Danh mục bài viết

Cập nhật 28/5/2014 - 15:46 - Lượt xem 5436

Tĩnh tâm tháng 5 năm 2014 Bế giảng năm học: Bài 2 Các lời Khuyên Phúc Âm

Tĩnh tâm tháng 5 năm 2014 Bế giảng năm học: Bài 2 Các lời Khuyên Phúc Âm

 CÁC LỜI KHUYÊN PHÚC ÂM

Anh em chủng sinh thân mến,

Khi học hỏi Tông huấn PASTORES DABO VOBIS của Thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II, anh em đã được giải thích rõ ràng nội dung về ba Lời khuyên Phúc Âm. Trong bài chia sẻ tĩnh tâm này tôi chỉ trình bày ba lời khuyên ấy theo nguồn gốc Kinh Thánh.

Khi nói đến “Các Lời khuyên Phúc Âm”, nhiều người tự nhiên nghĩ ngay đến đời sống thánh hiến, hay còn gọi là đi tu dòng, mà chẳng cần tranh cãi. Nói chung, người ta cho rằng có hai con đường đi vào Nước Trời. Con đường chung cốt tại việc thực thi các điều răn và đủ để được ơn cứu độ ; con đường đặc biệt dành cho những ai dấn thân sống các Lời khuyên Phúc Âm để đạt được sự hoàn thiện.

Ơn gọi phổ quát của các tín hữu là nên thánh. Nhưng vì có những người trong Giáo Hội đề cao những ai sống đời thánh hiến, nên có người hiểu lầm và coi thường người giáo dân sống thân phận giữa đời và đặt họ ở hàng thứ yếu. Công Đồng Va-ti-ca-nô II đã phản ứng lại khi quả quyết : “Sự thánh thiện của Giáo Hội cũng được đặc biệt khích lệ bởi nhiều lời  khuyên khác nhau mà Chúa đã đưa ra trong Tin Mừng các môn đệ Người noi theo” (Hiến Chế tín lý về Giáo Hội, số 42).

Bản văn Công Đồng công bố các Lời khuyên trong Tin Mừng có rất nhiều. Nhiều hơn là ba loại lời khuyên cổ điển mà các nhà thần học đã đưa ra. Hơn nữa, việc thực hành các lời khuyên không còn là độc quyền của một bậc sống duy nhất. Các Lời khuyên này cống hiến cho mọi Ki-tô hữu một phương thế hữu hiệu trên bước đường hoàn thiện.

Dựa vào lời Công Đồng, chúng ta có thể tìm hiểu kỹ hơn nền tảng Kinh Thánh của đời sống tu trì, mà truyền thống gọi là “đời sống theo Lời khuyên” và hiểu rõ hơn nhiệm vụ các lời khuyên Phúc Âm trong động lực cuộc sống Ki-tô hữu. Kết quả là một cái nhìn rộng hơn về sự thánh thiện trong Giáo Hội trong bối cảnh bổ sung giữa ân huệ và tiếng gọi do Chúa thánh Thần ban phát, để làm cho mọi người được thành toàn trong Đức Giê-su Ki-tô (x. 1Cr 7,7 ; Cl 1,28).

 

I.      CÁC LỜI KHUYÊN PHÚC ÂM VÀ DỮ KIỆN KINH THÁNH

Theo thuyết cổ điển, người ta tự hỏi “Các Lời khuyên Phúc Âm” có xuất phát trực tiếp và minh nhiên từ Phúc Âm không ? Hay là : há chẳng phải là kết quả của hiểu biết  thần học về các yếu tố Kinh Thánh, nhưng thật ra sự hiểu biết ấy không phát sinh từ lối giải thích sát chữ Kinh Thánh, và đó là một loại hiểu biết toàn diện của sự kiện Ki-tô giáo sao ? Đó chẳng phải là kết quả một cách đọc khá muộn sau này sao ?

 

  1. Lời mời gọi tất cả các Ki-tô hữu nên hoàn thiện theo Phúc Âm.

Đó là điểm đầu tiên được mọi người ngày nay nhìn nhận rõ ràng. Trong truyền thống Tin Mừng, chỉ có một sự hoàn thiện thôi. Và Đức Ki-tô không trình bày phẩm trật trong lý tưởng như người ta đề nghị. Chắc chắn thật khó trình bày cách tổng hợp quan niệm  Kinh Thánh về sự “hoàn thiện”. Quan niệm hoàn thiện không thể suy ra từ việc học hỏi một số từ vựng. Nhưng người ta có thể phân biệt quan niệm hoàn thiện theo các nét chính yếu của một số từ vựng, như “công chính”, “sự thật”, “không tì vết” v.v. Chúng ta chỉ thu gọn đề tài “hoàn thiện” xuyên qua “các lời khuyên”!

  1. Nội dung bài giảng trên núi

Khi đưa ra những lời Đức Giê-su nói : “Anh em đã nghe người xưa dạy… còn Thầy, Thầy bảo anh em…”, thánh Mát-thêu muốn chứng mình rằng Đức Giê-su cắt đứt với những đòi hỏi luân lý của Giao Ước Cũ. Hơn nữa, Giao Ước Mới đòi hỏi một cấp độ hoàn thiện cao hơn cấp độ hoàn thiện của luật Híp-ri (x. Mt 5,18-19). Các phản đề của Bài giảng trên núi cho thấy những thiếu hụt của những đòi hỏi nơi Luật Mô-sê đối với những ai thật sự muốn làm môn đệ  Đức Ki-tô. Luật phải để chỗ cho lý tưởng đòi hỏi gắt gao hơn : đó là quan tâm đến chính cõi thâm sâu của tâm hồn và không còn là những thái độ bên ngoài nữa (x. Gr 31,31 tt về giao ước nội tâm). Chúng ta không thấy ở đây lý do tại sao người ta lại phân biệt giữa các “lệnh truyền” có tính áp đặt và “các lời khuyên” chỉ là đề nghị.

Các lời của Tin Mừng rất đòi hỏi. Làm sao hiểu được đòi hỏi giống nhau ? Trước hết, chúng ta phải để ý đến văn phong A-ram: sử dụng kiểu nói phóng đại và kiểu nói nghịch lý. Thế mà đây là loại văn phong được sử dụng để diễn tả tính cần thiết của sự cố gắng và của sự phát triển luôn thực hiện thánh ý Chúa cách hoàn hảo hơn. Vì vậy, ở đây người ta không nhắm đến kể ra những đề tài luật lệ liên quan đến những trường hợp đặc biệt. Không ai không thể hãnh diện mình đã thực hiện đầy đủ chương trình giống nhau. Không ai có thể từ chối mỗi ngày cố gắng trở nên hoàn thiện. Do đó, các môn đệ  Đức Ki-tô có bổn phận sống hoàn thiện để đáp ứng  những đòi hỏi của Tin Mừng một cách triệt để. Nhưng Thiên Chúa luôn ban những ân sủng cần thiết giúp họ thực hiện lý tưởng nên hoàn thiện. “Sự hoàn thiện” chính là đời sống của người Ki-tô hữu như thánh Mát-thêu trình bày trong Bài giảng trên núi.

 

  1. Thánh Phao-lô và đời sống Ki-tô hữu

Nói chung thánh Phao-lô có cùng một viễn tượng như thánh Mát-thêu. Theo thánh Phao-lô có nhiều tương phản giữa hai bậc sống: hôn nhân và độc thân. Nhưng không nhất thiết là có một bậc giữa các Ki-tô hữu “cấp cao” và các Ki-tô hữu “ở bậc nhì”. Tuy hướng về một mục đích duy nhất : nên hoàn thiện, người ta phân biệt “con cái còn nhỏ” và “ người đã thành toàn”. Con cái nhỏ chưa đạt được sự phát triển hoàn toàn trong Đức Ki-tô và không ngừng hướng về Người ; còn con cái trưởng thành đã đạt được mức độ trưởng thành tốt, nhưng vẫn phải luôn tiến bộ (x. 1Cr 2,6 ; 3,1-2 ; 13,1a-11 ; 14,20 ; Cl 1,28 ; Ep 4,13 ; Pl 3,12-15). Lý tưởng thì phức tạp, nhưng mọi người phải cố gắng đạt được lý tưởng nhờ ơn Chúa Thánh Thần.

       Quả thật, thánh Phao-lô nhấn mạnh rằng người ta chưa bao giờ có thể đạt được lý tưởng, và người Ki-tô hữu luôn hướng về sự hoàn thành của hoạt động Chúa Thánh Thần nơi mình (x. Pl 3,12-15). Vì thế, người Ki-tô hữu ở trong vị trí “bước tới”, ở tình trạng tìm kiếm sự sung mãn của hoạt động Đức Ki-tô. Và điều đó xác định thân phận Ki-tô hữu đích thực của mình. Bởi vậy, đó không phải là một bổn phận dành cho một người được tuyển chọn (theo nghĩa này, x. 1Cr 6,1-19 ; Pl 3,1-21). Đời sống mới được trình bày như một sự pha trộn hai đặc tính bất khả phân ly. Tiên vàn, ân sủng Thiên Chúa không ngừng nâng đỡ sự nghèo nàn của con người được gọi cách huyền nhiệm để trở nên “nghĩa tử” trong Thần Khí. Thứ hai, con người cố gắng đáp lại lời mời gọi Thiên Chúa ngỏ với mình. Vì vậy, đời sống người Ki-tô hữu được chứa đựng trong chính mầu nhiệm của sự thành toàn.

Trong lời khuyên của các chương Ep 4--6, người ta nhận ra điều xác định luật nội tâm của đời sống được định nghĩa là “chết đối với tội” và “sống cho Thiên Chúa”. Theo Rm 6,1-13, điều cốt yếu là đời sống được thánh tẩy. Và điều quan trọng của thư Ep nằm ở câu này : “Vậy, anh em hãy bắt chước Thiên Chúa, vì anh em là con cái được Người yêu thương, và hãy sống trong tình bác ái như Đức Ki-tô đã yêu thương chúng ta, và vì chúng ta Người đã nộp mình làm hiến lễ, làm hy lễ dâng lên Thiên Chúa tựa hương thơm ngào ngạt” (Ep 5,1-2). Lý tưởng này cũng gần với quan điểm của thánh Mát-thêu. Phải đi vào động lực của mầu nhiệm Đức Giê-su, mầu nhiệm này hoàn toàn nằm trong chính mầu nhiệm của tình yêu Chúa Cha. Vả lại, chúng ta biết rằng Mt 5,48 nói đến “hoàn thiện”, trong khi đó Lc 6,36 thích sử dụng từ “nhân từ” theo nghĩa Kinh Thánh hesed.

 

  1. Câu chuyện người thanh niên giàu có và câu trả lời của  Đức Giê-su

So với sự tuyệt đối của ơn gọi thánh tẩy, vậy đâu là ý nghĩa các lời Đức Giê-su nói với người thanh niên giàu có : “Nếu anh muốn nên hoàn thiện, thì hãy đi bán tài sản của mình và đem cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi”. Đây là bản văn thường được trích dẫn nhất làm nền tảng của một giáo thuyết về “các lời khuyên” liên quan đến đời tu.

Các nhà chú giải không nhất trí với nhau. Những nghiên cứu sâu xa chứng minh rằng Mát-thêu đồng hóa “tốt lành” với “hoàn thiện”. Vì vậy cũng phải đồng hóa “làm việc lành” với “nên hoàn thiện”. Vậy người ta có thể đọc song song hai phần lớn của câu chuyện (Mt 19,16-26) sau khi đã nhớ đến Mát-thêu cho rằng “nên hoàn thiện” có nghĩa là “tuân giữ lề luật”, nhưng luật được canh tân từ nội tâm và được đức ái truyền đạt. Bấy giờ người ta có thể quả quyết rằng hai câu trả lời của Đức Giê-su cho những lời xin của người thanh niên giàu có đặt ra chồng chéo lên nhau (x. Mt 19,17.21). Và điều đó cũng giải thích phần còn lại của trình thuật. Ở cc 23-24 sau khi trả lời liên quan đến hoàn thiện, Đức Giê-su nói đến sự đơn giản đi vào Nước Thiên Chúa, đáp ứng lại lời quả quyết đầu tiên về “nhân lành”. Đến lượt mình, các môn đệ lại tự hỏi về khả năng đạt được ơn cứu độ như thế (x. Mt 19,25).

Làm sao chú giải hai lời giải thích rõ ràng thánh Mat-thêu đặt trên môi miệng Đức Ki-tô ? Người thanh niên đã tuân giữ tất cả những gì mà Bài giảng trên núi đã trình bày như là cốt yếu của việc hoàn thiện theo Tin Mừng (x. Mt 5,20-47). Trong câu trả lời sau cùng, Đức Giê-su nói về áp dụng cụ thể sự hoàn thiện trong lãnh vực sự sống đời đời. “Tuân giữ các điều răn”, đối với người thanh niên giàu có, muốn nói là “nên hoàn thiện”. Trong đề nghị thứ hai, người ta thêm một dạng thức của việc tuân giữ lề luật được canh tân, tuân giữ sự hoàn thiện. Sự hoàn thiện đòi hỏi những cử chỉ can đảm nhất. Như thế, khi sự thống nhất sâu xa của người môn đệ đang gặp nguy hiểm, thì phải sẵn sàng thực hiện những cử chỉ mạnh mẽ : theo lối văn phong đặc biệt của mình, thánh Mát-thêu nói đến cắt đứt mọi phần thân thể gây cớ vấp phạm (x. Mt 5,29-30 ; 18,8-9). Trong những hoàn cảnh tương tự, cũng phải tách lìa khỏi của cải mình, nếu những thứ đó cản trở  đi vào Nước Trời. Quả thật, phải làm tất cả để bảo vệ sự thống nhất của con tim và cuộc sống. Thế nên, không nhất thiết một con đường tốt hơn và chắc chắn hơn được đề nghị để chọn lựa tự do. Nhưng cần một điều kiện tuyệt đối cho sự hoàn thiện bắt buộc, khi việc sở hữu các tài sản trở thành một cản trở cho ơn cứu độ.

Vì vậy ở đây người ta cần đi theo trật tự của các phương thế. Nhưng các phương thế này có thể đáp ứng cho một điều răn chính thức chứ không phải cho một đề nghị đơn giản “hữu ích”. Nói khác đi, không phải chỉ có một bene esse, nhưng còn có một simpliciter esse. Và điều đó được xác quyết bởi thành ngữ “Nếu anh muốn”. Đúng hơn ta thấy trong kiểu nói đó một chọn lựa tự do, ta phải hiểu câu tiếp theo “để trở nên hoàn thiện, thì hãy làm như thế”. Chính trong cùng một ý nghĩa đó mà ta phải nói : “Nếu anh muốn vào cõi sống, thì hãy giữ các điều răn, và tất cả những gì phải làm”. Thật khó mà giải thích câu chuyện người thanh niên giàu có là một đề nghị một “con đường” dẫn đến sự hoàn thiện cao cả hơn. Phương tiện đề nghị cho người thanh niên giàu có không phải là một “lời khuyên” theo nghĩa truyền thống. Đó là điều đặt ra cho mọi Ki-tô hữu mỗi khi sự hoàn thiện do Tin Mừng muốn đòi hỏi, một sự hoàn thiện mà mọi người phải thực thi. Thế nên, đó không phải là một con đường tự do để đạt được dễ dàng hơn cho sự hoàn thiện cao cả hơn.

 

  1. Các lời khuyên Phúc Âm về đức nghèo khó và vâng lời

 

 

  1. Có bản văn Tân Ước nào nói về lời khuyên sống nghèo khó không ?

Mt 19,16-22 là bản văn cũ người ta thường dựa vào để nói về lời khuyên sống nghèo. Chúng ta đã trình bày ở trên rồi. Các bản văn song song của Mc 10,21 và Lc 18,22 được trình bày như những trình thuật liên quan đến một trường hợp cụ thể, chỉ để làm ví dụ, chứ không phải dùng để làm tổng quát hóa một giáo thuyết trừu tượng. Ta cũng phải lưu ý đến vấn đề các tông đồ từ bỏ mọi sự đi theo Đức Giê-su (x. Mc 10,28 và song song).

 

 

  1. Trong Tân Ước ta có gặp thấy lời quả quyết nào về lời khuyên vâng lời không ?

Vâng lời toàn diện theo Tin Mừng áp đặt trên mọi Ki-tô hữu. Vâng lời là một trong các đặc tính căn bản của đời sống theo Thần Khí ; và vì vậy đức vâng lời không có gì thấy khác với lời khuyên chỉ được đề nghị cho một số người. Đức vâng lời của Đức Giê-su bén rễ sâu trong mầu nhiệm vượt qua. Đức vâng lời của Đức Giê-su vừa là nguồn gốc vừa là kiểu mẫu của đức vâng lời triệt để mà Tin Mừng đòi hỏi. Hơn nữa, khi người ta nói đến lời khuyên đức vâng lời, thì người ta không nhắm đến đức vâng lời này. Do đó, không cần nói thẳng đến mối tương quan con người - Thiên Chúa, nhưng nói đến tương quan con người – thế giá con người.

Thật vậy, về phương diện này Sách Thánh nói đến sự vâng phục dân sự, gia đình, đời sống vợ chồng, hiếu thảo, Giáo Hội. Nhưng vâng phục chỉ có ý nghĩa đối với một Ki-tô hữu sống trong các hoàn cảnh này. Hình như không có bản văn nào chú ý rõ ràng và giải thích một đức vâng lời được coi như một sự tuân phục toàn diện ý muốn đối với một người, và bản văn ấy chỉ được đề nghị cho một số người nào đó, chứ không phải cho tất cả mọi Ki-tô hữu.

 

  1. Lời khuyên “độc thân” vi Nước Trời

Từ khi vấn đề nền tảng Tin Mừng của các lời khuyên được tranh luận rộng rãi nơi giới Công giáo, thì nhiều người tưởng có thể nói rằng cách đọc trân trọng và đúng đắn Sách Thánh ít ra cho thấy một lời khuyên Tin Mừng minh nhiên và trực tiếp được chứng thực. Có vấn đề “độc thân vì Nước Trời”, “đồng trinh”. Thế là người ta giản lược vấn đề  chỉ còn một yếu tố riêng biệt cho  “đời tu”.

 

  1. Giáo huấn của thánh Phao-lô về những lợi ích của bậc độc thân.

Chính thánh Phao-lô bị đánh động vì thấy từ “lời khuyên” trong một bản văn rõ ràng dành riêng nói về sống đồng trinh (x. 1Cr 7,25). “Về vấn đề độc thân, tôi không có chỉ thị nào của Chúa, nhưng tôi chỉ khuyên nhủ anh em với tư cách là người - nhờ Chúa thương -  đáng được anh em tín nhiệm”. Hơn nữa hai từ “chỉ thị”, “khuyên nhủ” đã xuất hiện ở đầu mỗi triệt, nhưng lần này liên quan  đến hôn nhân (x. 1Cr 7,6).

Có vấn đề “lời khuyên” theo ý nghĩa truyền thống vẫn gán cho từ này không ? Xem ra thật khó cho chúng ta muốn gán ý nghĩa này ở đây cho từ “lời khuyên”. Thánh Phao-lô bằng lòng đưa ra ý kiến của mình như là một Ki-tô hữu suy tư, nhưng ông không nại đến quyền tông đồ đặc biệt của mình, và trước hết, ông không đồng hóa “lời khuyên” ông đưa ra với “lời khuyên” của Chúa. Đối với ông, Chúa chẳng nói gì có thể trở thành luật trong hoàn cảnh ông đang xét đến : chẳng có lệnh truyền, chẳng có lời khuyên. Và sau khi ông đã nói rằng người ta có thể tín nhiệm ông, thì ông mạnh dạn đưa ra quan điểm hoàn toàn cá nhân của mình (so sánh với 1 Cr 7,12).

Ngoài ra cần phải đặt thuật từ này vào bối cảnh quan niệm của thánh Phao-lô về các đặc sủng, vì chính trong bối cảnh này mà thuật từ được sử dụng. Đối với thánh Phao-lô, đặc sủng không phải là một thứ trang trí phụ thuộc thêm vào ân sủng hiện có, cũng không phải là một yếu tố ngoại tại để thông hiệp, mà Thiên Chúa đã làm tự nơi mình trong Thần Khí. Đặc sủng giữ một vị trí quan trọng trong hoạt động của Hội Thánh. Ví dụ, nơi thánh Phao-lô làm sao tách kinh nghiệm của ông về Đức Giê-su Ki-tô với đặc sủng của ông là làm tông đồ các dân ngoại ? Người ta không thấy rõ làm sao trong thư gửi tín hữu Cô-rin-tô thánh Phao-lô có thể trình bày đặc sủng như chỉ là một thứ gợi ý ít nhiều tự do. Chắc chắn ông nói rằng, ông không thể đưa ra câu trả lời có tính nguyên tắc và tuyệt đối làm sáng tỏ rõ ràng hoàn cảnh. Nhưng do đó ông không muốn rằng mọi người sẽ tự do theo hay không theo điều  Chúa Thánh thần nói với ông.

Khi thánh Phao-lô nói : “Nếu anh em nghĩ mình không thể sống bậc độc thân được, thì hãy kết hôn ; chẳng có tội lỗi gì”, thì ông không ngầm hiểu rằng “… vì độc thân là một lời khuyên nên không ai buộc phải giữ và rằng người ta có thể chấp nhận hay từ chối”. Đúng hơn ông muốn nói : “Việc không thể sống độc thân là dấu chỉ về một bậc sống đặc biệt không dành cho người nào được gọi đang gặp khó khăn, và đó cũng không phải đặc sủng của người ấy”. Vì vậy rất khó xác định theo ý nghĩa nào mà người ta có thể nói đến một lời khuyên Tin Mừng theo nghĩa chặt. Ta có thể liên kết lời khuyên đó cho chính Đức Giê-su không ?

Lời nhận xét tích cực của thánh Phao-lô về bậc độc thân và không kết hôn :

Thánh Phao-lô so sánh hai loại người Ki-tô hữu đang sống ở Cô-rin-tô – những người kết hôn và những người không kết hôn (độc thân và đồng trinh, các người góa chồng). Và ông tưởng rằng, những người không kết hôn biết bậc sống thích hợp hơn bậc sống của những người kết hôn, mặc dù bậc sống hôn nhân thì tốt lành và thánh thiện. Đối với thánh Phao-lô, lý do của việc thích hợp này, đó là con tim và cuộc sống sẽ không bị chia sẻ, vì chính tình trạng sống của người độc thân.

Nhưng để hiểu chính xác quan điểm của thánh Phao-lô, cần  lưu ý hai điểm:

1/ Trước hết, khi khuyên bảo độc thân tốt hơn, thánh Phao-lô biết rằng có một khoảng cách trong hôn nhân, thực tại hoàn toàn sống giữa lòng tình yêu của Thiên Chúa (x. Ep 5,21-33) và hôn nhân, thực tại cố gắng vất vả thực hiện trong đời sống cụ thể mối dây liên kết với tình yêu này. Độc thân không biết đến khoảng cách thuộc loại này. Thánh Phao-lô không nói rằng tự bản chất hôn nhân sẽ là nguyên nhân gây chia rẽ xét theo nền tảng. Ông chỉ quả quyết rằng trong đời sống cụ thể, hợp nhất không dễ dàng chút nào. Vì vậy người ta không thể đạt được tình yêu Thiên Chúa “bên cạnh” tình yêu khác, hay “song song” với tình yêu khác. Hơn nữa, có nhiều nhà chú giải lưu ý rằng thánh Phao-lô sử dụng thuật từ “đặc sủng” cho bậc sống hôn nhân cũng như cho bậc sống độc thân. Ông khuyên những người độc thân kết hôn, nếu Thiên Chúa không ban cho họ ơn sống tiết dục (x. 1Cr 7,9). Do đó, theo ông, bậc hôn nhân dành cho một số người – cho những ai không nhận được đặc sủng khác – một thân phận tốt hơn. Tuy nhiên, dưới ánh sáng kinh nghiệm riêng của mình, ông đi đến chỗ nghĩ rằng độc thân bao gồm những nguy hiểm ít lớn lao hơn về chia rẽ. Nhưng đối với ông, không phải chỉ suy ra vấn đề là có bậc sống hoàn hảo theo Tin Mừng  mà khách quan sẽ cao cả hơn, và “lời khuyên” về bậc sống ấy đã được Chúa ban, nhờ có lời đề nghị cho một số người.

2/ Điểm khác cần lưu ý, đó là bối cảnh cánh chung của bản văn. Cuộc quang lâm xem ra đã gần kề, cũng như cuộc thử thách lớn lao thời cánh chung sẽ đi kèm theo đó (x. 1Cr 7,26). Vậy tại sao người ta lo lắng thay đổi thân phận xã hội của mình ? Thà chấp nhận thân phận mà mỗi người đang sống vào lúc mình chuyển đổi : hôn nhân hay độc thân, nô lệ hay tự do. Dù sao chăng nữa các tình trạng này chẳng bao lâu sẽ biết đến một thay đổi tận gốc. Khi ấy  thánh Phao-lô khuyên hưởng biến cố cánh chung này khi sử dụng cõi đời này như không sử dụng (x 1Cr 7,31). Đó là một điều khôn ngoan thật sự, vì những sự vật sẽ biến mất, và thật vô ích để chia rẽ con tim với lời nói của mình. Những ai nhận được đặc sủng tiết dục thì rất được ủng hộ ở đây.

Vậy rõ ràng thánh Phao-lô không nói rằng từ khước hôn nhân là khả năng tốt nhất của tình yêu hoàn hảo đối với Thiên Chúa, mặc dầu sự kiện duy nhất để giữ độc thân có thể bảo đảm vượt qua con đường này. Trái lại ông nhấn mạnh những khác biệt của các đặc sủng. Nếu có một số người gặp khó khăn để sống trinh khiết hay góa bụa, thì phải coi đó là dấu chỉ tiếng Chúa gọi để sống một phong cách khác của cuộc sống, lúc ấy người ta có thể đón nhận mà không sợ nguy hiểm. Hơn nữa người Ki-tô hữu đã kết hôn cảm thấy những khó khăn để kết hợp tình yêu Thiên Chúa và tình yêu nhân loại lại với nhau. Trong những hoàn cảnh này, ông nói rằng độc thân đối với ông xem ra thích hợp hơn để vượt qua những áp lực có nguy cơ gây phân chia con tim trong một thế giới được gọi để biến mất. Xem ra đối với chúng ta thật khó rút ra được lợi ích từ bản văn của  thánh Phao-lô.

 

  1. Đoạn văn Mt 19,10-12 về “những người tự ý không kết hôn vì Nước Trời”.

Chính trong thời đại chúng ta, bản văn này thường được trích dẫn nhất để minh nhiên lập thành “lời khuyên” độc thân vì Nước Trời. Bản văn này cũng là bằng chứng hiển nhiên độc nhất về ý định của Đức Ki-tô liên quan tới “đời tu”. Nhưng các kết luận phân tích chú giải lại không cho phép quả quyết mọi sự với xác tín sâu xa. Những lời đầy tranh cãi (x. Mt 19,12) được Đức Giê-su công bố như là một ghi nhận. Người ta chỉ có thể hiểu những lời này dưới ánh sáng của toàn bộ đoạn văn Mt 19,1-11, và dưới ánh sáng cuộc đối thoại trước đó và của nhận định của các môn đệ. Đức Giê-su quả quyết rằng có một số người tự họ trở thành bất lực đối với hôn nhân “vì Nước Trời”. Người chuẩn nhận sự kiện  này, và Người nối kết sự kiện này với những đòi hỏi của Nước Trời. Từ Hy-lạp eunoukhos (hoạn/thiến) được dùng ở đây xem ra cũng lạ lùng. Một số người nghĩ rằng người “hoạn/thiến” được áp dụng vì Nước Trời như thế là một người chồng tự ý xa lìa vợ mình (người ta nói đến trường hợp này trong những câu trước), và người không muốn kết hôn vì những đòi hỏi của Tin Mừng. Lối giải thích đối với chúng ta xem ra hòa hợp với toàn bộ bản văn chương 19. Ngoài ra lối giải thích này cũng bảo vệ sự thuần nhất của cả khối được cấu tạo bởi các câu 1-12 (sự thuần nhất này không được các nhà chú giải hiện đại ưa chuộng nhiều).

Cấu trúc câu chuyện này tương ứng với câu chuyện người thanh niên giàu có đã nói ở trên. Đề tài xét bản chất cùng một hướng ; trong một số hoàn cảnh, Nước Trời cũng đòi hỏi những người đã kết hôn là họ đạt được cuộc sống tiết dục hoàn toàn. “Không phải ai cũng hiểu được câu nói ấy, nhưng chỉ những ai được Thiên Chúa cho hiểu mới hiểu” (Mt 19,11). Nhận xét mầu nhiệm này không ám chỉ đến những lời nói của các môn đệ, nhưng là những lời nói của Đức Giê-su : “Ngoại trừ hôn nhân bất hợp pháp, ai rẫy vợ mà cưới vợ khác là phạm tội ngoại tình” (Mt 19,9). Vả lại các lời nói này đã khơi lên sự phản ứng của các môn đệ (x. Mt 19,10). Vấn đề là luôn luôn các đòi hỏi tương đối ở bậc hôn nhân, những đòi hỏi này sâu xa hơn những đòi hỏi do luật pháp đưa ra (xem bài giảng trên núi ở trên). Mọi người đều không nắm bắt được sự sâu xa của các đòi hỏi này. Nhưng dầu có những hoàn cảnh rất khó khăn, vẫn có nhiều người có khả năng sống trung thành với người mà họ đã thánh hiến nhau nhờ hôn nhân. Một khi đã chia lìa nhau, họ không tái hôn và sống như những “hoạn quan”.

Lối giải thích này trung thành với kỹ thuật soạn thảo của các tác giả sách Tin Mừng. Các câu 19,1-10 bàn về sự cao trọng và thánh thiện của bậc hôn nhân : dây liên kết một người đàn ông với một người đàn bà duy nhất là kiểu diễn tả Thánh ý Thiên Chúa. Các lời nói của các môn đệ chứa đựng sự xét đoán nghiêm khắc và thái quá về đòi hỏi triệt để mà các ông quan niệm trong hoàn cảnh rõ rệt được Đức Giê-su nêu ra. Thừa nhận rằng cc 19,11-12 là một lời mời gọi sống độc thân, đó là giới thiệu một điều chỉnh tức thời quan điểm. Đức Giê-su chấp nhận cách đặt câu hỏi của các môn đệ và Người bắt đầu giảng dạy rằng thật ra thà không kết hôn thì tốt hơn. Như vậy, điều đó không phù hợp với văn phong quen thuộc của thánh Mát-thêu. Cũng như câu chuyện chàng thanh niên giàu có xoay quanh một lời cứng rắn của Chúa (x. Mt 19,21), khơi lên nhận xét nghiêm khắc và quá đáng của các môn đệ (x. Mt 19,25). Và kết luận câu chuyện như sau : “Đối với loài người điều đó thì không thể được, nhưng đối với Thiên Chúa, thì mọi sự đều có thể được” (Mt 19,26).

Như vậy, lời nói về những trường hợp hoạn/thiến chứa đựng một quả quyết cứng rắn của đòi hỏi Tin Mừng. Những đòi hỏi này được trình bày vì sự kết hợp bất khả phân ly giữa người chồng và người vợ (x. 1Cr 7,10). Khi hiểu được quan điểm này, lúc ấy người ta nhấn mạnh đến sự cần thiết có thể xảy ra là phải hy sinh những đòi hỏi căn bản các sức mạnh của cuộc sống và của sinh sản, vì Nước Trời. Mọi Ki-tô hữu phải tỏ ra sẵn sàng đối mặt với những quyết định triệt để nhất, trong tất cả các lĩnh vực mà mầu nhiệm Nước Trời quan hệ đến cuộc sống riêng tư. Điều đó nhắm đến người Ki-tô hữu đã kết hôn, hoàn toàn giống như các người Ki-tô hữu khác. Đối với họ, sự thể là trở nên giống như một người hoạn, đối tượng của thông cảm hay khinh khi, điều đó là thành phần của chính các hành động triệt để: “chặt tay, móc mắt, mất mạng sống”.

 

II- NỀN TẢNG TIN MỪNG VỀ ĐỜI SỐNG GỌI LÀ THEO NHỮNG LỜI KHUYÊN

Xem ra khó có thể tìm được trong Kinh Thánh xác quyết minh nhiên và trực tiếp về giáo thuyết gọi là “các lời khuyên Tin Mừng”. Ngay cả “lời khuyên” độc thân vì Nước Trời chưa được đề nghị trong bối cảnh về một bậc sống vững chắc và có tính cộng đoàn, được quy định bằng những lời khấn. “Đời tu” chắc chắn đặt nền tảng trên Lời Chúa, nhưng cũng  phải qua trung gian Hội thánh và các vị Thánh để giải thích các điều kiện cho những chọn lựa Tin Mừng.

 

1.    Một lời mời gọi sống triệt để

“Đời tu” thật sự có những nguồn gốc từ Tin Mừng. Ở đây chúng ta gợi lên các bản văn Tin Mừng thường được trích dẫn nhiều nhất trong hiến pháp dòng thời khởi đầu. Những bản văn Tin Mừng nhấn mạnh : Lc 14,26 : “Nếu ai đến với tôi, mà không ghét – nghĩa là yêu ít hơn tôi-  cha mình, mẹ mình và con cái mình, anh chị em mình và ngay cả mạng sống mình, thì người đó không thể làm môn đệ tôi được” ; Cv 2,44-54 ; 4,32-35 ; 5,12-15 : chia sẻ của cải ; Mt 19 : đặc biệt những lời nói với người thanh niên giàu có v.v. Chính từ lời mời gọi sống triệt để này, chứa đựng trong kinh nghiệm đức tin, mà khơi lên đời tu. Không cần phải chọn bản văn này hay bản văn nọ, “lời khuyên này” hoặc “lời khuyên kia” ; nhưng cần phải đọc chắc chắn nội dung toàn diện của Tin Mừng. Do đó mà có loại thái quá, loại tập trung, về chiều kích căn bản, mà hơn nữa đó là loại mà người Ki-tô hữu chấp nhận. Phép Rửa (bí tích Thanh Tẩy) giúp cho mỗi Ki-tô hữu sống cho Thiên Chúa trong Đức Giê-su Ki-tô. Thế nên chúng ta  sẽ được khích lệ để biểu lộ và đào sâu hết sức cụ thể cụm từ “cho Thiên Chúa” trước những lợi ích khác. Chúng ta sẽ cố gắng nói đến cách mạnh mẽ và quyết tâm sống ơn gọi chung này.

Quả thật, chúng ta đã nói rằng Tin Mừng trình bày sự hoàn thiện của Nước Trời như là mục tiêu mà tất cả mọi người phải theo đuổi bằng mọi cách, do hoàn cảnh đòi hỏi. Mối liên kết giữa mục tiêu và phương tiện căn bản cho thấy sự tương cận đặc biệt giữa Nước Trời và  Luật “về tất cả hay chẳng có gì”. Trong dự tính về “đời tu” người ta chọn sống trong một hoàn cảnh hiện hữu, mà thái độ căn bản trở nên tiêu chuẩn cho hoàn cảnh đó. Ở đây cần làm cho chủ trương triệt để theo Tin Mừng càng được tiếp tục hơn. Do đó, người ta “thể chế hóa” chủ trương này. Việc tập trung vào “triệt để” tạo nên đối tượng của một lựa chọn tự do, nhưng không xét lại việc tuân giữ nghiêm chỉnh, mà mọi Ki-tô hữu đã sử dụng phương thế tối hảo cho mỗi lần hoàn cảnh đòi hỏi. Trong đời tu vấn đề chọn lựa cốt yếu một mẫu đời sống mà sự triệt để theo Tin Mừng có thể diễn tả thường xuyên. Ngay từ đầu, người ta không xác định “lời khuyên” như thế, người ta không dừng lại ba thái độ lớn lao đặc biệt về tính triệt để. Mãi sau này, sau nhiều thế kỷ có “đời tu”, chính suy tư thần học sẽ xác định tất cả, để làm cho hiểu được cấu trúc cuộc sống đặc biệt này. Xét căn bản, cần phải chọn lựa đối với chủ trương triệt để của Tin Mừng. Và điều đó có thể giải thích tại sao con đường này đôi khi diễn ra trong một bầu khí nào đó, tại sao không có những cuộc chồng chéo  với những đại phong trào về sám hối làm đảo lộn Hội Thánh, tại sao có những thiện cảm chắc chắn với  những thái quá, đôi khi nguy hiểm nữa.

Trong việc chọn lựa mẫu đời sống tốt đẹp, chúng ta hãy nhớ rằng vấn đề điều hòa (tính khí) giữa một vai trò quan trọng rất dễ bị suy tư thần học lãng quên. Trên bình diện tự nhiên, cũng có những điều hòa mà không hoàn hảo hơn (vì một ý thích thái quá nào đó).

 

2.    Một số kiểu mẫu đời sống trong Tin Mừng

Việc nghiên cứu những tài liệu lịch sử quan trọng cho thấy rằng ngay từ đầu “đời tu”, người ta tham chiếu hai kiểu kinh nghiệm sống được trình bày trong Sách Thánh.

-          Nhóm những người đi theo Đức Giê-su

Tất cả những ai đón nhận lời Đức Giê-su và đem ra thực hành trong cuộc sống của mình, thì đều không chấp nhận thái độ triệt để của những ai từ bỏ mọi sự mà đi theo Đức Giê-su và để đồng hành với Người trong cuộc rao giảng của Người và trong sứ vụ của Người. Đó là trường hợp Đức Ma-ri-a, thân mẫu Đức Giê-su, của Ma-ri-a Mác-đa-la, của La-da-rô và Ma-ri-a, của Da-kêu, Ni-cô-đê-mô v.v. Không phải vì thế mà những người không đi theo mẫu gương của các ngài đã được coi là kém hoàn thiện hơn theo truyền thống Ki-tô giáo. Nhưng những người đi theo Đức Giê-su gồm những người khác biệt với những người chỉ gắn bó với Người. Người ta thấy nơi họ một kiểu đón nhận một mẫu sống tương phản với cách thế thông thường điều khiển cuộc sống phàm nhân. “Theo Đức Giê-su” có nghĩa là hoàn toàn cắt đứt với lối sống thông thường, ngay cả nhiệt tình nữa. Trong trường hợp này, người ta tuyên bố dõng dạc có mối tương quan tuyệt đối của Tin Mừng với đời sống phàm nhân, và ảnh hưởng toàn diện mà lời Thiên Chúa được mặc khải nơi Đức Giê-su tác động. Điều đó có nghĩa là “tin một cách có lý lẽ, cởi mở”, “nghe công khai”, “tuyên bố cởi mở đối với Người”. Cuộc sống được tập trung vào Đức Ki-tô, được coi như “cần thiết độc đáo” và được trải nghiệm đúng đắn. Như thế Nhóm các Tông đồ ở trong tình trạng thường xuyên tuyên xưng đức tin. Trước khi công bố Tin Mừng, Nhóm này rao giảng qua cuộc đời mình là Thiên Chúa nhận hết mọi người và rằng Lời Thiên Chúa nơi Đức Giê-su bao trùm cả cuộc sống, tận chiều sâu thẳm. Từ đó người ta khám phá vai trò đặc biệt mà Nhóm các Tông đồ được kêu gọi thi hành, để làm cho việc cởi mở này có ý nghĩa. Nhóm tự do sống một cách triệt để và tuyệt đối để đáp lại sự lôi kéo đặc biệt mà  Đức Giê-su tác động trên Nhóm.

Sau khi Đức Giê-su ra đi, việc “đi theo Đức Ki-tô” không thể nào giữ cùng một bình diện kinh nghiệm sống vẫn còn đó, nhưng hình thức đi theo phải thay đổi. Việc thay đổi hình thức đi theo dẫn đến một sự phổ biến (không phải đi theo Đức Giê-su hiện diện bằng thể lý ở đây hay ở kia), và dẫn đến một nội tâm hóa. Đức Ki-tô hiện diện và hành động qua Thần Khí. Lời của Người vẫn còn hữu hiệu. Trong hoàn cảnh tương tự, cuối cùng rồi cũng xuất hiện ý muốn thích nghi hình thái cuộc sống là hình thái của những người đã đi theo Đức Giê-su. Đó cũng là hình thức triệt để, nhưng sống trong một hoàn cảnh lịch sử mới, tuy nhiên hoàn cảnh này không có mối liên kết mầu nhiệm với quá khứ. Được Thánh Thần ban ơn, một số người sẽ chỉ tìm được bình an và niềm vui sâu xa của cuộc sống Tin Mừng, bằng cách từ bỏ các mối tương quan thông thường với thế giới, để đi theo Đức Ki-tô. Việc đi theo Chúa sẽ trở thành hiện thực trong đức tin, và dưới tác động của  Chúa Thánh Thần, giữa lòng dân Chúa. Từ quan điểm hình thức, đi theo Chúa sẽ không còn là một chọn lựa để bắt chước luân lý của Đức Ki-tô, bởi vì đó cũng là lý tưởng của tất cả đời sống Ki-tô hữu (x. 1Cr 11,1 ; Ga 13,15 ; 1Ga 2,6 ; 1Pr 2,21). Đó sẽ là một sự hòa nhập vào con đường đặc biệt của Nhóm các Tông đồ, được Chúa gọi theo lối sống này. Người ta chấp nhận như Nhóm này đáp ứng lại sự lôi cuốn sâu xa đã được con người và lời nói Đức Giê-su tác động. Nét tinh tế ở đây là cốt yếu. Sự chọn lựa của chủ trương triệt để không đáp ứng lại sự tuyển chọn nơi toàn bộ Tin Mừng. Thật hiển nhiên không cần phải muốn vượt qua toàn bộ Tin Mừng.  Sự chọn lựa đang bàn đến ở đây quyết định cách sống, chứ không phải nội dung.

-          Cộng đoàn tiên khởi của sách Công vụ

Việc mô tả “lý tưởng và lý tưởng hóa” cộng đoàn tiên khởi cống hiến cho chúng ta qua những bản tóm tắt chen vào giữa các trình thuật của sách Công vụ (x. 2,42-47 ; 4,32-35 ; 5,15-16). Các bản văn này làm sáng tỏ hai yếu tố, những yếu tố căn bản, trong khi đời sống đan sĩ (và tu dòng) lại muốn chuyển đổi hình thức đi theo Đức Ki-tô. Trước hết, sự hiện diện của Chúa được trải nghiệm qua việc chuyên cần lắng nghe Lời khi cầu nguyện, trong phụng vụ, trong lễ nghi bẻ bánh. Đó chính là điểm hợp nhất cộng đoàn các môn đệ, cộng đoàn này trở nên một huynh đệ thực sự, hoàn toàn giống như hiện diện của Đức Giê-su bằng thể lý, tạo nên điểm hợp nhất những ai đi theo Người. Giờ đây đó là sự hiện diện trong Thần Khí. Tiếp đến, sự hợp nhất quanh Đức Giê-su thường được diễn tả qua mối hiệp thông (koinonia) hoàn toàn. Khi ấy cần có những của cải vật chất (… nhưng cũng cần những thứ khác nữa), điều đó giả thiết để của cải làm của chung, một sự chia sẻ. Để “đi theo” Đức Giê-su, các tông đồ đã từ bỏ những của cải riêng mình có. Hội Thánh Giê-ru-sa-lem có nét đặc trưng là ai nấy từ khước những của cải thuộc về mình (x. Cv 4,32). Họ từ bỏ tất cả những thứ đó vì lợi ích của cộng đoàn huynh đệ, mà nơi cộng đoàn này mọi người chỉ có “một lòng, một tâm hồn”. Đối với những người đi theo Đức Giê-su, chính Đức Giê-su đã yêu cầu họ từ bỏ của cải của mình. Các lời nói của Đức Giê-su giờ đây áp dụng cho mối hiệp thông của ngày lễ Ngũ Tuần. Việc dửng dưng với của cải để theo Đức Ki-tô là một cái gì phong phú : cụ thể là tạo nên mối hiệp thông. Quan điểm này thể hiện một lý tưởng. Và chính thánh Lu-ca nhận biết rằng không phải mọi sự đều thành công, có lẽ cũng không thực hiện được. Câu chuyện vợ chồng Kha-na-ni-a và Sa-phi-ra cho thấy rõ việc dâng cúng của cải của mọi người cho cộng đoàn không phải là một đòi hỏi tuyệt đối. Nét nổi bật nơi hành động của ông Ba-na-ba cũng đi theo hướng đó (Cv 4,36-37).

Cần nhấn mạnh rằng trong Hội Thánh luôn luôn có một tiếng mời gọi sâu xa : Chúa Thánh Thần thúc Đẩy thực hiện một việc gì đó, việc đó rất gần với mối hiệp thông của sách Công vụ. Hình như “đời tu” gắn bó chặt chẽ với tiếng mời gọi này : thực hiện trong Hội Thánh lý tưởng cộng đoàn, để cho thấy một Ki-tô giáo làm sáng tỏ mối hiệp thông này. Nhưng “đời tu” vẫn còn biết đến những khó khăn. Đặc biệt đời tu chỉ biết lối sống mà mình tuyên khấn không phải là cho hết mọi người. Đàng khác, các thành viên của một cộng đoàn tu sĩ, khi đã ý thức, thì sẽ không bao giờ từ chối với các Ki-tô hữu khác danh hiệu “môn đệ Đức Ki-tô”. Trong phạm vi khó nghèo của mình, cuộc đời tu sĩ chỉ có ý định diễn tả tiếng mời gọi sâu xa vọng  lên từ lòng Hội Thánh.

Anh em chủng sinh thân mến,

Tĩnh tâm cuối năm học giúp anh em nhìn lại đời sống của mình, không phải chỉ một năm qua, nhưng là cả “đời tu” của anh em, theo những lời khuyên Phúc Âm. Tuy anh em không khấn hứa, nhưng tự nguyện giữ những lời khuyên Phúc Âm, vì anh em muốn làm môn đệ đích thực của Đức Giê-su.

Để kết thúc bài chia sẻ này, xin ghi lại những lời khuyên trong cuốn Đào tạo Linh mục :

“Một cách cụ thể, với ba lời khuyên Phúc âm (khiết tịnh, nghèo khó, vâng phục), người chủng sinh cần có được một nhận thức rõ ràng, bởi vì ba lời khuyên Phúc âm khác với ba ước ao rất quen thuộc và phổ biến của trần thế (danh vọng, lợi nhuận, hưởng thụ)”. (Sđd, trang 187).

Xin cám ơn anh em đã chịu khó nghe những bài chia sẻ tĩnh tâm suốt năm học qua.

Amen. Halleluia.

                                                 

 

 

 


Bài viết mới

Sinh hoạt khác

Tin Giáo Hội

Mục Tổng Hợp

» Xem tất cả Video

Liên kết website

Bài viết được quan tâm