Danh mục bài viết

Cập nhật 5/1/2014 - 15:53 - Lượt xem 4120

Tĩnh tâm đầu năm Đại Chủng viện Thánh Tâm Mỹ Đức

Đại Chủng viện Thánh Tâm Mỹ Đức

 KINH NGHIỆM BƯỚC ĐI TRƯỚC CHÚA

CỦA THÁNH PHAO-LÔ

Cv 22,1.3-4

Anh em chủng sinh thân mến,

Chúng ta đã khởi đầu năm 2014 với Đại lễ Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa. Chúng ta đã dâng Đại Chủng Viện Thánh Tâm Mỹ Đức cho Mẹ trong Thánh Lễ đầu năm. Đây là ngày tĩnh tâm đầu tiên của Năm Mới. Xin Mẹ Ma-ri-a hướng dẫn chúng ta đến với Chúa Giê-su, để chúng ta bước đi vững trên con đường ơn gọi. Thiết tưởng anh em là những linh mục tương lai, là các nhà thừa sai, là các tông đồ, nên hôm nay chúng ta học hỏi kinh nghiệm BƯỚC ĐI TRƯỚC CHÚA của vị Tông đồ Dân ngoại (Rm 11,13), thánh Phao-lô.

Chúng ta lần lượt tìm hiểu xem thánh Phao-lô đã trải nghiệm BƯỚC ĐI TRƯỚC CHÚA qua ba giai đoạn cuộc đời của ngài như thế nào.

1.   Kinh nghiệm của một người Pha-ri-sêu

Trước hết, xuyên qua các thư của ngài, thánh Phao-lô đã tự giới thiệu nguồn gốc của mình. Trong 1Cr 11,22 thánh Phao-lô đã viết: “Họ là người Híp-ri ư ? Tôi cũng vậy ! Họ là người Ít-ra-en ư ? Tôi cũng vậy ? Họ là dòng giống Áp-ra-ham ư ? Tôi cũng vậy”. Trong thư Rm 11,1 ngài cũng xác nhận : “Chính tôi đây cũng là người Ít-ra-en, thuộc dòng dõi Áp-ra-ham, thuộc chi tộc Ben-gia-min”. Đặc biệt hơn trong thư Phi-lip-phê 3,5-6 : “Tôi chịu cắt bì ngày thứ tám, thuộc dòng dõi Ít-ra-en, họ Ben-gia-min, là người Híp-ri, con của người Híp-ri ; giữ luật thì đúng như một người Pha-ri-sêu, nhiệt thành đến mức ngược đãi Hội Thánh ; còn sống công chính theo lề luật, vượt xa nhiều đồng bào cùng lứa tuổi với tôi : hơn ai hết, tôi đã tỏ ra nhiệt thành với các truyền thống của cha ông”.

Tiếp đến, qua sách Công vụ Tông đồ, thánh Lu-ca cho chúng ta biết thêm về lý lịch của thánh Phao-lô : “Tôi đây là người Do-thái, quê ở Tác-xô miền Ki-li-a, công dân một thành không phải là không có tiếng tăm” (Cv 21,39) ; “Dưới chân Ga-ma-li-ên, tôi đã được giáo dục để giữ luật cha ông một cách nghiêm nhặt. Tôi cũng đã nhiệt thành phục vụ Thiên Chúa như tất cả các ông hiện nay” (Cv 22,3) ; “Tôi đã sống như thế nào từ hồi niên thiếu, ngay từ đầu giữa dân tộc tôi và tại Giê-ru-sa-lem, điều đó mọi người Do-thái đều rõ. Từ lâu họ đã biết, và nếu muốn, họ có thể làm chứng rằng tôi đã sống theo phái nghiêm nhặt nhất trong tôn giáo chúng tôi, tức là phái Pha-ri-sêu” (Cv 26,5).

Qua lời lẽ của ngài, dù do chính tay ngài viết, hay dưới ngòi bút của ông Lu-ca, chúng ta ghi nhận đức tính trung thực của vị Tông đồ Dân ngoại. Ngài khẳng định mình luôn BƯỚC ĐI TRƯỚC CHÚA, vì “sống công chính theo Lề Luật”, “nhiệt thành với các truyền thống của cha ông”. Hơn nữa, ngài “đã sống theo phái nghiêm nhặt nhất trong tôn giáo, tức là phái Pha-ri-sêu”. Chính vì thế, ngài nhiệt thành với Lề luật “đến mức độ ngược đãi Hội Thánh”. Ngài cho rằng những người đi theo Đức Giê-su là những kẻ chống lại Thiên Chúa. Trong con mắt của ngài, những người ấy đáng chết. Ngài đã tự thú : “Khi người ta đổ máu ông Tê-pha-nô, chứng nhân của  Chúa, thì chính con cũng có mặt, con tán thành và giữ áo cho những kẻ giết ông ấy” (Cv 22,29). “Trước kia tôi nghĩ rằng phải dùng mọi cách để chống lại danh Giê-su, người Na-da-rét. Đó là điều tôi đã làm tại Giê-ru-sa-lem. Được các thượng tế uỷ quyền, chính tôi đã bỏ tù nhiều người trong dân thánh ; và khi họ bị xử tử, tôi đã bỏ phiếu tán thành. Nhiều lần tôi đã rảo khắp các hội đường, dùng cực hình cưỡng bức họ phải nói lộng ngôn. Tôi đã giận dữ quá mức đến nỗi sang các thành nước ngoài mà bắt bớ họ” (Cv 26,9-11).

Thánh Phao-lô đã trải nghiệm BƯỚC ĐI TRƯỚC CHÚA trong Đạo Do-thái như thế. Đối với ngài, người ta chỉ được thờ phượng một Thiên Chúa duy nhất. Trong khi đó, các Ki-tô hữu lại tôn vinh Đức Giê-su Na-da-rét chịu đóng đinh vào thập giá là Đức Chúa (x. Pl 2,11), và kêu cầu Danh Đức Giê-su như Danh Thiên Chúa (x. Cv 2,21; 9,14.21; 22,1). Thánh Phao-lô đã cho rằng các tín hữu Chúa Ki-tô đã lộng ngôn phạm thượng. Vả lại, các Ki-tô hữu còn tin rằng Đức Giê-su đã chết thật và đã sống lại thật. Người đang sống. Niềm hy vọng Do-thái giáo về thân xác của con người chỉ được sống lại vào ngày tận thế khiến thánh Phao-lô không chấp nhận niềm tin của các Ki-tô hữu vào Đức Giê-su đã phục sinh  trước kỳ hạn. Ngài tiêu diệt các Ki-tô hữu để bảo vệ giáo lý tinh tuyền của Đạo Do-thái. Đó là điều phải đạo và chính đáng. Muốn BƯỚC ĐI TRƯỚC CHÚA, người ta phải trung thành giữ Lề Luật. Đàng này các Ki-tô hữu đã không sống đúng theo Lề Luật, lại còn tôn thờ một con người phàm tục, làm sao BƯỚC ĐI TRƯỚC CHÚA được.

Ông Sao-lô những tưởng rằng cứ bắt bớ, bỏ tù và đồng thuận xử tử các Ki-tô hữu : là sống đúng đường lối đức tin Do-thái giáo của mình. Ông đang BƯỚC ĐI TRƯỚC CHÚA đúng nghĩa. Thế nhưng ông đã ngã đang lúc trên đường bắt bớ các Ki-tô hữu, ở gần Đa-mát. Cú ngã này khiến ông thay đổi quan điểm BƯỚC ĐI TRƯỚC CHÚA mà ông luôn cho là đúng là phải.

2.      Kinh nghiệm của một người gặp gỡ Đức Giê-su

Bước ngoặt lớn nhất cuộc đời của thánh Phao-lô là kinh nghiệm huyền bí ngài có được trên đường đi Đa-mát. Đối với ngài, kinh nghiệm ấy vừa là một cuộc đổi đời vừa là một ơn gọi.

Sách Công vụ Tông đồ đã thuật lại cho chúng ta kinh nghiệm ấy qua ba trình thuật song song (Cv 9,3tt ; 22,6tt ; 26,12tt). Ông Sao-lô đã gặp Đức Giê-su. “Sa-un, Sa-un, tại sao ngươi bắt bớ Ta ? Thưa Ngài, Ngài là ai ? Ta là Giê-su mà ngươi đang bắt bớ”. Qua cuộc đối thoại này, ông Sao-lô đã khám phá ra Đức Giê-su đang hiện diện trong các môn đệ  (các tín hữu) của Người. Thế mà khi bắt bớ các Ki-tô hữu ông không nhận ra điều đó. Giờ đây ông hiểu rằng nơi các Ki-tô hữu ông gặp được chính Đức Giê-su. Sau này, ông đã nói lên chính kinh nghiệm gặp gỡ đó trong các thư của ông.

Kinh nghiệm ấy là kinh nghiệm về mặc khải Chúa Con mà Chúa Cha đã ban cho ông như thánh Phao-lô đã viết trong thư Ga-lát : “Thiên Chúa đã đoái thương mặc khải Con của Người cho tôi, để tôi loan báo Tin Mừng về Con của Người cho các Dân ngoại” (Gl 1,16). Trong mặc khải đó, ngài đã “thấy Đức Giê-su là Chúa” (1Cr 9,1 ; x.1Cr 15,8 : “Người đã hiện ra với tôi, là kẻ chẳng khác nào một đứa trẻ sinh non”) ; mặc khải về “Đức Chúa hiển vinh” (1Cr 2,8) bị đóng đinh vào thập giá không những đã xoay đổi ông Sao-lô từ một người Pha-ri-sêu thành một tông đồ, nhưng còn làm cho ông trở thành một nhà thần học. Sự khác biệt duy nhất giữa kinh nghiệm đó, mà Đức Ki-tô đã hiện ra cho ông (x. 1Cr 15,8), và kinh nghiệm của các chứng nhân chính thức về sự phục sinh (x. 1Cr 15,5-7) là thị kiến ông gặp xảy ra muộn hơn. Thị kiến này đưa ông đi cùng với Nhóm Mười Hai và các người khác nhìn thấy Chúa.

Thánh Phao-lô nói về thị kiến ấy như là một biến cố mà chính Đức Giê-su Ki-tô đã chiếm đoạt ngài (x. Pl 3,12). Và chính trong thị kiến ấy, một “nhu cầu” đã được trao cho ngài là rao giảng Tin Mừng cho các Dân Ngoại : “Người ấy là lợi khí Ta chọn để mang danh Ta đến trước mặt các Dân ngoại” (Cv 9,15 ; x. 1Cr 9,16 ; Gl 1,16). Ngài so sánh kinh nghiệm đó với cuộc tạo dựng ánh sáng do Thiên Chúa  : “Quả thật, xưa Thiên Chúa đã phán : Ánh sáng hãy bừng lên từ nơi tối tăm ! Người cũng làm cho ánh sáng chiếu soi lòng trí chúng tôi, để tỏ bày cho thiên hạ được biết vinh quang của Thiên Chúa rạng ngời trên gương mặt Đức Ki-tô” (2Cr 4,6). Sự thúc bách của ơn Chúa đòi buộc ngài phục vụ Đức Ki-tô. Ngài đáp ứng bằng một đức tin sống động, đức tin mà ngài đã tuyên xưng cùng với Hội Thánh sơ khai : “Đức Giê-su là Chúa” (1Cr 12,3 ; x. Rm 10,9 ; Pl 2,11). Trong hành động sáng tạo, kinh nghiệm ấy đã soi sáng tâm trí thánh Phao-lô và ban cho ngài một sự hiểu thấu điều mà người môn đệ sau này gọi là “mầu nhiệm Đức Ki-tô Giê-su” (Ep 3,4 ; Gl 1,12.16).

Mặc khải đó (Gl 1,12.16) đã gây ấn tượng nơi thánh Phao-lô.

-   Trước hết, Thiên Chúa Cha đã mặc khải Con của Người cho thánh Phao-lô cũng chính là cùng một Thiên Chúa ngài tôn thờ, khi ngài còn là một người Pha-ri-sêu. Người là Đấng sáng tạo, là Chúa tể lịch sử, là Thiên Chúa hằng cứu vớt dân Người là Ít-ra-en, và Người hằng chứng tỏ là Đức Chúa luôn trung thành của giao ước, mặc dầu Ít-ra-en bất trung. Có lẽ vì là một Pha-ri-sêu lo lắng giữ từng chi tiết Lề Luật, nên không bao giờ tỏ ra một sự hiểu biết sâu xa về giao ước đó, nên ngài thường xuyên nói đến Lề Luật. Tuy nhiên, kinh nghiệm gần Đa-mát không làm cho ngài xúc phạm đến Thiên Chúa duy nhất.

-   Tiếp đến, thị kiến đó đã dạy cho ngài giá trị cứu độ của cái chết và sự sống lại của Đức Giê-su, Đấng Mê-si-a của dân tộc mình : đó là hằng trông đợi Đấng Mê-si-a ngự đến. Nhưng thị kiến về Đấng Phục sinh đã dạy cho ngài biết rằng Đấng xức Dầu của Thiên Chúa đã đến, rằng “Đức Giê-su, Chúa chúng ta đã bị trao nộp vì tỗi lỗi chúng ta, và Người đã trỗi dậy vì sự công chính của chúng ta” (Rm 4,25). Với kinh nghiệm gần Đa-mát, chắc chắn thánh Phao-lô đã biết rằng Đức Giê-su Na-da-rét đã bị đóng đinh vào thập giá, “bị treo lên cây gỗ” và do đó “bị nguyền rủa” theo nghĩa của Đnl 21,23 (x. Gl 1,13 ; 3,13). Chắc chắn đây là một trong các lý do tại sao ông là một người Pha-ri-sêu lại không thể chấp nhận Đức Giê-su là Đấng Mê-si-a. Đức Giê-su là “hòn đá gây vấp ngã” (1Cr 1,23), một kẻ “bị nguyền rủa” bởi lề luật chính thống, mà ông Sao-lô rất nhiệt thành bảo về Lề Luật đó (Gl 3,13 ; x. 1,14).

Nhưng mặc khải đó đã gây ấn tượng cho ngài, nhấn mạnh đến cái chết của Đức Giê-su Na-da-rét có giá trị như một Đấng Mê-si-a, cứu độ và thay thế, mà trước đó ngài chưa hề nghĩ đến. Với lý luận, mà chỉ có người Pha-ri-sêu mới có thể hiểu, thánh Phao-lô nhìn thấy Đức Giê-su Ki-tô mang nơi mình lời nguyền rủa của Lề Luật và biến đổi lời nguyền rủa ấy thành một lời trái ngược, để Người trở nên phương thế làm cho nhân loại được thoát khỏi sự chúc dữ. Thập giá đối với người Do-thái là tảng đá gây vấp ngã, thì trong con mắt của thánh Phao-lô lại trở thành “quyền năng và khôn ngoan của Thiên chúa” (1Cr 1,24). Do vậy, ngài hiểu rằng “Đức Chúa hiển vinh” (1Cr 2,8) bị đóng đinh vào thập giá chính là Đấng Mê-si-a được tôn vinh.

-   Sau cùng, mặc khải ghi sâu nơi ông Sao-lô một cái nhìn về lịch sử cứu độ. Trước khi gặp gỡ Chúa, ông Sao-lô thấy lịch sử nhân loại được chia thành ba thời kỳ lớn : 1/ từ A-đam đến Mô-sê (thời kỳ chưa có Lề Luật) ; 2/ từ Mô-sê đến Đấng Mê-si-a (thời kỳ của Lề Luật) ; 3/ thời kỳ của Đấng Mê-si-a (thời kỳ Lề Luật được hoàn thiện hay thành tựu). Kinh nghiệm gần Đa-mát dạy cho ông biết rằng thời kỳ Đấng Mê-si-a đã khởi đầu, như vậy đưa một viễn tượng mới vào lịch sử cứu độ. Thời Cánh chung được khát khao trông đợi trước đây, nay đã được khởi đầu (x. 1Cr 10,11), mặc dầu một giai đoạn chung cuộc của thời cánh chung vẫn được thực hiện. Đấng Mê-si-a đã đến, nhưng vẫn chưa đến trong vinh quang. Thánh Phao-lô (cùng với tất cả các Kitô hữu) nhận ra rằng ông thấy mình đang ở trong một hoàn cảnh kép : một là ông nhìn nơi cái chết và sự sống lại của Đức Giê-su là khai mạc thời đại mới, hai là ông vẫn trông đợi cuộc quang lâm của Người trong vinh quang.

Như vậy, cái ngã gần Đa-mát đã thức tỉnh ông Sao-lô, chính chỉ thị của Đức Giê-su : “Ngươi hãy đứng dậy, vào thành, và người ta sẽ nói cho ngươi biết ngươi phải làm gì ?” (Cv 9,6) đã cho ông tiếp tục BƯỚC ĐI TRƯỚC CHÚA. Bước đi của ông lần này vững vàng hơn, vì ông đi trên con đường là chính Đức Giê-su (x. Ga 14,6). Có thể nói đó không phải là hai cách bước đi khác nhau ; nhưng chỉ là một cách bước qua hai giai đoạn. Với giai đoạn hai này, thánh Phao-lô trở thành người phục vụ Tin Mừng, như lời Đức Giê-su nói với ông Kha-na-ni-a : “Người ấy (tức Sao-lô) là lợi khí Ta chọn để mang danh Ta đến trước mặt các dân ngoại, các vua Chúa và con cái Ít-ra-en” (Cv 9,15).

3.     Kinh nghiệm của một nhà rao giảng Tin Mừng

Thánh Phao-lô có một kinh nghiệm là một tông đồ, là một thừa sai rao giảng Tin Mừng. Ngài đã khẳng định : “Đức Ki-tô đã không sai tôi đi làm phép rửa, nhưng sai tôi đi rao giảng Tin Mừng” (1Cr 1,17). Ngài ý thức được rằng mình được uỷ quyền rao giảng Tin Mừng của Con Thiên Chúa giữa các Dân ngoại (Gl 1,16). Ngài nhận mình là người phục vụ Tin Mừng (Pl 2,22), ý thức ân sủng đặc biệt được làm tông đồ, được dành riêng như các ngôn sứ thuở xưa (x Gr 1,5 ; Rm 1,1) ngay từ khi còn trong lòng mẹ để thi hành nhiệm vụ này (Gl 1,15 ; Rm 1,1), được giao phó Tin Mừng như là được một thứ phần thưởng (x. 1Tx 2,4 ; Gl 2,7). Ngài coi việc  rao giảng Tin Mừng là một sự “cần thiết bắt buộc”, nên ngài đã than thân : “Khốn cho tôi, nếu tôi không rao giảng Tin Mừng” (1Cr 9,16). Đối với ngài việc rao giảng Tin Mừng “là một hành vi tế tự phụng thờ dâng lên Thiên Chúa” (Rm 1,9 ; 15,16). Ngài không bao giờ xấu hổ vì Tin Mừng (Rm 1,16), ngay cả khi bị tù tội vì Tin Mừng, đối với ngài, là một “ân sủng” (Pl 1,7.16).

         Ngài rao giảng Tin Mừng cho người Do-thái và cho các Dân ngoại. Ngài biết người Do-thái không chấp nhận thông điệp của ngài, còn các Dân ngoại lại lưu ý tới ngài. Trong các thư của mình, ngài cho thấy sự hiểu biết về vị trí đặc biệt của người Do-thái, đồng bào của mình, trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa (x. 1Tx 2,13-14 ; Rm 1,16 ; 2,9-10). Ngài trình bày trong Rm 9 - 11 về vai trò của Ít-ra-en trong kế hoạch cứu độ mới của Chúa Cha nhờ ân sủng và nhờ lòng tin vào Đức Giê-su Ki-tô. Nhưng ngài đã được biết rõ rằng ngài được gọi là để rao giảng cho các Dân ngoại (Gl 1, 15-16). Ngài tự gọi mình là “Tông đồ Dân ngoại”. Ngài công nhận mình “mắc nợ người Hy-lạp cũng như người man-di” (Rm 1,4).

Dù rao giảng Tin Mừng cho người Do-thái hay người Hy-lạp, ngài luôn BƯỚC ĐI TRƯỚC CHÚA, trước những chống đối của người Do-thái (x. Cv 13,45 ; 17,5 ; 1Tx 2,14) hay của người Hy-lạp (x. Cv 16,22 ; 18,34).

Gông cùm tù đày không làm ngài nản chí. Xiềng xích trói buộc ngài, nhưng không trói buộc được lời Chúa mà ngài rao giảng (x. 2Tm 2,9).

Trước những thủ đoạn của một số người muốn chia rẽ thánh Phao-lô với các tín hữu, ngài đã biện hộ danh hiệu tông đồ của mình và cha tinh thần (x. 1Cr 4,15). Đọc hai chương 2Cr 10 - 11, chúng ta thấy thánh Phao-lô đã tạo nên cuộc bút chiến với những người tố cáo ngài không phải là tông đồ. Ngài bác bỏ những kẻ tố cáo ngài nhu nhược (x. 10,1-11), đầy tham vọng (x. 10,12-18) ; và ngài thấy bắt buộc phải tự khen mình, mà đôi khi không loại trừ tính châm biếm.

Người ta cảm kích vì ngài gợi lên sự cảm động qua các “danh nghĩa phục vụ của ngài” (x. 11,23tt). Nhất là sự kiện ngài gắn bó với Tin Mừng, khiến ngài bận tâm lo cho các Hội Thánh (x. 11,28), vì ngài sợ thấy các tín hữu đi trệch khỏi Tin Mừng, đặc biệt vì thiếu bác ái (x. 12,20).

Nhưng ngài không ngừng công bố niềm vui của mình trước sự tiến bộ của các môn đệ về mặt đức tin và đức mến (x. 1Tx 1,3tt ; 3,7-10 ; Rm 16,19 ; Gl 2,5).

Thánh Phao-lô giữ vững quan điểm của mình về rao giảng Tin Mừng. Đó là cách ngài chứng tỏ mình luôn BƯỚC ĐI TRƯỚC CHÚA. Chúng ta có thể tìm hiểu cái nhìn thần học về rao giảng qua ba đoạn thư : 1Tx 2,1-11 ; 2Cr 2,14-6,10 ; Rm 15,16.

Trước hết trong lá thư đầu tiên của mình, thánh Phao-lô đưa ra hai điểm then chốt này : sự tinh tuyền của lời rao giảng và lòng tận tuỵ của vị Tông đồ. 1/ Thánh Phao-lô nêu lên một số nhà rao giảng bị cám dỗ làm dịu đòi hỏi của Tin Mừng, để được người ta đón nhận mình. Ngài không chấp nhận mọi xu nịnh, mọi bất trung (x. 1Tx 2,3-7). Ngài không muốn rao giảng ý tưởng riêng của mình. Nếu đôi khi ngài nói đến “Tin Mừng của tôi” (2Rm 2,16), chẳng qua là để gợi lên mầu nhiệm Ki-tô giáo  mà ngài muốn nói mình là người mang mầu nhiệm ấy (x. Rm 16,25). 2/ Ngài nói đến lòng tận tuỵ của mình chẳng khác nào lòng tận tuỵ của người mẹ (x. 1Tx 2,7-8) của người cha (x. 1Tx 2,11). Đặc tính của giáo dục là sự âu yếm và tính kiên quyết. Thế nên thánh Phao-lô phải áp dụng hai đặc tính ấy vào cách xử sự của mình với các Ki-tô hữu.

Đoạn văn 2Cr 2,14 - 6,10 nói lên quan điểm tông đồ của thánh Phao-lô. Sau các hình ảnh về hương thơm (2,14-17), về lá thư (3,1-3 ; x Gr 31, 31-38 ; Ed 36,26), so sánh giao ước cũ và giao ước mới (3,14-18), Thánh Phao-lô trình bày về hai điểm : a/ vững dạ của mình (4,1 – 5,10), b/ lòng nhiệt thành đối với các tín hữu (5,1 - 6,10) để chứng tỏ mình luôn BƯỚC ĐI TRƯỚC CHÚA trong sứ vụ.

·       Vững dạ:

Thánh Phao-lô viết : “Chúng tôi vững dạ an lòng” (3,12) ; “Chúng tôi không sờn lòng nản chí” (4,1.16) ; “chúng tôi luôn mạnh dạn” (5,6). Mạnh dạn là động lực tông đồ của ngài, để vượt lên trên các khó khăn của sứ vụ (4,1-15) và còn cả sự chết (4,16 - 5,10). Đâu là những khó khăn của sứ vụ ?

Thánh Phao-lô cho biết : khó khăn thứ nhất là một số người từ chối trước lời rao giảng. Tại sao Tin Mừng ánh sáng không chiếu toả hết mọi tâm hồn ? Lý do chính là đóng kín tâm hồn. Tin Mừng, tự bản chất, là chiếu sáng. Tin Mừng làm cho người ta thấy được Thiên Chúa vô hình, vì Tin Mừng phản ánh Đức Ki-tô, mà chính Người là hình ảnh  Thiên Chúa vô hình (x. Cl 1,15). Đến lượt mình, các tín hữu phải phản ánh Tin Mừng.

Khó khăn thứ hai là sự yếu đuối của con người, yếu đuối ấy xâm chiếm chính vị tông đồ.

Thánh Tông đồ mang kho tàng Tin Mừng trong bình sành, nghĩa là bản tính nhân loại của ngài, rất dễ bị thương tổn thể lý cũng như tâm lý (X. 2Cr 12,7-10 ; 10,10 ; Gl 4,14). Ngài cảm thấy sâu sắc sự đối nghịch giữa cái chết thể lý và sự sống đến từ Thiên Chúa.

Hình ảnh chiếc áo và ngôi nhà chen lẫn nhau, để diễn tả hai giai đoạn của đời sống : dưới đất và trên trời. Nếu có sự biến đổi từ cái nọ sang cái kia, thì cũng có sự liên tục. Thánh Phao-lô hợp nhất nơi mình lòng ước muốn được liên kết với Đức Ki-tô và ước muốn làm đẹp lòng Thiên Chúa cũng như cuộc sống ở trần gian kéo dài. Đó là tính hiện thực của đức tin (x. 5,6tt).

·       Lòng nhiệt thành của thánh Tông đồ đối với các tín hữu (5,11 - 6,10).

Tại sao rao giảng ? Để dẫn đưa nhân loại được hưởng mầu nhiệm vượt qua. Và khi ấy đề tài hoà giải xuất hiện, “Thiên Chúa đã nhờ Đức Ki-tô mà cho chúng ta được hoà giải với Người, và trao cho chúng tôi chức vụ hoà giải” (2Cr 5,18). Vấn đề ở đây là sứ vụ rao giảng nhằm dẫn đưa người ta đến với Thiên Chúa nhờ tin vào Đức Ki-tô. Thánh Phao-lô nói đến cần thiết của hoà giải (x. 2Cr 5,20) là vâng phục lời rao giảng.

Tất cả những khó khăn ấy đều nhắm đến tiêu diệt Thánh Phao-lô. Nhưng ngài là người chiến thắng bằng sức mạnh của Thiên Chúa : “Coi như không có gì, nhưng kỳ thực chúng tôi có tất cả” (2Cr 6,10). Quả thật, thánh Phao-lô đã trải nghiệm nỗi khó khăn của đời tông đồ để chứng thực ngài BƯỚC ĐI TRƯỚC CHÚA thật vững chắc.

Sau cùng Rm 15,16 nằm trong lời kết của thư Rô-ma, thánh Phao-lô đã định nghĩa ân sủng của sứ vụ là “làm người phục vụ Đức Giê-su Ki-tô giữa các dân ngoại, lo việc tế tự là rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa, để các dân ngoại được Thánh Thần thánh hoá mà trở nên một lễ phẩm đẹp lòng Thiên Chúa”.

Chúng ta thấy ở đây các từ vựng về hy tế (phục vụ, tế tự, lễ phẩm) được áp dụng cho việc rao giảng Tin Mừng. Từ “tế tự” có ngữ căn của từ héreus, tư tế được dùng trong Cựu Ước và trong thư Híp-ri cho Đức Giê-su. Tư tế là người biết ĐỨNG TRƯỚC NHAN CHÚA. Việc rao giảng Tin Mừng cũng đòi hỏi người rao giảng phải BƯỚC ĐI TRƯỚC CHÚA, nên rao giảng Tin Mừng trở nên phụng tự mới của các Ki-tô hữu.

Chúng ta vừa trình bày kinh nghiệm BƯỚC ĐI TRƯỚC CHÚA của thánh Phao-lô từ một người Pha-ri-sêu  đến một Ki-tô hữu và trở thành người rao giảng Tin Mừng. Quả thật thánh Phao-lô đã nên mẫu gương cho chúng ta ngày nay.

Anh em thân mến,

Có lẽ nhiều người trong chúng ta thuộc lòng hai câu sau đây của thánh Phao-lô : “Đối với tôi, sống là Đức Ki-tô” (Pl 1,21) ; “Tôi sống, nhưng không phải tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi” (Gl 2,20). Đối với thánh Phao-lô, đời sống tâm linh là sự sống trong Đức Ki-tô, trong Thần Khí, sự sống ấy làm cho con người đi vào tận đời sống Ba Ngôi Thiên Chúa.

Hình tượng Phao-lô, tông đồ Dân ngoại, vẫn còn rất hiện thực với chúng ta ngày nay, nhất là các linh mục và linh mục tương lai.

Tin Mừng thánh Phao-lô rao giảng gắn liền với con người Đức Giê-su, Đấng Cứu Độ duy nhất. Chính Đức Giê-su đã khởi động một tình yêu vô vị lợi của bản thân Người và một ước muốn vô biên là làm cho ngài nhận biết và yêu mến Người qua cái ngã ở gần Đa-mát. Chính Đức Giê-su đã mặc khải cho thánh Phao-lô biết Người. Và từ đó thánh nhân luôn mang Đức Giê-su nơi chính mình, khi ngài nói ngài “bắt chước Đức Ki-tô” và theo danh nghĩa này ngài đòi hỏi các tín hữu bắt chước ngài (x. 1Cr 11,1).

Thánh Phao-lô không có chút mặc cảm tự ti nào, nghĩa là không có chút sợ hãi nào, trái lại ngài có lòng tự hào lớn lao trước ơn gọi và sứ vụ của mình. Đề tài tự hào thường gặp trong : 1Cr 9,15 ; 2Cr 1,12 ; 11,10 ; Rm 15,17 ; 1Tx 2,19, không làm tổn thương tính khiêm nhượng. Vì vậy người ta có thể nói về “lòng tự hào khiêm tốn của thánh tông đồ”.

Thánh Phao-lô đã thống nhất cuộc đời của mình trong con người Đức Giê-su. Đức Giê-su được khám phá trong đức tin, được yêu mến và theo đuổi vô điều kiện, được rao giảng với lòng nhiệt thành, được đợi chờ trong vinh quang. Đó là cách BƯỚC ĐI TRƯỚC CHÚA của thánh Phao-lô.

Năm 2014 đã đến với chúng ta. Tương lai đang mở ra từng ngày, nhưng chúng ta không biết được những chứa đựng trong tương lai đó, vì tương lai thuộc về Chúa.

Vậy thưa anh em, theo gương thánh Phao-lô, anh em ký thác cuộc đời mình cho Đức Ki-tô. Tuy  nhiên, thánh Phao-lô cũng có những dự tính riêng của mình, để nhờ ơn Chúa, ngài có thể thực hiện được, như ước vọng của ngài muốn đến Rô-ma và Tây Ban Nha (x. Rm 15,23-24) để loan báo Tin Mừng . Chúa đã cho ngài thực hiện ước vọng ấy.

Anh em hãy phó thác trong tay Mẹ Ma-ri-a những ước vọng của mình.

Dù bất cứ dự tính nào của anh em, nếu không có Thầy Giê-su chỉ dẫn, không có Chúa Thánh Thần dạy bảo, thì cũng vô ích, vì như lời Chúa Giê-su nói : “Không có Thầy, anh em không làm được gì”(Ga 15,5). Chúng ta mạnh dạn tiến về phía trước, BƯỚC ĐI TRƯỚC CHÚA , vì Chúa Giê-su đã quả quyết : “Thầy đã thắng thế gian” (Ga 16,33).

                                                                     Bài chia sẻ tĩnh tâm tháng 1/2014

 


Bài viết mới

Sinh hoạt khác

Tin Giáo Hội

Mục Tổng Hợp

» Xem tất cả Video

Liên kết website

Bài viết được quan tâm