thái lúc ấy, họ tưởng đâu cứ thuộc về dân Do thái là con cháu Abraham là được mọi ơn, là có quyền bước vào nước trời, Chúa muốn dạy chúng ta một bài học là tín hữu chưa chắc ăn đâu, phải có lòng tin, phải có sự khiêm hạ trước mặt Thiên Chúa, phải cầu nguyện kiên gan lắm, Nước trời chỉ thuộc về tay những ai bền gan dùng sức mạnh phấn đấu tới cùng (Mt 11,12). Trong số đó, có bà ngoại giáo đấy. Đức tin của bà lớn lao thật (Mt 15,28). Chính Chúa phải xác nhận như thế. Chúng ta phải công nhận vậy, vì đức tin của bà mạnh đến nỗi bà xin phép lạ không phải cho bà mà cho chính con bà. Nếu như hôm nay, thưa các bà mẹ, các bà có đứa con hư hỏng hay bệnh tật cách nào đó, mà các bà đến xin ơn Chúa cho con mình liệu Chúa có ban ơn vì đức tin của các bà hay không ?

 

7. Hồng ân Đức Tin

Cuộc hành quyết cô Carla Tarka tại bang Texas, Hoa Kỳ, dạo tháng 2/1999 đã tạo ra nhiều cảm xúc trên thế giới. Cô Carla là người phụ nữ đầu tiên bị xử tử tại Texas kể từ sau thế chiến thứ hai. Niềm xúc cảm nhất mà Tarka đã tạo ra nơi mọi người chính là nụ cười xem ra không hề tắt của cô khi bước vào phòng để bị hành quyết. Trong những lời cuối cùng của cô, ngoài những lời tạ lỗi chân thành đối với gia đình các nạn nhân mà cô đã sát hại, cô Tarka đã nói lên niềm vui khi được gặp gỡ Chúa. Chính đức tin đã nâng đỡ cô trong suốt thời gian cầm tù, và đã soi chiếu để cô thâm tín rằng chết không phải là tận cùng vĩnh viễn, mà là cửa dẫn vào sự sống.

Đức tin là hồng ân trọng đại nhất đối với các Kitô hữu. Tin mừng hôm nay nhắc nhở chúng ta về ơn trọng đại ấy.

Phép lạ được thánh Marcô ghi lại xảy ra tại Tyrô vốn là một vùng ngoại giáo đối với người Do Thái. Người đàn bà đến xin Chúa chữa lành cho con gái bị quỷ ám là người Hy Lạp, gốc Phênixi, thuộc xứ Syria, nghĩa là một người hoàn toàn xa lạ đối với mạc khải. Nhưng nơi người đàn bà ngoại đạo này, Thánh Thần sẽ tác động để có một lòng tin dứt khoát nơi quyền năng của Chúa. Phép lạ là một trong những thể hiện của tính thiên sai nơi Chúa Giêsu, đồng thời cũng là gặp gỡ giữa lòng tin của con người và quyền năng của Thiên Chúa. Phép lạ chỉ diễn ra khi con người nhìn nhận và tuyên xưng quyền năng của Thiên Chúa. Như vậy, phép lạ cả thể nhất Thiên Chúa có thể thực hiện nơi con người và cho con người chính là lòng tin.

Lộ Đức là một trong những nơi mà nhiều người cảm nhận được phép lạ nhất. Tại đây, người ta thấy một bức tường tạc một người mù vừa được sáng mắt. Người cho tạc tượng này không phải là người mù được sáng mắt, mà là một người phụ nữ lành lặn. Là một người công giáo, nhưng sau khi chết chồng, bà hoàn toàn mất đức tin. Ngày nọ, do hiếu kỳ, bà đi đến Lộ Đức như một khách du lịch. Tại đây, do tác dộng của ơn thánh, bà đã tìm lại được niềm tin. Để tạ ơn Chúa, bà đã cho tạc bức tượng người mù được sáng mắt, bên dưới bức tượng, bà cho khắc dòng chữ: "Tìm lại được, đức tin là một phép lạ cả thể hơn là được sáng mất".

Quả thật, đức tin là ơn quí giá nhất trong cuộc sống người Kitô hữu. Cuộc sống tự nó là một phép lạ liên lỉ. Thiên Chúa không ngừng thực hiện phép lạ, nhưng chỉ với đức tin, chúng ta mới có thể cảm nhận được phép lạ của Ngài. Nguyện xin Chúa ban thêm đức tin cho chúng ta.

 


Sinh hoạt khác

Tin Giáo Hội

Mục Tổng Hợp

» Xem tất cả Video

Liên kết website

Bài viết được quan tâm