Danh mục bài viết

Cập nhật 20/8/2019 - 4:45 - Lượt xem 1901

Thứ Tư tuần 20 Thường Niên

"Hay mắt bạn ganh tị, vì tôi nhân lành chăng".

 

Tin Mừng: Mt 20, 1-16a

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ dụ ngôn này rằng: "Nước Trời giống như chủ nhà kia sáng sớm ra thuê người làm vườn nho mình. Khi đã thoả thuận với những người làm thuê về tiền công nhật là một đồng, ông sai họ đến vườn của ông.

"Khoảng giờ thứ ba, ông trở ra, thấy có những người khác đứng không ngoài chợ, ông bảo họ rằng: "Các ngươi cũng hãy đi làm vườn nho ta, ta sẽ trả công cho các ngươi xứng đáng". Họ liền đi. Khoảng giờ thứ sáu và thứ chín, ông cũng trở ra và làm như vậy.

"Ðến khoảng giờ thứ mười một ông lại trở ra, và thấy có kẻ đứng đó, thì bảo họ rằng: "Sao các ngươi đứng nhưng không ở đây suốt ngày như thế?" Họ thưa rằng: "Vì không có ai thuê chúng tôi". Ông bảo họ rằng: "Các ngươi cũng hãy đi làm vườn nho ta".

"Ðến chiều chủ vườn nho bảo người quản lý rằng: "Hãy gọi những kẻ làm thuê mà trả tiền công cho họ, từ người đến sau hết tới người đến trước hết". Vậy những người làm từ giờ thứ mười một đến, lãnh mỗi người một đồng. Tới phiên những người đến làm trước, họ tưởng sẽ lãnh được nhiều hơn; nhưng họ cũng chỉ lãnh mỗi người một đồng. Ðang khi lãnh tiền, họ lẩm bẩm trách chủ nhà rằng: "Những người đến sau hết chỉ làm có một giờ, chúng tôi chịu nắng nôi khó nhọc suốt ngày mà ông kể họ bằng chúng tôi sao?" Chủ nhà trả lời với một kẻ trong nhóm họ rằng: "Này bạn, tôi không làm thiệt hại bạn đâu, chớ thì bạn đã không thoả thuận với tôi một đồng sao? Bạn hãy lấy phần bạn mà đi về, tôi muốn trả cho người đến sau hết bằng bạn, nào tôi chẳng được phép làm như ý tôi muốn sao? Hay mắt bạn ganh tị, vì tôi nhân lành chăng?"

"Như thế, kẻ sau hết sẽ nên trước hết, và kẻ trước hết sẽ nên sau hết".

  

Suy niệm 1: Vì tôi tốt bụng _ Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu, SJ.

Sau khi anh thanh niên giàu có từ chối lời mời của Đức Giêsu 
ông Phêrô đã đại diện anh em hỏi Thầy: 
“Chúng con đã bỏ mọi sự và theo Thầy. Vậy chúng con sẽ được gì?” 
Thầy Giêsu đã đáp lại bằng một câu trả lời khá dài. 
Họ sẽ được xét xử các chi tộc Israel, được gấp trăm về mọi sự, 
và nhất là được hưởng sự sống đời đời (Mt 19, 27-30). 
Như thế ở đây Nước Trời được coi như một phần thưởng, 
một sự trả công Chúa dành cho những ai dám từ bỏ hy sinh. 
Các môn đệ cho đi, và rồi họ sẽ được lại. 
Bài Tin Mừng hôm nay nằm ngay sau câu chuyện trên. 
Dưới một góc độ nào đó thì cả hai có nội dung rất khác nhau, 
nhưng bổ túc cho nhau, để ta có một cái nhìn quân bình về Thiên Chúa. 
Thiên Chúa không phải chỉ là Đấng công bằng, 
thưởng công cho những gì chúng ta đã vất vả cố gắng. 
Người còn là Đấng quảng đại, tốt lành và giàu lòng xót thương. 
Dụ ngôn về “người thợ giờ thứ mười một” cho thấy điều đó. 
Thật ra phải gọi dụ ngôn này là dụ ngôn về “Ông chủ độ lượng”. 
Trong thế giới thời Đức Giêsu, người ta mướn thợ buổi sáng 
và trả công cho thợ buổi chiều theo lề luật (Lv 19,13; Đnl 24, 14-15). 
Lương công nhật là một quan tiền (denarius), 
tiền này tạm đủ để nuôi gia đình ở mức căn bản. 
Dụ ngôn hôm nay có nhiều nét khác thường mà không có lời giải thích. 
Ông chủ vườn nho tự mình ra chợ mướn người, thay vì viên quản lý. 
Những người thợ đứng suốt ngày ngoài chợ (c.6) 
lại không được ông chủ thấy và mướn từ đầu, dù ông ra chợ nhiều lần. 
Chỉ nhóm thợ đầu tiên mới được thuê với tiền công rõ ràng, 
còn ba nhóm sau chỉ được hứa sẽ trả “hợp lẽ công bằng” (c.4). 
Cuối cùng ba nhóm giữa bị bỏ rơi, để chỉ tập trung vào nhóm đầu và cuối. 
Dụ ngôn này trở nên hết sức khác thường 
với việc ông chủ ra lệnh trả công cho người làm cuối trước. 
Những người thợ giờ thứ mười một (5 giờ chiều) 
cả ngày làm có một tiếng, được trả một quan tiền. 
Điều này hẳn tạo ra niềm hy vọng cho những ai đã làm từ sáng sớm, 
“đã làm việc nặng nhọc cả ngày, lại bị nắng nôi thiêu đốt” (c.12). 
Nhưng rốt cuộc những người thợ đầu tiên cũng chỉ được một quan tiền. 
Chúng ta cần phải đứng trong hoàn cảnh của họ 
để xem họ sẽ sửng sốt, thất vọng, buồn bực, tức giận và cằn nhằn ra sao. 
Có lẽ chúng ta cũng phản ứng tương tự khi gặp chuyện như vậy. 
Phản ứng này cũng là phản ứng giận dữ của người anh cả 
khi biết cha mình đã tiếp đón linh đình sự trở về của đứa con hư hỏng. 
Đối với những người thợ, đây rõ ràng là một sự bất công. 
Bất công nằm ở chỗ làm nhiều, làm ít, nhận lương như nhau. 
Nhưng ông chủ không cho đây là một sự bất công, 
vì ông đã trả cho nhóm thợ làm sớm nhất đúng như đã thỏa thuận. 
Những câu cuối của dụ ngôn là những câu đẹp nhất, 
những câu nói lên bản chất sâu xa của tấm lòng Thiên Chúa. 
“Tôi muốn cho người làm cuối này như tôi cho anh” (c. 14). 
Tôi muốn cho họ nhiều như tôi đã cho anh, tôi muốn họ bằng anh: 
đó là ước muốn, là chọn lựa của Thiên Chúa. 
Tình thương của Người phá vỡ sự phân biệt người đầu, người cuối, 
người làm nhiều, làm ít, công nhiều, công ít. 
“Chẳng lẽ tôi không được phép làm điều tôi muốn 
với tài sản của tôi sao?” (c. 15). 
Thiên Chúa giàu sang nên có quyền rộng rãi thi ân cho kẻ Người muốn. 
Chẳng ai có thể bắt Người phải đối xử công bình theo kiểu con người. 
Chẳng ai có quyền hạch hỏi Người vì Người quá sức độ lượng (c.12). 
“Hay mắt của anh xấu xa vì tôi tốt lành” (c. 15). 
Con mắt xấu xa là con mắt khó chịu vì kẻ khác bằng mình, dù không đáng, 
ghen tỵ với may mắn và hạnh phúc bất ngờ của người khác. 
Đức Giêsu khẳng định mình là người tốt lành, 
đặc biệt trong cách cư xử của Người đối với những tội nhân. 
Anh trộm lành trên thập giá cũng là người thợ giờ thứ mười một. 
Anh được hưởng những gì mà người khác phải nỗ lực cả đời. 
Nói cho cùng, vấn đề không phải là đáng hay không đáng. 
Chẳng ai xứng đáng để vào thiên đàng, kể cả các thánh. 
Hạnh phúc Nước Trời là một ơn ban 
hơn là một sự trả công hay phần thưởng. 
Thiên Chúa vượt lên trên sự sòng phẳng có tính mua bán của con người. 
Người không phải là nhà buôn, nhưng là người cha tốt lành. 
Cha thương cả hai con, cả đứa ở nhà phục vụ lẫn đứa bỏ đi bụi đời. 
Thậm chí đứa hư hỏng hay tật nguyền lại được quan tâm hơn. 
Ông chủ vườn nho thương cả những người 
đứng ngoài chợ suốt ngày mà không được ai mướn. 
Có thể vì họ kém khả năng, kém may mắn hơn những người khác chăng? 
Người thợ giờ thứ mười một đã làm được gì cho vườn nho của ông chủ? 
Chắc chẳng được bao nhiêu. 
Nhưng anh ấy đã đứng chờ suốt ngày. 
Thế giới này lúc nào cũng có những người thợ giờ thứ mười một, 
“những người không được ai mướn” (c.7), 
những người cứ đứng chờ vậy thôi, suốt ngày, suốt đời, 
những người được nhận trễ, chẳng biết mình sẽ được trả lương ra sao. 
chỉ biết phó thác cho lòng tốt của ông chủ. 
Những người này khác với những người làm từ sáng, 
biết chắc mình sẽ được trả công một quan tiền. 
Dụ ngôn không nói đến việc người làm cuối reo lên vì được trả công hậu hĩ. 
Nhưng chắc là đã có những tiếng reo. 
Thiên đàng đầy ắp những tiếng reo như thế, 
kinh ngạc, ngỡ ngàng, thán phục, tri ân… 
Chẳng có ai vào thiên đàng mà lại không reo lên 
vì thấy những gì gọi là công đức của mình chỉ là chuyện nhỏ, 
quá nhỏ để có thể mua được một vé vào thiên đàng. 
Người ta cũng sẽ reo lên vì thấy sự có mặt của những người 
mà ta tưởng chẳng bao giờ có thể lên thiên đàng được. 
Thiên Chúa không chỉ thấy thời gian làm việc trong vườn nho. 
Người còn thấy cả thời gian chờ. 
Nhiều khi chờ còn mệt hơn làm việc. 
Đừng cằn nhằn! hãy vui với niềm vui của Thiên Chúa, 
Đấng hạnh phúc khi thấy người ta ngỡ ngàng vì những ơn bất ngờ, 
vì lòng tốt của Ngài không sao hiểu được. 
Hãy vui với những người được Chúa yêu, bất chấp quá khứ của họ. 
Chúng ta không có quyền buồn như người con cả, khi cha đang vui. 
Hãy đổi cái nhìn của mình về Thiên Chúa. 
Như thế chúng ta cũng sẽ thay đổi cách cư xử với anh em. 

Lạy Chúa Giêsu, 
xin cho con trở nên đơn sơ bé nhỏ, 
nhờ đó con dễ nghe được tiếng Chúa nói, 
dễ thấy Chúa hiện diện 
và hoạt động trong đời con. 
Sống giữa một thế giới đầy lọc lừa và đe dọa, 
xin cho con đừng trở nên cứng cỏi, 
khép kín và nghi ngờ. 
Xin dạy con sự hiền hậu 
để con biết cảm thông và bao dung với tha nhân. 
Xin dạy con sự khiêm nhu 
để con dám buông đời con cho Chúa. 
Cuối cùng, xin cho con sự bình an sâu thẳm, 
vui tươi đi trên con đường hẹp với Ngài, 
hạnh phúc vì được cùng Ngài chịu khổ đau. Amen. 

 

Suy Niệm 2: Lòng quảng đại của Thiên Chúa

Dụ ngôn Chúa Giêsu dùng để trình bày giáo lý của Ngài cho dân chúng được các nhà chú giải xếp thành hai loại: tỷ dụ và dụ ngôn. Loại tỷ dụ là thể văn mà toàn bộ những chi tiết đều mang ý nghĩa nòng cốt, còn các chi tiết phụ chỉ làm cho câu truyện thêm thú vị và khiến người đọc quan tâm chú ý đến ý chính mà thôi.

Câu truyện về những người thợ vào làm vườn nho của chủ là một dụ ngôn. Chủ đề chính của dụ ngôn là mối liên hệ của con người với Thiên Chúa trên bình diện ân sủng.

Trong lúc các Rabbi Do thái thường tính toán phần thưởng Thiên Chúa ban cho mọi việc lành, thì cách tính toán sòng phẳng theo công bình giao hoán này hoàn toàn bị dụ ngôn làm đảo lộn, vì nếu chúng ta tính với Chúa, Ngài sẽ tính với chúng ta, và chắc chắn số tội của chúng ta sẽ nhiều hơn công phúc và chúng ta sẽ là kẻ thiệt thòi.

Chúa Giêsu đã dùng dụ ngôn để cảnh cáo người Do thái không nên so đo, phân bì với người tội lỗi hay người ngoại giáo được ơn Chúa trở lại và thừa hưởng Nước Trời, bởi vì Nước Trời là phần thưởng nhưng không do lòng quảng đại của Chúa, chứ không do lòng đạo đức hay công nghiệp của con người. Câu trả lời của Chúa Giêsu cho những kẻ phàn nàn kêu trách nêu bật lòng quảng đại của Thiên Chúa: "Này bạn, tôi đâu có xử bất công với bạn. Bạn đã chẳng thỏa thuận với tôi một quan sao; cầm lấy phần của bạn mà đi đi. Còn tôi, tôi muốn cho người vào làm sau chót này cũng được bằng bạn, tôi không có quyền được tùy ý sử dụng của cải tôi sao?". Thiên Chúa đối xử tốt với mọi người, Ngài ban ơn cho mọi người chỉ vì lòng thương của Ngài mà thôi. Còn con người thì dễ bị cám dỗ, ghen tỵ, hẹp hòi, muốn giới hạn hành động yêu thương của Thiên Chúa.

Chúng ta hãy xét xem mình đã có thái độ nào đối với người khác, nhất là khi thấy họ được sự lành? Xin Chúa giải thoát chúng ta khỏi tính ghen tỵ và cho chúng ta sống quảng đại với mọi người.

 


Sinh hoạt khác

Tin Giáo Hội

Mục Tổng Hợp

» Xem tất cả Video

Liên kết website

Bài viết được quan tâm