Danh mục bài viết

Cập nhật 10/3/2019 - 13:15 - Lượt xem 2672

Thứ Hai tuần 1 Mùa Chay

“Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa".

 

Tin Mừng : Mt 25, 31-46

Khi ấy, Đức Giêsu nói với các môn đệ rằng: “Khi Con Người đến trong vinh quang của Người, có tất cả các thiên sứ theo hầu, bấy giờ Người sẽ ngự lên ngai vinh hiển của Người. Các dân thiên hạ sẽ được tập hợp trước mặt Người, và Người sẽ tách biệt họ với nhau, như mục tử tách biệt chiên với dê. Người sẽ cho chiên đứng bên phải Người, còn dê ở bên trái. Bấy giờ Ðức Vua sẽ phán cùng những người ở bên phải rằng: “Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm nom; Ta ngồi tù, các ngươi đã đến thăm.” Bấy giờ những người công chính sẽ thưa rằng: “Lạy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói mà cho ăn, khát mà cho uống; có bao giờ đã thấy Chúa là khách lạ mà tiếp rước; hoặc trần truồng mà cho mặc? Có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đau yếu hoặc ngồi tù, mà đến thăm đâu?” Ðể đáp lại, Ðức Vua sẽ bảo họ rằng: “Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy.” Rồi Ðức Vua sẽ phán cùng những người ở bên trái rằng: “Quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời, nơi dành sẵn cho tên Ác Quỷ và các sứ thần của nó. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã không cho ăn; Ta khát, các ngươi đã không cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã không tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã không cho mặc; Ta đau yếu và ngồi tù, các ngươi đã chẳng thăm nom.” Bấy giờ những người ấy cũng sẽ thưa rằng: “Lạy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói, khát, hoặc là khách lạ, hoặc là trần truồng, đau yếu hay ngồi tù, mà không phục vụ Chúa đâu?” Bấy giờ Người sẽ đáp lại họ rằng: “Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi không làm như thế cho một trong những người bé nhỏ nhất đây, là các ngươi đã không làm cho chính Ta vậy.” Thế là họ sẽ ra đi, bọn này để chịu cực hình muôn kiếp, còn những người công chính, để hưởng sự sống muôn đời.”

 

Suy niệm:

1. Làm cho chính Ta - Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ.

Thi hào Tagore trong tập thơ Gitanjali, bài số 50, 
có kể chuyện một người ăn xin, tình cờ gặp nhà vua đi trên cỗ xe. 
Anh đầy tràn hy vọng khi cỗ xe dừng lại gần anh, và nhà vua bước xuống. 
Anh cứ nghĩ nhà vua sẽ cho anh thật nhiều, nhưng ngài lại chìa tay xin anh. 
Người hành khất biết lấy gì mà cho, anh chỉ dâng ngài một hạt lúa nhỏ xíu. 
Đến lúc chiều về, khi đổ những thứ trong bị ra, anh thấy một hạt vàng rất nhỏ. 
Anh khóc vì tiếc mình đã không cho ngài tất cả những gì mình có. 
Có khi nào nhà vua giàu có ngửa tay xin một người ăn mày không ? 
Hơn nữa, có khi nào Đức Kitô ẩn mình dưới dạng một người ăn xin không ? 
Trên chuyến xe lửa đi về vùng Darjeeling ở chân núi Hy-mã-lạp-sơn, năm 1946, 
Chị Têrêsa Calcutta đã nhận được một ơn gọi thứ hai, dù chị đang tu ở dòng Loreto. 
“Chính trong chuyến xe lửa đó, tôi đã nghe tiếng gọi bỏ tất cả 
và theo Ngài vào khu ổ chuột – phục vụ Ngài nơi những người nghèo nhất.” 
Chị đã viết như thế, và chị còn giải thích thêm: 
“Thiên Chúa gọi tôi để làm giảm cơn khát của Đức Giêsu 
bằng cách phục vụ Ngài nơi người nghèo nhất trong số các người nghèo.” 
Chị Têrêsa được ơn gặp Đức Giêsu Kitô đang đói khát, đang ở khu ổ chuột. 
Chị đã cho Ngài tất cả và chị không bao giờ phải ân hận về chuyện đó. 
Bài Tin Mừng hôm nay hẳn đã chi phối đời của thánh Têrêsa Calcutta. 
Bài này cũng hợp với Mùa Chay, mùa chia sẻ, mùa làm việc bác ái. 
Hơn nữa bài này vén mở cho ta thấy một lối hiện diện khác của Đức Giêsu. 
Ngài không chỉ hiện diện nơi tấm bánh thánh, nơi tâm hồn ta, nơi Giáo hội, 
mà Ngài còn ở nơi những người đói, khát, khách lạ, trần truồng, đau yếu, ngồi tù. 
Khuôn mặt của Ngài xem ra chẳng có gì cao quý, uy nghi, sáng láng, 
nhưng đầy nét đau khổ, nhục nhằn, phiền muộn. 
Đức Giêsu ở đây không phải là người ban phát đầy quyền năng, 
mà là người ăn xin yếu đuối ngửa tay cần ta giúp đỡ. 
“Mỗi lần các ngươi làm cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, 
là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy.” (c. 40). 
Ngài gọi những người khốn cùng trong xã hội là anh em nhỏ nhất của Ngài. 
Làm cho họ là làm cho chính Ngài, chối từ họ là chối từ chính Ngài. 
Chúng ta sẽ bị xét xử vào ngày tận thế dựa trên tình yêu. 
Hôm nay ta có thể gặp Đức Giêsu ở nhà thương, nhà tù, nơi trại tỵ nạn, 
nơi gần một tỷ người bị đói trên thế giới, nơi bao người thiếu nước sạch để dùng. 
Hãy kính trọng trao cho Ngài những gì mình đã chắt chiu. 

Lạy Cha, xin cho con ý thức rằng 
tấm bánh để dành của con thuộc về người đói, 
chiếc áo nằm trong tủ thuộc về người trần trụi, 
tiền bạc con cất giấu thuộc về người thiếu thốn. 
Lạy Cha, có bao điều con giữ mà chẳng dùng, 
có bao điều con lãng phí 
bên cạnh những Ladarô túng quẫn, 
có bao điều con hưởng lợi 
dựa trên nỗi đau của người khác, 
có bao điều con định mua sắm dù chẳng có nhu cầu. 
Con hiểu rằng nguồn gốc sự bất công 
chẳng ở đâu xa. 
Nó nằm ngay nơi sự khép kín của lòng con. 
Con phải chịu trách nhiệm 
về cảnh nghèo trong xã hội. 
Lạy Cha chí nhân, 
vũ trụ, trái đất và tất cả tài nguyên của nó 
là quà tặng Cha cho mọi người có quyền hưởng. 
Cha để cho có sự chênh lệch, thiếu hụt, 
vì Cha muốn chúng con san sẻ cho nhau. 
Thế giới còn nhiều người đói nghèo 
là vì chúng con giữ quá điều cần giữ. 
Xin dạy chúng con biết cách đầu tư làm giàu, 
nhờ sống chia sẻ yêu thương. Amen. 

 

2. Yêu để được sống! - Tu sĩ: Jos. Vinc. Ngọc Biển, S.S.P.

Đạo Công Giáo mà Đức Giêsu sáng lập là một thứ đạo yêu thương. Đạo yêu thương này được khởi đi từ tình yêu của Thiên Chúa đối với công trình tạo dựng và suốt dọc dài lịch sử cứu độ trong thời Cựu Ước nơi dân Israel.

Sang thời Tân Ước, Đức Giêsu là hiện thân của tình yêu Thiên Chúa cho loài người. Khi Đức Giêsu đến, Ngài đã rao giảng, đã chết để minh chứng tình thương, và đã sống lại để gieo niềm hy vọng. Như vậy, có thể nói rằng: Đạo Công Giáo là “Đạo Yêu Thương”. Ai không yêu thương thì không thuộc về đạo này. Nhưng yêu thương phải đi đến hành động thực tế, chứ không thể yêu trên đầu môi chóp lưỡi!

Hôm nay, bài Tin Mừng đưa chúng ta về viễn cảnh của ngày cánh chung qua giáo huấn của Đức Giêsu.

Hình ảnh mà Đức Giêsu đưa ra chính là một hình ảnh về ngày phán xét, nơi đó, vị thẩm phán công bằng, tối cao ngự đến để xét xử.

Điều kỳ lạ, đó là vị thẩm phán này không xét xử dựa trên chức nghiệp để thưởng công, mà là ngang qua hành vi về sự cảm thông, lòng nhân ái đối với những người bần cùng của xã hội. Lạ kỳ hơn nữa là khi kết thúc, vị thẩm phán ấy đồng hóa chính mình với những người được giúp đỡ khi tuyên bố: “Mỗi lần các ngươi làm cho những người bé mọn ấy là làm cho chính ta”. 

Nhìn ra thế giới hôm nay, chúng ta thấy không ít nếu không muốn nói là nhan nhản những hành vi như: bon chen, lừa lọc, mưu mô quỉ quyệt, chiến tranh, hận thù, khủng bố....

Tất cả những điều đó đi ngược lại quy luật của tình yêu, và tất nhiên, không thể đi vào mối tương quan với vị thẩm phán trong bài Tin Mừng hôm nay.

Xin Chúa ban cho mỗi người ý thức được hạnh phúc đích thực của chúng ta ở nơi Chúa, và chỉ có nơi Ngài mới trường tồn vạn kiếp. Vì thế, ngay trong giây phút này, xin cho chúng ta biết sống yêu thương nhau để sau này được hưởng niềm vui, hạnh phúc bên Thiên Chúa tình yêu. Amen.

 

3. Người bên phải, kẻ bên trái

Thánh Mát-thêu trình bày cho chúng ta cảnh phán xét ngày tận thế không mấy ngoạn mục : không động đất, không có mặt trời tối tăm, không có những vì sao tắt sáng. Chỉ mình Đức Giê-su trong vinh quang đến ngự trên ngai, dấu chỉ uy quyền phán xét của Người. Uy quyền của Người bao trùm khắp muôn phương : các thiên thần hầu cận, các dân thiên hạ tập hợp trước dung nhan Người. Người ta nghĩ đến có việc gì xảy ra quyết liệt lắm, sau đó không còn xảy ra như thế nữa. Hành động đầu tiên của Con Người là phân tách khối người đó ra : bên phải là kẻ lành, bên trái là kẻ dữ, ở giữa là khoảng trống. Hành động phân chia này thiết lập nên sự phán xét. Sau đó là những lời giải thích về việc phán xét. Việc phán xét không theo chủng tộc như quan niệm Do thái, nhưng theo đời sống luân lý của mỗi người.

Để thưởng cho các người lành bên phải, Đức Giê-su đã phán rằng : “Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc hãy đến hưởng nước trời... ". Để phạt kẻ dữ bên trái, Người phán :”Quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời. Nước trời trước hết là ở gần Thiên Chúa. Còn lửa đời đời là xa lìa Thiên Chúa. Hai nơi đối nghịch nhau đều là đích cuối cùng sau một cuộc sống lâu dài mà Thiên Chúa hằng kiên nhẫn chờ đợi. Con Người chỉ đến phán xét và chấm dứt lịch sử thế giới sau một thời gian Thiên Chúa kiên trì tìm kiếm cứu chuộc loài người.

Những lý do xét xử là những nhu cầu trước mắt : đói, khát, trần truồng, tù đầy, đau yếu. Người lành và người dữ đều ngạc nhiên hỏi : “Có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói khát, trần truồng, đau yếu, ngồi tù đâu ? Để đáp lại, Chúa đáp : “Ta bảo thật các ngươi : mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những kẻ bé mọn nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy". Vậy được hưởng nước trời hay bị vào lửa đời đời chính là tiếp đón hay từ chối giúp đỡ Đức Giê-su Ki-tô hiện diện trong một kẻ khốn cực, chính là làm hay không làm giúp người lân cận của mình.

Mùa chay thúc bách chúng ta sống Tin mừng hẳn hoi, nghiêm túc. Sống lời Chúa nghiêm túc giúp chúng ta liên đới với mọi người tốt đẹp ở đời này, đó là cửa vào nước trời đời đời.

 

4. Cuộc phán xét chung

Bài Phúc âm hôm nay là phần Kinh thánh căn bản cho việc Chúa phán xét chung và phán xét riêng. Mọi người và từng người sẽ phải ra hầu tòa Chúa, từng trình về hành vi đời mình như một người quản lý tính sổ, như 10 nén bạc phân minh. Ngày phán xét được gọi là ngày báo oán, ngày nổi giận  (Sph 1,15-16. Ex 22,24). Ngày ấy Thiên Chúa sẽ phán xét hành vi mọi người, mọi việc làm của chúng ta hôm nay. Từ lời ăn tiếng nói đến việc làm, việc thiếu sót và cả đến những ý hướng kín đáo nhất (1C 4,3). Có thể tóm lại rằng ngày phán xét, Thiên Chúa sẽ thẩm xét chúng ta theo một tiêu chuẩn duy nhất là tình yêu cụ thể đối với anh em mà bài Phúc âm hôm nay bàn đến. Như thánh Gioan Thánh giá, rốt cuộc chỉ có một tiêu chuẩn duy nhất là tình yêu. Nhưng tình yêu tuyệt đối là chính Thiên Chúa (1Gio 4,8) . Mọi người sẽ tự so sánh, tự đối chiếu với tình yêu như so sánh mình trong gương sẽ thấy mình như thế nào.

Để hiểu rõ hơn tiêu chuẩn phán xét, chúng ta cùng nhau tìm hiểu rõ hơn một chút.

1. Mỗi người sẽ được xét xử theo việc làm nghĩa là phải trả lẽ về những ơn mình đã nhận lãnh (Mt 7,19), chúng ta đã nhận mười nén bạc của Thiên Chúa ban như thế nào (25,15). Nén bạc đây hiểu là tất cả được gì chúng ta là người và được làm con Chúa... Chúng ta sẽ được xét xử từ sự sinh thành cho đến của ăn, khả năng, thời gian, sức khỏe, tiền bạc... những biến cố, dịp vui nỗi buồn ở đời (Lc 12,13. 21,34).

Thánh Phaolô cũng cho chúng ta thấy một tiêu chuẩn phán xét về việc làm. Vì chưng chúng ta sẽ phải xuất đầu lộ diện trước tòa Đức Kitô, để mỗi người lĩnh lấy thành quả đời mình trong thân xác xứng với các việc làm, hoặc việc lành hoặc dữ (2C 5,10). Biết luật chưa đủ mà phải giữ luật, đức tin không việc làm là đức tin chết (Gioc 2,14-26). Đức tin phải minh chứng bằng việc làm (Rm 2,13). “Ai gieo thứ gì thì gặt thứ ấy” (Gal 16,6).

2. Ngoài ra còn bị phán xét về thái độ đối với anh em. Cho nên một việc làm chúng ta làm vì anh em thì khác mà làm vì ích kỷ cho mình thì khác và làm cho Chúa lại khác nữa. Đối với Thiên Chúa, Ngài cần tấm lòng trước hết.

Chúa phán xét đến lòng thương xót đối với người nghèo (Lc 14,12). Có giúp đỡ người ta khi họ cần đến chúng ta chăng ? (Mt 25,31). Dụ ngôn Samaritanô là một kiểu phán xét. Chúa sẽ phán xét thái độ biết tha thứ hay không: Kinh Lạy cha và dụ ngôn hai người mắc nợ (Lc 7,41-50). Thiên Chúa còn phán xét để lời tiếng nói hư từ vô ích (Mt 12,36).

- Chúa sẽ phán xét về thái độ đối với chính Ngài như thái độ đơn sơ của trẻ nhỏ (Mc 10,25), về lòng thống hối (Mt 11,50), nhất là về đức tin (Mt 8,10). Thánh Gioan và Phaolô nhấn mạnh ngày phán xét là lúc quyết định, là tin hay không tin (Gio 15,1. 2th 1,7). Chúng ta phán xét chúng ta về thái độ đối với lời Chúa (Mc 8,38).

3. Thánh Phaolô còn cho thấy rõ hơn là Thiên Chúa sẽ phán xét nghiêm thẳng với những kẻ gian dâm và ngoại tình (Dt). Chúa sẽ phán xét nghiêm ngặt với ai hùa theo sự dữ (2Th 2,12), kể cả những thiên thần phản nghịch (2Pr 2,2-10). Thiên Chúa xét xử nghiêm minh những góa bụa bất trung không chịu sống trong tình trạng góa bụa của mình (5,12).

4. Thiên Chúa xét xử nghiêm thẳng không kiêng nể ai (1Pr 1,17. Rm 2,6) khiến mọi người kinh hãi phải run sợ (Dt 10,27. Rm 12,19. Kh 20,12).

Hôm nay đây chúng ta biết rõ Thiên Chúa sẽ phán xét chúng ta. Chúng ta biết được những tiêu chuẩn nào Ngài sẽ phán xét, chúng ta sửa soạn gì cho giây phút chúng ta ra hầu tòa Chúa chưa ? Chúng ta nhớ rằng giây phút nào tiếng Chúa gọi ra khỏi đời này, chúng ta không còn thay đổi gì được nữa, “cây ngã chiều nào...”, chúng ta không còn giây phút nào tự bào chữa đâu. Hãy tự sửa soạn trước đi là vừa.

 

5. Thiên đàng của bác ái 

Một đêm trăng nọ, nhìn qua cửa sổ, một tu sĩ già bỗng nhìn thấy một thiên thần đang ngồi viết trên một cuốn sách vàng. Lòng tràn ngập hân hoan, vị tu sĩ rón rén đến gần và lên tiếng hỏi :

- Ngài đang viết gì trong quyển sách này thế ?

Thiên thần trả lời :

- Ta đang ghi danh những ai yêu mến Thiên Chúa .

Vừa lo lắng, vừa hồi hộp, vị tụ sĩ mới hỏi xem tên của mình có trang sách không.

Thiên thần giở từng trang, chăm chú đọc từng hàng, nhưng không thấy tên ông

Thế nhưng điều đó không làm vị tu sĩ thất vọng, ông nói với thiên thần :

- Xin Ngài vui lòng ghi tên tôi như một thày dòng lúc nào cũng yêu mến tha nhân.

Thiên thần chiều ý ông, thế là tên ông được ghi vào sổ vàng.

Tối hôm sau, thiên thần lại hiện ra và  mở quyển sổ vàng cho vị tu sĩ xem, lần này ông thấy tên mình dẫn đầu danh sách những người yêu Chúa.

Sau khi vị tu sĩ già qua đời, xem lại nhật ký của ông, người ta thấy dòng chữ đầu tiên trong nhật ký chính là câu trích dẫn thư 1 Ga 4,20 : " Nếuu ai nói mình yêu mến Chúa mà lại ghét anh em mình, thì đó là kẻ nói dối, vì kẻ không yêu mến người anh em nó thấy đó, tất không thể yêu mến Thiên Chúa mà nó không thấy". Tiếp theo lời trích dẫn vị tu sĩ ghi chú : "Tôi đi tìm kiếm linh hồn tôi, nhưng tôi không thấy : tôi đi tìm Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa vượt thoát khỏi tôi : tôi đi tìm người anh em, tôi gặp được Thiên Chúa và linh hồn tôi".

Từ khởi đầu, dường như Thiên Chúa đã muốn tạo dựng cho con người một thiên đàng vĩnh cửu trên trần gian này. Trong cơn gió nhẹcủa mỗi buổi chiều tà, Thiên Chúa đến truyện vãn với con người, đó là hình ảnh một hạnh phúc vô biên mà con người có thể hưởng nếu ngay từ trần gian này. Thế nhưng khi con người chối từ mối liên lạc với Thiên Chúa và chối bỏ chính mình, con người cũng đánh mất hạnh phúc ấy. Ngôi Hai Thiên Chúa đã đến để tái lập thiên đàng tại thế ấy cho con người, Ngài nói với con người rằng con người sẽ có được thiên đàng ấy khi nó biết xây dựng sự hài hòa với Thiên Chúa và với con người. Và vì Thiên Chúa tự đồng hóa với con người nên chính trong sự hài hòa với tha nhân, con người gặp gỡ Thiên Chúa và tìm lại được thiên đàng đã mất.

Có biết bao ý thức hệ và triết thuyết hứa hẹn cho con người một thiên đàng tại thế, nhưng thứ thiên đàng ấy đã không bao giờ đến, mà thay vào đó chỉ là hỏa ngục của hận thù và chết chóc mà thôi. Làm sao có thể xây dựng được thiên đàng khi người ta chối bỏ hay chà đạp tha nhân làm sao có thiên đàng khi người ta lấy hận thù làm men cho xã hội. Ơû đâu có Thiên Chúa, ở đó là thiên đàng, nhưng ở đâu có tha nhân thì ở đó cũng có Thiên Chúa, bởi vì con người là hình ảnh của Thiên Chúa. Mỗi gặp gặp với tha nhân, mỗi nghĩa cử làm cho tha nhân là một bước tiến vào thiên đàng ngay từ cuộc sống này.

Xin cho chúng ta cảm nếm được hạnh phúc đích thực khi phục vụ tha nhân, và xin cho chúng ta luôn ý thức tha nhân chính là nơi chúng ta có thể gặp gỡ Chúa.

 

6. Việc làm cụ thể : ngôn ngữ của tình yêu

Vừa mới được 19 tháng, Helen Keler, một bé gái người Mỹ, sau một cơn đau màng óc, đã trở thành một bé vừa bị mù loà, vừa bị câm điếc. Cha mẹ của cô bé đáng thương này, đã hoàn toàn bất lực trong việc truyền đạt những kiến thức cho con.

Nhưng rất may là có một cô giáo tên là Anna đã khéo léo và kiên trì trong công việc khó khăn này, thay cho cha mẹ  của cô bé đáng thương, bằng cách sử dụng khả năng xúc giác của cô bé.

Nhưng với xúc giác thì làm sao có thể truyền đạt được những tư tưởng trừu tượng? Vậy mà cô Anna đã làm được. Ngày kia cô giáo Anna đã viết cho Keller hai chữ “Tình Yêu” theo phương pháp của người mù rồi trao cho Keller đọc bằng cách rờ lên mặt chữ . Sau đó cô ôm chầm lấy Keller, hôn lấy hôn để, với tất cả sự chân thành và nhiệt tình của cô. Lúc ấy, Keller thấy tim cô đập mạnh.

Thế là cô bé đáng thương kia, lần đầu tiên trong đời, đã cảm nhận được thế nào là yêu . Thì ra những việc làm cụ thể mới chính là ngôn ngữ của tình yêu.

Thực vậy, những ánh mắt trìu mến, những vuốt ve âu yếm mà người mẹ dành cho đứa con, đó là những bài học về tình yêu vô cùng giá trị, giá trị hơn tất cả những thiên khảo luận về tình yêu. 

Cũng thế những giọt mồ hôi, những hy sinh vất vả hằng ngày của những người cha đã dẫn giải một cách hết sức rõ ràng, cho những đứa con hiểu, thế nào là tình yêu thương của người cha.

Một tình yêu mà không được thể hiện bằng những việc làm cụ thể là một tình yêu giả dối lứa bịp. 

Một người cha đang ngồi nướng những con cá khô để nhắm rượu, mấy đứa con nhỏ khóc đòi mỗi đứa một con. Ông nhất định không cho. Thế rồi người vợ mới dỗ dành các con :

-Thôi nín đi, để rồi má nói với ba con, xem con nào nhỏ thì sẽ để cho con.

Nghe thấy thế ba của sấp nhỏ quát lên :

- Không có con nào nhỏ cả, con nào cũng bằng nhau hết. Cho cái gì mà cho.

Thử hỏi, liệu người cha này có thương các con mình không ?

Kitô giáo là đạo của tình yêu: Yêu Chúa , yêu người. Phân biệt ra như thế không phải là có hai thứ luật yêu đâu, mà thực ra chỉ là một, bởi vì yêu người chỉ là hình thức cụ thể để thể hiện lòng yêu Chúa mà thôi. Thực vậy, trong Tin Mừng Chúa đã chẳng quả quyết rằng :” Mỗi lần các con làm một việc gì cho những kẻ bé mọn nhất này vì danh Thấy là các con làm cho Thầy “ là gì ?

Thế rồi qua câu truyện một Luật Sĩ đến hỏi Chúa, xem giới răn nào là giới răn  trọng nhất, thì Chúa đã trả lời : “Giới răn thứ nhất là ngươi hãy mến Chúa là Thiên Chúa người hết lòng, hết sức...” Rồi ngay sau đó Chúa thêm :” Còn giới răn thứ hai, giống như giới răn thứ nhất la,ẵ ngươi hãy yêu anh em như chính mình ngươi”. Ở đây có thể nói Chúa đã đồng hoá luật mến Chúa với luật yêu người.

Yêu người còn được Chúa coi là dấu hiệu của người Môn Đệ Ngài. Ngài phán :” Người ta cứ dấu này mà biết chúng con là Môn Đệ Thầy, là các con yêu thương nhau (Jn. 13, 35).

Nếu bây giờ  loại bỏ  những dấu hiệu bề ngoài như làm dấu Thánh Giá, đeo ảnh...và chỉ căn cứ vào đời sống yêu thương, để phân biệt người Kitô với người không Kitô, thì có lẽ sẽ có rất nhiều sự nhầm lẫn. Bởi vì có rất nhiều người chưa phải là Môn Đệ của Chúa, nhưng lại biết yêu thương, giúp đỡ những người khác. Trong khi đó có những người đã là Môn Đệ của Chúa, nhưng lại sống thiếu bác ái yêu thương. Họ dửng dưng trước những đau khổ của người khác, nói hành,nói xấu, bầy mưu lập kế để hại người khác...

Qua Tin Mừng hôm nay, Thánh Sử Mathêu cho biết, đến ngày tận thế, Chúa sẽ căn cứ vào việc thực thi luật Yêu, để ấn định số phận đời đời cho mỗi người chúng ta. Như thế có thể nói, số phận đời đời của chúng ta tuỳ thuộc vào việc thực thi Bác ái yêut hương.

Trong thánh lễ hôm nay, chúng ta hãy cầu xin Chúa cho mọi Kitô hữu chúng ta, biết thể hiện lòng yêu thương người khác bằng những việc làm cụ thể. Như thế là chúng ta đang thể hiện lòng yêu mến Chúa của chúng ta.

Nhưng việc thể hiện lòng yêu mến Chúa mà chúng ta có thể làm ngay giờ này, đó là đứt khoát với tội lỗi để quay về với Chúa. Chúng ta hãy thực hiện việc đó bằng cáchbầy tỏ lòng thống hối ăn năn của chúng ta.

 

7. Ngày phán xét chung.

Chúa Giêsu kết thúc những lời giáo huấn về ngày cánh chung bằng một dụ ngôn, mô tả cảnh phán xét chung: Vị Thẩm Phán tối cao ngự đến là chính Chúa Giêsu, Người tuyên án trên người lành kẻ dữ và sau cùng bản án được thi hành.

Theo Bài Tin Mừng hôm nay, Chúa sẽ xét xử con người trên giới luật yêu thương đối với đồng loại, nhất là người nghèo khổ, hình ảnh của Chúa. Ngày phán xét, vị thẩm phán không hỏi lý lịch của ta, khi ở đời chúng ta làm gì, giữ chức vụ nào, thuộc màu da sắc tộc nào... , vị ấy chỉ hỏi có một điều, khi ở đời con có biết thông cảm, chia sẻ với người bất hạnh không ?

Tại sao vậy? Vì thế giới thiên đàng, thế giới của Thiên Chúa là thế giới của tình yêu, không gì khác, vì Thiên Chúa là Tình Yêu. Nếu anh không biết yêu thương, nghĩa là không thông cảm tha thứ, chia sẻ. . . thì anh không thuộc về thế giới đó. Nói cách khác, thái độ sống ở đời của anh với đồng loại đã cho anh biết anh đang đi về thiên đình hay không. Ngày phán xét, Tình Yêu là giấy thông hành đưa ta vào Thiên đàng, vào thế giới của Tình yêu.

Trong thế giới của Thiên Chúa, Tình Yêu giữa Thiên Chúa Ba Ngôi có hai đặc tính căn bản: duy nhất và chia sẻ. Tuy Ba Ngôi nhưng  là một Chúa, đó là đặc tính duy nhất của Thiên Chúa. Trong chương 17 của Phúc âm thánh Gioan, Chúa Giêsu đã cầu nguyện: xin cho chúng nên một như Cha với Con  là một. . . xin cho chúng nên một trong Ta. Chính bản tính tình yêu đã làm cho Chúa Ba Ngôi nên một, và muốn sống trong thế giới của Ba ngôi, sống với Chúa Ba Ngôi, chúng ta cũng phải có tình yêu ấy.

Đặc tính thứ hai nơi Thiên Chúa Ba Ngôi là sự chia sẻ, Thiên Chúa Ba ngôi chia sẻ tình yêu cho nhau: ChúaCha yêu Chúa Con, Chúa Con yêu lại Chúa Cha vì ChúaThánh Thần phát xuất từ hai ngôi.

Vì thế muốn hòa nhập với thế giới của Thiên Chúa, con người phải có tình thương yêu, tình thương sẽ đưa ta nên một với nhau và nên một với Thiên Chúa tình yêu sẽ thúc đẩy chúng ta chia sẻ cho nhau trong cuộc sống, đó cũng là dấu chứng của một tình yêu đích thực.

Thế thì khi nhìn vào cuộc sống cụ thể của bạn, của gia đình bạn, của xã hội này, bạn thấy những ai sẽ được vào nước trời ? Chắc không nhiều lắm! 

Chúng ta đang chứng kiến sự ích kỷ của con người ngày nay qua những sự kiện đang xảy ra chung quanh ta cũng như trên thế giới: bon chen, lừa lọc, mưu mô quỉ quyệt chiến tranh, hận thù. . . tất cả những thứ ấy đều đi ngược lại với tình yêu. Hạnh phúc gia đình là tình yêu, nhưng ngày nay nhiều gia đình đổ vỡ vì thiếu tình yêu, vì ích kỷ. Và chính bản thân mỗi người chúng ta, nếu thành thật với chính mình, ta vẫn còn ích kỷ, chỉ nghĩ đến mình, sống theo ý muốn của mình hơn là nghĩ đến kẻ khác.

Phân tích như  trên cho ta thấy, con người ngày nay, trong đó có tôi và bạn, chưa sẵn sàng cho một cuộc phán xét. Cái đáng ngại là cuộc phán xét đó sẽ đến với mỗi người một cách bất ngờ. Sáng nay, 26-10-2001 đài phát thanh BBC đưa tin, 300 người chết vì đắm tàu ở đảo Java, 120 người mất tích ở trong đường hầm chạy qua dãy núi Alpes giữa Thủy Sĩ và Pháp, 120 người trong một nhà thương ở Afganistan bị trúng bom chết v. v. Bao giờ thì đến phiên bạn và tôi đây ? Người ta bảo: người khôn ngoan là người luôn biết nghĩ đến cái chết của mình. Quả đúng như vậy.

 


Sinh hoạt khác

Tin Giáo Hội

Mục Tổng Hợp

» Xem tất cả Video

Liên kết website

Bài viết được quan tâm