Danh mục bài viết

Cập nhật 14/5/2019 - 3:57 - Lượt xem 1881

Thứ Tư tuần 4 Phục Sinh

"Ta là sự sáng đã đến thế gian".

 

Tin Mừng: Ga 12, 44-50

Khi ấy, Ðức Giêsu lớn tiếng nói rằng: “Ai tin vào tôi, thì không phải là tin vào tôi, nhưng là tin vào Ðấng đã sai tôi; ai thấy tôi là thấy Ðấng đã sai tôi. Tôi là ánh sáng đến thế gian, để bất cứ ai tin vào tôi, thì không ở lại trong bóng tối. Ai nghe những lời tôi nói mà không tuân giữ, thì không phải chính tôi xét xử người ấy, vì tôi đến không phải để xét xử thế gian, nhưng để cứu thế gian. Ai từ chối tôi và không đón nhận lời tôi, thì có quan tòa xét xử người ấy: chính lời tôi đã nói sẽ xét xử người ấy trong ngày sau hết. Thật vậy, không phải tôi tự mình nói ra, nhưng là chính Chúa Cha, Ðấng đã sai tôi, truyền lệnh cho tôi phải nói gì, tuyên bố gì. Và tôi biết: mệnh lệnh của Người là sự sống đời đời. Vậy, những gì tôi nói, thì tôi nói đúng như Chúa Cha đã nói với tôi”.

 

Suy niệm:

1. Không tự mình nói _ Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ.

Tự do là điều con người trân trọng. 
Bao người dám chết để đổi lấy một chút tự do. 
Các bạn trẻ thèm được tự do, để được là mình. 
Người ta vẫn hiểu người có tự do là người muốn làm gì thì làm, 
muốn nói gì thì nói, không bị bất cứ ràng buộc nào. 
Nếu thế thì Đức Giêsu có tự do không? 
Đức Giêsu có tự do không khi trong bài Tin Mừng Ngài khẳng định: 
“Không phải tôi tự mình nói ra, nhưng là chính Chúa Cha, Đấng đã sai tôi, 
truyền lệnh cho tôi phải nói gì, phải tuyên bố gì” (c. 49) ? 
“Những gì tôi nói, thì tôi nói đúng như Chúa Cha đã nói với tôi” (c.50). 
Ngài có tự do không khi Ngài cũng chẳng tự mình làm bất cứ điều gì? 
“Đấng đã sai tôi vẫn ở với tôi, Người không để tôi cô độc, 
vì tôi luôn làm những điều đẹp ý Người” (Ga 8, 29). 
Bao nhiêu lần trong Tin Mừng Gioan, Đức Giêsu quả quyết 
Ngài không tự mình nói gì, cũng không tự mình làm gì. 
Ngài chỉ sống theo lệnh truyền của Cha (Ga 15, 10). 
Lệnh truyền này không áp đặt Ngài từ bên ngoài, 
nhưng chi phối sâu xa từ bên trong 
toàn bộ hướng đi và những chọn lựa cụ thể của cuộc sống trần thế. 
Đức Giêsu đã tự do đón lấy ý Cha, lệnh truyền của Cha. 
Chính khi hoàn toàn để Cha chi phối, mà Ngài được tự do thật sự. 
Chính khi đó Đức Giêsu trở thành sự hiện diện trong suốt của Cha. 
“Ai thấy tôi là thấy Chúa Cha, Đấng đã sai tôi (Ga 12, 45; 14, 9). 
Lời của Ngài là lời của Cha, việc Ngài làm là việc của Cha. 
Chúng ta có thể gặp được Thiên Chúa một cách nguyên tuyền nơi Đức Giêsu, 
Đấng đã dâng hiến tất cả tự do để sống hoàn toàn tùy thuộc. 
Chính khi hoàn toàn tùy thuộc mà Ngài được hoàn toàn tự do. 
Người được sai là một với người sai mình. 
“Tôi và Chúa Cha là một” (Ga 10, 30). 
Hãy đến với Giêsu Ánh Sáng và ra khỏi những bóng tối (c.46). 
Hãy nghe, đón nhận và tuân giữ lời của Giêsu (cc. 47-48). 
Chỉ khi ở lại trong lời của Giêsu chúng ta mới gặp được sự thật 
và sự thật sẽ cho chúng ta được tự do (Ga 8, 31-32). 

Lạy Chúa, 
xin nhận lấy trọn cả tự do, trí nhớ, trí hiểu, 
và trọn cả ý muốn của con, 
cùng hết thảy những gì con có, 
và những gì thuộc về con. 
Mọi sự ấy, Chúa đã ban cho con, 
lạy Chúa, nay con xin dâng lại cho Chúa. 
Tất cả là của Chúa, 
xin Chúa sử dụng hoàn toàn theo ý Chúa. 
Chỉ xin ban cho con lòng mến Chúa và ân sủng. 
Được như thế, con hoàn toàn mãn nguyện. Amen. 
(Kinh dâng hiến của thánh I-Nhã) 

 

2. Ðức Tin Là Ánh Sáng

Theo cơ cấu của Phúc Âm thánh Gioan thì những câu chúng ta vừa đọc trên là những câu cuối cùng trong cuộc đời rao giảng công khai của Chúa Giêsu, bởi vì liền đó với chương 13, tác giả Phúc Âm thánh Gioan bắt đầu nói về biến cố Chúa rửa chân cho các môn đệ trong bữa Tiệc Ly, khởi đầu cuộc Thương Khó của Ngài. Vì thế, những lời vừa trích dẫn trên có thể tóm lược một cách tổng quát những lời giảng công khai của Chúa Giêsu cho dân chúng và Chúa Giêsu nhắc đến hai điểm chính yếu nhất:

- Tin Chúa là tin Thiên Chúa Cha, thấy Chúa là thấy được Thiên Chúa Cha. Tin Chúa sẽ mang lại ánh sáng soi cho cuộc đời của mình. Ðức tin là ánh sáng, không tin là sống trong bóng tối.

- Từ chối không tin. Con người tự kết án mình. Mặc dầu Chúa Giêsu không đến để kết án mà để cứu rỗi, không ai có thể thoát ra khỏi sự cứu rỗi cuối cùng này, và sự xét xử đến từ thái độ của người đó, đón nhận hay chối từ Thiên Chúa. "Ai nghe lời Ta mà không tuân giữ thì không phải Ta là người kết án kẻ ấy vì Ta không đến để luận phạt thế gian mà đến để cứu rỗi. Ai chê chối Ta và không nhận lời Ta thì sẽ có người xét xử kẻ ấy, tức là lời giảng dạy của Ta sẽ xét xử kẻ ấy trong ngày sau hết. Không ai có thể thoát khỏi sự xét xử này, nhưng sự xét xử đó sẽ đến trong ngày sau hết".

Trong hiện tại, Thiên Chúa luôn luôn kêu mời con người hãy trở về lại với Ngài sau những lần sa ngã, chối từ không tin Ngài. Thời giờ chúng ta đang sống là thời giờ của lòng nhân từ của Thiên Chúa. Ước gì mỗi người chúng ta đừng lợi dụng lòng nhân từ này, đừng khinh dễ bỏ qua ơn soi sáng của Chúa. Những trang Phúc Âm cho chúng ta biết rõ ý muốn của Thiên Chúa như thế nào nơi mỗi người chúng ta. Ngài muốn chúng ta tin nhận Ngài, lắng nghe lời Ngài và sống kết hiệp với Ngài.

Lạy Chúa, Chúa đã vạch ra một con đường cho mỗi người chúng con, đó là những dự án của tình yêu của Chúa để chúng con thực hiện. Xin Chúa giúp chúng con được luôn sẵn sàng thực hiện thánh ý Chúa lắng nghe lời Chúa chứ không phải là kẻ chịu đựng bất đắc dĩ, ý Chúa phải là ý con chứ không phải ý con là ý Chúa.

 

3. ÁNH SÁNG ĐÃ ĐẾN THẾ GIAN

“Ta là ánh sáng đến trong thế gian” (c.46)

Chúa Giêsu tự mạc khải Ngài là ánh sáng thế gian. Chúng ta từng hiểu thế nào là ánh sáng. Ánh sáng cần thiết như thế nào trong phạm vi tự nhiên. Ánh sáng cần thiết  đến nỗi không có ánh sáng thì cũng không có sự sống dù là sự sống sơ đẳng như cây cỏ thảo mộc.

Trên phạm vi siêu nhiên, ánh sáng là biểu tượng cho Thiên Chúa hiện diện (Xac 19,18). Thí dụ cột ánh sáng dẫn dân Do thái về đất hứa (Xac 13,21t). Có ánh sáng là chúng ta được an tâm (Tv 4,7.31,17.89,16; Cn 16,15). Ánh sáng của Chúa là giới luật của Ngài  (Cn 6,23). Giới luật của Chúa là đèn soi bước chân đi (Tv 119,105). Người làm tội ác loạng choạng trong tối tăm (Is 59,9) và thấy mình phụp tắt  (Cn 13,9; Gb 18,5). Tóm lại ánh sáng là biểu tượng cho hạnh phúc, và tối tăm là bất hạnh. Hỏa ngục được mô tả là nơi đầy bóng tối dày đặc (Mt 22,13). Cho nên có ánh sáng là có sự sống, có ơn cứu độ.

Chúa Giêsu tự mạc khải Ngài là ánh sáng  theo nghĩa đó. Chúa đã làm phép lạ chữa cho người mù tứ lúc mới sinh (Gio 9). Lúc đó Chúa Giêsu tuyên bố: “Khi còn ở thế gian, Ta là ánh sáng trần gian” (9,5). Nơi khác, Ngài nói: “Ta là ánh sáng đến trong thế gian để ai tin Ta không đi trong tăm tối” (12,46). Khi Ngài đến trần gian, Ngài nói chính mình là ánh sáng đích thực chiếu soi cho mọi người, là ánh sáng chiếu trong u tối (1,4) và bi kịch đời Chúa luôn luôn là cuộc chiến đấu giữa ánh sáng và tối tăm. Giây phút cuối cùng, Chúa nói: “Đây là giờ của tối tăm” (Lc 22,53).

Theo thánh Phaolô, sự sống con người theo Chúa cũng là một sự đôi co, giằng co lựa chọn giữa tối tăm và ánh sáng (2C 6,14), (cf. Lc 16,18). Thánh Phaolô còn nói anh em phải sống như con cái ánh sáng (x. Gio 12,35), (Eph 5,8.1; Th 5,5). Kết quả của việc lành là sự bình an công chính và tình yêu. Anh chị em có muốn những hoa quả đó không, hay lại muốn hoa quả của cây trái cấm ?

Ai trong chúng ta cũng đang sống, đang hăng say làm việc phục vụ. Có lẽ có những ngày, có những hoàn cảnh, có những trường hợp chúng ta không biết phải làm gì và làm được gì, không biết phải xử sự làm sao. Vậy thì trước giây phút tối tăm ấy, hay là đứng trước những khó khăn rắc rối, anh chị em giải quyết ra sao, tìm đâu ra ánh sáng để giải quyết vấn đề khúc mắc của gia đình ? Chắc anh chị em muốn những lúc ấy có một vị quân sư cho mình những lời khuyên đích thực, hay ít ra có được một cẩm nang như kiểu một đạo sĩ xưa kia đã trao cho học trò mình một cẩm nang để trả lời trong những hoàn cảnh khó khăn.

Nhưng thử hỏi khi chúng ta không có vị cố vấn, không có cẩm nang thì anh chị em có cách nào, có được nguyên tắc náo hứơng dẫn cuộc đời mình chăng ? Nếu chưa thì xin lưu ý tới phần cuối cùng của bài Phúc âm hôm nay. Đó là lời Thiên Chúa: “Lời Chúa là ngọn đèn soi bước chân con” (Tv 119). Đó là lời nói của một vị vua  xưa kia đã dựa vào lời Chúa để làm nguyên tắc cho đời ông và chư dân. Lời Chúa thật là ánh sáng, ánh sáng loan truyền ánh sáng và sự sống. Chúng ta hiểu được ý nghĩa của câu Chúa phán “Ta là ánh sáng”. Chúa nói lên câu đó vì Ngài là Đấng dựng nên ánh sáng là nguồn của ánh sáng.

Ở trần gian này có thể có ánh sáng của ngọn nến, ngọn đèn, nhưng rồi máy phát điện hết nhiên liệu, đèn tắt. Chúa Giêsu là Nguồn sáng. Sách Khải huyền mô tả Chúa Giêsu là mặt trời tỏa sáng. Anh chị em có đồng ý đến với Ngài để Ngài soi sáng không hay lại cố náu mình vào bóng tối ? Nếu cố tình như vậy, Chúa nói: ”Lời Chúa sẽ xét xử chúng ta” (c.48).

 

4. Từ bóng tối sang ánh sáng.

Phúc âm thánh Gioan được viết sau một quá trình chín mùi lâu dài, một sự cầu nguyên lâu dài. Thánh Gioan đã cảm nghiệm về sự sống Thiên Chúa, Cha, Con và Thánh Thần, trước khi đưa ra chứng từ cho chúng ta. Phúc âm này phô bày sự sống của ba ngôi vị, thông qua tâm hồn của một con người, một tín hữu.

Chúa Giêsu khẳng định mình là Sứ giả của Chúa Cha. Thánh Gioan không trình bày Chúa Giêsu như là Con Thiên Chúa, nhưng là Con của Cha. Như là tất cả tầm quan trọng được qui về Ngôi Cha chứ không phảỉ về Ngôi Con. Mọi sự đều qui hướng về Cha, Chúa Giêsu có một sứ mạng do Cha trao, Ngài cần thông báo sứ điệp của Cha. Chính Chúa Giêsu là sứ điệp của Cha.

Thái độ của Chúa Kitô chứng tỏ một sự lệ thuộc hoàn toàn, một sự vâng phục toàn diện, một sự sẵn sàng liên tục. Sở dĩ Ngài nhấn mạnh đến tầm quan trọng của lời mình, ấy là vì lời ấy là lời của Cha: lời mà Tôi đã truyền lại, đấy là lời sẽ xét xử vào ngày sau cùng, và những lời Tôi nói, thì Tôi nói như Cha đã nói với Tôi.

Có thể chúng ta cho rằng sự lệ thuộc này có vẻ nô lệ quá. Chúa Giêsu không có được sự độc lập của một người trưởng thành... 

Ngược lại, đấy là một hành động tự do của Chúa Giêsu khi Ngài tự đặt mình dưới sự điều động của Cha; đấy là con đường cứu thế.

Con người đã từng muốn độc lập đối với Thiên Chúa, con người đã từng sống không đối chiếu với cội nguồn sự sống của mình, chính con người ấy cần được cứu chuộc nhờ lòng vâng phục, nhờ một sự gần gũi thân mật với Thiên Chúa. Và thánh Phaolô đã viết trong một bức thư: vì sự bất tuân của một người mà án phạt đã đến trong thế gian. 

Ta hãy để lòng mình thốt lên lời cảm tạ bằng cách nhận biết rằng Chúa Giêsu là cội nguồn ơn cứu độ, và qua Thánh Lễ mà chúng ta sắp cử hành, hãy công bố hồng ân của Chúa Cha: ấy là đã Sai Con Một Mình. 

 

5. Đức Tin Là Một Ân Ban

Nhìn vào cuộc sống của tôi, tôi đã hiểu rằng ngay từ thuở nhỏ, tôi đã thiếu một điều quan trọng, đó là niềm tin và một nền giáo dục tôn giáo. Tôi sinh ra tứ một cuộc hôn nhân không bao giờ thực hành đạo, còn cha tôi là một người Do Thái luôn tuyên bố mình vô thần. Cha tôi không ngừng lặp lại với tôi rằng nếu Thiên Chúa hiện hữu, Ngài đã chẳng để cho thế chiến thứ hai xảy ra. Khi tôi muốn bàn với ngài về vấn đề tôn giáo, thì ngài lại tìm cách tránh né. Tôi ganh tị với các bạn đồng lớp, chúng được học giáo lý, và tôi xin chúng cho tôi được nghe những gì chúng đã học được trong giờ giáo lý .

Những lời tâm sự trên đây của một nữ minh tinh màn bạc người Pháp có thể giúp chúng ta hiểu được phần nào Lời Chúa trong Tin mừng hôm nay. 

Chúa Giêsu đã nói:  Tôi là ánh sánh đến thế gian, để bất cứ ai tin vào tôi, thì không Ơû lại trong bóng tối . Nỗi khốn khổ lớn nhất của người không có niềm tin tôn giáo, đó là phải sống trong tăm tối, không biết đâu là lẽ phải, đâu là điều nên làm hay không nên làm. Bao lâu không tin ở Thiên Chúa, con người tự tôn mình lên hàng Thiên Chúa và cho phép mình làm mọi sự, bất chấp mọi phán đoán của lương tâm. 

Nhưng con người sống không có niềm tin cũng giống như người sống trong nhà tù, họ bị vây hãm trong bóng tối, họ không biết đến ngày mai, và đó là hình phạt lớn nhất mà họ tự gây ra cho mình. Chúa Giêsu đã nói:  Ai từ chối tôi và không đón nhận lời tôi, thì có quan tòa xét xử người ấy . Sự xét xử nặng nề nhất mà người không có niềm tin phải trải qua là những dày vò của lương tâm.

Chúng ta hãy cảm tạ Thiên Chúa đã ban cho chúng ta đức tin. Đức tin là một ân ban nhưng không, và cũng giống như một hạt giống, nó cần được vun xới không ngừng, bằng cầu nguyện, học hỏi, bằng sự nâng đỡ của cộng đoàn và nhất là bằng cuộc sống chứng tá. .

Nguyện xin Chúa thanh luyện và củng cố đức tin của chứng ta, để trong tất cả mọi sự, chúng ta luôn sống hân hoan và tin tưởng

 

6. Ánh sáng cửa Đức Kitô

Nơi con người Chúa Giêsu có nhiều thứ ánh sáng. Đó có thể là thứ ánh sáng phản chiếu vinh quang quyền năng, thứ ánh sáng mà khi đối diện con người phải cúi đầu Chúa Giêsu không tỏ lộ ánh sáng nảy cho các môn đệ và dân chúng theo Ngài, ngoại trừ một lần trên núi Thaborl, Ngài biến hình sáng láng trước mặt ba môn đệ: Phêrô, Yacôbê và Gioan

Ánh sáng thường gặp nơi Ngài là ánh sáng soi đường dần lối, một thứ ánh sáng không làm cho con người sợ hãi, nhưng mời gọi bước theo ánh sáng phát xuất từ ngọn lửa yêu thương phục vụ xem ra không huy hoàng rực rỡ, nhưng lại hữu hiệu. Đối diện với ánh sáng này, con người sẽ hoặc là tiếp nhận, hoặc là chối từ. Khi chối từ tức là con người còn nằm trong bóng tối và ánh sáng trở thành ánh sáng xét xử. Chúa Giêsu không kết án, vì Ngài đến để cứu chuộc, nhưng chính thái độ cố chấp của con người sẽ kết án họ. 

Không có ánh sáng đồng thời với bóng tối, ởû đâu có ánh sáng, ởû đó sẽ không còn bóng tối. Nhưng để tiếp nhận ánh sáng, con người phải chấp nhận từ bỏ, tiêu hao chính mình. Chúa Giêsu đã đem lưa xuống trần gian và Ngài ước mong cho nó cháy lên. Gặp gỡ Đức Kitô, con người sẽ gặp được ngọn lửa yêu thương của Ngài. Ngọn lửa càng sáng, cảng đòi tiêu hao nhiều nhiên liệu. Ngọn lửa Đức Kitô đã tỏa sáng khắp vũ trụ khi Ngài được giương cao trên Thập giá và hiến thân cho đến giọt máu cuối cùng.

Bước theo Đức Kitô, người Kitô hữu chúng ta không những được mời gọi tiến vào miền ánh sáng mà còn có bổn phận trở thành ánh sáng. Ngài không cần chúng ta phản chiếu ánh sáng quyền năng của Ngài bằng những việc phi thường nhưng là sẵn sàng tiêu hao chính mình để ánh sáng Đức Kitô được chiếu tỏa, và nhờ đó chính chúng ta cũng được đổi mới và nhận được vinh quang Phục Sinh của Ngài. 

 

7. Ta là ánh sáng thế gían

Chủ đề ánh sáng được Tin mừng Thánh Gioan đề cập đến ngay từ đầu trong phần mở đề của Tin mừng.

Ai thấy tôi là thấy Đấng đã sai tôi.

Không có ánh sáng, đi trong đêm tối thì làm sao mà thấy được .

Chúa là ánh sáng nghĩa là gì ? Ngài là ánh sáng vì Ngài là Ngôi Lời Chúa đã dùng Ngôi Lời để tạo nên vạn vật, nay Chúa cũng dùng Lời để cho ta nhận ra Chúa. Những Lời Chúa giảng dạy giúp người ta nhận ra Chúa. Lời Chúa là ánh sáng cho ta thấy được danh tánh của Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa. Trong phần mở đầu của Tin mừng, thánh Gioan đã cho thấy mối liên hệ mật thiết giữa Lời và ánh sáng.

Nói cách khác, ơn đức tin Thiên Chúa ban cho ta, phải được lời Chúa soi sáng để được sáng tỏ và phát triển. Lời Chúa vì thế có một tầm quan trọng sinh tử đối với đời sống đức tin của người Kitô hữu. Một kitô hữu mà không năng đến với lời Chúa thì đức tin người ấy sẽ ở trong tình trạng lu mờ và có thể mai một dần.

Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến trong thế gian và chiếu soi mọi người ... Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà không chịu đón nhận Người. Người nhà đây chính là dân tộc người. Người nhà hôm nay cũng chính là tôi, là con người mà Chúa đã ban cho ơn đức tin, nhưng tôi lại không muốn tiếp cận lời Chúa để ánh sáng lời đó dẫn đưa tôi trong đời sống đức tin. Nói người phải nghĩ đến ta, tôi cũng chẳng hơn gì người Do thái, cũng không muốn đến với ánh sáng là lời của Chúa. Thái độ lười biếng tiêu cực của tôi đối với lời Chúa là một thái độ từ chối ánh sáng.

Bài Tin mừng hôm nay thúc giục tôi từ nay phải siêng năng đến với lời Chúa, như người đi trong tối tăm mong thấy ánh sáng, như lính canh mong đợi hừng đông. Con đường dẫn ta đến với Chúa Giêsu hôm nay là lời của Chúa. 

 


Sinh hoạt khác

Tin Giáo Hội

Mục Tổng Hợp

» Xem tất cả Video

Liên kết website

Bài viết được quan tâm