Danh mục bài viết

Cập nhật 10/7/2019 - 4:15 - Lượt xem 2080

Thứ Năm tuần 14 Thường Niên

"Các con đã lãnh nhận nhưng không, thì hãy cho nhưng không".

 

Tin Mừng: Mt 10, 7-15

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các Tông đồ rằng: "Các con hãy đi rao giảng rằng "Nước Trời đã gần đến". Hãy chữa những bệnh nhân, hãy làm cho kẻ chết sống lại, hãy làm cho những kẻ phong cùi được sạch và hãy trừ quỷ. Các con đã lãnh nhận nhưng không thì hãy cho nhưng không. Các con chớ mang vàng bạc, tiền nong trong đai lưng, chớ mang bị đi đường, chớ đem theo hai áo choàng, chớ mang giày dép và gậy gộc, vì thợ thì đáng được nuôi ăn.

"Khi các con vào thành hay làng nào, hãy hỏi ở đó ai là người xứng đáng, thì ở lại đó cho tới lúc ra đi. Khi vào nhà nào, các con hãy chào rằng: "Bình an cho nhà này". Nếu nhà ấy xứng đáng thì sự bình an của các con sẽ đến với nhà ấy. Nhưng nếu ai không tiếp rước các con và không nghe lời các con, thì hãy ra khỏi nhà hay thành ấy và giũ bụi chân các con lại. Thật, Thầy bảo các con: Trong ngày phán xét, đất Sôđôma và Gômôra sẽ được xét xử khoan dung hơn thành ấy".

 

Suy niệm 1: Chúc bình an _ Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu, SJ.

Trước khi sai các Tông Đồ lên đường truyền giáo, 
Thầy Giêsu đã dặn dò họ nhiều điều. 
Họ được sai đến với ai: với những đồng bào của họ là người Israel. 
Sau này họ mới được sai đến với dân ngoại, với mọi dân tộc (Mt 28, 20). 
Họ đến để làm gì: rao giảng về Nước Trời gần đến, 
chữa bệnh, hoàn sinh kẻ chết, khử trừ ma quỷ ra khỏi lòng người (c. 8). 
Họ đến để đem lời chúc bình an cho những ai mở lòng lãnh nhận (c. 12). 
Họ không nên mang theo những gì: tiền vàng, bạc hay đồng để giắt lưng, 
bao bị để đựng đồ, hai áo để thay đổi, giày dép để bảo vệ đôi chân, 
cả chiếc gậy vừa để đi đường xa, vừa đề phòng nguy hiểm (cc. 9-10). 
Cách hành xử của họ cũng được Thầy nói rõ. 
Họ làm mọi việc mà không đòi bất cứ điều gì để trả công. 
“Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy” (c. 8). 
Họ đã nhận được Nước Trời như một món quà, 
họ cũng muốn trao đi như một quà tặng. 
Điều duy nhất họ mong là được người ta lo cho thức ăn, chỗ ở. 
“Vì thợ thì đáng được nuôi ăn” (c. 10). 
Khi nghe lời dặn dò của Thầy Giêsu, 
chúng ta thấy ngay mẫu người tông đồ mà Thầy mơ ước. 
Đó là con người bị cuốn hút bởi những bận tâm về Nước Trời, 
nên siêu thoát khỏi mọi vướng bận trần tục. 
Nước Trời phong phú và giàu có đủ làm họ mãn nguyện, 
nên họ coi nhẹ chuyện ở, chuyện mặc, chuyện ăn. 
Chính lối sống đơn sơ giản dị, thậm chí thiếu thốn của họ, 
là một lời chứng về những gì trên cao. 
Họ cũng phải chấp nhận mình có thể bị từ chối, không được đón tiếp. 
Một thành, một làng hay một nhà có thể không chấp nhận Tin Mừng, 
và họ phải khiêm tốn tìm đến nơi thuận lợi hơn (c. 14). 
Các tông đồ thế kỷ 21 hẳn không thể sống theo nghĩa đen những lời trên đây, 
nhưng cũng không được gạt bỏ tinh thần mà Đức Giêsu vẫn muốn ta giữ mãi. 
Nhẹ nhàng, thanh thoát, khó nghèo, phó thác, không tính toán lợi danh, 
gieo rắc niềm vui và an bình, chữa lành và giải phóng con người khỏi nô lệ. 
Và trên hết là một lòng yêu mến Thiên Chúa nồng nàn, 
và một lòng yêu thương cháy bỏng đối với đoàn chiên vất vưởng bơ vơ. 
Đó vẫn là hành trang muôn thuở của người tông đồ qua mọi thời đại. 
Thời nay người tông đồ được trang bị nhiều phương tiện hiện đại, 
với những cơ sở vững vàng, với số vốn ổn định, với tri thức bằng cấp đầy đủ. 
Những điều đó vẫn không khiến chúng ta bỏ rơi tinh thần của Thầy Giêsu. 
Bởi lẽ mất tinh thần của Thầy, chúng ta chẳng còn là tông đồ nữa. 
Thánh Phanxicô Assisi đã bị đánh động khi đọc đoạn Tin Mừng này. 
Và ngài đã muốn đưa Giáo hội trở lại với lối sống nghèo khó. 
Rất có thể việc truyền giáo của chúng ta ở châu Á chưa có kết quả 
chỉ vì chưa có những tông đồ dám sống triệt để lời dặn dò của Thầy Giêsu. 
Mà lời dặn dò của Thầy lại rất hợp với tinh thần của người châu Á. 

Lạy Chúa, 
xin ban cho chúng con ánh sáng đức tin 
để nhận ra Chúa hôm nay và hằng ngày, 
nơi khuôn mặt khốn khổ 
của tất cả những người bị thử thách: 
những kẻ đói, không chỉ vì thiếu của ăn, 
nhưng vì thiếu Lời Chúa; 
những kẻ khát, không chỉ vì thiếu nước, 
nhưng còn vì thiếu bình an, sự thật, công bằng và tình thương; 
những kẻ vô gia cư, 
không chỉ tìm kiếm một mái nhà, 
nhưng còn tìm một con tim hiểu biết, yêu thương; 
những kẻ bệnh hoạn và hấp hối, 
không chỉ trong thân xác, 
nhưng còn trong tinh thần nữa, 
bằng cách thực thi lời hy vọng này: 
“Điều mà ngươi làm 
cho người bé mọn nhất trong anh em 
là làm cho chính Ta” 
(Chân phước Têrêxa Calcutta) 

 

Suy niệm 2: Chỉ Thị Truyền Giáo

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đưa ra cho các môn đệ một số chỉ thị cụ thể liên quan đến việc thi hành sứ mệnh đã lãnh nhận. Trước hết, về chính việc rao giảng Tin Mừng: Hãy đi rao giảng Nước Thiên Chúa đã đến gần. Hãy chữa lành người đau yếu, làm cho kẻ chết sống lại, cho người phong cùi được khỏi bệnh và khử trừ ma quỉ. Vì là người được Chúa ủy thác, nên phải thi hành đúng chỉ thị của Ngài: rao giảng Nước Trời, cứu vớt những người nghèo khổ, bị bỏ rơi bên lề xã hội.

Liên hệ đến tâm thức và cách sống của nhà truyền giáo, Chúa Giêsu nói đến tính cách nhưng không của việc hiến thân, tinh thần vị tha, giao tiếp hiền hòa với những ai đón nghe lời rao giảng cũng như với những ai từ chối. Ðã lãnh nhận nhưng không thì hãy cho nhưng không. Ðừng mang vàng bạc, đừng mang bao bị, đừng mặc hai áo, đừng đi giầy hay cầm gậy. Vì thợ thì có quyền được nuôi ăn. Khi vào nhà nào thì hãy chào thăm và chúc lành cho nhà đó.

Chúa Giêsu không những ủy thác việc rao giảng Tin Mừng cho các môn đệ, Ngài còn muốn đời sống các ông phù hợp với lời giảng dạy. Nội dung cốt yếu của sứ điệp không do quyết định tự do hoặc sáng kiến của người rao giảng, mà là do chính Chúa Giêsu ấn định, đó là Nước Trời. Người được sai đi với tư cách là thừa tác viên phải thi hành đúng như Chúa đã truyền. Ngài mời gọi họ dấn thân sống đầy đủ mỗi ngày lý tưởng truyền giáo và lý tưởng của người môn đệ. Ðiều quan trọng phải nhớ là hành trang của nhà truyền giáo khi theo Chúa Giêsu là lời của Ngài và đời sống nghèo khó của Ngài. Tất cả những sự khác phải được coi là dư thừa, nhiều khi còn là ngăn trở cho việc truyền giáo. Kinh nghiệm cho thấy rằng những ai dấn thân sống nghèo khó và hy sinh cho người khác, sẽ được Chúa cho lại gấp trăm.

Xin Chúa cho chúng ta luôn ý thức sứ mệnh Chúa đã trao và quảng đại dấn thân để góp phần mở rộng Nước Chúa nơi trần gian. Xin giải thoát chúng ta khỏi những hành trang vô ích, dư thừa, cản trở việc rao giảng Tin Mừng, để chúng ta không lạc bước trong khi thi hành sứ mệnh cao cả đã lãnh nhận.

 

Suy niệm 3: Căn Tính Của Người Môn Đệ _ Tu sĩ Jos. Vinc. Ngọc Biển, S.S.P.

Đức Giêsu đã trao truyền cho các môn đệ sứ mạng và sự nghiệp của chính Ngài. 

Thật vậy, hôm nay, như một người thầy nhắn nhủ các môn sinh của mình trước lúc lên đường, Đức Giêsu trao cho các ông quyền trên mọi thần ô uế, để các ông chữa lành, và củng cố lời giảng của mình, hầu cho lời giảng có giá trị và thuyết phục, đồng thời để lời nói và hành động không bị mâu thuẫn. 

Từ bài Tin Mừng, chúng ta có thể hiểu về lời căn dặn của Đức Giêsu trước khi sai các môn đệ đi loan báo Tin Mừng như sau:

Trước tiên là nhiệm vụ của người ra đi: người được sai đi là để loan báo Tin Mừng chứ không phải là loan báo tin buồn, đồng thời sai đi để chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền chứ không phải gieo rắc đau thương. 

Thứ hai là tinh thần của người ra đi: người được sai đi sẽ gặp không ít khó khăn, nên cần phải tin tưởng, trao phó mọi sự nơi Chúa. Ra đi trong tinh thần thanh thoát, không cần phải cồng kềnh và quá lo lắng cho ngày mai. Hãy là người tôi tớ phục vụ, bởi vì: “Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy".

Thứ ba là thái độ của người ra đi: người môn đệ muốn được thành công thì phải mặc lấy thái độ của hạt lúa, tức là tự hủy ra không, phải nhân từ để “ngửi thấy mùi chiên” “mang mùi chiên nơi mình”. Không ngại khổ, ngại khó và cần phải hy sinh. Luôn quan tâm đến người khác hơn là nghĩ về mình. 

Thứ tư là lập trường của người ra đi: sống trong một xã hội chủ chương vô thần, muốn loại bỏ Thiên Chúa ra khỏi tư tưởng, nhận thức của con người. Lập trường của họ là không có Thiên Chúa, cũng chẳng có niềm tin…. Vì thế, họ không ngần ngại uốn nắn và tìm đủ mọi cách dưới nhiều hình thức tinh vi để gây nên những hoang mang, thất vọng. Bên cạnh đó là những trào lưu tục hóa, những văn hóa phẩm đồi trụy... nhằm gieo rắc những chân lý nửa vời và làm cho con người lấn sâu trong tội mà không biết! Và cũng những con người đó, họ muốn loại bỏ người môn đệ của Chúa, vì thế, cái chết là kết cục cuối cùng của người môn đệ. Số phận của người môn đệ là: như chiên đi vào giữa bầy sói. 

Tuy nhiên, lập trường của người môn đệ, trong mọi hoàn cảnh, không bao giờ và không có cách nào được phép đồng lõa, thỏa hiệp để chỉ vì mục đích “rẻ tiền”nhằm được yên thân. Lập trường của người môn đệ còn là hiện diện và sống những giá trị Tin Mừng cách thực tế chứ không chỉ lo cái gọi là bề ngoài cho thật “hoành tráng”theo thói đời, nhưng bên trong thì rỗng tuếch. 

Thứ năm là chiến lược của người môn đệ: được mời gọi hiện hữu giữa thế gian nhưng không bị thế gian điều khiển và đẩy đưa để dẫn đến cái gọi là: dùng phương tiện xấu để biện minh cho mục đích tốt. Phải khôn như rắn để xây dựng, bảo vệ sự hiệp nhất của Giáo Hội, và phải hiền lành, đơn sơ như chim bồ cầu trong tinh thần huynh đệ.

Cuối cùng, lời chào của người ra đi là lời chúc bình an của Chúa chứ không phải là những gợi ý, mong muốn để được nâng đỡ cách này hay cách khác mang tính phàm tục.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con được trở nên môn đệ đích thực của Chúa như lòng Chúa mong ước. Amen. 

 


Sinh hoạt khác

Tin Giáo Hội

Mục Tổng Hợp

» Xem tất cả Video

Liên kết website

Bài viết được quan tâm