Danh mục bài viết

Cập nhật 11/3/2018 - 14:44 - Lượt xem 1706

Thứ Hai tuần 4 Mùa Chay

"Ông hãy về đi, con ông mạnh rồi".

 

Tin Mừng: Ga 4, 43-54

Khi ấy, Đức Giêsu bỏ Samaria mà đến Galilê. Chính Người đã quả quyết: ngôn sứ không được tôn trọng tại quê hương mình. Khi Người đến Galilê, dân chúng trong miền đón tiếp Người, vì đã được chứng kiến tất cả những gì Người làm tại Giêrusalem trong dịp lễ, bởi lẽ chính họ cũng đã đi dự lễ. 

Vậy Đức Giêsu trở lại Cana miền Galilê, là nơi Người đã làm cho nước hoá thành rượu. Bấy giờ có một sĩ quan cận vệ của nhà vua có đứa con trai đang bị bệnh tại Caphácnaum. Khi nghe tin Đức Giêsu từ Giuđê đến Galilê, ông tới gặp và xin Người xuống chữa con ông vì nó sắp chết. Đức Giêsu nói với ông: “Các ông mà không thấy dấu lạ điềm thiêng thì các ông sẽ chẳng tin đâu!” Viên sĩ quan nói: “Thưa Ngài, xin Ngài xuống cho, kẻo cháu nó chết mất!” Đức Giêsu bảo: “Ông cứ về đi, con ông sống.” Ông tin vào lời Đức Giêsu nói với mình, và ra về. Ông còn đang đi xuống, thì gia nhân đã đón gặp và nói là con ông sống rồi. Ông hỏi họ con ông đã bắt đầu khá hơn vào giờ nào. Họ đáp: “Hôm qua, vào lúc một giờ trưa thì cậu hết sốt.” Người cha nhận ra là vào đúng giờ đó, Đức Giêsu đã nói với mình: “Con ông sống”, nên ông và cả nhà đều tin. Đó là dấu lạ thứ hai Đức Giêsu đã làm, khi Người từ miền Giuđê đến miền Galilê. 

 

Suy niệm:

1. Con ông sống - Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ.

Trong các sách Tin Mừng, chúng ta thường gặp nỗi sợ hãi, lo lắng 
của những bậc cha mẹ trước căn bệnh hiểm nghèo của con mình. 
Ông trưởng hội đường Giairô khẩn khoản nài xin Đức Giêsu 
“Con bé nhà tôi gần chết. Xin Thầy đến và đặt tay trên nó” (Mc 5, 23). 
Bà dân ngoại gốc Canaan kêu lên: “Xin thương xót tôi, 
vì con gái của tôi bị quỷ ám trầm trọng lắm” (Mt 15, 22). 
Người cha có đứa con bị động kinh cũng nài van Đức Giêsu: 
“Xin Thầy chạnh lòng thương mà cứu giúp chúng tôi” (Mc 9, 22). 
Trong bài Tin Mừng hôm nay viên sĩ quan, có lẽ của vua Hêrôđê, cũng năn nỉ: 
“Xin Ngài xuống cho, kẻo cháu nó chết mất !” (c. 49). 
Bệnh tật và cái chết đang đe dọa đứa con khiến cha mẹ khổ đau và bối rối. 
Họ không muốn mất đứa con đã trở nên một phần của đời họ. 
Họ vội vã đến với Đức Giêsu như đến với một nơi có thể cấp cứu kịp thời. 
Họ tin vào sự hiện diện của Ngài, vào sự chữa lành mà Ngài đem lại. 
Lòng tin của viên sĩ quan đã lớn lên từ từ. 
Ông tin nhờ nghe người ta nói về những gì Đức Giê su đã làm ở vùng Giuđê. 
Ông gặp Ngài vì tin Ngài có thể chữa đứa con trai đang nguy tử của ông 
bằng cách đi với ông về nhà ở Caphácnaum (c. 49). 
Nhưng sau đó ông tin vào uy quyền của lời Đức Giêsu : 
“Ông cứ về đi, con ông sống!” 
nên ông vâng lời đi về nhà một mình (c.50). 
Chẳng cần sự hiện diện, chỉ cần lời của Ngài nói từ xa cũng đủ con ông khỏi bệnh. 
Lòng tin của ông được vững vàng hơn khi ông kiểm chứng và biết rõ 
chính vào giờ Ngài nói thì con mình được chữa lành (c. 53). 
Bây giờ hẳn ông đã tin trọn vẹn vào chính con người Đức Giêsu. 
Lòng tin ấy lôi cuốn cả gia đình ông tin theo. 
Sau khi dấu lạ xảy ra, không thấy nói gì về thái độ ngạc nhiên của gia quyến. 
Kết quả tuyệt vời của dấu lạ là chính lòng tin của mọi người trong nhà. 
Họ sẽ được ông kể cho nghe từng chi tiết câu chuyện gặp gỡ. 
Trong tiệc cưới ở Cana, lòng tin của Đức Maria đã dẫn đến dấu lạ đầu tiên. 
Dấu lạ này đã khiến các môn đệ Đức Giêsu tin vào Ngài (Ga 2, 11). 
Trong dấu lạ thứ hai này ở Cana, lòng tin của viên sĩ quan, của một người cha, 
đã dẫn đến lòng tin của những người thân thuộc. 
Lòng tin thật sự bao giờ cũng có khả năng thu hút, lôi kéo, lan rộng. 
Ngay trước đoạn Tin Mừng này, 
chuyện người phụ nữ Samari cũng cho ta thấy điều đó. 
Từ lời chứng của chị, dân thành Xykha đã tin vào Đức Giêsu (Ga 4,39). 
Đời chúng ta cũng có những lúc tưởng như tuyệt vọng, 
khi ta thấy tuột khỏi tay mình những gì rất quý mà mình muốn ôm giữ. 
Hãy nhìn lên thánh giá để khỏi mất lòng tin. 
Hãy chấp nhận đi vào những nẻo đường lạ lẫm mà Chúa đang mời gọi. 
Như viên sĩ quan, ta sẽ gặp tin vui ngay trên đường về nhà. 

Lạy Cha từ ái, 
đây là niềm tin của con. 
Con tin Cha là Tình yêu, 
và mọi sự Cha làm đều vì yêu chúng con. 
Cả những khi Cha mạnh tay cắt tỉa, 
cả những khi Cha thinh lặng hay vắng mặt, 
cả những khi Cha như chịu thua sức mạnh của ác nhân, 
con vẫn tin Cha là Cha toàn năng nhân ái. 
Con tin Cha không chịu thua con về lòng quảng đại, 
chẳng để con thiệt thòi khi dám sống cho Cha. 
Con tin rằng nơi lòng những người cứng cỏi nhất 
cũng có một đốm lửa của sự thiện, 
được vùi sâu dưới những lớp tro. 
Chỉ một ngọn gió của tình yêu chân thành 
cũng đủ làm đốm lửa ấy bừng lên rạng rỡ. 
Con tin rằng chẳng có giọt nước mắt nào vô ích, 
thế giới vẫn tồn tại nhờ hy sinh thầm lặng của bao người. 
Con tin rằng chiến thắng cuối cùng thuộc về Ánh sáng. 
Sự Sống và Tình yêu sẽ chiếm ngự địa cầu. 
Con tin rằng dòng lịch sử của loài người và vũ trụ 
đang chuyển mình tiến về với Cha, 
qua trung gian tuyệt vời của Chúa Giêsu 
và sức tác động mãnh liệt của Thánh Thần. 
Con tin rằng dần dần mỗi người sẽ gặp nhau, 
vượt qua mọi tranh chấp, bất đồng, 
mọi dị biệt, thành kiến, 
để cùng nắm tay nhau đi qua sa mạc cuộc đời 
mà về nhà Cha là nơi hạnh phúc viên mãn. 
Lạy Cha, đó là niềm tin của con. 
Xin Cha cho con dám sống niềm tin ấy. Amen.

 

2. Tin đến cùng - Tu sĩ Jos. Vinc. Ngọc Biển, S.S.P.  

Trong toàn bộ Tin Mừng, chúng ta thấy những người có địa vị cao trong xã hội đa số đều mắc phải thói tự kiêu, vì tự cho mình là người biết hết mọi chuyện, nên thường coi khinh anh em đồng loại! Nếu không bị chứng bệnh tự phụ trên thì cũng rơi vào tình trạng nghi ngờ về những chuyện phi thường....

Tuy nhiên, hôm nay, bài Tin Mừng thuật lại một viên sĩ quan cao cấp của triều đình đã lặn lội cả mấy chục kilômét để đến gặp Đức Giêsu và xin Ngài chữa cho con ông được lành bệnh. Ông là một phó vương nơi cung triều, còn Đức Giêsu thì chỉ là người bình dân. Một hình ảnh trái ngược với giới lãnh đạo và thượng lưu thời bấy giờ! 

Qua hành động của viên sĩ quan, chúng ta thấy được hai điều:

Trước hết, thái độ của ông quan này rất khiêm tốn. Ông đã không để ý đến địa vị chức quyền, không nghĩ đến giai tầng trong xã hội, nhưng chỉ một lòng tin tưởng và phó thác nơi Đức Giêsu và sống trong niềm hy vọng được nhận lời.

Thứ hai, vị quan này rất kiên trì. Ông không thối chí nhụt lòng khi nghe thấy câu trách móc nặng nề của Đức Giêsu: "Các ông mà không thấy dấu lạ điềm thiêng thì các ông sẽ chẳng tin đâu!". Nếu vị quan này mà kiêu ngạo, cố chấp hay tự trọng thái quá, có lẽ đã bỏ đi, đằng này, ông lại càng khẩn thiết hơn: "Thưa Ngài, xin Ngài xuống cho, kẻo cháu nó chết mất!". Câu nói này thể hiện sự thành khẩn và niềm tin chân thành của viên sĩ quan.

Thế nên, từ xa, Đức Giêsu đã làm phép lạ chữa cho con ông khi tuyên bố: “Con ông sống”.Thấy mọi sự diễn ra đúng thời gian mà Đức Giêsu tuyên bố con ông không chết, viên sĩ quan và cả gia đình ông đã tin vào Đức Giêsu.

Như vậy, câu chuyện Tin Mừng hôm nay nhắm vào niềm tin của viên sĩ quan. 

Lúc đầu là một niềm tin và hy vọng về nhu cầu của mình. Dần dần biến thành tình yêu và kính phục khi nhu cầu được giải quyết cách nhiệm mầu. Cuối cùng, tình yêu đã hoàn toàn làm chủ và quy phục trong đức tin.

Đây cũng là mẫu gương và tiến trình trong đời sống của mỗi Kitô hữu.

Sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy vượt qua những tự hào thái quá để khiêm tốn như viên sĩ quan. Cần có một thái độ tin tưởng tuyệt đối nhưng chân thành và niềm hy vọng đầy tin yêu nơi Thiên Chúa như viên sĩ quan.

Lạy Chúa Giêsu, chỉ có đức tin trong lòng mến mới có thể giúp cho chúng con đến gần Chúa và tin tưởng vào Ngài mà thôi. Vì thế, xin Chúa ban cho chúng con có được đức tin chân thành để được hưởng ơn cứu độ của Chúa. Amen.

 

3. Giờ của Đức Giêsu

Một quan chức nhà vua có đứa con đau nặng, ông nghe tin Đức Giê-su đang ở trong miền gần đó. Ông tự nhủ : “Đây là lúc Người có thể chữa con mình". Ông chỉ nghe theo niềm cậy trông của ông và ông tìm đến Người. Ông gặp Người, và khẩn khoản nài xin Người. Đức Giêsu kêu trách ông như mọi người chỉ muốn xin điềm lạ và những điều phi thường. Nhưng sự hất hủi đó không làm ông tủi hờn chút nào. Ông càng khẩn xin như không nghe thấy gì : "Lạy Ngài, xin xuống trước khi con tôi chết". Đức Ki-tô cảm động và nói với ông : "Được rồi, ông cứ về đi, con ông sống đấy".

Mừng như điên, lập tức ông tin lời Đức Giê-su, ông về như bay, và giữa đường ông gặp đầy tớ báo tin con ông đã khỏi. Ông hỏi : "Nó khỏi giờ nào ?”. HoÏ đáp : "Lúc bảy giờ hôm qua". Ông tự nhủ : "Đúng vào giờ Đức Giê-su nói với mình". Đó là cú đánh ân huệ. Giờ ban ơn cứu chữa ông và cả gia đình ông. Giờ của Đức Giê-su. Giờ ban ơn trở lại. Giờ cứu độ. 

Đối với người được đức tin, chính là giờ của Đức Giê-su. Người đến để cải tạo và làm cho họ trở thành dụng cụ bác ái đối với người lân cận. Biết đón nhận thành ý Thiên Chúa và những đường lối quan phòng của Ngài trong mọi thứ thử thách như trong bệnh tật, đau khổ về gia đình như xé nát tâm can, trong xao xuyến lo âu về tương lai yêu quý, trong bấp bênh về đời sống kinh tế, đó là sống cái giờ của Đức Giê-su, và như Đức Giêsu đã chấp nhận với bao nỗi sầu khổ của thân phận làm người và chỉ mình Người mới có thể làm cho chúng ta cảm nghiệm sâu xa được mầu nhiệm khổ nạn khi vâng theo thánh ý Thiên Chúa như Người đã cảm nghiệm được suốt cuộc đời Người và nhất là lúc bị đóng đinh trên thập giá.

Giờ của Đức Giê-su, cũng chính là những cơ hội cho chúng ta được dịp an ủi, nâng đỡ, khuyến khích, soi sáng và đem hình an cho người khác. Vì mỗi lần chúng ta cho kẻ đói ăn, kẻ khát uống, kẻ đói rách ăn mạc, thăm hỏi kẻ tù đầy, an ủi kẻ tuyệt vọng, thì đó là chúng ta đã làm cho chính Chúa, Người đã nói trong Tin mừng như vậy.

 

4. Phép lạ tăng cường lòng tin

Xin nói ngay rằng phép lạ hôm nay khác với phép lạ Chúa làm cho viên sĩ quan có đứa đầy tớ bị bệnh bất toại được ghi trong Mt 8,5. Viên sĩ quan ấy có một lòng tin vững mạnh, được Chúa ca tụng là nhất trong số dân ngoại (Mt 8,10).

Còn trong phép lạ hôm nay được thánh Gioan ghi lại nói rằng có một vị sĩ quan (công chức) tới xin Chúa Giêsu chữa bệnh cho con của ông. Vị sĩ quan này làm việc tại triều đình nhà vua Hêrôdê Antipas và gia đình ngụ tại Caphanaum. Chắc chắn những công việc Chúa Giêsu làm đã đồn thổi đến tai ông, cho nên ông đích thân từ Caphanaum đi tới Cana để gặp Chúa, vì  Chúa vừa mới trở lại đấy (c.46).

Con đường từ Caphanaum tới Cana dài khoảng  33 cây số, nếu đi bộ phải mất 7 tiếng đồng hồ. Gặp được Chúa, ông mời Chúa trở lại Caphanaum để chữa cho con của ông thập tử nhất sinh. Rất có thể ông đi đón rước Chúa như kiểu đi đón rước một thầy lang. Nhưng dù sao thì ông cũng tin tưởng vào quyền phép của Chúa, vì ở địa vị như ông làm quan triều đình, chắc chắn đã có nhiều thầy lang chữa cho mà không khỏi nay ông chạy đến với Chúa như một bước đường cùng. Hơn nữa trong lúc tuyệt vọng, người ta dẽ dàng phó thác tất cả.

Vị sĩ quan này tin Chúa. Nhưng chưa tin Chúa có thể làm phép lạ từ xa, cho nên ông mời được Chúa đến nhà ông (c.47). Ông cũng chưa vững tin rằng Chúa có thể làm cho kẻ chết sống lại, nên ông cố mời Chúa xuống nhà ông trước khi con ông chết (c.49). Thực ra ông cùng những người ở Galilê chỉ nhìn phép lạ phần xác, còn hưởng phúc đời đời làm quan. Nhưng Chúa Giêsu lại nhắc tới phần hồn, tới đức tin của ông và gia tộc ông trước hết.

Chính vì thế mà Chúa  thốt lên một câu đầy vẻ chua xót: “nếu như các ông không thấy điềm thiêng dấu lạ, ắt các ngươi cũng chẳng tin gì ?” (c.48). Câu nói này không riêng gì cho ông quan mà còn cho chúng ta nữa. Lòng tin của vị quan này còn dựa vào hữu hình vào cụ thể bên ngoài, cho nên khi nghe được Chúa phàn nàn như vậy ông không thể trả lời được gì. Rồi ông chỉ hối thúc Chúa xuống lẹ trước khi con ông chết (c.49). Oâng sợ rằng khi con ông chết rồi Chúa hết uy quyền, cho nên mỗi phút qua đi là lòng ông chất chứa ưu tư sợ mất đứa con.

Còn Chúa Giêsu thì Ngài thông cảm nỗi lo âu của một người cha. Và Ngài đã làm phép lạ từ xa cho đứa con của ông được khỏi bệnh. Là đang khi trên đường trở lại Caphanaum, được độ nửa đường thì gia nhân đi tới và báo cáo là đứa con ông đã được khỏi bệnh sốt rét vào giờ thứ bảy tức khoảng 1 giờ trưa (c.52).

Có hai ý nghĩa hôm nay:

1. Vị sĩ quan này đến xin chữa bệnh cho con, như đến xin một lòng tin. Việc đứa con khỏi bệnh từ xa đã tăng đức tin cho chính ông. Và đức tin đã lan ra cả gia đình và gia tộc của ông (c.53). Rất có thể trong chúng ta cũng có lúc đức tin được hun nóng sau biến cố như người cha hôm nay.

2. Bài học thứ hai là thân xác chúng ta, sự sống chúng ta và cuộc đời chúng ta là dưới quyền cai quản của Thiên Chúa. Ai là người hiểu rõ một chiếc máy hơn cả, hẳn phải là người sáng chế, chế tạo ra chiếc máy đó chứ. Chúng ta là tạo vật của bàn tay Thiên Chúa. Ngài biết rõ chúng ta, hơn chúng ta biết về mình nữa kia. Chúa biết phải sửa chữa bệnh tật chúng ta như thế nào. Vậy mà chúng ta có tôn phục và ở dưới uy quyền Thiên Chúa không ? Cái máy thì dù sao cũng tùy thuộc vào người sử dụng nó. Còn con người hơn cái máy ở điểm là có tự do ý chí, trí khôn, tình cảm. Nhưng chúng ta có biết sử dụng sự tự do ý chí đó theo ý Chúa không ?

Chúng ta nhớ lấy:

- Bệnh tật đi tới lòng tin.

-Uy quyền Thiên Chúa trên bệnh nhân và bệnh tật.

 

5. Chữa con một quan chức

Một thiếu nữ nó có giọng hát thiên phú, cô luyện giọng với một giáo sư âm nhạc tài ba, cô đã hát được những giai điệu tuyệt hảo. Thế nhưng khi trình diễn, cô vẫn thấy giọng hát của cô chưa được truyền cảm. Vị giáo sư âm nhạc giải thích cho cô: "Tôi đã dạy cô tất cả những gì tôi biết, nhưng cô còn thiếu một điều mà tôi không thể cung cấp cho cô được, điều đó đến từ cuộc sống: chỉ có kinh nghiệm của cuộc sống, chỉ có những điều làm tan vỡ cõi lòng mới làm cô hát với tất cả cảm xúc".

Bước vào tuần 4 MC, Giáo Hội mỗi lúc một tha thiết mời gọi chúng ta tham dự vào cuộc tử nạn của Chúa Giêsu để được xứng đáng chung phần vinh quang Phục sinh của Ngài. Cuộc sống với những khổ đau mà chúng ta đang trải qua quả là một cuộc tử nạn dai dẳng. Là người Kitô hữu, chúng ta được mời gọi sống lại cuộc tử nạn của Chúa Giêsu bằng chính cuộc sống ấy. Sóng lại cuộc tử nạn của Chúa Giêsu không có nghĩa là tự đày đoạ mình vào cuộc sống khổ lụy. Đau khổ tự nó không phải là một giá trị để tìm kiếm. Sống lại cuộc tử nạn của Chúa Giêsu chính là mặc lấy tinh thần tin yêu phó thác của Ngài. Thất vọng, buông xuôi, nổi loạn, trách móc là cơn cám dỗ chung của mọi người. Chúa Giêsu có lẽ cũng không thoát khỏi những giờ phút thử thách ấy. Thế nhưng ý hướng duy nhất của Ngài lúc đó là niềm tin thác và tha thứ. Chỉ có thái độ như thế mới đem lại giá trị cho đau khổ và biến cuộc tử nạn của Ngài thành của lễ đẹp lòng Thiên Chúa.

Đó cũng chính là tâm tình mà Giáo Hội mời gọi chúng ta mặc lấy khi cho chúng ta nghe và suy niệm về lòng tin của viên bách quản Capharnaum. Dù chỉ là một người ngoại giao, dù chưa một lần chứng kiến phép lạ nào của Chúa Giêsu, nhưng ông đã tìm đến để xin Ngài chữa lành cho đứa con của ông, hay đúng hơn để xoa dịu nỗi đau khổ của người cha khi phải chứng kiến con mình quằn quại trong đau khổ.

Đau khổ là lửa thử niềm tin con người, đau khổ có thể đưa con người đến thất vọng, chối bỏ, và lộng ngôn, nhưng đau khổ cũng có thể là khởi điểm của tin yêu phó thác. Nguyện xin Đấng là đường, là sự thật và là sự sống củng cố niềm tin chúng ta giữa những đau khổ đè nặng trên thân xác và tâm hồn chúng ta.

 

6. Ngăn cách

Trong cuộc sống của con người, chúng ta thấy có không biết bao nhiêu những khoảng cách: Khoảng cách giữa gìa với trẻ, giữa giầu có với nghèo túng, giữa trí thức với bình dân, giữa da trắng với da mầu, giữa tư bản với xã hội chủ nghĩa, giữa tôn giáo với vô thần...vv. Nhưng tất cả những khoảng cách ấy đều có thể san bằng như người ta đã san bằng bức tường ngăn cách Đông và Tây Bá Linh, khi mà người ta đã san bằng được một sự ngăn cách căn bản, sự ngăn cách đã làm phát sinh ra mọi sự ngăn cách khác, đó là sự ngăn cách giữa con người với Thiên Chúa.

Chính sự ngăn cách đó đã tạo ra một sự trống vắng nơi tâm hồn con người. Sự trống vắng ấy chỉ có thể lấp đầy bằng lòng tin mà con người đặt nơi Chúa Giêsu Kitô. Khoảng cách ấy chính là tội lỗi.

Bởi đó, xóa bỏ được tội lỗi, là san bằng được ngăn cách giữa ta với Chúa và khi mà giữa ta với Chúa không còn có sự ngăn cách nào nữa, thì tất cả những ngăn cách khác sẽ không còn nữa.

Đoạn Tin Mừng trích đọc hôm nay cho chúng ta thấy 3 loại khoảng cách

- Trước hết là khoảng cách về bệnh tật. Bệnh tật đã tạo nên một sự ngăn cách giữa người bệnh và người khỏe mạnh. Chính vì muốn san bằng sự ngăn cách này mà viên quan chức nhà vua ở Capharnaum đã đến xin Chúa Giêsu chữa cho người con trai của ông đang bị đau liệt nặng.

- Khoảng cách thứ hai đó là khoảng cách về niềm tin. Hẳn là trước khi đến xin Chúa Giêsu chữa trị cho cậu con trai của mình, viên quan chức này đã được thấy tận mắt, hay ít nữa là đã nghe nói về những việc làm lạ lùng của Chúa Giêsu rồi. Điều này đã làm cho ông tin vào quyền phép của Chúa Giêsu. Nhưng niềm tin này là niềm tin đã được kiểm chứng hay đã có kinh nghiệm. Cho nên, khi đến gặp Chúa Giêsu, để xin Ngài chữa cho con mình, thì Chúa Giêsu đã thách thức ông : “Nếu các ông không thấy những phép lạ và những việc phi thường, hẳn các ông đã không tin”.

Lời thách thức ấy đã đưa viên sĩ quan nhà vua bước vào niềm tin đích thực. Niềm tin ấy đã được biểu lộ qua một việc làm  của ông, đó là sau khi nghe Chúa Giêsu bảo : “Ông hãy về đi, con ông đã mạnh rồi “, ông đã trở về ngay mà không cần đến bất cứ một bằng chứng nào cho lời nói kia của Chúa. Thánh Gioan ghi : “Ông Tin lời Chúa Giêsu nói và trở về”.

- Khoảng cách thứ 3 đó là khoảng cách về không gian từ Cana đến Capharnaum. Theo như Thánh Gioan cho biết, khi Chúa Giêsu đang ở Cana thì một viên chức nhà vua đến xin Ngài chữa cho con  ông. Thế nhưng Chúa Giêsu đã không đến Capharnaum để chữa cho con ông mà Ngài vẫn ở Cana và chỉ nói:  “Con ông đã mạnh rồi”, thế mà con viên chức kia đã khỏi bệnh. Như thế là Đức tin đã có khả năng san bằng khoảng cách không gian.

Hiện lúc này đây, có khoảng cách nào giữa chúng ta với Chúa không? Nếu có thì ngay từ giờ này chúng ta hãy bắt chước viên quan chức  nhà vua ở trên đây, lấy Niềm Tin để san bằng ngăn cách đó. Đặt niềm tin vào Chúa Giêsu, Đấng bằng lòng chết thay cho chúng ta, chắc chắn khỏang cách giữa chúng ta với Chúa sẽ không còn nữa. 

 

7Ðức tin đưa tới phép lạ 

Chúa Giêsu chữa lành con trai người quan chức tại Caphacnaum khi Ngài ở Giuđa về Galilê và thánh sử Gioan ghi rõ đây là phép lạ thứ hai Ngài thực hiện tại Cana. Phép lạ thứ nhất là hóa nước thành rượu vào giai đoạn đầu đời rao giảng công khai. Hóa nước thành rượu theo lời đề nghị của Ðức Maria, mẹ Ngài, để cứu vãn danh dự cho gia chủ tiệc cưới. Chữa lành người con một quan chức nhà vua, Chúa Giêsu cho thấy Ngài đến vì mọi người và ở mọi tầng lớp xã hội. Ngài đã ra tay để mang lại hạnh phúc cho mọi người không cần biết họ là ai và điều kiện đón nhận phép lạ là đức tin. Ðức tin của con người cộng với ơn của Thiên Chúa tạo nên phép lạ.

Mỗi ngày sống hôm nay của chúng ta là sự lạ lùng Thiên Chúa thực hiện. Không nhận ra được sự lạ lùng ấy là vì chúng ta không có đức tin. Không có thì không phải Thiên Chúa không ban ơn đức tin cho chúng ta đâu mà là do chúng ta không muốn lãnh nhận ơn ấy vì sợ sệt, sợ phải sống theo Tin Mừng, sợ nên thánh, sợ phải sống tốt hơn. Chẳng hạn như sự kiện cha sở đề nghị chia sẻ Lời Chúa thì rút lui, tránh né. Nhưng quả thật là họ dự lễ chứ chưa dâng lễ. Ðã từ lâu họ quen cảnh linh mục chủ tế, công bố Tin Mừng và giảng trong khi họ mơ mơ màng màng với giấc ngủ chưa dứt, những suy nghĩ viễn vông. Nay phải tiếp cận Lời Chúa và để cho Lời Chúa soi dọi trong mọi ngõ ngách trong lòng họ, nhắc họ ra khỏi tình trạng ươn lười và khoán việc cho người khác thì họ thấy sợ. Không lạ lùng gì họ không thể và không bao giờ có thể chứng kiến được những kỳ diệu Thiên Chúa làm trong đời sống họ mỗi ngày.

Lời loan báo Tin Mừng cũng trở nên vô nghĩa ngay trong nhà thờ đông nghẹt người đến dự lễ chứ không dâng lễ. "Ông hãy về đi, con ông sống rồi", viên quan chức tin không đòi hỏi gì hơn. Vào trường hợp chúng ta, có lẽ chúng ta chần chờ để xin thêm một vài dấu chỉ nào đó chứng minh lời Chúa thật sự có kết quả. Ông về nghe tin con đã khỏe, ông hỏi giờ và nhận ra giờ đó Chúa đã chữa lành cho con ông. Có lẽ gia nhân không biết gì. Chuá vẫn thế, Ngài có những thực hiện kỳ diệu một cách rất bình thường, một câu nói đơn giản, quyền lực vượt không gian và thời gian để mang lại kết quả mong muốn miễn là chúng ta tin.

Lạy Chúa, chúng con có đạo nhưng hổ thẹn: Có người chỉ một lần nghe, gặp Chúa và tin ngay. Họ thấy được tình yêu thương họ, nhận ra được những hành động vì tình yêu thương Chúa. Còn chúng con tuần nào cũng gặp gỡ Chúa, mà chúng con đến với Chúa như cái xác không hồn của chúng con. Nguyện xin Ðấng là đường, là sự thật và là sự sống củng cố niềm tin chúng con.

 

 


Sinh hoạt khác

Tin Giáo Hội

Mục Tổng Hợp

» Xem tất cả Video

Liên kết website

Bài viết được quan tâm