Danh mục bài viết

Cập nhật 18/7/2013 - 16:19 - Lượt xem 2196

Bài 14 - Lịch sử Việt Nam

Lịch sử Việt Nam

 

Đất nước Việt Nam hiện nay có hình dáng long chữ S, thuộc khu vực Đông Nam Á trong vùng khí hậu nhiệt đới. Lãnh thổ dài và hẹp mở rộng về phía Tây. Vùng hẹp nhất là tỉnh quảng Bình khoảng 50 km. Vùng rộng nhất là bình nguyên Bắc bộ tính từ ngã ba biên giới Việt-Lào-Trung đến Móng Cái rộng trên 300 km.

Phía Bắc có các đồng bằng rộng lớn nằm dọc theo lưu vực sông Hồng, sông Lô và sông Chảy. Phía Nam có đồng bằng sông Cửu Long tạo nên vựa lúa lớn nhất cho cả nước. Miền Trung có dãy núi Trường Sơn về hướng Tây chạy đọc theo bờ biển. Với các con sông ngắn tạo nên đồng bằng nhỏ hẹp ở phía Đông. Phía Tây Nam là các cao nguyên rộng lớn trù phú hợp với các cây công nghiệp: cao su, trà, cà phê, ca cao,..

Tự hào là dân tộc Bách Việt: đất nước thân yêu này là chốn nương thân của nhiều dân tộc với các nền văn hóa khác nhau trong suốt dòng lịch sử.

Từ những người Việt cổ ở Bắc Bộ với nền văn hóa Sơn Vi cách đây khoảng 23 ngàn năm TCN, văn hóa Hòa Bình–Bắc Sơn 10 ngàn năm TCN, văn hóa Đông Sơn 2700 năm TCN. Trong khi nhiều dân tộc ở Nam Trung Bộ: từ Thừa Thiên đến lưu vực sông Đồng Nai thuộc nền văn hóa Sa Huỳnh, tổ tiên là người Chăm. Nền văn hóa Óc Eo ở miền cực Nam với vương quốc Phù Nam ở các tỉnh Kiên Giang, Long An, Đồng Tháp và nền văn hóa Khơ Me ở đồng bằng sông Cửu Long. Tất cả các dân tộc ấy tạo thành cộng đồng người Việt hiện nay với 54 dân tộc khác nhau, trong đó người Kinh chiếm gần 85% tổng dân số cả nước.

Trong quá trình xây dựng đất nước, những dân tộc ấy đã đổ bao công sức, mồ hôi, nước mắt để khai hoang, phục hóa, phá rừng làm rẫy, đắp đê chống lũ ngăn mặn, lấn biển,…Các dân tộc đều nhân danh giang sơn, gấm vóc để đấu tranh chống kẻ thù xâm lược hay mở rộng biên cương. Cuối cùng đất nước, núi sông vẫn còn đó, không dành cho riêng ai mà của mọi người.

I. KỶ NGUYÊN ĐẦU

a) Khung niên đại

Các bộ chính sử trước đây đều lấy năm 111 trước CN (năm nhà Tây Hán lật đổ Nam Việt rồi thay Nam Việt mà thống trị nước ta) làm năm mở đầu. Khoa học lịch sử hiện đại đã bác bỏ niên đại này. Và thay vào đó là năm 179 trước CN, năm Triệu Đà (vua Nam Việt) đã đánh bại An Dương Vương, thiết lập nền đô hộ đối với nước ta.

Các bộ chính sử cũ cũng lấy năm 938 (năm Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán xâm lược) hoặc năm 968 (năm Đinh Bộ Lĩnh dẹp xong loạn 12 sứ quân và lên ngôi hoàng đế, xưng là Đinh Tiên Hoàng) làm năm kết thúc thời Bắc thuộc. Khoa học lịch sử chọn năm 905 (năm Khúc Thừa Dụ đã khôn khéo thiết lập nền độc lập và tự chủ) vì cho rằng kể từ đây, nền đô hộ của các triều đại phong kiến Trung Quốc đối với nước ta đã chấm dứt.

b) Các triều đại phong kiến Trung Quốc đã nối nhau thống trị nước ta trong thời Bắc thuộc (từ 179 trước CN đến 905 sau CN).

Lưu ý: niên đại trong bảng kê dưới đây chỉ là niên đại tính trên danh nghĩa. Về thực chất, niên đại cụ thể có phẩn khác hơn, nhưng sử vẫn chép theo danh nghĩa.

Những năm sau công nguyên, chúng tôi không ghi thêm ba chữ sau công nguyên vì sợ dài dòng, còn tất cả những năm trước công nguyên đều viết tắt là TCN.

NAM VIỆT (Họ Triệu): Thành lập năm 206 TCN. Đô hộ nước ta từ năm 179 TCN. đến năm 111 TCN. Tổng cộng: 68 năm.

TIỀN HÁN (Hay Tây Hán–họ Lưu): Thành lập năm 206 TCN. Lật đổ Nam Việt rồi thay Nam Việt để đô hộ nước ta từ năm 111 TCN đến năm 08. Tổng cộng: 119 năm.

NHÀ TÂN (Vương Măng): Lật đổ và thay Tiền Hán đô hộ nước ta từ năm 08 đến năm 25. Tổng cộng: 17 năm.

HẬU HÁN (hay Đông Hán – họ Lưu): Dẹp nhà Tân rồi thay Tân đô hộ nước ta. Đô hộ nước ta từ năm 25 đến năm 220.

NHÀ NGÔ (họ Ngô): Là một trong ba nước của thời hỗn chiến Tam Quốc (Ngô – Thục và Ngụy). Đô hộ nước ta từ năm 220 đến năm 280.

NHÀ TẤN (họ Tư Mã): Thống nhất Trung Quốc, thay nhà Ngô đô hộ nước ta. Khởi đầu năm 280 đến năm 420.

NAM TRIỀU (Tống, Tề, Lương, Trần): Đây là thời loạn lạc của Trung Quốc, gọi là thời Nam – Bắc triều. Nam triều với nhiều triều đại khác nhau đã trực tiếp đô hộ nước ta. Khởi đầu năm 420. Chấm dứt ách đô hộ năm 542. Tổng cộng 122 năm. (Nam triều còn tồn tại cho đến năm 581 nhưng từ năm 542 ta giành được độc lập nhờ thắng lợi của cuộc khởi nghĩa do Lý Bí lãnh đạo).

NHÀ TÙY (họ Dương): Thành lập năm 581. Xâm lược và đô hộ nước ta từ năm 602. đến năm 618.

NHÀ ĐƯỜNG (họ Lý): Thay nhà Tùy mà đô hộ nước ta từ năm 618. Chấm dứt ách đô hộ năm 905. Nhà Đường còn tồn tại đến năm 907 nhưng hai năm sau cùng, chúng không còn đủ sức để đô hộ nước ta. Vả chăng, năm 905, họ Khúc đã khôn khéo thiết lập được chính quyền độc lập và tự chủ. Tổng cộng 287 năm.

c) Tính chất của thời Bắc thuộc

Dòng nổi bật thứ nhất của lịch sử thời Bắc thuộc là dòng đô hộ của các triều đại phong kiến Trung Quốc. Đây là thời kỳ lịch sử đen tối nhất của lịch sử nước nhà trong thiên niên kỷ thứ nhất sau công nguyên. Quân đô hộ đã quyết tâm xóa bỏ cho bằng được nền độc lập và tự chủ của ta, vơ vét và bóc lột nhân dân ta một cách rất thậm tệ. Đây cũng là thời mà những âm mưu đồng hóa nguy hiểm được thực hiện rất ráo riết.

Dòng nổi bật thứ hai của lịch sử thời Bắc thuộc là dòng đấu tranh liên tục và ngoan cường của dân ta. Hàng loạt những cuộc khởi nghĩa đã bùng nổ, tấn công không khoan nhượng vào toàn bộ cơ đồ thống trị của các triều đại phong kiến Trung Quốc đô hộ. Điểm lại, ta thấy nổi lên những cuộc khởi nghĩa tiêu biểu sau đây:

Khởi nghĩa Hai Bà Trưng, nổ ra năm 40, chống lại ách đô hộ của nhà Đông Hán (tức Hậu Hán). Hai Bà đã giành được chính quyền trong ba năm (40 – 43). Sử gọi đó là thời Trưng Nữ Vương.

Khởi nghĩa Lý Bí (tức Lý Bôn) nổ ra năm 542, chống lại ách đô hộ của nhà Lương (một trong những triều đại của Nam Triều). Đầu năm 544, Lý Bí lên ngôi hoàng đế, xưng là Lý Nam Đế, đặt quốc hiệu là Vạn Xuân, đặt niên hiệu là Thiên Đức (cũng có sách chép là Đại Đức). Trên danh nghĩa, nước Xuân Vạn tồn tại đến năm 602.

Khởi nghĩa Lý Tự Tiên và Đinh Kiến, nổ ra năm 687 chống lại ách đô hộ của nhà Đường.

Khởi nghĩa năm 722, chống lại ách đô hộ của nhà Đường. Mai Thúc Loan lên ngôi hoàng đế, xưng là Mai Hắc Đế.

Khởi nghĩa Phùng Hưng (? – 791), chống lại ách đô hộ của nhà Đường. Phùng Hưng đã giành được chính quyền trong một thời gian khá dài. Năm 789 ông qua đời, con ông là Phùng An đã tôn cha là Bố Cái Đại vương.

Khởi nghĩa Dương Thanh, nổ ra năm 819 kéo dài đến năm 820, chống lại ách đô hộ của nhà Đường.

Lịch sử thời Bắc thuộc tuy có hai dòng hoàn toàn khác nhau, nhưng điều đáng nói nhất là ở chỗ, cuối cùng dòng đấu tranh ngoan cường của nhân dân ta đã giành được toàn thắng.

II. KỶ NGUYÊN ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ

    VÀ GIÀNH THỐNG NHẤT  (905 – 1527)

Kỷ nguyên này gồm năm chặng nối tiếp nhau, tuy cũng có lúc đất nước ta phải chịu những thử thách rất cam go, nhưng xu hướng chung vẫn là phát triển một cách toàn diện và mạnh mẽ. Năm chặng này cụ thể như sau:

a) Xây dựng và khẳng định kỷ nguyên độc lập, tự chủ và thống nhất (từ năm 905 đến năm 1009)

Đây là chặng có khá nhiều dòng họ nối nhau trị vì đất nước.

Họ Khúc (905 – 930)

Tuy chưa đặt quốc hiệu và niên hiệu, tuy chưa xưng Đế hay xưng Vương, thậm chí còn tự coi mình là quan lại của Trung Quốc, nhưng thực sự họ Khúc thực sự đã có công đặt nền tảng căn bản đầu tiên cho kỷ nguyên độc lập, tự chủ và thống nhất của nước nhà. Họ Khúc truyền nối được ba đời, nắm quyền trong 25 năm.

Khúc Thừa Dụ (905 – 907); Khúc Hạo (907 – 917);

Khúc Thừa Mỹ (917 – 930)

Họ Dương (931 – 937)

Năm 930, quân Nam Hán sang xâm lược nước ta lần thứ nhất, cuộc kháng chiến do Khúc Thừa Mỹ lãnh đạo đã thất bại. Nhưng, ngay lập tức, một bộ tướng của họ Khúc là Dương Đình Nghệ đã đánh đuổi được quân Nam Hán ra khỏi bờ cõi. Sau thắng lợi, Dương Đình Nghệ thành lập chính quyền mới do ông đứng đầu. Năm 937, Dương Đình Nghệ bị Kiều Công Tiễn (con nuôi và cũng là bộ tướng của ông) giết hại để tranh giành quyền hành.

Họ Ngô (930 – 941)

Năm 937, được tin Kiều Công Tiễn giết hại Dương Đình Nghệ, Ngô Quyền lập tức đem quân đến hỏi tội. Hốt hoảng Kiều Công Tiễn đã đi cầu cứu quân Nam Hán. Ngô Quyền liền giết chết Kiều Công Tiễn và đánh tan quân Nam Hán ở Bạch Đằng. Sau đó ông lên ngôi, đóng đô ở Cổ Loa. Sử gọi đó là thời Ngô vương. Ong trị vì được sáu năm. Sau ông, con và cháu ông còn tiếp tục nối nhau trị vì thêm một thời gian nữa, nhưng vai trò của họ Ngô thì kể như đã chấm dứt sau cái chết của Ngô Quyền.

Với trận thắng lịch sử ở Bạch Đằng năm 938 và với sự nghiệp kiến thiết đất nước sau chiến tranh, Ngô Quyền đã khẳng định kỷ nguyên độc lập, tự chủ và thống nhất của nước nhà.

Họ Đinh (968 – 980)

Sau khi Ngô Quyền mất, đất nước lâm vào một thời kỳ loạn lạc chưa từng thấy. Các thế lực khác cứ nổi lên khắp nơi. Theo quy luật chung, thế lực nào yếu sẽ bị tiêu diệt sớm, thế lực nào mạnh sẽ tồn tại lâu hơn. Đầu nửa sau của thế kỷ thứ mười, chỉ còn lại 12 thế lực mạnh, sử gọi đó là loạn mười hai sứ quân.

Năm 967, Đinh Bộ Lĩnh đã dẹp được loạn mười hai sứ quân, và năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoàng đế, xưng là Đinh Tiên Hoàng, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, định đô ở Hoa Lư. Năm 970 ông đặt niên hiệu là Thái Bình. Họ Đinh truyền nối được hai đời.

Đinh Tiên Hoàng (968 – 979).

Đinh Phế Đế (tức Đinh Toàn): 980

Với sự nghiệp dẹp loạn mười hai sứ quân và kiến thiết nước nhà trong những năm trị vì, Đinh Tiên Hoàng là người đã có công hoàn thiện kỷ nguyên độc lập, tự chủ và thống nhất của nước nhà.

Nhà Tiền Lê (980 – 1009)

Nhà Tiền Lê được lập nên do sự chọn lựa và suy tôn của các quan lại cùng các nhà sư. Bấy giờ, vận nước lâm nguy bởi mưu đồ xâm lăng của nhà Tống mà Đinh Toàn không đủ uy tín, càng không đủ tài năng để điều khiển vận mệnh quốc gia. Là quan Thập Đạo tướng quân, lại đang nắm quyền Phó vương cho Đinh Toàn, Lê Hoàn được suy tôn lên ngôi. Nhà Tiền Lê truyền nối được ba đời, trị vì 29 năm:

Lê Hoàn (980 – 1005)

Lê Trung Tông (ba ngày của tháng 11 năm 1005)

Lê Long Đĩnh (tức Lê Ngọa Triều:1005 – 1009)

Trong thời Tiền Lê, Lê Hoàn là người đã có công rất lớn:

Đánh tan cuộc xâm lăng của quân Tống vào năm 981.

Chừng trị đích đáng sự  quấy phá của Chiêm Thành vào năm 982.

Tiếp tục xây dựng và củng cố kinh đô Hoa Lư, ban hành nhiều chính sách cai trị rất tích cực và tiến bộ.

b) Nước Đại Việt dưới thời Lý (1010 – 1225)

Triều Lý được hình thành do sự đồng lòng suy tôn của quan lại và các nhà sư dưới thời Tiền Lê, sau khi Lê Long Đĩnh qua đời vào năm 1009.

Người có công khai sáng ra triều Lý là Lý Công Uẩn.

Nhà Lý có mấy cống hiến nổi bật sau đây:

+ Về chính trị: Thiết lập guồng máy nhà nước của quý tộc họ Lý. Dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long (1010). Đặt quốc hiệu mới là Đại Việt (1054)

+ Về quân sự: Chừng trị đích đáng quân Chiêm Thành khi chúng liên tục quấy nhiễu biên cương phía Nam (1069). Đại phá quân Tống xâm lăng (1077)

+ Về văn hóa: Tạo điều kiện cho Phật giáo phát triển mạnh mẽ. Mở đường cho nền giáo dục và thi cử Nho học được xác lập và không ngừng đi lên. Đưa các lãnh vực khác của đời sống văn hóa nước nhà bước vào một giai đoạn hưng thịnh mới.

Nhà Lý tồn tại trước sau được 215 năm, gồm 9 đời hoàng đế nối nhau trị vì. Cụ thể như sau:

Lý Thái Tổ (tức Lý Công Uẩn):         1010 – 1028

Lý Thái Tông (tức Lý Phật Mã):        1028 – 1054

Lý Thánh Tông (tức Lý Nhật Tôn): 1054 – 1072

Lý Nhân Tông (tức Lý Càn Đức):    1072 – 1127

Lý Thần Tông (tức Lý Dương Hoán): 1128 – 1138

Lý Anh Tông (tức Lý Thiên Tộ):       1138 – 1175

Lý Cao Tông (tức Lý Long Trát):      1175 – 1210

Lý Huệ Tông (tức Lý Hạo Sảm):      1210 – 1224

Lý Chiêu Hoàng (tức Lý Phật Kim, công chúa út của Lý Huệ Tông): 1224 – 1225

c) Nước Đại Việt dưới thời Trần (1226 – 1400)

Nhà Trần được thành lập trên cơ sở lợi dụng hôn nhân để lật đổ nhà Lý vốn đã đổ nát từ hàng chục năm trước đó.

Hoàng đế khởi đầu của nhà Trần là Trần Thái Tông (tức Trần Cảnh, chồng của Lý Chiêu Hoàng).

Nhà Trần có mấy cống hiến lớn sau đây:

+ Về chính trị: Tái thiết và củng cố guồng máy nhà nước của quý tộc (một mô thức vốn dĩ đã có từ thời Lý). Lập chế độ hai ngôi: Thượng Hoàng và Hoàng Đế nhằm tránh nạn tranh giành ngôi báu thường có giữa các Hoàng Tử.

+ Về quân sự: Xây dựng lực lượng vũ trang theo phương châm quân sĩ cốt ở tinh nhuệ chứ không phải cốt ở số đông. Ba lần đại phá quân Nguyên Mông xâm lược. Lần thứ nhất: 1257 – 1258. Lần thứ hai: 1285. Và lần thứ ba là năm 1288.

+ Về văn hóa: Đưa nền giáo dục và thi cử Nho học tiến dần đến một giai đoạn phát triển mới, rất mạnh mẽ. Trong khi đó, Phật giáo và Đạo giáo vẫn có cơ hội để tiếp tục khẳng định vị trí của mình. Tạo điều kiện cho tất cả các lĩnh vực khác của đời sống văn hóa đi lên, góp phần quan trọng vào việc để lại cho lịch sử dấu ấn sâu sắc của văn hóa Lý Trần.

Với 13 đời nối nhau trị vì trong 175 năm, nhà Trần gồm các vị Hoàng đế sau đây:

Trần Thái Tông (tức Trần Cảnh):    1226 – 1258

Trần Thánh Tông (tức Trần Hoảng):          1258 – 1278

Trần Nhân Tông (tức Trần Khâm): 1278 – 1293

Trần Anh Tông (tức Trần Thuyên):             1293 – 1314

Trần Minh Tông (tức Trần Mạnh):   1314 – 1329

Trần Hiến Tông (tức Trần Vượng):             1329 – 1314

Trần Dụ Tông (tức Trần Hạo):          1314 – 1369

Dương Nhật Lễ (kẻ cướp ngôi):      1369 – 1370

Trần Nghệ Tông (tức Trần Phủ):     1370 – 1372

Trần Duệ Tông (tức Trần Kính):      1372 – 1377

Trần Phế Đế (tức Trần Hiệu):          1377 – 1388

Trần Thuận Tông (tức Trần Ngung):          1388 – 1398

Trần Thiếu Đế (tức Trần An):           1398 – 1400

d) Đất nước những năm đầu thế kỷ thứ 15

Năm 1400, Hồ Quý Ly cướp ngôi của nhà Trần và lập ra triều Hồ. Thời Hồ có mấy điểm đáng lưu ý sau đây:

Quốc hiệu mới của nước ta là Đại Ngu.

Kinh đô mới là Đại Lại (Vĩnh Lộc, Thanh Hóa ngày nay)

Nhà Hồ truyền nối được hai đời:

Hồ Quý Ly chỉ ở ngôi một năm (1400)

Hồ Hán Thương (1400 – 1407)

Cuối năm 1406, quân Minh tràn sang xâm lược nước ta, cuộc kháng chiến do nhà Hồ lãnh đạo bị thất bại.

Từ năm 1407, quân Minh bắt đầu thiết lập nền đô hộ trên toàn cõi nước ta. Thời thuộc Minh tuy không dài, nhưng đây cũng là thời đầy bi thương của cả dân tộc.

Dưới thời thuộc Minh, nhân dân ta đã không ngừng nổi dậy đấu tranh với nhiều dạng thức và mức độ khác nhau. Dưới đây là những cuộc đấu tranh tiêu biểu:

Khởi nghĩa Trần Ngỗi – Trần Quý Khoáng (1407 – 1413). Cả hai lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa này đều xưng đế (Trần Ngỗi là Giản Định Đế, Trần Quý Khoáng là Trùng Quang Đế). Sử gọi đây là thời Hậu Trần.

Khởi nghĩa Phạm Ngọc        (1419 – 1420)

Khởi nghĩa Lê Ngã                (1419 – 1420)

Phong trào Ao Đỏ                  (1407 – 1427)

Tuy nhiên, lớn nhất và giành được thắng lợi vẻ vang nhất vẫn là cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi phát động và lãnh đạo (1418 – 1427).

e) Nước Đại Việt thời Lê sơ (1428 – 1527)

Sau thắng lợi vĩ đại của cuộc chiến tranh giải phóng, Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế. Nhà Hậu Lê được lập nên từ đó. Trên danh nghĩa, triều Lê có lịch sử trị vì lâu nhất (khoảng 360 năm), tuy nhiên, không phải lúc nào quyền lực của nhà Lê trên vũ đài chính trị của nước nhà cũng mạnh mẽ như nhau. Căn cứ vào thực trạng này, sử chia nhà Hậu Lê làm ba chặng, trong đó chặng đầu tiên gọi là thời Lê sơ. Chặng thứ hai là thời Lê trung hưng (từ sau 1533 đến đầu thế kỷ 18). Chặng thứ ba là thời Lê mạt gồm khoảng thời gian còn lại.

Dưới thời Lê, lịch sử có mấy điểm nổi bật sau đây:

Thăng Long được tái lập làm kinh đô

Quốc hiệu Đại Việt lại được tiếp sử dụng

Bộ máy nhà nước thời Lê sơ không phải là bộ máy nhà nước của quý tộc như thời Lý và thời Trần, ngược lại, đây là bộ máy nhà nước của bá quan văn võ được tuyển chọn trong trăm họ, chủ yếu là thông qua con đường thi cử.

Về tư tưởng, thời Lê sơ là thời Nho giáo chiếm vị trí độc tôn.

Về kinh tế, đây là thời kỳ mà Đại Việt thực sự là một cường quốc trong khu vực.

Thời Lê sơ kéo dài 100 năm, gồm 11 đời Hoàng đế nối nhau trị vì. Cụ thể là:

Lê Thái Tổ (tức Lê Lợi):                     1428 – 1433

Lê Thái Tông (tức Lê Nguyên Long): 1433 – 1442

Lê Nhân Tông (tức Lê Bang Cơ):   1422 – 1459

Lê Nghi Dân (kẻ cướp ngôi):           1459 – 1460

Lê Thánh Tông (tức Lê Tư Thành): 1460 – 1497

Lê Hiến Tông (tức Lê Tranh):           1497 – 1504

Lê Túc Tông (tức Lê Thuần): 6 tháng cuối năm 1504

Lê Uy Mục (tức Lê Tuấn):                 1505 – 1509

Lê Dương Dực (tức Lê Oánh):        1510 – 1516

Lê Chiêu Tông (tức Lê Y):                1516 – 1522

Lê Cung Hoàng (tức Lê Xuân):       1522 – 1527

 

III. ĐẤT NƯỚC TRONG THỜI KỶ ĐỔ NÁT

     CỦA NỀN THỐNG NHẤT QUỐC GIA (1527 – 1801)

Đến đây, độc lập và tự chủ tuy về cơ bản vẫn tiếp tục được giữ vững, nhưng đất nước lại lâm vào cuộc nội chiến triền miên. Nhiều hệ thống chính quyền khác nhau đã đồng thời tồn tại và không ngừng tìm cách thủ tiêu lẫn nhau.

a) Cục diện Nam – Bắc triều hay còn gọi là chiến tranh Lê – Mạc (1527 – 1592)

Năm 1527, Mạc Đăng Dung cướp ngôi của nhà Lê. Triều Mạc được dựng lên từ đó. Triều Mạc đóng đô ở Thăng Long (tức là ở phía Bắc) nên sử gọi là Bắc triều.

Năm 1533, triều Lê được tái lập ở Thanh Hóa (tức là ở phía Nam) nên sử gọi là Nam triều. Nam triều tuy danh nghĩa là triều Lê nhưng thực sự lại nằm trong tay Nguyễn Kim rồi sau đó là trong tay Trịnh Kiểm và dòng dõi của Trịnh Kiểm.

Từ năm 1533 đến năm 1592, hai bên Nam – Bắc triều đã đánh nhau 38 trận lớn. Kết quả là Nam triều đã đè bẹp được Bắc triều. Sau năm 1592, tuy họ Mạc vẫn còn tiếp tục hoạt động chống Nam triều thêm một thời gian nữa, nhưng về cơ bản, vai trò của Bắc triều đến đó kể như đã chấm dứt.

b) Cục diện Đàng Ngoài – Đàng Trong hay còn gọi là thời Trịnh – Nguyễn phân tranh (1588 – 1786)

Ngay khi cục diện Nam Bắc triều chưa chấm dứt, thì một cục diện khác, sôi động và quyết liệt hơn đã hình thành và hình thành ngay trong Nam triều.

Năm 1588, tướng của Nam triều là Nguyễn Hoàng đã vào làm Trấn Thủ xứ Thuận Hóa. Năm 1570, ông lại được kiêm quản cả xứ Quảng Nam. Cơ đồ của họ Nguyễn bắt đầu hình thành kể từ đó.

Nguyễn Hoàng đã thực hiện chính sách hai mặt: Về công khai thì Nguyễn Hoàng vẫn tỏ rõ là người trung thành với nhà Lê, thực hiện đầy đủ chức phận của một vị quan ở nơi biên ải.. Về bí mật thì Nguyễn Hoàng ra sức tìm cách gầy dựng cơ đồ riêng.

Đến đời con của Nguyễn Hoàng thì chính sách hai mặt này không còn nữa. Hai bên họ Trịnh và họ Nguyễn đã đánh nhau bảy trận lớn.

Năm 1672, do thấy không thể tiêu diệt được nhau, hai bên đã lấy sông Gianh (Quảng Bình ngày nay) làm giới tuyến để chia cách lâu dài: Từ sông Gianh trở ta Bắc gọi là Đàng Ngoài, do họ Trịnh nắm quyền cai quản. Từ sông Gianh trờ vào Nam gọi là Đàng Trong, do họ Nguyễn cai quản.

Cục diện Đàng Ngoài – Đàng Trong chấm dứt năm 1786 bởi cuộc tấn công của Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy.

c) Tây Sơn (1771 – 1801)

Năm 1771, phong trào Tây Sơn bùng nổ. Phong trào này có ba giai đoạn mang tính chất khác nhau:

Từ năm 1771 đến năm 1784 là giai đoạn Tây Sơn chiến đấu quyết liệt mà mục tiêu là tấn công vào toàn bộ cơ đồ của họ Nguyễn ở Đàng Trong.

Từ năm 1784 đến năm 1789 là giai đoạn Tây Sơn đồng thời tiến hành hai nhiệm vụ khác nhau: Đẩy mạnh và mở rộng cuộc tấn công vào tất cả các tập đoàn phong kiến thống trị ở cả Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài. Dũng cảm đảm nhận sứ mệnh bảo vệ độc lập dân tộc tiêu diệt quân Xiêm ở Đàng Trong (1785) và quân Mãn Thanh ở Đàng Ngoài (1789).

Từ năm 1789 đến năm 1801 là giai đoạn Tây Sơn tồn tại với tư cách của những hệ thống chính quyền khác nhau.

d) Từ năm 1527 đến năm 1801, đất nước có mấy hệ thống chính quyền sau đây

Chính quyền của nhà Mạc: trên danh nghĩa chính thống, nhà Mạc truyền nối được 10 đời, trong đó có 5 đời đầu thuộc thời tương đối thịnh trị, còn 5 đời cuối thuộc đời suy tàn.

Mạc Thái Tổ (tức Mạc Đăng Dung):            1527–1529

Mạc Thái Tông (tức Mạc Đăng Doanh):     1530–1540

Mạc Hiến Tông (tức Mạc Phúc Hải):          1540–1546

Mạc Tuyên Tông (tức Mạc Phúc Nguyên): 1546–1561

Mạc Hậu Hợp                                                             1562–1592

Mạc Toàn                                                         1592–1593

Mạc Kính Chỉ (1592 – 1593). Lúc này nhà Mạc có hai vua.

Mạc Kính Cung                                              1593–1625

Mạc Kính Khoan (1623 – 1638). Một lần nữa, nhà Mạc lại có hai vua (1623 – 1625)

Mạc Kính Vũ                                                   1638–1677

Chính quyền của nhà Lê: tuy chỉ là hư vị, nhưng trên danh nghĩa, nhà Lê vẫn còn tiếp tục truyền nối được 16 đời nữa. Cụ thể như sau:

Lê Trang Tông (tức Lê Ninh):                       1533–1548

Lê Trung Tông (tức Lê Huyền):                   1548–1556

Lê Anh Tông (tức Lê Duy Bang):                1556–1573

Lê Thể Tông (tức Lê Duy Đàm):                  1573–1599

Lê Kính Tông (tức Lê Duy Tân):                  1599–1619

Lê Thần Tông (tức Lê Duy Kỳ): ở ngôi hai lần

               Lần 1: 1619 – 1643

               Lần 2: 1649 – 1662

Lê Chấn Tông (tức Lê Duy Hựu):               1643–1649

Lê Huyền Tông (tức Lê Duy Vũ):                1662–1671

Lê Gia Tông (tức Lê Duy Cối):                     167l–1675

Lê Hy Tông (tức Lê Duy Hiệp):                    1675–1705

Lê Dụ Tông (tức Lê Duy Đường):               1705–1729

Lê Đế Duy Phường (tức Lê Duy Phường): 1729–1732

Lê Thuần Tông (tức Lê Duy Tường):         1732–1735

Lê Ý Tông (tức Lê Duy Thận):                     1735–1740

Lê Hiển Tông (tức Lê Duy Diêu):                1740–1786

Lê Chiêu Thống (tức Lê Duy Kỳ):               1786–1788

Chính quyền họ Trịnh ở Đàng Ngoài. Đây là chính quyền song tồn với chính quyền của nhà Lê và là chính quyền có vị trí quan trọng nhất. Xét về danh chính ngôn thuận thì có một số người như Trịnh Bách và Trịnh Bính chưa từng ở Ngôi chúa một cách chính thức, nhưng xét về thực quyền, thì họ đã làm chúa. Vì lẽ đó, nhiều tác phẩm sử học vẫn xếp Trịnh Bách và Trịnh Bính vào danh sách các chúa Trịnh. Theo đó thì danh sách các chúa Trịnh cụ thể như sau:

Trịnh Kiểm (1545–1569);      Trịnh Cối       (1569–1570)

Trịnh Tùng (1570–1623);      Trịnh Tráng   (1623–1657)

Trịnh Tạc   (1657–1682);       Trịnh Căn      (1682–1709)

Trịnh Bách (1684): Được phép nắm quyền phủ chúa ngay khi cha là Trịnh Căn còn sống

Trịnh Bính (1688): Được phép nắm quyền phủ chúa ngay khi ông nội là Trịnh Căn còn sống (Trịnh Bính là cháu đích tôn của Trịnh Căn, cha là Trịnh Vĩnh bị bệnh mà mất sớm).

Trịnh Cương (1709–1729); Trịnh Giang (1729–1740)

Trịnh Doanh (1740–1767);   Trịnh Sâm   (1767–1782)

Trịnh Cán (1782). một tháng;           Trịnh Khải  (1782–1786)

Trịnh Bồng (1786), hai tháng

Chính quyền của họ Nguyễn ở Đàng Trong:

Nguyễn Hoàng                                   (1588–1613)

Nguyễn Phúc Nguyên                      (1613–1635)

Nguyễn Phúc Lan                 (1635–1648)

Nguyễn Phúc Tần                 (1648–1687)

Nguyễn Phúc Trăn                (1687-1691)

Nguyễn Phúc Chu                (1691–1725)

Nguyễn Phúc Chú                (1725–1738)

Nguyễn Phúc Khoát              (1738–1765)

Nguyễn Phúc Thuần                        (1765–1777)

Nguyễn Phúc Dương (1777). Lúc này họ Nguyễn có hai chúa.

Chính quyền của Tây Sơn. Trong thực tế, Tây Sơn có đến ba hệ thống chính quyền khác nhau. Theo đó thì:

Chính quyền của Nguyễn Nhạc: Nguyễn Nhạc (tức Thái Đức Hoàng Đế hay Trung Ương Hoàng Đế, đóng đô ở Quy Nhơn): 1778 – 1793. Nguyễn Bảo (con Nguyễn Nhạc): 1793 (chỉ ở ngôi một thời gian rất ngắn).

Chính quyền của Nguyễn Huệ: Nguyễn Huệ (tức Quang Trung Hoàng đế, định đô ở Phú Xuân tức là Huế ngày nay. Sau Quang Trung dự kiến rời đô ra Nghệ An – Phượng Hoàng Trung Đô – nhưng chưa kịp hoàn tất thì Quang Trung qua đời (1788 – 1792). Nguyễn Trác (tức Quang Toản Hoàng đế): 1792 – 1801

Chính quyền của Nguyễn Lữ (tức Đông Thịnh Vương). Đây là chính quyền yếu nhất trong số các hệ thống chính quyền của Tây Sơn. Nguyễn Lữ cai quản đất Gia Định nhưng lại ít khi ở Gia Định. Ong mất năm 1787 tại Quy Nhơn, Nguyễn Lữ ở ngôi Đông Định Vương chỉ một năm (1786 – 1787).

IV. VIỆT NAM THỜI NGUYỄN (1802–1945)

Vài nét về triều Nguyễn

Triều Nguyễn được dựng lên trên cơ sở đánh bại và tước đạt những thành quả của phong trào Tây Sơn. Tuy không phải là con cháu trực hệ, nhưng các Hoàng đế nhà Nguyễn cũng là dòng dõi của các chúa Nguyễn.

Trên danh nghĩa, triều Nguyễn tồn tại trước sau 143 năm, nhưng lịch sử triều Nguyễn lại bao hàm hai giai đoạn mang hai tính chất hoàn toàn khác nhau.

Giai đoạn thứ nhất từ 1802 đến năm 1884 là giai đoạn triều Nguyễn tồn tại chủ yếu với tư cách của một vương triều độc lập. Giai đoạn này thuộc khung lịch sử trung đại Việt Nam.

Giai đoạn thứ hai từ năm 1884 đến năm 1945 là giai đoạn triều Nguyễn tồn tại trong khuôn khổ cho phép của chủ nghĩa thực dân Pháp. Sử thường gọi đây là thời thuộc địa nửa phong kiến. Giai đoạn này thuộc khung lịch sử cận đại Việt Nam.

Thời Nguyễn, lịch sử Việt Nam có mấy sự kiện lớn sau đây:

Lãnh thổ rộng nhất so với tất cả các triều đại trước đó.

Quốc hiệu mới của nước ta là Việt Nam (kể từ tháng 6 năm 1804). Kinh đô mới của nước ta là Huế.

Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta, cuộc chiến đấu chống xâm lăng do triều Nguyễn tổ chức và lãnh đạo đã thất bại. Sau đó, một bộ phận không nhỏ của triều đình nhà Nguyễn đã cam tâm hợp tác và làm tay sai cho thực dân Pháp.

Phong trào yêu nước của dân ta liên tục nổi lên với nhiều hình thức và tính chất phong phú khác nhau. Nổi bật có mặt trận Việt Minh(1930). Sau mười lăm năm hoạt động, cuộc Cách Mạng do những người Cộng Sản Việt Nam phát động, tổ chức và lãnh đạo đã toàn thắng. Lịch sử Việt Nam hiện đại bắt đầu kể từ đó.

Tuy vị trí có khác nhau, nhưng trong 143 năm tồn tại, triều Nguyễn có tất cả 13 đời Hoàng đế nối nhau trị vì. Cụ thể như sau:

Gia Long (tức Nguyễn Anh):                        1802–1819

Minh Mạng (tức Nguyễn Phước Đảm):     1820–1840

Thiệu Trị (tức Nguyễn Phước Nguyên Tông): 1841–1847

Tự Đức (tức Nguyễn Phước Hồng Nhậm): 1848–1883

Dục Đức (tức Nguyễn Phước Ưng Chân): 3 ngày (-7.1883)

Hiệp Hòa (tức Nguyễn Phước Hồng Dật): 4 tháng cuối 1883

Kiến Phước (tức Nguyễn Phước Ưng Đăng): đến tháng 4.1884

Hàm Nghi (tức Nguyễn Phước Ưng Lịch): 1884–1888

Đồng Khánh (tức Nguyễn Phước Ưng Xuy): 1885–1888.

Khi Hàm Nghi xuất bôn đánh Pháp, Đồng Khánh được đưa lên ngôi, vì thế trên danh nghĩa thì từ 1885 đến 1888, nước ta có hai vị Hoàng đế.

Thành Thái (tức Nguyễn Phước Bửu Lân): 1889–1907

Duy Tân (tức Nguyễn Phước Vĩnh San):             1907–1916

Khải Định (tức Nguyễn Phước Bửu Đảo):           1916–1925

Bảo Đại (tức Nguyễn Phước Vĩnh Thụy):             1925–1945

V. NƯỚC VIỆT NAM TỪ NĂM 1945 ĐẾN NAY

Sau thế chiến I (1914-1918) và thứ II (1939-1945). Việt Nam trải qua thời kỳ bất ổn triền miên, kéo dài tới năm 1954. Nhiều phong trào chống Pháp nổi lên, tiêu biểu là Cuộc cách mạng Việt Minh (19.8.1945) thành công. Bản tuyên ngôn độc lập ngày 02.9.1945, dẫn đến chiến thắng quyết định ở Điện Biên Phủ năm 1954, Ngày 20.7.1954 Hiệp định Genève, quân đội Pháp rút khỏi Việt Nam. chấm dứt chế độ thuộc địa của Pháp. Nước Việt Nam bị chia làm 2, lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến tạm thời. Miền Bắc là nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Miền Nam là nước Việt Nam Cộng Hòa

Sau 21 năm (1954-1975) Việt Nam đã tái thống nhất, trở thành quốc gia độc lập. Từ năm 1976, quốc hiệu mới của nước ta là nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Việt Nam đang nỗ lực khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng và đổi mới để có thể sánh vai với cường quốc năm châu, hội nhập với cộng đồng quốc tế.


Sinh hoạt khác

Tin Giáo Hội

Mục Tổng Hợp

» Xem tất cả Video

Liên kết web

Bài viết được quan tâm