Danh mục bài viết

Cập nhật 29/3/2019 - 4:36 - Lượt xem 2687

Thứ Bảy tuần 3 Mùa Chay

"Người thu thuế ra về được khỏi tội".

 

Tin Mừng: Lc 18, 9-14

Khi ấy, Đức Giêsu kể dụ ngôn sau đây với một số người tự hào cho mình là công chính mà khinh chê người khác: “Có hai người lên đền thờ cầu nguyện. Một người thuộc nhóm Pharisêu, còn người kia làm nghề thu thuế. Người Pharisêu đứng thẳng, nguyện thầm rằng: “Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác: tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia. Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con.” Còn người thu thuế thì đứng đằng xa, thậm chí chẳng dám ngước mắt lên trời, nhưng vừa đấm ngực vừa thưa rằng: “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi.” Tôi nói cho các ông biết: người này, khi trở xuống mà về nhà, thì đã được nên công chính rồi; còn người kia thì không. Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên.”

 

Suy niệm:

1. Tự hào và khinh người – Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ.

Tự hào về sự đạo đức của mình và khinh người khác, 
Đó chẳng phải chuyện của các ông Pharisêu ngày xưa. 
Đó là chuyện của con người mọi thời, của chính các môn đệ hôm nay. 
Chúng ta nghe Đức Giêsu kể dụ ngôn này cho mình trong Mùa Chay thánh. 
Hai nhân vật đối lập nhau, được đặt bên nhau trong dụ ngôn. 
Họ ở trong cùng một đền thờ, cùng đứng cầu nguyện trước nhan Chúa. 
Họ là một ông Pharisêu thánh thiện và một người thu thuế tội lỗi. 
Nghe lời cầu nguyện của họ, chúng ta biết được lòng họ. 
Người Pharisêu không xin gì cho mình, ông chỉ tạ ơn Thiên Chúa. 
Ông kể ra những điều xấu mà ông không làm như bao kẻ khác, 
hay như tên thu thuế mà ông thoáng thấy đứng cuối đền thờ (c. 11). 
Ông còn kể những việc đạo đức tự nguyện về ăn chay và dâng cúng 
mà ông đã làm vượt quá những gì Luật đòi buộc. 
Lời cầu nguyện của ông khiến nhiều người Do Thái tử tế phải thèm. 
Còn người thu thuế thì đứng xa, cúi đầu, đấm ngực, cầu xin cách đơn sơ : 
“Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi” (c. 13). 
Anh thấy mình bất xứng, bất lực, chỉ biết cậy dựa vào tình thương tha thứ. 
Kết luận của Đức Giêsu hẳn đã làm nhiều người chưng hửng. 
Người thu thuế được Thiên Chúa làm cho nên công chính, 
còn người Pharisêu thì không (c. 14). 
Thiên Chúa có bất công không ? Chúng ta có cần sống tử tế nữa không ? 
Thật ra, ông Pharisêu không được gì vì ông đã không xin gì. 
Ông không xin vì ông thấy mình quá ư giàu có về mặt đạo đức. 
Ông ra trước Thiên Chúa với một kho công trạng của mình. 
Có bao nhiêu chữ con đầy tự hào trong lời nguyện của ông. 
Chúng ta tưởng ông mở ra khi nói “con tạ ơn Thiên Chúa” 
nhưng thực tế ông đã khép lại, quay vào mình, ngắm nghía vẻ đẹp của mình. 
Rốt cuộc Thiên Chúa là người thừa, cùng lắm chỉ là người ông đến đòi nợ. 
Ngược lại, anh thu thuế tuy có nhiều tiền, nhưng thấy mình tay trắng, lỗi tội. 
Chính điều đó khiến anh hết sức cần đến Thiên Chúa. 
Ngài đã nghe tiếng kêu của anh từ xa, từ cuối đền thờ. 
Không cần Thiên Chúa và coi thường tha nhân, vẫn là cám dỗ muôn thuở. 
Nên thánh không phải là chuyện “tôi làm” 
mà là chuyện để Thiên Chúa tự do làm nơi đời tôi. 
Chỉ ai nhìn nhận sự yếu đuối của mình, 
lời cầu nguyện của người đó mới đánh động được trái tim Thiên Chúa. 

Lạy Chúa Giêsu, 
xin cho con trở nên đơn sơ bé nhỏ, 
nhờ đó con dễ nghe được tiếng Chúa nói, 
dễ thấy Chúa hiện diện 
và hoạt động trong đời con. 
Sống giữa một thế giới đầy lọc lừa và đe dọa, 
xin cho con đừng trở nên cứng cỏi, 
khép kín và nghi ngờ. 
Xin dạy con sự hiền hậu 
để con biết cảm thông và bao dung với tha nhân. 
Xin dạy con sự khiêm nhu 
để con dám buông đời con cho Chúa. 
Cuối cùng, xin cho con sự bình an sâu thẳm, 
vui tươi đi trên con đường hẹp với Ngài, 
hạnh phúc vì được cùng Ngài chịu khổ đau. Amen. 

 

2. Khiêm tốn thật thì mới được tha thứ - Tu sĩ Jos. Vinc. Ngọc Biển, S.S.P.

Có một câu chuyện kể rằng: một ông giáo dân nọ nổi tiếng là đạo đức với những câu chuyện về lòng quảng đại, giúp đỡ của ông cho người nghèo. Ông được nhiều người ca tụng là người tốt lành, thánh thiện, nhất là khiêm tốn khi quảng đại giúp đỡ người cùng khốn mà không cần đến danh vọng....

Chính bản thân ông cũng nghĩ mình như thế! Tuy nhiên, đến lúc về già, ông đến gặp cha xứ và tâm tình với ngài rằng: “Cả cuộc đời con đã hy sinh cho Chúa, Giáo Hội và mọi người, con không hề tính toán thiệt hơn, bởi xác tín rằng: mọi sự con có là bởi Chúa”. Nhưng ngay sau đó, ông xin cha xứ một đặc ân, đó là: khi ông chết, cho ông được chôn ở gầm bàn thờ!

Câu chuyện mang tính ngụ ngôn, nhưng thực tế, trong cuộc sống hôm nay, vẫn còn đó rất nhiều người có tư tưởng khiêm tốn như ông lão trong câu chuyện trên. Thiết nghĩ, một lần khiêm tốn kiểu đó phải chăng bằng bốn lần kiêu ngạo! Nó thật giống với người Pharisêu trong bài Tin Mừng hôm nay.

Dụ ngôn kể về việc hai người lên đền thờ cầu nguyện. Một Pharisêu và một thu thuế. Hai người này là điển hình của hai thành phần cực đoan, thái quá trong dân Dothái thời bấy giờ. 

Với nhóm Pharisêu thì bảo thủ, kiêu ngạo, tự coi mình là người thành toàn, nắm toàn bộ lề luật và trở thành kiểu mẫu cho mọi người. Điều này được chứng minh qua lời cầu nguyện của ông với Thiên Chúa. Ông kể lể: “Con không gian tham, không bất công, không ngoại tình, không như người thu thuế đằng sau”; “một tuần ăn chay hai lần và dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con”. 

Còn người thứ hai, bác thu thuế. Người thu thuế thì ai cũng biết, biết về tội ác của ông là phản bội và cấu kết với đế quốc La mã để hà hiếp, bóc lột, vơ vét của cải nhân dân. Vì thế, họ bị dân chúng khinh bỉ vì tội công khai của họ. Chính vì lý do đó, nên chúng ta dễ hiểu là tại sao ông thu thuế này lại đứng đằng xa, không dám ngẩng đầu lên, vừa đấm ngực vừa cầu nguyện rằng: “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi”.

Kết cục, hai người ra về và người thu thuế thì được Chúa nhận lời, còn người Pharisêu thì không những không được Chúa nhận lời mà lại còn phạm thêm tội vì coi khinh người khác ngay khi cầu nguyện.

Sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta: đừng bao giờ coi khinh người khác khi cầu nguyện. Không được phán xét anh chị em của ta, trong khi mình cũng là kẻ có tội. Cầu nguyện là hướng tâm hồn lên với Chúa chứ không phải quy về mình. 

Hãy khiêm tốn thật lòng như người thu thuế, Chúa cần những tâm hồn trung thực và thật tâm như vậy, bởi vì tình thương của Thiên Chúa lớn lao hơn tội lỗi của con người, chỉ cần con người thống hối ăn năn thì dù tội có đỏ như son thì Chúa cũng làm cho trắng như tuyết, có thẫm tựa vải điều, Chúa cũng làm cho trắng như bông.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết “xé lòng chứ đừng xé áo” để đáng được Chúa tha thứ mọi tội lỗi. Amen.

 

3. Hoán ci và cy trông

Vào thời Chúa Giêsu, các kinh sư và những người pharisiêu thường bị Chúa quở trách nặng lời về tính tự cao tự đại của họ. Trong dụ ngôn vừa đọc lại trên đây, Chúa Giêsu dùng hình ảnh một người pharisiêu khoe khoang công trạng mình trước mặt Thiên Chúa. Ông đáng trách không phải vì những việc tốt ông đã làm, như việc ăn chay mỗi tuần hai lần và đóng thuế thập phân cho đền thờ. Nhưng ông đáng trách vì đã xem những công việc đạo đức này như là một chiếc vé để mang lại sự công chính cho ông. Qua lời cầu nguyện của ông, chúng ta thấy rõ ông làm những việc này cốt để tự biến mình trở nên người công chính chứ không phải để thờ phượng Thiên Chúa và phục vụ anh chị em. Ông giữ mình khỏi vướng mắc vào các thói hư tật xấu cốt để cho người khác thấy ông đạo đức tốt lành, chứ không như những người hư đốn đồi bại khác. Mỗi khi ra đường, chắc hẳn ông đã kiêu hãnh ngẩng đầu lên với khuôn mặt nghiêm trang, dáng đi chững chạc uy nghi, các hộp kinh thật lớn thắt trên người, các tua áo thật dài thả tung bay, ông nhìn thấy mình thật xứng đáng để cho thiên hạ kính nể. Bước vào đền thờ, ông đứng riêng ra, chọn cho mình một chỗ xứng đáng và ông bắt đầu khoe với Chúa những công trạng của mình. Nhìn thấy người thu thuế đang cúi đầu khẩn nguyện, ông thưa với Chúa cách tự phụ: "Ðấy, Chúa thấy người thu thuế tội lỗi kia không, con đâu như hắn ta, con tốt hơn hắn nhiều, hắn tham lam tiền bạc, gian lận thuế má, chèn ép lận lường. Con cám ơn Chúa vì con đâu giống như hắn". Nhưng ông pharisiêu đâu biết rằng Thiên Chúa chẳng cần đếm xỉa gì đến những lời khoe khoang tự cao tự đại của ông, Người cần tấm lòng chứ không cần hy lễ, Người cần con tim yêu thương chứ không cần trí óc tự phụ. Tâm hồn khiêm cung tự hối của người thu thuế mà ông coi chẳng ra gì kia lại làm đẹp lòng Chúa còn hơn là ông nghĩ đến.

Thử hỏi, chúng ta nhìn thấy mình trong hình ảnh người nào trong dụ ngôn trên đây: người pharisiêu hay là người thu thuế? Nếu đã lỡ là người pharisiêu, chúng ta đừng ngã lòng nhưng hãy thành thật hoán cải và cậy trông vào tình thương của Thiên Chúa, Người có thể biến sự dữ trong chúng ta nên sự lành. Nếu chúng ta thành tâm thiện chí, Thiên Chúa sẽ đập tan tính kiêu hãnh của chúng ta và thay vào đó một tâm tình mới, Người sẽ dạy chúng ta biết sống sao cho đẹp lòng Chúa. Còn nếu chúng ta đã là người thu thuế, thì chúng ta cũng hãy cương quyết làm lại cuộc đời, Thiên Chúa đã yêu thương tha thứ mọi tội lỗi của chúng ta, Người đã đón nhận tấm lòng tan nát khiêm cung của chúng ta, chúng ta hãy tin tưởng làm lại từ đầu.

Với ân sủng của Thiên Chúa, không có sự gì là không thể thực hiện được, chỉ cần chúng ta vững tin và phó thác vào Người rồi Người sẽ dẫn dắt chúng ta bước đi trên đường ngay nẻo chính. Mùa Chay là mùa thuận tiện để canh tân đời sống. Chúng ta hãy cộng tác với ơn Chúa để đổi mới tâm hồn mình nên công chính như Chúa vẫn mong chờ.

Lạy Chúa, xin gìn giữ con, đừng để con rơi vào thái độ tự phụ kiêu ngạo. Xin cho con biết sống khiêm nhường tự hạ trước tôn nhan Thiên Chúa và trước mặt anh chị em. Và xin giúp con được canh tân đời sống trở về với Chúa, đừng bao giờ thất vọng vì những tội lỗi của con đã phạm, nhưng luôn trông cậy vào tình thương tha thứ của Chúa.

 

4. Đừng bắn người biệt phái

Người biệt phái này không đến nỗi xấu, ông ăn chay hai ngày một tuần, ông dâng cúng một phần mười hoa lợi kiếm được. Thật là một viên ngọc quý mà chẳng có ai trong giáo xứ có thể làm được như vậy. Đừng khiển trách ông đứng cầu nguyện, đó là thói quen của người Do thái. Ông khoe khoang không ai bằng, đáng nực cười. Ông chẳng có chút gì là nhân đức, ông cảm ơn Chúa đã sống như thế.

Đến lượt người thu thuế, ông không dám bốc thơm mình. Đáng lẽ ra, ông vừa đứng xa xa sấp mình xuống chất run rẩy cầu nguyện, ông vừa lo trả tiền của lại cho những người nghèo đã bị ông bóc lột thì tốt hơn. Nhưng người thu thuế đã mang tiếng là hạng làm giàu bầng cách lạm thu. 

Chúng ta cũng hèn nhát chê người biệt phái : “Tôi không giả hình như hạng cuồng tín đó. Tôi có nhiều lỗi, tôi khô khan cứng cỏi với người khác, tôi lười biếng... Nhưng tôi không mắc nợ ai". Đó cũng là cách nói như hạng biệt phái, chẳng có gì tốt cả. Bài học lịch sử này không phải là so sánh hai hạng người, làm thế là đáng ghét, nhưng chính là để nhắc nhở chúng ta đến lời thánh Phaolô dạy chúng ta: “Chính nhờ đức tin làm cho chúng ta nên công chính, không có đức tin, chúng ta không đáng gì trước mặt Thiên Chúa".

Đặc biệt, trường hợp người thu thuế làm sáng lên trong chúng ta một niềm hy vọng tuyệt vời, là những kẻ tội lỗi đừng bao giờ thất vọng và phải luôn hy vọng vào lòng thương xót tha thứ của Thiên chúa. Đức Giê-su luôn ban ơn cho những người thấy mình vô tài bất lực, thấy mình chẳng đáng công gì, chẳng có thể đền bù được tội lỗi mình, vì Đức Giê-su đã nói : “Tôi đến không phải cứu chữa những người khỏe mạnh, nhưng cứu chữa những người bệnh tật". Đừng bao giờ thấy mình hơn người khác, kẻo đi vào vết chân biệt phái.

 

5. Hạ mình xuống sẽ được nâng lên

Dụ ngôn trình bày hai người lên đền thờ cầu nguyện cùng Thiên Chúa Giavê. Hai người này là đại diện cho hai địa vị cực đoan của xã hội Do thái lúc ấy.

Người thứ nhất là một người biệt phái. Chúng ta biết nhóm người biệt phái cũng là những người Do thái nhưng họ sống tách biệt những người Do thái khác. Họ có khoảng sáu ngàn người. Nhóm này gồm có các luật sĩ, tiến sĩ luật và một số các tư tế. Họ tổ chức thành một tập thể tôn giáo, sống trung thành với tập tục lễ nghi và lề luật. Họ thường sống kín đáo, sống tách biệt, biệt lập hẳn với thói thường của giới bình dân. Họ sống khác hẳn với đời để nên thánh theo như ý họ nghĩ ra. Cho nên họ tự thấy mình sống đầy đủ, và đi đến chỗ tự cao tự mãn, đến độ khoe khoang hợm mình mà không biết, không tự giác. Người biệt phái hôm nay là một kiểu mẫu.

Người biệt phái lên đền thờ trình bày với Chúa rằng: đời ông không có gì nên tội ác. Ít ra theo như ông nói trước tòa Chúa: “Không gian tham, không bất công, không ngoại tình” (c.11). Người biệt phái còn kể lể đời đạo đức của ông cho Chúa nghe: một tuần ông ăn chay hai lần (c.12), trong khi luật Cựu ước buộc một năm có một lần nhân ngày lễ xá tội (Sđcv 27,9). Về thuế khóa lẽ ra chỉ phải trả về ruộng đất và súc vật (Lev 27,30 Đnl 14,22) thì người biệt phái này phải trả thêm, về bạc hà mộc hương và các thứ rau cỏ (c.13 Mt 23,23), ông cấy cầy được.

Thật ra tất cả những gì ông lể lể trên đây đều đúng. Chúa không bảo ông nói dối đâu, cũng không nói sai. Nhưng có một điều là ông lên đền thờ để nói chuyện khoe mẽ chứ không cầu nguyện, không xin gì và Thiên Chúa cũng không ban gì.

Còn người thứ hai, bác thu thuế (c. k3). Thời Chúa Giêsu, ở Do thái những người thu thuế là cấu kết với ngoại bang Lamã. Thu thuế cho người ta và cho mình. Làm nghề này coi như là chuột chạy chĩnh gạo, nhưng lại bị dân chúng lúc ấy khinh dể và cho là tội lỗi nặng nề về điều răn VII và V .

Đúng ra cả hai lớp người trên đều sống cách biệt khỏi dân chúng.

Nhưng thái độ hai người trước mặt Thiên Chúa khác hẳn nhau. Người biệt phái đứng thẳng lên và đứng gần sát tòa Giavê ngông nghênh kể lể những thành quả đời mình làm được. Ông không ngờ chính những việc ông làm ấy lại trở thành cô ích mà còn thêm tội trước Giavê. Cái gì đã làm cho những công việc kia ra vô ích trướcThiên Chúa ? Thưa, sự tự cao tự mãn. Ông cầu nguyện rằng: “Tôi không như người thu thuế đứng đàng sau tôi kia” (c.kk). Nói như thế chưa chắc, vì tốt khoe xấu che, xấu xa đậy lại. Nói thế mà có sống thực như thế ? Nơi đền thờ này, người biệt phái này thấy chỉ có hai người: một người tội lỗi, còn một người công chính. Người công chính đó lại là ông. Và nếu như cả thế giới lúc ấy chỉ có một người công chính, thì người đó cũng chỉ có mình ông mà thôi. Đây trước Thiên Chúa mà giữ thái độ hợm mình như vậy thì có ích gì không ? Chúa nhìn tấm lòng chứ không của lễ (Tv 49. Mt 9,13).

Còn thái độ của người thu thuế khác hẳn. Oâng đứng thẳng lên. Đứng thẳng cũng là thói quen của người Do thái khi cầu nguyện (3V 8,55. Mt 6,5). Thế người thu thuế đứng nhưng lại đứng xa bàn thờ Thiên Chúa, cúi mặt đấm ngực, thống hối trước khi bắt đầu cầu nguyện. Ông rụt rè không dám ngửa mặt lên vì ông biết mình lầm lỗi nhiều về đức công bằng. Nhưng ông dám đứng lại đó vì ông thống hối và tin vào lòng từ bi. Lòng “thống hối khiêm nhường Chúa chẳng khinh chê”. Người thu thuế cầu nguyện “Xin thương con” (c.13). Xin thương con nghĩa là xin bớt cơn giận dữ, xin tha hình phạt mà ông đáng lãnh. Oâng tự nhận, ông không có phần nào đáng được Chúa thương, nên ông mới van xin năn nỉ...

Những bài học:

1. Đừng khinh dể ai, nhất là khi cầu nguyện. “Khi ngươi đi dâng của lễ...” (Mt 5,22).

2. Những người bên ngoài có thể đáng khinh nhưng bên trong đáng quý, xanh vỏ đỏ lòng.

3. Khi cầu nguyện là cầu nguyện với Chúa, chứ không ai khác. Không cầu nguyện với chính mình như kiểu người biệt phái.

4. Một người kiêu ngạo không thể cầu nguyện được.

5. Lòng đau thương thống hối, khiêm nhường Chúa không coi thường đâu.

Vậy đừng bao giờ thất vọng, dù mình là ai, ở hoàn cảnh nào... cũng vẫn là thân chủ của Thiên Chúa.

6. Tất cả những gì chúng ta làm, chúng ta có bây giờ, tất cả là ơn thánh, là của Chúa nên không có gì đáng phải khoe khoang cả.

Nếu có gì đáng khoe khoang thì hãy khoe về sự hiểu biết Thiên Chúa.

 

6. Chìa khoá của tự do

Người Hồi giáo  nói về sự cầu nguyện bằng câu chuyện sau: Có một người thợ kim hoàn nghèo nhưng thanh liêm bị giam tù vì một tội ông không bao giờ phạm. Vài tháng sau người chồng bị giam giữ, ngưới vợ đến gặp giám đốc và xin cho chồng một ân huệ. Bà nói chồng bà là một tín hữu trung thành với các buổi cầu nguyện, bà xin gửi cho chồng một tấm thảm nhỏ để quì cầu nguyện năm lần một ngày theo qui dịnh của Hồi giáo. Lời thỉnh cầu được chấp nhận dễ dàng … Ngày nọ, người thợ kim hoàn đến trình bày với các quản giáo: " Tôi là thợ kim hoàn, nếu các người cho tôi một ít kim loại, tôi có thể vừa qua được thời giờ nhàn rỗi, vừa làm được cho các người những nữ trang có thể dùng được". Các quản giáo không thấy trở ngại nào về điều đó. Một ngày nọ, các canh tù bỗng phát giác ra cánh cửa nhà tù bị mở toang và người thợ kim hoàn đã tẩu thoát. Cùng lúc đó người ta cũng bắt giữ được thủ phạm đích thực mà họ đã qui lầm cho người thợ kim hoàn. Bấy giờ người thợ kim hoàn mới ra mặt và tiết lộ việc trốn thoát của ông. Sau khi ông bị bắt oan, vợ ông liên lạc với kiến trúc sư đã vẽ hoạ đồ nhà tù. Oâng này cho phép bà in nguyên họa đồ chi tiết của nhà tù lên tấm thảm. Mỗi ngày năm lần dù phủ phục trên tấm thảm để cầu nguyện, người thợ đã thuộc lòng đường ra lối vào của nhà tù, thêm vào đó nhờ những mảnh kim loại các quản giáo cung cấp, người thợ đã có thể mài dũa thành những chìa khoá để mở các cánh cửa nhà tù, đó là bí quyết đã giúp ông trốn khỏi nhà tù.

Cầu nguyện là chìa khoá của tự do. Một tâm hồn khao khát tự do đích thực là một tâm hồn biết cầu nguyện Chúa Giêsu như muốn minh hoạ cho chân lý ấy qua dụ ngôn hai người lên đền thờ cầu nguyện : một người Biệt phái lên giữa đền thờ, không dám ngước mặt lên, nhưng cúi mình đấm ngực nói lên nỗi khốn cùng tội lỗi của mình. Chúa Giêsu tuyên bố người thu thuế ra về được tha tội, còn người biệt phái vẫn tiếp tục ù lì trong sự tự phụ của mình. Phải chăng Chúa Giêsu không muốn nói với chúng ta rằng câu chuyện đích thực chính là nỗi khao khát được thoát khỏi những thứ nô lệ đang trói buộc tâm hồn con người.

Mùa Chay là trường dạy cầu nguyện. Giáo hội mời gọi chúng ta gia tăng cầu nguyện, điều đó có nghĩa là chẳng những dành nhiều thời giờ cho cầu nguyện, mà nhất là thanh luyện thái độ chúng ta trong khi cầu nguyện, lời cầu nguyện đích thực trong mùa chay phải là thái độ sám hối. Khởi đầu của cầu nguyện ấy là mọi nhận thức sâu xa về thân phận, tội lỗi của chúng ta và từ đó nói lên tất cả tín thác của chúng ta vào tình yêu tha thứ của Chúa. Lòng tin thác ấy sẽ xóa tan mọi tội lỗi và mang lại cho chúng ta tự do đích thực của con cái Chúa.

Như con người hoang đàng mong được trở về với cha, như người thu thuế nép mình nơi lòng tha thứ của Chúa, xin cho chúng ta luôn được sống trong tâm tình sám hối thực sự và cảm nhận được tình thương khoan dung vô bờ của Chúa.

 

7. Ảo tưởng về chính mình

Người kia đã kể lại giấc mơ hãi hùng của mình như sau :Tôi thấy mình đang đứng trước một biệt thự nguy nga. Bước vào hành lang của ngôi biệt thự này, tôi thấy hàng chữ :” Bên phải dành cho người công giáo, bên trái dành cho người lương dân”. Thế là tôi đi theo hành lang bên phải.

Đi được một lúc, tôi thấy mình đang đứng trước một ngã rẽ. Lần này tôi thấy bảng chỉ dẫn ghi : “Bên phải dành cho người có Đức Tin vững mạnh, bên trái dành cho những người có Đức Tin yếu kém”. Và tôi đã đi theo ngả bên phải.

Đến một ngã rẽ khác, tôi lại thấy một bảng chỉ dẫn :”Bên phải dành cho những người có lòng bác ái, bên trái dành cho những người có lòng ích kỷ” Và tôi đi theo ngả bên phải.

Cuối cùng tôi gặp một bảng chỉ dẫn : “Bên phải dành cho những người có đời sống thánh thiện, bên trái dành cho những kẻ tội lỗi” Và một lần nữa tôi lại chọn ngả bên phải.

Đang lúc tôi hân hoan bước, thì bỗng thấy một cảnh tượng hãi hùng hiện ra ở cuối hành lang . Đó là cảnh tượng hảo ngục, với muôn vàn hình khổ. Thấy thế tôi hoảng hốt quá nên kêu rú lên. Và thế là tôi giật mình tỉnh giấc.

Giấc mơ trên đây cho chúng ta thấy, cái ảo tưởng tốt lành về chính mình luôn luôn bám sát lấy chúng ta như bóng với hình. Chúng ta gặp ảo tưởng ấy của người Biệt Phái trong đoạn Tin Mừng được trích đọc hôm nay, khi ông ta lên đền thờ cầu nguyện.

Chả thế mà khi cầu nguyện người Biệt Phái này đã thưa với Chúa rằng : “ Lạy Chúa, con xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao người khác, tham lam, bất chính, ngoại tình...Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng lên Chúa 1/10 phần thu nhập của con”.

Có lẽ những điều người Biệt Phái này kể ra ở đây đều là sự thật. Thế nhưng những sự thật ấy đã được khoác cho một áo choàng, đó là tính kiêu ngạo.

Chính vì thế mà trước khi ghi lại những lời cầu nguyện của người Biệt Phái ở đây, Thánh sử Luca đã ghi chú thêm :”Người Biệt Phái đứng thẳng riêng một mình”

Ghi chú này của Thánh Luca cho thấy người Biệt Phái ở đây rất tự mãn. Ông cứ tưởng rằng, với những công việc đã làm, ông đã trở nên người công chính. Thế nhưng ông đã lầm, bởi sự công chính không hệ tại các việc làm, mà là ở chính động lực thúc đẩy làm.

Ở đây động lực thúc đẩy người Biệt Phái làm những công việc mà ông đã liệt kê ra khi cầu nguyện chính là tính kiêu ngạo hay khoe khoang. Chính vì thế mà sự công chính, người Biệt Phái đã tưởng rằng mình có chỉ là một ảo tưởng.

Ngày nay, không thiếu gì những người cũng đã hành động như người Biệt Phái ở đây. Họ cứ tưởng những việc họ đã làm như đọc kinh xem lễ, tham gia một số công tác tông đồ, dâng cúng một số tiền của...vv như thế là họ đã tốt lành, thánh thiện rồi. Nhưng xét cho cùng, những người này đã làm những công việc đó với mục đích là để phô trương. Như thế, làm sao những người này có thể gọi là công chính thánh thiện được .

Trong thánh lễ hôm nay, chúng ta hãy xin Chúa giúp chúng ta nhận ra động lực thâm sâu đang tác động trên mọi việc làm của chúng ta. Ước gì động lục ấy không phải là tính phô trương như người Biệt Phái ở đây mà là tình yêuthương chúng ta đặt nơi Chúa cũng như nơi tha nhân. Khi đó chúng ta sẽ không còn ảo tưởng về chính mình, mà trái lại chúng ta sẽ nhận ra con người thực của chúng ta như người thu thuế trong dụ ngôn này.

Tâm tình và cử chỉ cũng như thái độ của người thu thuế trong dụ ngôn trên đây cũng phải là tâm tình, cử chỉ và thái độ của chúng ta giờ này. Hãy bầy tỏ tâm tình và thái độ đó để chúng ta được nên công chính trước mặt Chúa.

 

 


Sinh hoạt khác

Tin Giáo Hội

Mục Tổng Hợp

» Xem tất cả Video

Liên kết website

Bài viết được quan tâm