Danh mục bài viết

Cập nhật 15/4/2020 - 4:1 - Lượt xem 6401

Thứ Năm Tuần Bát nhật Phục Sinh

"Ðấng Kitô phải chịu thương khó như vậy, rồi mới được tôn vinh".

Tin Mừng: Lc 24, 35-48

Hai môn đệ từ Emmau trở về, thuật lại cho Nhóm Mười Một và các bạn hữu những việc đã xảy ra dọc đường và mình đã nhận ra Chúa thế nào khi Người bẻ bánh. Các ông còn đang nói, thì chính Ðức Giêsu đứng giữa các ông và bảo: “Bình an cho anh em!” Các ông kinh hồn bạt vía, tưởng là thấy ma. Nhưng Người nói: “Sao anh em lại hoảng hốt? Sao còn ngờ vực trong lòng? Nhìn chân tay Thầy coi, chính Thầy đây mà! Cứ rờ xem, ma đâu có xương có thịt như anh em thấy Thầy có đây?” Nói xong, Người đưa tay chân ra cho các ông xem. Vì mừng quá, các ông vẫn chưa tin và còn đang ngỡ ngàng, thì Người hỏi: “Ở đây anh em có gì ăn không?” Các ông đưa cho Người một khúc cá nướng. Người cầm lấy và ăn trước mặt các ông. Rồi Người bảo: “Khi còn ở với anh em, Thầy đã từng nói với anh em rằng tất cả những gì sách Luật Môsê, các Sách Ngôn Sứ và các Thánh Vịnh đã chép về Thầy đều phải được ứng nghiệm.” Bấy giờ Người mở trí cho các ông hiểu Kinh Thánh và bảo: “Có lời Kinh Thánh chép rằng: Ðấng Kitô phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba, từ cõi chết sống lại, và phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ Giêrusalem, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội. Chính anh em là chứng nhân của những điều này”.

 

Suy niệm:

1.Anh em là chứng nhân - Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ.

Sợ ma không phải chỉ là chuyện của trẻ con. 
Cả người lớn như các tông đồ cũng sợ ma. 
Có lần Ðức Giêsu đi trên mặt nước mà đến với họ, 
nhưng họ kinh hoàng tưởng Thầy là ma. 
Khi Ðức Giêsu phục sinh hiện ra với các môn đệ, 
họ cũng hoảng hốt tưởng là thấy ma. 
Ðấng sống lại đã kiên nhẫn làm hết cách 
để đưa các môn đệ ra khỏi nỗi ám ảnh kinh khủng. 
Ngài mời họ xem và đụng đến tay chân Ngài 
để thấy Ngài là người bằng xương bằng thịt. 
Ngài còn ăn một miếng cá nướng 
để cho họ thấy Ngài không phải là một bóng ma. 
Khi các môn đệ yếu đức tin, 
họ coi Ðức Giêsu phục sinh chỉ là bóng ma. 
Nhưng khi đức tin của họ được củng cố, 
họ mới thấy Ngài có thực. 
Lắm khi chúng ta vẫn tưởng Chúa là bóng ma đe dọa, 
vì Chúa đến gặp ta một cách quá bất ngờ, 
giữa lúc con thuyền đời ta chòng chành vì gió ngược, 
hay lúc căn nhà lòng ta khép kín vì nỗi buồn đau. 
Chúa vẫn đến lúc ta tưởng Ngài không thể đến. 
Ngài mời gọi ta làm chứng nhân cho Ngài. 
Kitô hữu là chứng nhân của niềm hy vọng. 
Ðức Giêsu bị đóng đinh đã sống lại ra khỏi mồ. 
Bạo lực, bất công, dối trá, hận thù bị thảm bại. 
Quyền lực của bóng tối chỉ là tạm thời. 
Chiến thắng cuối cùng thuộc về Tình Yêu và Ánh Sáng. 
Bởi thế người Kitô hữu vẫn hy vọng không ngơi 
ngay giữa lúc sự dữ có vẻ thắng thế. 
Kitô hữu là chứng nhân của sự sống. 
Thế giới hôm nay bị mê hoặc bởi sự chết. 
Những cuộc chiến tranh, xung đột, ám sát, bạo động. 
Những loại ma tuý khiến người ta chết không ra người. 
Những vụ phá thai quá dễ dàng nơi các cô gái trẻ. 
Những vụ tự tử chỉ vì những lý do không đâu. 
Kitô hữu phải làm cho sự sống có mặt, 
và hấp dẫn gấp ngàn lần sự chết. 
Họ phải là nguồn sống dồi dào, 
sống đơn sơ, thanh bạch, nhưng hạnh phúc. 
Kitô hữu là chứng nhân của niềm vui. 
Bao trẻ thơ buồn vì thiếu thầy cô, thiếu trường học. 
Bao bệnh nhân ở xa thành phố, cần đến thầy thuốc. 
Bao người nghèo khổ sống trong nỗi muộn phiền. 
Nếu chúng ta thực sự có niềm vui của Chúa, 
nếu chúng ta đã ra khỏi nỗi âu lo về mình, 
chắc chúng ta sẽ ra đi công bố Tin Mừng Phục Sinh, 
bằng việc đem lại nụ cười cho những người bất hạnh. 
Chuyện Ðức Giêsu phục sinh là chuyện khó tin. 
Nhưng nếu chúng ta sống quên mình phục vụ 
thì người ta có thể gặp đươc Ðấng đang sống. 

Giữa một thế giới 
chạy theo tiện nghi, hưởng thụ, 
xin cho con biết bằng lòng với cuộc sống đơn sơ. 
Giữa một thế giới còn nhiều người đói nghèo, 
xin cho con đừng thu tích của cải. 
Giữa một thế giới mà sự sống bị chà đạp, 
xin cho con biết quý trọng phẩm giá từng người. 
Giữa một thế giới không tìm thấy hướng sống, 
xin cho con biết xây lại niềm tin. 
Lạy Chúa Giêsu, 
xin cho con cảm được 
cơn đói đang giày vò bao người, 
xin cho con nghe được lời mời của Chúa : 
“Các con hãy cho họ ăn đi.” 
Ước gì chúng con dám trao 
tất cả những gì chúng con có cho Chúa, 
để Chúa trao tất cả những gì Chúa có 
cho chúng con và cho cả nhân loại. Amen. 

 

2. Ý nghĩa của đau khổ

Có một đệ tử hỏi Thầy mình như sau:

- Thưa Thầy, tại sao những người lành phải đau khổ hơn những kẻ dữ.

Ông Thầy trả lời:

- Con hãy nghe đây, một nông dân nọ có hai con bò: một con khỏe mạnh, một con ốm yếu. Theo con nghĩ thì ngươi ấy thương con nào hơn?

Người đệ tử thưa:

- Con bò khỏe mạnh.

Ông thầy liền kết luận:

- Thiên Chúa cũng làm như vậy để cho thế giới này tiến tới. Ngài đặt ách trên vai người lành. Đau khổ là một thực tại không ai có thể thoát được, nhưng chỉ những tâm hồn dũng mãnh mới thấy được ý nghĩa và giá trị của đau khổ trong cuộc sống.

Trong ánh sáng Phục Sinh, Giáo Hội cũng mời gọi chúng ta suy nghĩ về ý nghĩa và giá trị của đau khổ. Khi hiện ra cho hai môn đệ Emmau, Chúa Giêsu đã dẫn giải cho các ông về ý nghĩa của đau khổ trong tương quang với sự phục sinh của Ngài. Ngài đã trải qua đau khổ để tiến vào vinh quang. Cuộc khổ nạn là tiền đề bắt buộc của sự sống lại. Nhưng như Phêrô có lần đã can ngăn, các môn đệ khác cũng không chấp nhận được sự kiện Chúa Gièsu phải chết, và vì thế các ông cũng không tin ở sự phục sinh của Ngài.

Trong ánh sáng Phục Sinh, chúng ta được mời gọi để nhìn vào nỗi cay cực khốn khổ hiện tại của chúng ta. Trong huấn thị về việc làm cho chết êm dịu công bố năm 1990, Bộ giáo lý đức tin đã viết: “Sự đau khổ, nhất là trong những giây phút cuối đời mang một ý nghĩa đặc biệt trong chương trình cứu rỗi của Thiên Chúa. Quả thực đau khổ là tham dự vào cuộc Khổ nạn của Đức Kitô và kết hiệp với Hy tế cứu rỗi của Ngài. Hy tế mà Ngài đã dâng hiến như của lễ đẹp lòng Chúa Cha”. Mẹ Têrêxa Calcutta thì coi đau khổ như một hồng ân của Chúa, Mẹ nói: “Tôi tự hỏi thế giới này sẽ ra sao nếu không có những người vô tội đang đền bù cho tất cả chúng ta. Mỗi ngày, cuộc Tử nạn của Chúa Giêsu được lặp lại trong cuộc sống của những người đau khổ. Đau khổ không phải là một trừng phạt. Đau khổ là một hồng ân. Chính vì thế cần có tâm hồn trong sạch để nhận ra bàn tay Chúa, để cảm nhận tình yêu của Ngài trong đau khổ của chúng ta”.

Ước gì ánh sáng Phục Sinh của Đức Kitô chiếu dọi vào tăm tối của những đau khổ thử thách của chúng ta để trong mọi sự chúng ta luôn cảm nhận được tình yêu của Chúa và làm chứng cho tình yêu ấy bằng thái độ phó thác và yêu thương. 

 

3. Ðau Khổ Là Một Hồng Ân

Trong ánh sáng Phục Sinh, Giáo Hội mời gọi chúng ta suy nghĩ về ý nghĩa và giá trị của đau khổ. Khi hiện ra cho hai môn đệ Emmaus, Chúa Giêsu đã dẫn giải cho các ông về ý nghĩa của đau khổ trong tương quan với sự phục sinh của Ngài. Ngài đã trải qua đau khổ để tiến vào vinh quang. Cuộc khổ nạn là tiền đề bắt buộc của sự sống lại. Như Phêrô có lần đã can ngăn, các môn đệ khách cũng không chấp nhận được sự kiện Chúa Giêsu phải chết, và vì thế các ông cũng không tin ở sự phục sinh của Ngài.

Trong ánh sáng Phục Sinh, chúng ta được mời gọi để nhìn vào nỗi cay cực khốn khổ hiện tại của chúng ta. Trong huấn thị về việc làm cho chết êm dịu công bố năm 1990, Bộ Giáo Lý Ðức Tin đã viết:

"Sự đau khổ, nhất là trong những giây phút cuối đời, mang một ý nghĩa đặc biệt trong chương trình cứu rỗi của Thiên Chúa. Quả thực, đau khổ là tham dự vào cuộc khổ nạn của Chúa Kitô và kết hợp với Hy Tế cứu rỗi của Ngài. Hy Tế mà Ngài đã dâng hiến như của lễ đẹp lòng Chúa Cha".

Mẹ Têrêsa Calcutta thì coi đau khổ như một hồng ân của Chúa, Mẹ nói:

"Tôi tự hỏi thế giới này sẽ ra sao, nếu không có những người vô tội đang đền bù cho tất cả chúng ta. Mỗi ngày, cuộc tử nạn của Chúa Giêsu được lặp lại trong cuộc sống của những người đau khổ. Ðau khổ không phải là một trừng phạt. Ðau khổ là một hồng ân. Chính vì thế cần có tâm hồn trong sạch để nhận ra bàn tay Chúa, để cảm nhận tình yêu của Ngài trong đau khổ của chúng ta".

Ước gì ánh sáng Phục Sinh của Chúa Kitô chiếu dọi vào tăm tối của những đau khổ thử thách của chúng ta, để trong mọi sự chúng ta luôn cảm nhận được tình yêu của Chúa và làm chứng cho tình yêu ấy bằng thái độ phó thác và yêu thương.

 

4. Mở trí cho hiểu Kinh Thánh

Trong đoạn Kinh thánh này, thánh Lu-ca đã thâu tóm lại vào buổi chiều phục sinh tất cả các việc xảy ra suốt bốn mươi ngày từ ngày phục sinh đến ngày Đức Giê-su lên trời. Thực vậy, mười một tông đồ chỉ có thể dần dần "lãnh hội được đầy đủ sứ điệp phục sinh” (theo chú giải bản dịch TOB). 

Đối với những kẻ thấy Người họ tưởng là ma, Đức Giê-su đã cho họ xem những lỗ đinh đóng ơ chân tay Người. Đối với kẻ quá vui mừng khi thấy Thầy thật rồi, Đức Giê-su cho họ cùng ăn uống với Người. Đối với kẻ coi cuộc thương khó là gương mù, gương xấu Người giải thích Thánh kinh để họ nhận ra chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Đối với kẻ còn do dự, Người đòi họ trở nên nhân chứng rao giảng Tin mừng từ thành Giê-ru-sa-lem cho đến cùng cõi trái đất.

Tin Đức Giê-su không phải là đặc ân riêng cho mình, mà chính là ơn gọi làm chứng về Tin mừng đến mọi nơi. Mỗi cuốn Tin mừng đều biểu lộ cho người ta thấy nhiệm vụ chính thức của các tông đồ và của Giáo hội là rao giảng Tin mừng “và có thể chỉ một đoạn nhỏ Tin mừng cũng đủ trình bày tổng quát về ý nghĩa mầu nhiệm phục sinh" (A. George). Đức Giê-su lên trời để Chúa Thánh Thần hiện xuống soi sáng cho những chứng nhân của Người thiết lập.

Đức tin của chúng ta phải thành ơn gọi thúc đẩy chúng ta vượt ra khỏi những vấn đề cá nhân để tiến sâu vào sứ mệnh phổ biến ơn cứu độ. Chúa Thánh Thần luôn linh ứng hướng dẫn Giáo hội, nhưng chính chúng ta chậm trễ theo ơn Ngài, chính những cánh buồm tâm hồn chúng ta không mở căng ra. Các mầu nhiệm nói về các vết thương Đức Ki-tô như những môi miệng kêu gọi tình yêu của kẻ đã nhận biết. Chúng ta sẽ lấy gì, làm gì để tỏ lòng mến Thiên Chúa ? Chịu lấy những vết thương hằn sâu trong hy sinh để thành chứng nhân của Đức Ki-tô, hay chỉ coi đó là những nhãn mác lòe loẹt ngoài mặt thôi ?

Trong khi chờ đợi Chúa lại đến, chúng ta phải sống âm thầm dấn thân mạo hiểm nhiều, chứ không chỉ giải những đáp số, nhưng chịu trách nhiệm săn sóc chăm lo cho chính bản thân mình và anh em mình. Khi đức Giê-su hiện đến, Người chỉ hỏi một điều giản dị : "Các con có gì ăn không ?". Đối với chúng ta phải sống cuộc đời tạm bợ, phải làm việc mò mẫm luôn, phải kiếm ăn vất vả nặng nhọc ... không phải là những chứng nhân diễn kịch cho khán giả coi, nhưng là gợi lên ý nghĩa hy sinh tử đạo . . .

 

5. Bình an cho các con

Cuộc tử nạn của Chúa Giêsu làm cho một số môn đệ, người thì bỏ cuộc ra về (Lc 24,13t), số khác thì sợ hãi ngồi ru rú trong ngôi nhà cửa đóng then cài kín mít lo âu cho số phận của mình. Giữa lúc ấy  thì Chúa hiện đến nói: “Bình an cho chúng con” (c.38).

Còn lời nào an ủi cần thiết hơn nữa không ? Ai ai cũng thấy cần sự bình an có khi còn cần hơn cả cơm ăn áo mặc. Các môn đệ đang cần thiết như thế và Chúa đã ban cho như vậy. Ngày nào nơi hang Belem cung vang lên lời cầu chúc ấy của thiên thần “Bình an dưới thế...” (Lc 2,14). Trong bát phúc nước Trời, “kẻ bình an”được gọi là con Thiên Chúa (Mt 5,9) và Chúa hứa ban bình an riêng của Ngài không như thế gian ban tặng (Gio 14,27). Sách Sđcv gọi Phúc âm là “Tin Mừng bình an”  (10,36). Vâng, có Chúa là có bình an, có ngay lập tức như các tông đồ trong phòng kín vậy.

Nếu chúng ta không có Chúa thì Chúa không ở trong chúng ta. Chúng ta không được sự bình an của Ngài, chúng ta không được vào số những người mà Chúa chúc phúc mà cứ mãi lo âu bất ổn. Chúng ta không có bình an của Chúa mà lại cứ đi chúc bình an cho người khác thì thật khó hiểu. Không ai cho cái mình không có. Trong mỗi Thánh lễ, chúng ta gặp câu chúc “Anh em hãy chúc bình an cho nhau”. Ước gì lời đó phải được thực hiện trong cuộc sống cho hôm nay đi.

Trước kia các môn đệ đã từng sống trong lo sợ. Họ có hai cái sợ: sợ rằng số phận của mình sẽ chẳng hơn gì Thầy mình. Cái sợ nữa là họ phải đối diện với cõi thần thiêng mà họ tưởng đâu là ma quái hiện về (Mt 24,26. Sđcv 23,8). Các môn đệ mặc dầu được tiên báo trước về cuộc Phục sinh (Td Mt 18,31-34), nhưng những tang tóc và lo sợ xâm chiếm hết tâm hồn họ lúc này rồi. Cho nên để họ được an tâm và bình an hơn Chúa nói: “hãy xem chân tay Thầy đây...” (c.39). Thân xác phục sinh của Chúa bây giờ vẫn còn vang những dấu vết của cuộc thụ nạn như các dấu đinh, lằn roi... Cho nên để chắc chắn, Chúa bảo họ cứ sờ vào đó  đi để khỏi còn phải nghi ngờ về ma quái hay thần linh nào khác. Nhưng để hô biết chắc chắn mình đang đối diện với người thân xác thực của Đấng cứu thế vừa phục sinh.

Các tông đồ  thấy được gì ? Họ thấy được thân xác vinh quang phục sinh của Chúa. Xét về số lượng thì cũng vẫn là một với thân xác đã chết đã an táng. Vì thế sau khi sống lại vẫn còn các vết thương trên tay chân và trên thân mình (Gio 20,27). Chính Chúa đã cho các tông đồ coi và sờ tay cảm nghiệm (c.39). Thánh Gioan vẫn gọi Đấng chịu thương khó là con chiên vinh hiển (Kh 56). Giáo huấn Giáo hội dạy thân xác Chúa sống lại thật (Ds 681). Tuy nhiên trạng thái của thân xác ấy sau khi phục sinh không giống hệt như trước nữa. Thực ra thân xác Chúa có khác nhau ở mỗi giai đoạn:

1. Khi còn mang thân xác loài người, thì nhân tính của Chúa còn là thể chất, nên không thể ở khắp mọi nơi cùng một lúc. Công đồng Nicê nói là lúc đó Chúa bị “vây bọc” trong khoảng không gian (Ds 606).

2. Nhưng khi thân xác Chúa phục sinh thì nhân tính vinh hiển của Chúa không còn bị lệ thuộc vào không gian vào thời gian như thân xác trước nữa. Chúa ra khỏi mồ (Lc 24,3), Chúa vào giữa nhà các tông đồ khi đóng kín (Gio 20,19), Chúa đi trên biển (Gio 21,7). Vì thế thánh Phaolô gọi thân xác phục sinh của Chúa làthân xác thiêng liêng, chí thiện (1C 15,40) Thánh Thần tràn ngập trong thân xác ấy, vì thế gọi là xác thánh.

3. Thân xác Chúa Kitô phục sinh được hưởng những phẩm tính đặc biệt mà khoa học đã căn cứ vào nền tảng  Kinh Thánh vẫn thường gán cho như là: bất tử (1C 15,53). Bất diệt, linh thiêng  (1C 15,44). Bất khả thực (Kh 7,16). Huyền diệu (Mt 28,1. Gio 20,19). Lanh lẹ (Lc 24,26). Chúa Kitô sau khi phục sinh từ cõi chết sống lạị đã cởi bỏ tất cả những yếu hèn của nhân loại như đói khát, mệt mỏi. Dù Chúa có ăn uống chút ít, song đó không phải là nhu cầu tự nhiên. Nhưng Chúa làm như vậy để các tông đồ xác tín hơn rằng Ngài đã sống lại thật với cùng một thân xác trước kia.

 

6. Cách hiểu Kinh Thánh.

Theo cách riêng mình, thánh Luca đã gom lại trong đêm Phục Sinh những yếu tố thuộc về nhiều giai đoạn khác nhau trong vòng 40 ngày, từ Phục sinh đến Thăng Thiên. Thực ra, nhóm Mười Một đi từng bước một vào trong “sự viên mãn của sứ điệp Phục sinh” (ghi chú của TOB). Đối với những người nghĩ rằng mình gặp bóng ma, Chúa Giêsu chứng tỏ bằng những dấu đinh. Đối với những người quá mừng rỡ đến độ không tin rằng mắt mình thực sự nhìn thấy Thầy, Chúa Giêsu đề nghị ăn uống với họ. Đối với những người mà cuộc Thương Khó làm cho vấp phạm thì Ngài giải thích chương trình Thiên Chúa mà họ không nhìn ra trong Kinh Thánh. Và chính những kẻ đầy do dự này là những người mà Ngài yêu cầu trở nên chứng nhân cho Ngài bằng cách chiếu tỏa đức tin từ Giê-ru-sa-lem cho đến tận cùng trái đất. 

Tin vào Chúa Giêsu không phải là một đặc quyền để rồi giữ lấy cho riêng mình, đấy là môt lời kêu gọi ta loan báo Tin Mừng đến khắp nơi. Trong mỗi cuốn Phúc âm đều có một sự tỏ mình có thể gọi là chính thức đối với nhóm Mười Một và tạo điều kiện cho tương lai Giáo hội. “Đây không phải là một tường thuật cho bằng một bảng trình bày tổng hợp về ý nghĩa của toàn bộ mầu nhiệm phục sinh” (George). Chúa Giêsu có thể trở về trời, Thánh Thần đã được hứa cho những người mà Ngài đặt làm chứng nhân. Đức tin của chúng ta có chăng cái chiều kích của lời kêu gọi khiến chúng  vượt qua những vấn đề cá nhân mình hầu đi vào một sứ mạng cứu độ phổ quát ? Thánh Thần vẫn luôn thổi hơi vào Giáo hội; chính chúng ta là người chậm trễ, chính những cánh buồm của chúng ta chưa được kéo lên. Những nhà thần bí nói về các thương tích của Chúa Kitô như những cái miệng thét lên tình yêu của Đấng mang thương tích ấy. Chúng ta có gì để trình ra khi đến trước Thiên Chúa? Những danh hiệu và huy chương bên ngoài hay những vết sẹo hằn sâu của những chứng nhân?

Trong khi chờ đợi, chúng ta phải sống với nguy cơ đối diện với nhiều điều mình chưa biết... chúng ta không có bổn phận phải giải mọi phương trình; chúng ta chỉ có bổn phận quan tâm đến bản thân và anh em mình. Khi Chúa Giêsu đến, Ngài hỏi điềư đơn giản nhất: “Các con có gì ăn không?”. Chúng ta phải sống trong cái bấp bênh; làm việc thường thường trong mò mẫm, cực nhọc đặt lương thực trên bàn... từ ngữ chứng nhân không có nghĩa là khán giả, đôi khi nó gợi ra ý nghĩa của tử đạo...

 

7. Tin để thấy

Tin mừng hôm nay cho thấy Chúa Giêsu xuất hiện trước hết hầu như một bóng ma, kế đó, Ngài cho các môn đệ cảm nhận được sự hiện diện bằng xương bằng thịt của Ngài, khi mời gọi họ sờ vào thân thể Ngài, nhất là khi ngồi ăn uống trước mặt họ, phá tan mọi nghi ngờ trong lòng họ. 

Ghi nhận cảm nghiệm trên đây của các môn đệ về Chúa Phục Sinh, thánh Luca muốn nói với chúng ta rằng con người không thể biết Chúa Kitô Phục Sinh như đã từng biết Ngài lúc sinh thời. Chúa Kitô trước và sau phục sinh vẫn là một, nhưng sự cảm nghiệm về Ngài sau phục sinh hoàn toàn khác biệt. Sự cảm nghiệm ấy đòi hỏi con người phải vận dụng tự do và ý chí của mình. Nói khác đi, Chúa Kitô Phục Sinh luôn là đối tượng của niềm tin.

Các môn đệ được diễm phúc hơn chúng ta, bởi vì các ngà đã được Chúa Ki tô Phục Sinh hiện ra, đã thấy tận mắt Chúa Ki tô Phục Sinh bằng xương bằng thịt. Tuy nhiên, các ngài vẫn phải tận dụng tất cả các ý chí và tự do của mình, mới có thể tin nhận rằng Ngài chính là Đấng đã từng sống với các ngài.

Trong tất cả những lần hiện ra như được các sách Tin mừng ghi lại, Chúa Kitô Phục Sinh đều xuất hiện như một con người xa lạ: Ngài hiện ra với Maria Mađalêna như một người làm vườn, Ngài đến với hai môn đệ Emmau như một khách bộ hành chưa từng quen biết, Ngài đứng trên bờ hồ Tibêria với dáng vẻ một người xa lạ đến độ các tông đồ không nhận ra.Từ xa lạ đến gần gũi, từ nghi ngờ đến tin nhận, đây chính là cảm nghiệm về Đấng Phục Sinh của các môn đệ. 

Thánh Gian tông đồ, ngay từ giây phút đầu tiên khi nhận thấy ngôi mộ trống, đã tuyên xưng rằng mình đã thấy và đã tin. Thánh nhân đã muốn truyền lại cho chúng ta nguyên tắc nền tảng trong quan hệ với Chúa Kitô Phục Sinh, đó là tin để thấy. Đây là nguyên tắc được Chúa Giêsu đề cao như một lời chúc phúc khi Ngài nói với thánh Tôm tông đồ: “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc cho những ai không thấy mà tin”. 

Không thấy mà tin hoặc tin để được thấy đây chính là cảm nghiệm về Đấng Kitô Phục Sinh, mà ngày nay các kitô hữu được mời gọi nếm trải trong cuộc sống hàng ngày. Quả thật, một niềm tin đích thực luôn cho chúng ta thấy và cảm nghiệm được sự hiện diện của Đấng Phục Sinh. Giữa những mất mát và khổ đau, một mềm tin đích thực luôn cho phép và thúc đẩy chúng ta tiếp tục tin yêu và hy vọng. Giữa ích kỷ hận thù. một niềm tin đích thực luôn mời gọi chúng ta tiếp tục sống quảng đại, yêu thương và tha thứ.

Xin Chúa cho chúng ta cảm nghiệm được sự bình an trong tâm hồn, như phần thưởng Chúa dành cho những ai tin để được thấy và cảm nghiệm được sự hiện diện của Ngài.

 

 


Sinh hoạt khác

Tin Giáo Hội

Mục Tổng Hợp

» Xem tất cả Video

Liên kết website

Bài viết được quan tâm