Danh mục bài viết

Cập nhật 8/4/2021 - 14:53 - Lượt xem 6025

Thứ Sáu Tuần Bát nhật Phục Sinh

"Chúa Giêsu đến, cầm bánh và cá trao cho họ ăn".

 

Tin Mừng: Ga 21, 1-14

Khi ấy, Ðức Giêsu lại tỏ mình ra cho các môn đệ ở Biển Hồ Tibêria. Người tỏ mình ra như thế này. Ông Simon Phêrô, ông Tôma gọi là Ðiđymô, ông Nathanaen người Cana miền Galilê, các người con ông Dêbêđê và hai môn đệ khác nữa, tất cả đang ở với nhau. Ông Simon nói với các ông: “Tôi đi đánh cá đây.” Các ông đáp: “Chúng tôi cùng đi với anh.” Rồi mọi người ra đi, lên thuyền, nhưng đêm ấy họ không bắt được gì cả. Khi trời đã sáng, Ðức Giêsu đứng trên bãi biển, nhưng các môn đệ không nhận ra đó chính là Ðức Giêsu. Người nói với các ông: “Này các chú, không có gì ăn ư?” Các ông trả lời: “Thưa không.” Người bảo các ông: “Cứ thả lưới xuống bên phải mạn thuyền đi, anh em sẽ bắt được cá.” Các ông thả lưới xuống, nhưng không sao kéo lên nổi, vì lưới đầy những cá. Người môn đệ được Ðức Giêsu thương mến nói với Phêrô: “Chúa đó!” Vừa nghe nói “Chúa đó!”, ông Simon Phêrô vội khoác áo vào vì đang ở trần, rồi nhảy xuống biển. Các môn đệ khác chèo thuyền vào bờ kéo theo lưới đầy cá, vì các ông không xa bờ lắm, chỉ cách vào khoảng gần một trăm thước. Bước lên bờ, các ông nhìn thấy có sẵn than hồng với cá đặt ở trên, và có cả bánh nữa. Ðức Giêsu bảo các ông: “Ðem ít cá mới bắt được tới đây!” Ông Simon Phêrô lên thuyền, rồi kéo lưới vào bờ. Lưới đầy những cá lớn, đếm được một trăm năm mươi ba con. Cá nhiều như vậy mà lưới không bị rách. Ðức Giêsu nói: “Anh em đến mà ăn!” Không ai trong các môn đệ dám hỏi “ông là ai?”, vì các ông biết rằng đó là Chúa. Ðức Giêsu đến, cầm lấy bánh trao cho các ông; rồi cá, Người cũng làm như vậy. Ðó là lần thứ ba Ðức Giêsu tỏ mình ra cho các môn đệ, sau khi trỗi dậy từ cõi chết.

 

Suy niệm:

1. Chúa đó - Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ.

Bảy môn đệ trở về với nghề xưa, 
trở về Biển Hồ quen thuộc đầy ắp kỷ niệm thầy trò. 
Dù đã chối Chúa, Phêrô vẫn được coi là thủ lĩnh. 
Ông không ra lệnh, nhưng đưa ra lời mời kín đáo: 
“Tôi đi đánh cá đây.” 
Các bạn khác hiểu ngay và mau mắn đáp lại: 
“Chúng tôi cùng đi với anh.” 
Có một bầu khí dễ chịu, đầm ấm trong nhóm. 
Ðây quả thực là một nhóm bạn lý tưởng. 
Họ ở với nhau, làm việc với nhau cả đêm, 
và lặng lẽ cùng nhau chia sẻ một thất bại. 
Tuy nhiên, họ cũng là những người có tính tình khác nhau. 
Người môn đệ được Ðức Giêsu thương mến 
thì nhạy cảm hơn, nhận ra Chúa Phục Sinh đứng trên bờ. 
Nhưng sau đó, ông cứ điềm nhiên ngồi lại trong thuyền. 
Còn Phêrô thì nồng nhiệt hơn, vội vã mặc áo, 
nhảy tùm xuống nước bơi vào, vì nóng lòng muốn gặp Chúa. 
Hai phản ứng khác nhau nhưng cùng diễn tả một tình yêu. 
Có thể coi nhóm môn đệ trên là hình ảnh của Hội Thánh. 
Hội Thánh hiệp nhất ngay giữa những khác biệt. 
Sự hiệp nhất lại làm nổi bật bản sắc mỗi người. 
Ðây không phải là một nhóm bạn khép kín, 
nhưng là nhóm bạn được Chúa Phục Sinh sai ra khơi. 
Chính sự hiện diện và lệnh truyền của Ngài 
là bảo đảm cho thành công của những lần buông lưới. 
Hội Thánh là một nhóm nhỏ được sai vào thế giới. 
“Không có Thầy anh em chẳng làm gì được.” (Ga 15,5). 
Nhưng có Thầy, anh em sẽ được những mẻ cá lớn. 
Nhóm bạn được sai đi cũng là nhóm bạn được quy tụ, 
được sai đi bởi Chúa và được quy tụ bên Chúa. 
Chúa Phục Sinh trở thành người dọn bữa ăn sáng. 
Ngài cầm lấy bánh trao cho các ông. 
Cử chỉ này gợi cho ta về những thánh lễ. 
Chúng ta thường quên thánh lễ là một bữa ăn. 
qua đó Chúa Phục Sinh nuôi ta bằng con người Ngài. 
Chúng ta được mời dùng bữa trong niềm hân hoan vui sướng. 
Hội Thánh truyền giáo phải được nuôi bằng Thánh Thể. 
Hội Thánh vừa lan rộng khắp nơi, vừa tập trung nơi thánh lễ. 
Ðó là nhịp thở đều đặn và cần thiết cho Hội Thánh. 
Ngài cầm lấy bánh trao cho các ông và nói: “Anh em đến mà ăn” (c.12). 
Chúa phục sinh vẫn đến với chúng ta giữa đời thường, 
giữa những vất vả lo âu, giữa những thất bại trống vắng. 
Chúa vẫn đứng trên bờ mà ta cứ tưởng người xa lạ. 
Ngài vẫn nhẹ nhàng chạm đến nỗi đau của ta: “Các con không có gì ăn ư?” 
Ngài vẫn mời ta bắt đầu lại dù mệt nhọc và thất vọng: 
“Hãy thả lưới bên phải mạn thuyền.” 
Chúa phục sinh quyền năng vẫn phục vụ như xưa. 
Bàn tay mang dấu đinh là bàn tay bây giờ nhen lửa và nướng cá. 
Bàn tay trao tấm bánh đời mình trong bữa Tiệc Ly 
bây giờ trao tấm bánh mình mới nướng cho môn đệ. 
Hãy nếm bầu khí huynh đệ của buổi sáng hôm ấy bên bờ hồ. 
Các môn đệ ngồi vòng tròn quanh Thầy xưa. 
Họ hết mệt, hết đói vì có cá và bánh. 
Họ được hong ấm nhờ lửa than hồng, và nhất là nhờ được gần Thầy. 
Hôm nay tôi cũng được mời sống cho người khác như Đấng phục sinh. 

Lạy Chúa Giêsu phục sinh 
lúc chúng con tìm kiếm Ngài trong nước mắt, 
xin hãy gọi tên chúng con 
như Chúa đã gọi tên 
chị Maria đứng khóc lóc bên mộ. 
Lúc chúng con chán nản và bỏ cuộc, 
xin hãy đi với chúng con trên dặm đường dài 
như Chúa đã đi với hai môn đệ Emmau. 
Lúc chúng con đóng cửa vì sợ hãi, 
xin hãy đến và đứng giữa chúng con 
như Chúa đã đến đem bình an cho các môn đệ. 
Lúc chúng con cố chấp và xa cách anh em, 
xin hãy kiên nhẫn và khoan dung với chúng con 
như Chúa đã không bỏ rơi ông Tôma cứng cỏi. 
Lúc chúng con vất vả suốt đêm 
mà không được gì, 
xin hãy dọn bữa sáng cho chúng con ăn, 
như Chúa đã nướng bánh và cá cho bảy môn đệ. 
Lạy Chúa Giêsu phục sinh, 
xin tỏ mình ra 
cho chúng con thấy Ngài mỗi ngày, 
để chúng con tin là Ngài đang sống, đang đến, 
và đang ở thật gần bên chúng con. Amen. 

 

2. Mẻ Cá lạ lùng

Thánh Gioan cho chúng ta biết đây là lần thứ ba Chúa hiện ra sau khi từ kẻ chết sống lại. Ngay sau khi sống lại, Chúa đến gặp các Tông Đồ, và sau nầy nhiều lần Chúa lại hiện ra và tiếp tục huấn luyện các ông: Chúa đặt cộng đoàn các Tông Đồ làm nền tảng Hội Thánh.

Phép lạ của lòng tin

Sau một đêm lênh đênh ngoai khơi, các môn đệ không bắt được con cá nào cả! Khi trời đã sáng, họ cho thuyền vào bờ để giặt lưới. Chúa bảo họ thả lưới xuống bên phải mạm thuyền thì sẽ có cá. Vô lý quá, các môn đệ là dân chài lưới, họ biết rõ gần bờ làm gì có cá. Và đâu có cá đi chăng nữa thì trời đã sáng, nước biển lại trong vắt, cá thấy lưới và sẽ bỏ chạy ngay, làm gì mà bắt được chúng? 

Thế mà PÂ kể, khi nghe Chúa nói, họ đã thả lưới. Và kết quả thật lạ lùng: không sao kéo nổi, vì lưới đầy cá! Các môn đệ đã làm theo lòng tin chứ không theo kinh nghiệm nghề nghiệp. Đây là một phép lạ của lòng tin. Ở Lộ Đức, một em bé chừng hai tuổi, bị thương hàn nặng, các bác sĩ bó tay. Nhưng người mẹ của em không thất vọng. Bà lao tới giường, ẵm em bé và chạy đến suối nước Lộ Đức cầu Đức Mẹ. Bà đã cầu nguyện rồi dìm em xuống nước lạnh như đã một hồi lâu; sau đó chỉ đưa em bé lên và thấy em mỉm cười: em đã hết bệnh. Có những chuyện con người không làm được nhưng Thiên Chúa thì làm được, vì NNgài quyền năng.

Cái nhìn của trái tim người môn đệ được Chúa Giêsu thương mến liền nói với Phêrô: Thầy đó!l Các môn đệ trên thuyền chưa ai nhận ra Chúa, người môn đệ được Chúa thương mến đã nhận ra Ngài. Chính tình yêu đã làm cho trái tim Gioan nhạy bén, nhận ra Chúa ngay.

Thánh Augustinô đã nói: Hãy yêu mến đi rồi muốn làm gì thì làm. Chính tình yêu Chúa Giêsu trong ta giúp ta nhay bén nhận ra Chúa trong cuộc đời. Người có lòng mến Chúa, khi nghe đọc Phúc âm, biết Chúa đang nói những gì với mình, đamg đòi hỏi mình phải sống thế nào.

Bài Tin Mừng hôm nay nói với tôi rất nhiều:  

- Trong cuộc sống, nhiều khi tôi cũng gặp không ít thất bại như các tông đồ đi đánh cá mà chẳng bắt được con nào. Tuy thất bại, suốt đêm không bắt được con cá nào, nhưng vẫn tin ở lời Chúa.  

- Chúa cũng nói với tôi rằng: Tôi cần có Chúa trong cuộc đời: khônq có Thầy, chúng con không làm được gì. Và muốn nhận ra Chúa trong cuộc đời thì tôi phải có lòng yêu mến như thánh Gioan; vì chỉ có tình yêu mới giúp ta nhận ra Chúa trong đời thường.

 

3. Tìm Lại Ðược Bản Thân

Tiền của, quyền bính, danh vọng, không đương nhiên mang lại cho con người hạnh phúc. Một lần nữa thế giới lại học biết chân lý ấy qua kinh nghiệm con người giàu có và danh tiếng nhất nước Mỹ hiện nay, là ông Tonner, nhà tỉ phú sáng lập hệ thống truyền hình CNN. Trong một phỏng vấn mới đây dành cho tạp chí The New York, nhà tỉ phú này cho biết rằng mình thất vọng đến nỗi đã có lúc nghĩ tới việc tự tử. Con người đã từng được xem là một trong những người quyền thế nhất nước Mỹ, nhất là sau khi ông đã tặng hàng tỉ Mỹ kim cho tổ chức Liên Hiệp Quốc, giờ đây tự nhận mình là nạn nhân của một cuộc chiến tranh đủ mọi mặt, từ công việc kinh doanh, đời sống gia đình và ngay cả niềm tin tôn giáo. Thất bại trong đời sống gia đình là điều thê thảm nhất đối với ông. Ông và nữ tài tử Folda đã ly dị nhau sau tám năm chung sống. Lý do chính khiến cho hai người chia tay nhau là vì Folda đã trở thành một tín hữu Kitô. Tonner đã có lần nói rằng Kitô giáo là tôn giáo dành cho những người thua cuộc và gọi Ðức Gioan Phaolô II là một tên ngu ngốc. Với tất cả những gì mình đang có trong tay, ông đã có lý khi gọi các tín hữu Kitô là những người thua cuộc. Nhưng cái nghịch lý lớn nhất của Kitô giáo mà con người giàu có và quyền thế này không thể hiểu được chính là thua để thắng, mất để được, chết để sống. Lẽ ra, trong nỗi thất vọng ê chề khiến ông chỉ còn nghĩ tới một lối thoát duy nhất là tự tử, Tonner phải hiểu được lời nhắn nhủ của Chúa Giêsu: "Chiếm được cả thế gian mà đánh mất chính bản thân, nào được ích gì?"

Chỉ sau khi được Chúa Kitô Phục Sinh hiện ra, các môn đệ của Ngài mới hiệu được cái nghịch lý vĩ đại ấy của Kitô giáo. Khi Thầy mình bị treo lên thập giá, giấc mộng công hầu khanh tướng của các môn đệ cũng tan thành mây khói. Trong nỗi thất vọng ê chề, họ đã buồn bã quay về với nghề cũ để rồi vất vả thâu đêm mà không bắt được con cá nào. Ðó là hình ảnh của một cuộc sống trống rỗng chán chường mà nhiều người vẫn tiếp tục lao mình vào. Có tất cả trong tay mà vẫn thấy thiếu thốn, hưởng mọi sự mà vẫn không thỏa mãn, được bảo đảm trong mọi sự mà vẫn không có được bình an. Hiện ra với các môn đệ sau khi các ông đã vất vả thâu đêm mà không bắt được con cá nào và cho các ông được mẻ cá lạ lùng, Chúa Giêsu muốn cho các ông thấy rằng không có Ngài, các ông không thể làm được gì và một cuộc sống thiếu vắng Ngài là thiếu tất cả.

Lần đầu tiên những người chài lưới đã bỏ mọi sự mà đi theo Chúa Giêsu, lần này họ không những bỏ mọi sự mà còn bỏ chính bản thân mình. Họ hiểu rằng chỉ khi trút bỏ cuộc sống con người của mình, họ mới thực sự được lấp đầy bởi chính Ðấng là Ðường, là Sự Thật và là Sự Sống. Với Ngài, họ tìm lại được bản thân và có được điều mà không một của cải nào trên trần gian này có thể mua sắm được, đó là sự bình an trong tâm hồn. "Bình an cho các con", đó là điều mà Chúa Kitô Phục Sinh luôn chào chúc cho các môn đệ mỗi lần hiện ra cho các ông.

Ước gì chúng ta cũng biết sẵn sàng trút bỏ mọi sự để cảm nếm được sự bình an đích thực của Ðấng Phục Sinh.

 

4. Đức tin mai sau

Ngày nay, điều gắn bó tôi với Tin mừng chính là thái độ của các môn đệ. Sau khi đã trông thấy Đức Giê-su sống lại, đã tin vào Người, đã cảm nghiệm rõ ràng lạ lùng, các ông không làm gì khác mà chỉ biết trở về quê đi đánh cá. Rõ ràng các ông không biết phải xử thế nào, phải sống ra sao vì các ông thất nghiệp và chỉ biết theo sở thích và thói quen cũ là nghề đánh cá, các ông đi ra khơi.

Mai sau đức tin của chúng ta cũng quy tụ những người như thế đó. Chúng ta sẽ thấy mình có sự thay đổi nồng nhiệt theo chân Đức Ki-tô, sau một cuộc tĩnh tâm, sau một cao điểm nguyện ngắm hay một cuộc đại lễ lạ lùng, chúng ta thấy mình không biết làm gì, cư xử ra sao. Chúng ta cũng như mấy môn đệ bên bờ hồ nhỏ với ý nghĩ này : “Này bây giờ, chúng ta hãy trở về sống đời thường, dù nó vô ích vô vị".

Mai sau đức tin của chúng ta gặp nhiều khó khăn, trở ngại vì phải chấp nhận kiểm thảo luôn, không thể hành trang mộtmình được, cần phải đón nhận một người vô danh nào đó chỉ hướng cho đi hướng nào, làm ởù đâu : "Hãy thả lưới bên phải". Còn cần phải tiếp nhận được nuôi dưỡng, ngồi xuống chia sẻ của ăn, trong Tin mừng hôm nay, nhưng con cá các môn đệ ăn không phải do các ông đánh bắt. Trước khi các ông kéo thuyền vào bờ, cá và bánh đã được nướng rồi.

Đức Giê-su như muốn cho các ông hiểu rằng các tông đồ phải biết nương tựa đến tột đỉnh : Người bảo với các ông đánh cá ở đâu và Người cho các ông đầy cá, chứ các ông đánh thâu đêm chẳng được gì cả. Cá và bánh đã được Người dọn sẵn rồi.

Mai sau đức tin của chúng ta sẽ có thể dễ thấm nhuần nếu chúng ta không quên điều đã diễn ra trên bờ hồ mà Đức Giê-su đã ra dấu chỉ và chúng ta biết chấp nhận lãnh lấy của nuôi do chính Người đã dọn sẵn cho chúng ta, ước mong chúng ta biết ngồi xuống lãnh nhận ơn Ngài ban.

 

5. Chính Chúa đó

Phép lạ hôm nay được thánh Gioan kể lại và cũng là phép lạ cuối cùng của Chúa Giêsu nơi trần thế. Phép lạ này xảy ra sau khi Chúa Giêsu sống lại nghĩa là trong khoảng thời gian 40 ngày trước khi về trời. Nơi xảy ra phép lạ thì gần biển Tibêria, có lẽ gần thành Betsaida là quê hương cùng thánh Phêrô và Gioan là hai vai chính trong câu chuyện hôm nay.

Các môn đệ được lệnh qua chị Madalêna là sẽ được gặp Chúa phục sinh ở Galilê (Mt 28,10). Trong khi chờ đợi họ trở về sống nghề cũ là chài lưới, thánh Phêrô là người đầu tiên đi đánh cá. Và đêm ấy họ thức trắng đêm và tay trắng chẳng được con cá nào. Họ sửa soạn giũ lưới đi nghỉ thì Chúa hiện đến trên bờ. Trời tang tản sáng để có thể nhận biết người và thuyền. Nhưng họ vẫn không nhận ra Chúa Giêsu đứng đó, cũng giống như trường hợp của Maria Madalêna bên ngôi mộ (Gio 20,14), cũng như hai môn đệ Emmaus (Lc 14,13).

Từ xa xa Chúa Giêsu gọi các môn đệ một cách đầy yêu thương “Các con à, có gì ăn không ?” (c.5). Đấy là một câu hỏi đối với dân miền biển phải hiểu rằng có đánh cá được gì chăng ? các môn đệ trả lời một tiếng vắn vỏi “” (c.5) như bộ mệt mỏi chán chường. Lúc ấy hình như lưới của họ đã thả ở bên trái mạn thuyền. Nên Chúa bảo họ thả lại bên hữu thuyền (c. 6). Họ vâng lời và họ kéo được quá nhiều cá hơn sức họ mong tưởng. Thấy thế hẳn các môn đệ nghĩ lại phép lạ lần trước kia Chúa cũng bảo Phêrô ra khơi về đêm bắt cá nhiều đến nỗi phải nhờ thuyền bạn bè chở giúp (Lc 5,1-11).

Gioan là người đầu tiên phát giác ra đó chính là Chúa Giêsu. Ông nói: “Chính Thầy đó” (c.7). Lúc ấy Phêrô ở trần, chứng tỏ ông hoạt động hăng hái xuống khỏi thuyền, vì lúc ấy thuyền gần bờ, chỉ còn khỏang 90m. Thuyền vào bờ do Phêrô điều khiển. Lúc ấy Chúa bảo đem đến cho Ngài ít cá để nướng ăn điểm tâm. Lúc ấy các môn đệ mới nhận ra là Chúa và không ai dám hỏi gì nữa, không còn ai hồ nghi gì nữa (c.120. Điều đặc biệt là chính Chúa Giêsu hiện ra đã dọn cho các môn đệ một bữa ăn sáng.

Ở đây, chúng ta thấy một chi tiết là trong số 6,7 anh em tông đồ đi đánh cá mà chỉ một mình Gioan nhận ra Chúa trước hết, vì Gioan là người được Chúa yêu và yêu Chúa. Cũng  chính ông là người tin đầu tiên sự kiện mộ trống (Gio 20,8). Thật đúng với điều thứ sáu của bát phúc là phúc cho kẻ có lòng trong sạch vì họ sẽ được thấy mặt Thiên Chúa (Mt 5,8). Gioan là người được công phúc hôm nay, rất có thể vì đó mà được phép lạ này thì sao.

Qua phép lạ này, họ tò mò đếm được 153 con cá lớn. Con số 153 cũng có một ý nghĩa là các nhà vạn vật học xưa cũng như nay đều công nhận cá biển gồm 153 loại cá lớn khác nhau. Ngoài ra con số 153 là do sự cộng lại của tất cả các con số (1+2. 2+3...). Như thế có ý ám chỉ rằng nước Chúa như một mẻ lưới cá thu góp tất cả mọi tâm hồn (cf.Mt 13,47),nước Chúa như một chuồng chiên (Gio 10,16). Chính Chúa Giêsu cũng đã từng quả quyết: ngày nào bị treo lên, sẽ kéo mọi người theo (Gio 12,32.6,44). Vậy thì con số 153 cũng là mẻ lưới ám chỉ nước Chúa mở rộng cho mọi tâm hồn tin nhận Chúa không phân biệt màu da chủng tộc, quê hương. Điều phân biệt là cá tốt cá xấu trong ngày tận thế.

Ngoài ra phép lạ này còn cho chúng ta thấy các tông đồ là những tay chài lưới nhiệt thành vâng lời. Họ đã làm việc với những phương tiện hết sức eo hẹp và có vẻ như thất bại buổi đầu... để họ biết sự thành công đến từ đâu, từ chính Thiên Chúa, chứ sức riêng họ chỉ là vâng lời như một dụng cụ trước Thiên Chúa (Lc 17,10).

Việc Chúa hiện đến giữa lúc họ làm việc mệt mỏi minh chứng Chúa đã phục sinh.

 

6. Những ngày hôm sau của đức tin. 

Điều mà Phúc âm hôm nay làm tôi chú ý, ấy là thái độ của các môn đệ. Sau khi nhìn thấy Đấng Phục sinh, sau khi đặt đức tin vào Ngài, sau khi có được một kinh nghiệm duy nhất, họ không làm gì khác hơn là trở về đánh cá. Ta có cảm giác rằng họ không biết cách cư xử, rằng họ vô công rỗi nghề, và vì họ vẫn còn sở thích và thói quen đánh cá, nên họ lại ra hồ.   

Những ngày hôm sau của đức tin chúng ta cũng giống như họ. Sau khi ra khỏi một cuộc trò chuyện sốt sắng với Chúa, sau một kỳ tĩnh tâm, sau một giờ suy niệm hay một nghi lễ phi thường, chúng ta trở về tình trạng không biết phải làm gì và cư xử ra sao . Vài người chúng ta đang ở bên bờ của chiếc hồ nhỏ bé của mình và suy nghĩ: “Và bây giờ, ta hãy trở lại với cuộc sống, dù cho nó vô nghĩa và vô ích”. 

Những ngày hôm sau của đức tin là những ngày khó vượt qua nhất, vì chúng ta cần phải dành lòng tiếp tục nhận lãnh, vì chưa thể bước đi một mình. Cần phải chấp nhận một người xa lạ chỉ cho ta làm việc ở đâu, phải bắt tay vào việc nào: “Hãy bủa lưới xuống bên phải”. 

Cần phải chấp nhận tiếp tục để cho người ta cho ăn, ngồi xuống và chia sẻ thức ăn. Trong bài Phúc âm hôm nay, những con cá mà các môn đệ ăn không phảì là những con mà họ bắt được. Trước khi họ rời thuyền, cá và bánh đã được nướng rồi. 

Chúa Giêsu có vẻ muốn rằng các môn đệ lệ thuộc mình đến cùng: Ngài bảo họ phải bủa lưới ở đâu và ban cho họ những con cá mà họ không hề bắt, những con cá và bánh mà Ngài đã chuẩn bị cho họ.

Những ngày hôm sau của đức tin chúng ta có lẽ sẽ dễ dàng hơn nếu chúng ta không quên đi những gì đã xảy ra bên bờ hồ: ấy là Chúa Giêsu phải ra hiệu, và chúng ta cần phải nhận lãnh lương thực mà Ngài đã chuẩn bị, chúng ta cần phải ngồi xuống để nhận lãnh.

 

7. Chúa vẫn hiện điện

Lần thứ ba Chúa Ki tô Phục Sinh hiện ra với các môn đệ trên bờ hồ Tibêria. Ngài không đến với họ giữa lúc họ đang chờ đợi một biến cố phi thường hay giữa lúc họ đang chìm đắm trong cầu nguyện, mà chính lúc họ đang thả lưới đánh cá Ngài cũng không đến với họ trong hào quang uy nghi sáng láng của Đấng Phục Sinh, mà chỉ đến như một người xa lạ. Cuối cùng, cuộc gặp gỡ giữa Đấng Phục Sinh và các môn đệ lại diễn ra trong một sinh hoạt khác cũng thiết thân với cuộc sống hàng ngày của con người, đó là bữa ăn. 

Chúa Ki tô Phục Sinh đã đến với các môn đệ giữa những sinh hoạt thường ngày của họ, và Ngài đã tỏ mình ra bằng cử chỉ quen thuộc nhất của Ngài là bẻ bánh và trao ban. Ngày nay, Đấng Phục Sinh vẫn tiếp tục đến với chúng ta trong cùng một thể thức ấy: Ngài đến trong những sinh hoạt âm thầm hoặc vô danh nhất trong cuộc sống mỗi ngày chúng ta. Ngài đến trong niềm vui nỗi khổ của chúng ta, Ngài đến như một người xa lạ.vô đanh, Ngài đến trong từng người chúng ta gặp gỡ Ngài đến trong những kẻ bé mọn nghèo hèn, và ngay cả trong kẻ thù của chúng ta, Ngài tỏ mình bằng cử chỉ bẻ bánh và trao ban.

Đấng Phục Sinh tỏ mình qua những cử chỉ trao ban của con người, cho nên càng mở rộng tâm hồn và đôi tay để san sẻ, con người càng cảm nghiệm được sự hiện diện của Ngài.Ngài vẫn luôn có đó trong cuộc sống từng ngày và không ngừng mời gọi chúng ta đón nhận Ngài. Ngài vẫn luôn có đó và chúng ta có thể cảm nhận được sự hiện diện của Ngài mỗi khi chúng ta làm một cử chỉ quảng đại, yêu thương và tha thứ. Ước gì chúng ta luôn tỉnh thức để nhận ra Chúa Kitô Phục Sinh, và sống như thế nào để trở thành dấu chứng sự hiện diện của Ngài cho mọi người.

 

8. Sự hiện diện của Chúa

Một triết gia Tây Phương đã ghi lại diễn tiến trong quan niệm hạnh phúc của ông như sau: Thoạt tiên ông cho rằng muốn có hạnh phúc, con người cần phải có nhiều hiểu biết thế nhưng ông đã miệt mài học hỏi tìm tòi và thu tích kiến thức, nhưng càng học càng thấy những giới hạn của mình, điều đó đem lại cho ông thất vọng. Ông thay đổi quan niệm: muốn được sung sướng trên cõi đời này, cần phải đi đây đó nhiều hơn. Ông lại lên đường đi tìm hạnh phúc một lần nữa, nhưng rồi ông chỉ thấy mệt mỏi chán chường. Ông xoay qua chuyện làm giàu: với tài tháo vát, chẳng mấy chóc ông đã thu tích được rất nhiều của cải, nhưng tiền của cũng chỉ làm ông bận tâm đến mất ăn mất ngủ. Ngày nọ, tình cờ đi qua một ga xe lửa, ông thấy một người đàn bà tay bồng con đang đứng chờ một ai đó. Chuyến xe lửa vừa dừng, một người bước nhanh lại, hôn người đàn bà và đứa con rồi cả ba lên xe ra khỏi bãi đậu xe. Sự kiện chỉ có thế nhưng đã lóe một tia sáng khiến triết gia phải thốt lên: “Hạnh phúc đích thực là tìm được niềm vui trong cái tầm thường của cuộc sống từng ngày”.

Ai trong chúng ta cũng mải mê chạy theo chiếc bóng hạnh phúc mà quên rằng hạnh phúc đích thực nằm ngay thẳng tầm tay chúng ta. Cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và các môn đệ trong Tin mừng hôm nay giúp chúng ta hiểu ý nghĩa và mục đích của cuộc sống. Các môn đệ đã thả lưới suốt đêm mà không bắt được con cá nào. Tình cờ một người lạ mặt xuất hiện bảo họ hãy thả lưới bên phải, và mẻ cá nhiều đến nỗi thuyền muốn chìm. Chúa Giêsu đến với họ một cách kín đáo nhẹ nhàng, Ngài chọn cảnh sống thường ngày của con người để hiện ra với các môn đệ Ngài đến lúc các ông đang thả lưới, Ngài tham dự vào bữa ăn của các ông. Ánh lửa mà Ngài đốt lên bên bờ hồ Tibêria đã soi sáng tâm hồn các môn đệ để các ông hiểu rằng Chúa Kitô Phục Sinh vẫn đang có mặt và chỉ sự hiện diện ấy cũng đủ đem lại niềm vui đích thực

Chúa Kitô Phục Sinh động hiện diện trong từng phút giây cuộc sống chúng ta. Đó phải là niềm xác tín của người Kitô hữu chúng ta: Hãy để cho Ngài có mặt và đồng hành với chúng ta, nhờ đó những gặp gỡ thường ngày, những công việc vô danh nhất trong cuộc sống sẽ biến thành niềm vui bất tận. 

 

9. Cái nhìn của tin yêu

Một nhà truyền giáo da trắng nọ đến thăm một người bạn đang làm việc tại Phi châu vào lúc gần giờ ăn. Vừa bước vào nhà của người bạn, nhà truyền giáo gặp một người đàn bà da đen đang dọn bữa ăn. Người đàn bà này lễ phép cúi đầu chào nhà truyền giáo.

Tuy tưởng là người giúp việc trong nhà, nhưng nhà truyền giáo cũng vẫn lịch sự cuí đầu đáp lễ. Tuy nhiên trong đầu óc thoáng có ý tưởng kỳ thị. Thế rồi nhà truyền giáo ngồi nói truyện với người bạn là ông chủ nhà.

Vì gần tới giờ ăn nên chủ nhà mời nhà truyền giáo dùng bữa. Nhà truyền giáo nhận lời.

Đang lúc chủ khách truyện trò vui vẻ, thì người đàn bà da đen đến ghé vào tai ông chủ nói nhỏ điều chi đó, rồi lại quay xuống bếp.

Một lát sau, chủ nhà mời khách qua phòng ăn. Bước vào phòng ăn, nhà truyền giáo thấy người đàn bà da đen đã có mặt nơi phòng ăn.

Một ý tưởng cảm phục tinh thần bình dân của người bạn, nẩy sinh trong đầu óc nhà truyền giáo, khi thấy người đàn bà da đen kia, ngồi vào bàn ăn. Sau phút thánh hoá bữa ăn, chủ nhà giới thiệu với nhà truyền giáo, người đàn bà da đen ngồi đồng bàn.

- Thưa Ngài, đây là vợ tôi.

Nhà truyền giáo quay nhìn người đàn bà da đen với cái nhìn ngạc nhiên, và hai người cúi đầu chào nhau. Nhà truyền giáo lại càng ngạc nhiên hơn nữa, khi thấy người bạn ông, ca tụng nét duyên dáng của người đàn bà da đen. Ông nói là chưa bao giờ ông gặp được những đức tính, cũng như những nét duyên dáng như vậy, nơi những người da trắng mà ông quen biết. Thấy chồng khen ngợi mình trước mặt khách, người đàn bà da đen làm bộ có việc phải xuống bếp, còn nhà truyền giáo thì ngồi lắng nghe những lời ca tụng vợ, của người bạn ông và suy nghĩ về hai chữ TINH YÊU, rồi sau đó tự đưa ra một kết luận : “Tình yêu có thể giúp khám phá ra những gì mà bình thường, người không yêu không thể nào khám phá ra được”.

Đoạn Tin Mừng được trích đọc trong thánh lễ hôm nay thuật lại việc Chúa Giêsu hiện ra với các Tông Đồ của Ngài, sau một đêm các ông vất vả thả lưới mà không được gì.

Thánh sử Gioan ghi chú :”Nhưng các ông không biết là Chúa Giêsu”. Tiếp ngay sau đó Thánh sử ghi :”Người môn đệ Chúa yêu liền nói với Phêrô ”Chính Thầy đó”.

Chúa Giêsu đã phục sinh. Đó là một sự thật. Sự thật đó đang ở trước mặt các Tông Đồ của Chúa Giêsu, nhưng chỉ có một mình Gioan, người môn Đệ Chúa yêu, là nhìn ra sự thật đó mà thôi.

Thì ra tình yêu đã làm cho Gioan nhận ra Chúa Giêsu, Đấng mà các Tông Đồ khác không nhìn ra, cho dù Ngài đang đứng trước mặt các ông.

Và khi đã nhận ra, Gioan giới thiệu cho Phêrô như chia sẻ niềm vui mà Gioan đang được diễm phúc vui hưởng.

Trong Thánh Lể hôm nay, chúng ta hãy xin Chúa ban thêm lòng tin mến cho chúng ta, như Ngài đã ban cho Gioan, để dù trong đau thương trong thất bại, chúng ta vẫn có thể nhìn ra Chúa Giêsu Phục Sinh, vẫn còn khám phá ra được niềm hy vọng, vì Chúa Giêsu vẫn hằng luôn luôn hiện diện ở bên chúng ta, để lo lắng chăm sóc cho chúng ta.

Và khi đã nhận ra Ngài, chúng ta cũng xin cho chúng ta biết mau mắn giới thiệu Ngài cho người khác với tất cả niềm xác tín và yêu mến, để họ cũng vội vã tìm đến với Chúa như Phêrô và các Tông Đồ khác.

Hàng rào ngăn cản chúng ta đến với Chúa đó là tội lỗi. Hãy dẹp bỏ hàng rào đó đi giờ này, bằng cách bầy tỏ lòng ăn năn thống hối của chúng ta.

 


Sinh hoạt khác

Tin Giáo Hội

Mục Tổng Hợp

» Xem tất cả Video

Liên kết website

Bài viết được quan tâm