Danh mục bài viết

Cập nhật 22/3/2019 - 3:54 - Lượt xem 2361

Thứ Bảy tuần 2 Mùa Chay

"Em con đã chết nay sống lại".

 

Tin Mừng: Lc 15, 1-3.11-32

Khi ấy, các người thu thuế và các người tội lỗi đều lui tới với Đức Giêsu để nghe Người giảng. Những người Pharisêu và các kinh sư bèn xầm xì với nhau: “Ông này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng.” Đức Giêsu mới kể cho họ dụ ngôn này: “Một người kia có hai con trai. Người con thứ nói với cha rằng: “Thưa cha, xin cho con phần tài sản con được hưởng.” Và người cha đã chia của cải cho hai con. Ít ngày sau, người con thứ thu góp tất cả rồi trẩy đi phương xa. Ở đó anh ta sống phóng đãng, phung phí tài sản của mình. Khi anh ta đã ăn tiêu hết sạch, thì lại xảy ra trong vùng ấy một nạn đói khủng khiếp. Và anh ta bắt đầu lâm cảnh túng thiếu, nên phải đi ở đợ cho một người dân trong vùng; người này sai anh ta ra đồng chăn heo. Anh ta ao ước lấy đậu muồng heo ăn mà nhét cho đầy bụng, nhưng chẳng ai cho. Bấy giờ anh ta hồi tâm và tự nhủ: “Biết bao nhiêu người làm công cho cha ta được cơm dư gạo thừa, mà ta ở đây lại chết đói! Thôi, ta đứng lên, đi về cùng cha và thưa với người: ‘Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa. Xin coi con như một người làm công cho cha vậy.’ Thế rồi anh ta đứng lên đi về cùng cha. Anh ta còn ở đằng xa, thì người cha đã trông thấy. Ông chạnh lòng thương, chạy ra ôm cổ anh ta và hôn lấy hôn để. Bấy giờ người con nói rằng: “Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa...” Nhưng người cha liền bảo các đầy tớ rằng: “Mau đem áo đẹp nhất ra đây mặc cho cậu, xỏ nhẫn vào ngón tay, xỏ dép vào chân cậu, rồi đi bắt con bê đã vỗ béo làm thịt để chúng ta mở tiệc ăn mừng! Vì con ta đây đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy.” Và họ bắt đầu ăn mừng. Lúc ấy người con cả của ông đang ở ngoài đồng. Khi anh ta về gần đến nhà, nghe thấy tiếng đàn ca nhảy múa, liền gọi một người đầy tớ ra mà hỏi xem có chuyện gì. Người ấy trả lời: “Em cậu đã về, và cha cậu đã làm thịt con bê béo, vì gặp lại cậu ấy mạnh khoẻ.” Người anh cả liền nổi giận và không chịu vào nhà. Nhưng cha cậu ra năn nỉ. Cậu trả lời cha: “Cha coi, đã bao nhiêu năm trời con hầu hạ cha, và chẳng khi nào trái lệnh, thế mà chưa bao giờ cha cho lấy được một con dê con để con ăn mừng với bạn bè. Còn thằng con của cha đó, sau khi đã nuốt hết của cải của cha với bọn điếm, nay trở về, thì cha lại giết bê béo ăn mừng!” Nhưng người cha nói với anh ta: “Con à, lúc nào con cũng ở với cha, tất cả những gì của cha đều là của con. Nhưng chúng ta phải ăn mừng, phải vui vẻ, vì em con đây đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm thấy.” 

 

Suy niệm:

1. Ăn mừng - Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ.

Dụ ngôn người cha nhân hậu là một dụ ngôn nổi tiếng, 
qua đó Đức Giêsu cho thấy tại sao Ngài đón tiếp và ăn uống với tội nhân. 
Đơn giản chỉ vì ngài giống Thiên Chúa là người Cha nhân hậu. 
Người cha nhân hậu là người tôn trọng tự do của đứa con thứ, 
người đã chia một phần ba gia sản cho nó ngay khi ông còn sống. 
Ông đã không tìm con, như người ta tìm chiên lạc hay tìm đồng bạc bị mất. 
Ông tin và hy vọng sớm muộn nó sẽ về, nên ông kiên nhẫn chờ. 
Vì chờ, nên ông là người đầu tiên trông thấy con trở về tiều tụy. 
Không cầm lòng được vì thương, ông chạy ra, ôm lấy cổ con mà hôn. 
Người con của ông đã chết nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy. 
Khi con thứ sám hối, ông đã trả lại cho cậu tất cả vinh dự của người con. 
Việc duy nhất phải làm ngay là mở tiệc ăn mừng (cc. 23, 24. 29, 32). 
Khi con cả giận dỗi, không chịu vào nhà chung vui với cha và em, 
một lần nữa người cha lại đi ra và năn nỉ (c. 28). 
Ông chấp nhận ở thế yếu vì ông không muốn mất một đứa con nào. 
Ông không thể yên tâm ở trong nhà khi còn một đứa con ngoài cổng. 
Hoán cải bao giờ cũng khó. 
Con thứ phải can đảm lắm mới dám trở về nhà cha. 
Làm sao lường được phản ứng của cha, anh, của gia nhân, hàng xóm? 
Làm sao dám về nhà trong tình trạng thân tàn ma dại? 
Nhưng con cả cũng không dễ vào nhà chút nào, 
vì vào nhà là phải bắt tay thằng em đã phung phí hết của cải, 
vào nhà là phải chấp nhận sự thiên vị khó hiểu của người cha (cc. 29-30). 
Cả hai người con đều cần hoán cải. 
Người con cả cũng hỗn hào với cha không kém gì đứa em (c. 30). 
Em bỏ nhà ra đi nên đói, còn anh không chịu vào nhà nên cũng có thể bị đói. 
Anh phục vụ cha rất tốt nhưng lại mong cha trả công như người thợ (c. 29). 
Anh ở gần cha, nhưng thực sự trái tim lại xa cha. 
Khi cha vui vì em trở về thì anh lại buồn giận. 
Mùa Chay là thời gian trở về với Cha, trở lại với anh em. 
Người con thứ đã đứng lên trở về nhà cha và tìm được hạnh phúc. 
Không rõ người con cả có vào nhà cha và ôm lấy em mình không? 

Lạy Cha, 
người con thứ đã muốn tự định đoạt lấy đời mình. 
Chúng con vẫn rơi vào tội của người con thứ, 
khi coi Cha 
như người cản trở hạnh phúc của chúng con. 
Chúng con thèm được tự do bay nhảy 
ngoài vòng tay Cha, 
nhưng tự do ấy lại biến chúng con thành nô lệ. 
Hạnh phúc do thế gian ban tặng thì bọt bèo. 
Như người con thứ, 
chúng con bỗng thấy mình tay trắng, 
rơi xuống chỗ cùng cực và bị cái chết đe dọa. 
Lạy Cha đầy lòng bao dung, 
xin kéo chúng con trở về với Cha mỗi ngày, 
giúp chúng con điều chỉnh những đam mê lệch lạc. 
Xin nâng chúng con đứng lên trong niềm vui 
vì tin rằng tình Cha lớn hơn tội chúng con vạn bội. 
Ước gì những vấp ngã khiến chúng con lớn lên, 
thấy mình mong manh, thấy Cha rộng lượng. 
Ước gì sau mỗi lần được Cha tha thứ, 
chúng con lại thấy mình hiền hòa hơn với tha nhân. Amen. 

 

2. Trở nên giống Thiên Chúa trong tình thương - Tu sĩ: Jos. Vinc. Ngọc Biển, S.S.P.

Có một người mẹ đã suốt một đời hy sinh cho con cái, tuy nhiên, ngay cả đến lúc già nua tóc bạc, bà vẫn không nhận được một nghĩa cử đền ơn báo nghĩa nào của người con. Nhưng mang trong mình tâm tư của người mẹ, với một tình mẫu tử bao la, bà vẫn hết mực thương con.

Câu chuyện trên đây phản chiếu một phần nào hình ảnh của người cha nhân hậu trong bài Tin Mừng hôm nay.

Ông đã quá vất vả vì con cái! Tuy nhiên, thay vì tuổi già, ông được con cái phụng dưỡng, đằng này, nó lại đòi chia gia tài để rồi đi ăn chơi trác táng với phường tội lỗi gian dâm. Hết tiền, hết bạc, bị người ta coi thường, khinh miệt trong thân phận nô lệ. Nhưng khi không còn ai đón tiếp và bụng đói thì mò về với Cha của mình!

Tuy nhiên, thay vì xua đuổi, ông lại tỏ ra nhân hậu khi đứa con tội lỗi trở về. Vì thế, người cha này đã tìm mọi cách để phục hồi nhân phẩm và phục quyền cho đứa con lêu lổng một thời đi hoang, và cuối cùng là mở tiệc ăn mừng....

Thế nhưng, hành động của ông nhân từ bao nhiêu, thì hình ảnh, lời nói và thái độ của người con cả lại ngược lại với ông bấy nhiêu.

Người con cả trong bài Tin Mừng hôm nay đã không chấp nhận tha thứ cho người em của anh. Anh ta trách móc cha mình rồi tỵ nạnh với em mình khi kể lể công trạng của anh ta với cha của anh.

Trong cuộc sống hôm nay, chúng ta vẫn thấy hình ảnh phóng đãng ăn chơi của người con thứ, hay thái độ ích kỷ, kiêu ngạo như người con cả ngay trong con người của mỗi người khi mỗi lần chúng ta đi xa đường lối của Thiên Chúa hay không chịu hiểu về tình thương cũng như lời mời gọi của Ngài.

Sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy can đảm, đứng dậy và trở về để được ơn tha thứ của Thiên Chúa. Đừng sợ tình thương của Thiên Chúa, vì tội lỗi của chúng ta có đỏ như son thì Chúa cũng làm cho trắng như tuyết, có thẫm tựa vải điều, Chúa cũng làm cho trắng như bông. Thiên Chúa luôn chờ đợi chúng ta từng ngày, từng giờ như người cha trong bài Tin Mừng hôm nay để tha thứ và tẩy rửa tội lỗi cho chúng ta.

Mặt khác, Lời Chúa hôm nay cũng mời gọi chúng ta đừng vì ích kỷ mà ngăn cản tình thương của Chúa xuống trên anh chị em mình như người con cả trong bài Tin Mừng vừa nghe.

Lạy Chúa Giêsu, xin Chúa ban cho chúng con biết quay trở về với Chúa trong Mùa Chay này như người con thứ. Biết từ bỏ thói kiêu ngạo, tự phụ như người con cả. Và biết mặc lấy tâm tình từ bi, nhân hậu nơi người Cha trong dụ ngôn hôm nay. Amen.

 

3. Người Cha Nhân Hậu 

Ðoạn Tin Mừng chúng ta vừa nghe trên đây là một trong những đoạn rất quen thuộc với người Kitô. Trước đây, đoạn Tin Mừng này có tên gọi là Người Con Hoang Ðàng, nhằm nhấn mạnh đến sự hư hỏng và sau đó là sự ăn năn hối lỗi của người con thứ. Theo cách nhìn này thì người con hoang đàng là nhân vật chính trong câu chuyện, nhưng trọng tâm của câu chuyện không phải là người con đi hoang mà là người cha nhân hậu, do đó dụ ngôn này có tên gọi là dụ ngôn về người cha nhân hậu, và được chia làm hai phần với hai dụng ý rõ rệt. Phần đầu nói về Thiên Chúa là Cha nhân hậu. Ngài luôn luôn yêu thương con người, sẵn sàng tha thứ mọi lỗi lầm của họ và hằng mong chờ họ quay trở về với Ngài. Phần thứ hai nói về tính ghen tị của những người tự xưng mình là con của Thiên Chúa, nhưng lại rất nhỏ mọn, thiếu vị tha đối với anh chị em.

Qua ba hình ảnh người cha, người em đi hoang, người anh cả ở nhà trong dụ ngôn trên đây, chúng ta thấy rõ bài học mà Chúa Giêsu muốn nếu lên đó là hãy tin vào lòng nhân từ vô biên của Thiên Chúa Cha, hãy ăn năn sám hối mà trở về với Ngài, hãy chìa tay nâng đỡ anh chị em sa ngã đứng lên.

Lạy Chúa là Cha tuyệt vời của chúng con, xin cho chúng con biết thực hành ba điều giáo huấn mà Chúa Giêsu đã dạy chúng con trong dụ ngôn hôm nay.

 

4. Người con hoang đàng

Văn hào Nga Dostoievki khi biết mình không còn sống bao lâu nữa, đã gọi các con đến bên giường bệnh và yêu cầu vợ đọc cho chúng nghe dụ ngôn người con hoang đàng. Khi bà vợ vừa dứt lời, Dostoievki nói như để lại di chúc riêng của ông như sau :

"Các con yêu dấu, các con đừng quên những gì các con vừa nghe đọc. Hãy tin tưởng tuyệt đối vào Chúa, đừng bao giờ thất vọng về sự tha thứ của Ngài. Cha thương các con vô cùng, nhưng tình thương của cha không thể sánh được với tình yêu Thiên Chúa danh cho những ai Ngài đã tạo dựng. Cho dù các con có phạm tội ác, các con đừng bao giờ thất vọng về Thiên Chúa. Các con là con cái Ngài, hãy khiêm tốn đến trước mặt Ngài. Hãy xin Ngài tha thứ và Ngài sẽ vui mừng vì sự sám hối của các con, như người cha đã vui mừng khi người con hoang trở về".

Những lời trăn trối của Dostoievki có lẽ cũng chính là tâm tình mà Giáo Hội mời gọi chúng ta khi cho chúng ta lắng nghe dụ ngôn về người con hoang đàng. Qua dụ ngôn này, Chúa Giêsu muốn nêu bật lòng thương xót của Thiên Chúa được chính Ngài cụ thể hóa qua sự gần gũi của Ngài với các tội nhân. Nêu bật lòng thương xót của Thiên Chúa đối với con người, Chúa Giêsu cũng nhằm đến thái độ chai đá của các biệt phái và luật sĩ, được Ngài tô vẽ qua hình ảnh của con người con cả. Trong một vài nét ngắn ngủi, nhưng Chúa Giêsu đã phô bày được bộ mặt chai đá, ích kỷ, mù quáng của biệt phái và luật sĩ. Người con cả là hạng người không bao giờ nhận ra được tình thương của Thiên Chúa. Bao lâu nay sống bên cạnh cha, người con cả vẫn xem mình như một thứ người làm công trong nhà, mà không nghĩ rằng "tất cả những gì của cha đều là của con".

Đó có thể là tâm tình của rất nhiều người trong chúng ta. Chúng ta tuân giữ và thực hành đúng đắn giới răn, nhưng có lẽ chúng ta chỉ ngước lên Chúa như một quan toà công thẳng hay như một viên cảnh sát lúc nào cũng rình rập theo dõi để trừng phạt chúng ta. Từ một hình ảnh như thế về Thiên Chúa, tâm tình mà chúng ta có đối với Ngài có lẽ chỉ là sợ hãi, nô lệ. Và bởi lẽ không nhận ra Thiên Chúa như một người cha, cho nên con người cũng không nhận ra tha nhân là anh em của mình và như vậy cũng là xúc phạm đến chính Thiên Chúa .

Mùa chay là mùa của hoán cải. Hoán cải trước tiên là trả lại cho Thiên Chúa gương mặt mà Chúa Giêsu đã mạc khải, đó là gương mặt của người cha yêu thương con người đến thí ban con Một mình. Nhưng không thể trở về Thiên Chúa là Cha mà lại không yêu thương tha thứ cho người anh em của mình.

 

5. Trả lời cho anh cả

Trong dụ ngôn này, chính anh cả là quan trọng nhất, vì chính anh đặt ra những thắc mắc phải được giải đáp.

Người cha vui như điên khi thấy đứa con lầm lạc trở về. Thiên Chúa quan tâm săn đón thương xót kẻ tội lỗi biết bao, để tỏ cho người ta thấy một chút về trái tim thương yêu của Thiên Chúa, để người ta có một chút về hình ảnh công chính của Thiên Chúa. Nhưng bao nhiêu đứa con có vẻ trung thành lại tỏ ra ngang ngược với cha như đứa con cả, đó là một mầu nhiệm.

Chính ra chúng phải nói tốt và làm tốt như người cha, ông không bao giờ được lợi lộc gì ở đứa ăn bám, nhưng ông vẫn đối xử đẹp với nó, dầu suốt đời ông đã chịu khổ nhọc vì nó. Có lẽ chúng ta vừa mới trách người anh cả khá tệ vì chúng ta cũng nuôi dưỡng cùng một thái độ như anh ta. Vậy nên trách mình trước rồi trách người sau "tiên trách kỷ, hậu trách nhân".Đức Giê-su cũng nói : "Hãy lấy cái xà khỏi mắt anh trước, rồi sẽ lấy cái rác ra khỏi mắt người".

Trung tín luôn luôn là giá trị tốt nhất của người Ki-tô. Những bản văn Tin mừng đều đề cập đến chủ đề này rất dồi dào : "Hãy đến, tôi tớ tốt lành và trung tín, anh đã trung tín trong việc nhỏ, Ta sẽ trao phó cho anh việc lớn". "Phúc thay tôi tớ tỉnh thức cho tới lúc chủ về..."

Nhưng đức tin đòi kẻ trung tín không được lộng quyền qua mặt lòng thương xót của Thiên Chúa. Lòng trung tín chân chính biết sống nhân hậu, nó không ghen tương, không tìm cái không thuộc quyền nó, nó không tính toán công lao. Ai dám có quyền trên Thiên Chúa ?

Lời đáp của cha rất đẹp : "Con ơi, tất cả của cha là của con". Thực ra ta phải nói ngược lại và rất hợp lý rằng: "Tất cả của con, con đã nhận được, kể cả lòng trung tín đều là của cha?”. Không ai trung tín nếu Thiên Chúa không đoái thương.

Đức trung tín và đức tin đều là ơn huệ của Thiên Chúa ban và vô phúc cho kẻ lạm dụng chiếm lấy như một quyền lợi. Người con cả đã lầm tưởng mình trung tín với cha nên chẳng còn chân thành nghe lời cha nữa, anh tưởng anh phục vụ cha khi ở với cha, nhưng chính cha đã ban cho anh tất cả. 

 

6. Đứa con hoang đàng

Dụ ngôn đứa con hoang đàng là một trong những dụ ngôn cảm động nói lên tình nghĩa sâu đậm Thiên Chúa và con người tội lỗi biết ăn năn sám hối.

Đoạn Kinh thánh mô tả cuộc đời lầm lỗi của một đứa con là đứa con trai thứ ra đi bụi đời. Cậu này từ nhỏ được cha mẹ nuông chiều, nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa. Có thể cậu sống trong một gia đình nề nếp nho phong đi nữa, nhưng giờ đây đến tuổi trưởng thành, cậu ngứa nghề... Với một con tim khao khát yêu thương, với đôi chân muốn thu gọn cả thế giới vào một ngôi nhà, với bàn tay mở rộng như ẵm được cả bầu trời... giờ đây cậu khao khát sự tự do, muốn được thoát hẳn cảnh ràng buộc lễ giáo của gia đình. Cậu cho gia đình mình là thứ nhà tù cho bước chân yêu đời của cậu, là thứ đập nước ngăn cản sức sống đang lên của cậu. Và cậu đã quyết định lựa chọn con đường riêng cậu mà không thèm bàn hỏi gì với người cha già chỉ có yêu thương con. Cậu đến với người cha đòi phân chia gia tài vì cha đã già rồi biết lúc nào khuất đi.

Theo cựu ước thì thường chia làm ba phần cái gia tài hiện hữu (Đnl 21,17), phần trưởng nam nhiều hơn để còn lo hương khói tổ tiên. Có điều lạ là ở đây, người cha này đã đồng ý, dù miễn cưỡng đồng ý... phải chia cho con như vậy. Người cha như phần nào thông cảm “cho đứa con không thể răn bảo được”. Dù sao thì ông vẫn kính trọng sự tự do của nó, là lòng thương tràn bờ của ông không nỡ để nó thoát ly với hai bàn tay trắng.

Chi tiết chia phần này muốn nhấn mạnh đến tình thương đặc biệt của một người cha... để rồi càng thương nhiều thì sự lỗi lầm kia càng thấy lớn lao và càng dễ thống hối. Dù sao đi nữa... đứa con đã quyết tâm ra đi. Nó quyết từ chối tình máu mủ, tình cha mẹ nó cũng coi nhẹ như mây. Nó đạp dưới chân quyền làm con và từ chối quyền cha mẹ của điều răn IV. Nó từ chối cả danh dự của một gia tộc ông bà, tổ tiên, cha mẹ đã công phu xây dựng bằng cả cuộc đời mình. cho hay rằng một hồng ân dù lớn lao đến đâu mà người ta nhất định từ chối, thì người cho cũng không làm gì được.

Đứa con này ra đi. Cậu ra đi có vẻ trong hân hoan để trở về trong nước mắt. Ra đi để minh chứng xác thực “cá không ăn muối cá ươn”... Hẳn cuộc ra đi này làm cho cha mẹ, nhất là người cha tủi nhục đau buồn trước cảnh “tò vò mà nuôi con nhện”. Còn đâu là công lao sinh thành của chữ “cù lao cúc dục”. Cho nên chiều chiều người cha già chống gậy bên hiên nhìn bóng con hoang. Gặp ai ông cũng hỏi thăm xem con mình ở đâu, làm ăn ra sao. Nếu như ông biết được nó đang trác táng nơi giang đầu, bên yến tiệc thâu canh thì hẳn là lòng người cha già này hết muốn sống. Nhưng ông hằng cầu mong cho đứa con ông trở về.

Cáo chết 3 năm quay đầu về núi. Lá rụng về cội. Nước đổ về nguồn. Đứa con ông mù quáng trong dục vọng. Tuổi trẻ thường có những quyết định dại dột và nông cạn. Giờ đây hết tiền bạc... hết cả bạn bè, hết cả ăn nhậu. Của thiên trả địa. Rồi lại gặp cơn đói kém trong vùng, cậu này đi chăn heo ở một vùng ngoại giáo. Đấy, từ địa vị một đứa con gia giáo xuống làm đứa chăn heo ở miền ngoại bang. Tình trạng sa sút của cậu quá lẹ, lẹ đến nỗi cậu phải ăn đồ ăn của heo để cầm hơi sự sống. Sự sống của cậu được đặt ngang hàng với bầy heo, có khi kém giá hơn. Cảnh túng khổ đã làm cậu suy nghĩ lại.

Cậu nghĩ chỉ còn có nước trở về nhà cha xin lỗi. Chỉ người cha mới có thể cứu cậu khỏi tình trạng khốn cùng duy nhất này. Và cậu đã quyết tâm trở về. Can đảm như hồi nào cậu quyết tâm ra đi. Ít là được như vậy. Những bước chân nặng nề, với tấm lòng rối bời tội lỗi và mặc cảm... cậu quỳ sụp dưới chân cha mình: “Lạy cha, con đã lỗi phạm đến trời...” (c.18). Đó là một lần xưng tội công khai. Trời và đất vui mừng. Gia đình cậu vui mừng. Họ hàng tuôn đến chia vui. Đó là hình bóng đời người chúng ta chăng ?

 

7. Lòng yêu thương tha thứ

Trong những ngày đầu của cuộc chinh phục vùng đất mới ở Bắc Mỹ, cuộc sống của những người lính mỹ rất cam go, nhiều người đã chán nản , sống buông xuôi

Trong một sư đoàn nọ có một anh lính đã phải ra toà án quân sự. Đây không biết là lần thứ  bao nhiêu anh đã bị như vậy rồi.

Viên Trung Tá chủ tọa phiên tòa hôm ấy, khi nhìn thấy anh lính này, đã lắc đầu thất vọng nói :

-Tôi đã nhiều lần trừng phạt anh, nhưng tất cả đều vô hiệu. Anh muốn chúng tôi phải làm gì cho anh bây giờ ?

Một viên Đại Úy trong bồi thẩm đoàn, sau khi ngó qua hồ sơ của tên lính kia, đã gợi ý với bồi thẩm đoàn rằng :

-Tôi thấy có một điều chúng ta cần làm cho anh này, mà chúng ta chưa làm, đó là tha thứ cho anh ta. Tôi đề nghị chúng ta cứu xét điều này.

Sau mấy phút bàn luận với bồi thẩm đoàn, viên Trung Tá chủ tọa phiên toà hôm đó đã nói với anh lính kia như sau :

-Chúng tôi đã phạt anh nhiều lần rồi. Lần này, thay vì phạt anh, chúng ttôi hủy bỏ mọi án lệnh trong hồ sơ của anh, nghĩa là anh hoàn toàn được trắng án.

Người lính kia, hôm  ấy đã đón nhận sự tha thứ  trên đây như  một cơ hội mới đểý làm lại cuộc đời. Thế là kể từ hôm ấy, anh lính kia đã bỏ hẳn được tật say sưa, quậy phá và trở thành một ngưòi lính gương mẫu.

Mẩu truyện trên đây có thể giúp chúng ta hiểu phần nào lòng tha thứ của Thiên Chúa đối với chúng ta, như được Chúa Giêsu mô tả trong dụ ngôn người con hoang đàng trong Tin Mừng hôm nay.

Thiên Chúa luôn chờ đợi, luôn tìm kiếm để tha thứ và phục hồi mọi sự cho con người. Đó là xác tín hàng đầu trong niềm tin Kitô của chúng ta.

Nhưng để có thể cảm nhận được lòng tha thứ bao dung  ấy của Thiên Chúa, con người cần phải ý thức được thân phận yếu hèn tội lỗi của mình. Thân phận ấy đã được Chúa Giêsu mô tả qua tình trạng đói rách tả tơi của cậu con hoàng đàng.

Chỉ trong cơn túng cực ấy, cậu mới chợt nhớ lại ngôi nhà ấm cúng của cậu và người cha hằng yêu thương ấp  ủ  cậu.

Cũng chính trong nỗi cùng cực ấy, cậu mới cảm nhận được lòng tha thứ bao dung của cha cậu.

Trái lại, trong tự mãn với những gì mình có, những gì mình đã làm được, anh của cậu, tức người con cả, đã tỏ ra vừa nghi ngờ tình yêu của người cha, vừa khinh khi đối với đứa em.

Đó có thể là hình ảnh của rất nhiều người trong chúng ta. Bao lâu chúng ta chưa ý thức được nhữngƯ yếu hèn, những vấp ngã của chúng ta, thì chúng ta sẽ chẳng hiểu được thế nào là lòng nhân từ bao dung sẵn sàng tha thứ của Thiên Chúa, và chúng ta cũng chẳng có thể hiểu được, thế nào là sự cảm thông tha thứ  mà chúng ta cần phải có đối với những người anh chị em của chúng ta.

Trong thánh lễ hôm nay, chúng ta hãy cầu xin cho nhau, biết nhìn vào thân phận tội lỗi yếu hèn của mình, nhưng không phải để buồn nản thất vọng, mà là để cảm nhận được lòng thương xót vô bờ bến của Chúa. Và khi đã cảm nhận được lòng thương xót tha thứ của Chúa đối với chúng ta, chúng  ta cũng sẽ biết cảm thông và tha thứ đối với những người anh chị em của chúng ta.  /.

 

8. Người con hoang đàng

Cậu lầm tưởng như thế là hoàn toàn tự do độc lập, nhưng cậu lại trở thành nô lệ của mọi tính hư nết xấu, của cái tôi tật xấu trong thâm tâm cậu. Giờ đây khi giấc mơ trên đã tan rã, cậu trở về với mãnh vụn nát của cuộc đời, và trong tâm trí cậu những hình ảnh cũ, những hình ảnh ở nhà cha hiện ra trước mắt và trong tâm hồn tan nát khổ đau trào dâng niềm nhớ nhung và hy vọng. Cậu chỉ còn một mái nhà che nắng đở mưa, một công ăn việc làm vất vã và một chút tình thương che chở “Không còn được làm con nữa, nhưng ích ra cũng được như người làm công làm mướn trong nhà cha”. Cậu tiếc xót tự nhủ mình “biết bao người làm công cho nhà cha ta thì cơm gạo dư thừa mà ta ở đây lại chết đói”.

Nhu cầu sống còn là một quyết định trong tâm hồn cậu trở về với chính tâm hồn mình, trở về với cha trong thân xác tàn tụy. Trở về trong tâm hồn bắt đầu từ sự nhìn nhận lỗi lầm của mình, từ sự xác tín là mình đã cắt đứt môí liên hệ trong tình cha con “thưa cha, con đã đắc tội với trời và với cha, con không đáng được gọi là con cha nữa, xin cha coi con như là kẻ làm công”. Lời tự thú chân thành nói lên sự cao quý của một tâm hồn xám hối, trái ngược với sự kiêu căng tự phụ mà trước kia cậu đã bỏ nhà, bỏ cha ra đi và cậu đã thực sự chỗi dậy lê bước trở về với cha. 

Hai thái độ khi ra đi và trở về với hai tâm tình hoàn toàn trái ngược nhau. Cậu ra đi hớn hở vui mừng, nay trở về với sự nhục nhã vì mọi giấc mơ đều đã coi như bị tan rã; cậu ra đi với tuổi trẻ đầy nhựa sống, nay trở về với vẻ tàn lụi vì phải vất vả khó nhọc và kinh nghiệm tội lỗi đè nặng; cậu ra đi với cả một gia tài khổng lồ, nay trở về với hai bàn tay trắng; cậu ra đi với địa vị là con nay trở về với thân phận làm thuê làm mướn; cậu ra đi với ước mơ tự do vì được thoát khỏi quyền hành của cha, nay cậu trở về với sự tự do vì được thoát khỏi chính mình, khỏi tính tự cao tự phụ. 

Cậu đã đánh mất tất cả nhưng may thay cậu biết suy nghĩ, biết quý trọng những gì thuộc về nhà cha, nhất là sự sống còn của thân xác. Phải chăng cậu chỉ quý trọng của ăn cho thân xác thôi ư ? Nhưng hơn nữa là niềm hy vọng thầm kín là được cha thương dẫn vào nhà, không dám mong được làm con nữa, nhưng ít là được như người đầy tớ vậy. Nếu như trong thâm tâm cậu không còn mối hy vọng thầm kín đó, cậu đã thất vọng buông xuôi nếu như cậu tin chắc cha cậu đã từ bỏ không thương mở tay đón nhận cậu nữa, chắn hẳn cậu sẽ không lê bước trở về. Niềm hy vọng nảy sinh từ sự hiểu biết cha và hy vọng vào tình thương của cha, và trong thâm tâm niềm tin vững chắc rằng, cậu sẽ không còn một nơi nương thân và một nắm cơm manh áo nào, một công việc làm. 

Màn cảnh một tạm ngưng với cảnh người con lê bước trở về nhà cha, với nhũng người thân và với những gì bỏ lại khi ra đi, mặc dù biết rằng sẽ không bao giờ trở lại như trước nữa. Quyết định của cậu tuy được thúc đẩy bởi sự sống thân xác, nhưng nó cũng nói lên sự thành tâm khiêm tốn và tin tưởng vào tình cha sẽ thương xót cậu, ít là như người làm công trong nhà. 

Người con trở về với cái balô nặng trĩu trên vai vì những kinh nghiệm tội lỗi, những kinh nghiệm thất bại đè nặng. Tuy nhiên, nơi cậu vẫn còn một điểm nói lên phẩm giá của cậu và nó làm cho cậu đáng được tín phục, đó là nội tâm biết nhìn nhận những sai lỗi của mình và sẵn sàng chấp nhận hậu quả đau thương của sai lỗi ấy.

Hậu quả trước nhất là đành chịu mất địa vị làm con, với thái độ thành thực khiêm tốn này,  người con thoát được trước hết là khỏi ách nô lệ tội lỗi, khỏi tội tự  cao tự phụ. Thực vậy,  Đức Thánh Cha Pio XII quả quyết rằng : “Tội lớn nhất của thời nay là đánh mất sự bén nhạy của tội lỗi là ?”. Vì thế, với niềm hy vọng và tinh thần lạc quan có thể nói được rằng : “Người con hoang đàng không phải là người con hoàng toàn hư không, trái lại chính thái độ khiêm tốn nhìn nhận tội lỗi của mình và lòng can đảm chỗi dậy vứt bỏ con người tội lỗi quay gót trở về với cha còn là bài học tích cực cho mỗi người nữa”. Sự trở về của cậu bất chấp những lỗi lầm phóng túng đáng trách còn nói lên thái độ rằng : cậu đã không phủ nhận thái độ tình thương của cha và cha cậu đã không bao giờ lừa dối cậu. 

Về đến nhà cha, người con hoang đàng gặp thấy gì ? Thái độ của người cha trong phản ứng thứ nhất này làm cho chúng ta phải ngạc nhiên. Oâng không từ chối yêu cầu của đứa con thứ. Oâng để cho đứa con thứ được hoàn toàn tự do. Chính tình yêu ân cần mà ông đón tiếp con khi nó trở về có nguy cơ gây nên cho chúng ta, các độc giả một lời kêu ca trách móc, người ta cứ tưởng như chính đứa con thứ tưởng cùng lắm người cha sẽ đối xử với nó như một người làm công cho mình (Lc  15, 21) và sẽ đòi buộc nó nó sẽ đền bù lỗi lầm. 

Thay vì làm thế, người cha chạnh lòng thương, ông hạ mình chạy ra đón con, một sự vội vã không xứng với người Đông Phương. Oâng bày tỏ với nó cách công khai những dấu hiệu yêu thương ngay cả trước khi nó xưng thú lỗi lầm,  rồi ông ngắt lời nó xưng thú, cho nó đeo nhẫn là dấu chỉ của uy quyền, cho nó mang giầy là dâú hiệu riêng của người tự do. Oâng hồi phục nó hoàn toàn trong cuộc sống gia đình và tổ chức một bữa tiệc để cả nhà cùng chia sẻ niềm vui. Hơn nữa, lý do ấy được bày tỏ một cách mới mẻ “nó đã chết nay được sống lại”.

Hoán cải trở về với Thiên Chúa và như thế là trở về với cuộc sống đích thực, nói một cách trống không với các đầy tớ mà cả với người Pharisiêu và cả với chúng ta nữa. Lời mời gọi “hãy vui mừng” mang một hình thức rõ rệt “hãy mở tiệc ăn mừng”. Dù sao quan điểm chính nhắm tới tình thương và sự thương cảm của cha đối với những đứa con được thể hiện qua suốt cả trình thuật.  Chính đó là điều làm cho việc trở về của  tội nhân thành khả thi và mời gọi chúng ta vui mừng, dù đôi khi có khó khăn lắm cũng phải vui mừng.

 


Sinh hoạt khác

Tin Giáo Hội

Mục Tổng Hợp

» Xem tất cả Video

Liên kết website

Bài viết được quan tâm