Danh mục bài viết

Cập nhật 13/4/2020 - 4:3 - Lượt xem 3345

Thứ Ba Tuần Bát nhật Phục Sinh

"Tôi đã trông thấy và Người đã phán với tôi những điều ấy".

Tin Mừng: Ga 20, 11-18

Khi ấy, bà Maria Mácđala đứng ở ngoài, gần bên mộ, mà khóc. Bà vừa khóc vừa cúi xuống nhìn vào trong mộ, thì thấy hai thiên thần mặc áo trắng ngồi ở nơi đã đặt thi hài của Đức Giêsu, một vị ở phía đầu, một vị ở phía chân. Thiên thần hỏi bà: “Này bà, sao bà khóc?” Bà thưa: “Người ta đã lấy mất Chúa tôi rồi, và tôi không biết họ để Người ở đâu!” Nói xong, bà quay lại và thấy Đức Giêsu đứng đó, nhưng bà không biết là Đức Giêsu. Đức Giêsu nói với bà: “Này bà, sao bà khóc? Bà tìm ai?” Bà Maria tưởng là người làm vườn, liền nói: “Thưa ông, nếu ông đã đem Người đi, thì xin nói cho tôi biết ông để Người ở đâu, tôi sẽ đem Người về.” Đức Giêsu gọi bà: “Maria!” Bà quay lại và nói bằng tiếng Hípri: “Rápbuni!” (nghĩa là “Lạy Thầy”). Đức Giêsu bảo: “Thôi, đừng giữ Thầy lại, vì Thầy chưa lên cùng Chúa Cha. Nhưng hãy đi gặp anh em Thầy và bảo họ: “Thầy lên cùng Cha của Thầy, cũng là Cha của anh em, lên cùng Thiên Chúa của Thầy, cũng là Thiên Chúa của anh em.”. Bà Maria Mácđala đi báo cho các môn đệ: “Tôi đã thấy Chúa”, và bà kể lại những điều Người đã nói với bà.

 

 

Suy niệm:

1. Tôi đã thấy Chúa - Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ.

Maria Mácđala là con người yêu mến. 
Theo Tin Mừng Gioan, bà đã theo Thầy Giêsu đến tận Đồi Sọ, 
đã đứng gần thập giá và chứng kiến cái chết của Thầy (Ga 19, 25). 
Hầu chắc bà đã tham dự cuộc mai táng Thầy và biết vị trí của ngôi mộ. 
Hơn nữa, bà là nguời ra mộ sớm nhất vào ngày thứ nhất trong tuần. 
Rồi bà chạy về báo tin cho các môn đệ về chuyện xác Thầy không còn đó (20, 1-2). 
Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy bà lại có mặt ở ngoài mộ lần nữa (c. 11). 
Ngôi mộ như có sức giữ chân bà. 
Chỉ tình yêu mới giải thích được điều đó. 
Maria là con người tìm kiếm. 
Đấng phục sinh hỏi bà: “Bà tìm ai?” (c. 15). 
Bà chỉ có một mối quan tâm duy nhất, đó là tìm lại được xác Chúa của bà. 
Bà đã nói với Phêrô: “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ, 
và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu” (20, 2). 
Bà đã nói với vị thiên thần ngồi trong mộ điệp khúc tương tự: 
“Người ta đã lấy mất Chúa tôi rồi, và tôi không biết họ để Người ở đâu” (c. 13). 
Khi gặp Thầy Giêsu, bà tưởng là người làm vườn, nên cũng nói: 
“Nếu ông đã đem Người đi, thì xin nói cho tôi biết 
ông để Người ở đâu, tôi sẽ đem Người về (c. 15). 
Đối với Maria, mất xác Thầy là mất chính Thầy, 
nên bà cứ bị ám ảnh bởi chuyện người ta để Người ở đâu. 
Maria là con người đau khổ. 
Bà đã khóc nhiều từ khi xác Thầy không còn đó. 
Cả thiên thần và Đức Giêsu đều hỏi bà cùng một câu hỏi: “Tại sao bà khóc?” 
Ai sẽ là người lau khô nước mắt của bà Maria Macđala? 
Ai sẽ là người giúp bà tìm thấy điều bà tìm kiếm? 
Đức Giêsu phục sinh đến gặp bà dưới dạng một người làm vườn. 
Thậm chí bà nghi ngờ ông này có dính dáng đến chuyện mất xác Thầy. 
“Maria”: Đức Giêsu gọi tên bà với một cung giọng quen thuộc. 
Bây giờ bà mới nhận ra Thầy và reo lên: “Rabbouni !” 
Có những lời của Đức Giêsu được thực hiện. 
“Ai tìm thì sẽ thấy”, “Ai khóc lóc sẽ được vui cười”. 
Maria đi tìm xác Thầy, nhưng bà đã gặp được một điều quý hơn nhiều, 
đó là chính Thầy đang sống. 
Maria đã khóc lóc, nhưng niềm vui bà gặp được lớn hơn nhiều. 
Chẳng có giọt nước mắt nào là vô ích trước mặt Thiên Chúa. 
Hãy nếm niềm vui bất ngờ của Maria. 
Bà được Chúa sai đến với các môn đệ, cũng là anh em của Ngài. 
Bà gói ghém kinh nghiệm bà mới trải qua trong một câu đơn giản: 
“Tôi đã thấy Chúa !” và Chúa đã nói với tôi (c. 18). 
Chúng ta không thể nào làm chứng cho Chúa Giêsu nếu không có kinh nghiệm này. 
Thấy Chúa và nghe được Chúa nói: đó là ước mơ của chúng ta trong cầu nguyện. 
Nhưng đừng quên Maria đã yêu cách nồng nhiệt và can đảm 
và đã đau khổ tìm kiếm Thầy Giêsu. 

Lạy Chúa Giêsu phục sinh 
xin ban cho con sự sống của Chúa, 
sự sống làm đời con mãi mãi xanh tươi. 
Xin ban cho con bình an của Chúa, 
bình an làm con vững tâm giữa sóng gió cuộc đời. 
Xin ban cho con niềm vui của Chúa, 
niềm vui làm khuôn mặt con luôn tươi tắn. 
Xin ban cho con hy vọng của Chúa, 
hy vọng làm con lại hăng hái lên đường. 
Xin ban cho con Thánh Thần của Chúa, 
Thánh Thần mỗi ngày làm mới lại đời con. Amen. 

 

2. Loan báo Sứ điệp Phục Sinh

Bà Archengette, một trong hàng trăm ngàn người bị giam giữ chỉ vì tin vào Đức Giêsu Kitô đã kể lại:

Một buổi chiều kia, một cô bạn tù ghé vào tai tôi se sẽ hỏi:

- Chị có biết ngày mai là ngày gì không? Mai là lễ Phục Sinh đấy chị ạ.

Tôi ngạc nhiên nói bâng quơ :

- Đã đến lễ Phục sinh rồi à ?

Lễ Phục Sinh là ngày lễ trọng, và là ngày vui của toàn thể nhân loại, vì Chúa Giêsu đã sống lại, để mở cánh cửa cuộc sống trường sinh cho con người, thế mà chúng tôi lại bị giam giữ trong căn nhà tù này, xa cách mọi người thân yêu, cô đơn, đau khổ...Tôi đi đi lại lại trong căn nhà chật hẹp, hôi hám. Đầu óc thì còn đang theo đuổi những ý tưởng vừa mới xuất hiện. Mặt buồn so.

Bỗng có tiếng kêu lớn, phá tan bầu không khí im lặng đang nặng nề đang đè nghẹt chúng tôi. Tiếng kêu ấy thế này:”Chúa Kitô đã sống lại”.

Tôi kinh ngạc nhìn cô bạn tù. Đôi mắt cô long lanh, ôm hai giọt lệ, đang từ từ thả ra, để cho chúng lăn trên đôi gò má cao, nhô lên giữa khuôn mặt xanh xao gầy ốm của cô. Thế rồi bỗng khuôn mặt ấy tươi hẳn lên.

Bỗng từ trong các phòng khác của nhà tù, tôi đều nghe thấy tiếng trả lời, tưởng như tiếng vang vọng không ngừng:

“Chúa Kitô đã sống lại... Chúa Kitô đã sống lại”

Những tiếng phát ra từ các phòng trong nhà tù đó, đã trở thành như một điệp khúc của một bài ca chiến thắng,

Bọn lính canh tù đã bực tức đến tột độ. Gương mặt của chúng hằm hằm giận dữ. Rồi chúng mở cửa phòng chúng tôi, nhào vào, lôi cô gái bạn tù ốm yếu của tôi đi...

Bốn ngày sau cô được trở lại phòng với tôi. Đôi má của cô, sau 4 ngày lại hóp thêm, gương mặt xanh như tầu lá. Hỏi ra mới biết, cô đã bị nhốt trong một căn phòng chật hẹp tối tăm và phải nhịn đói suốt 4 ngày. Khi chạy ra cửa để dìu cô vào phòng, cô thều thào nói với tôi :

- Chị ơi, em đã loan báo sừ điệp Phục Sinh trong nhà tù này. Tất cả mọi truyện đều không quan trọng.

Đoạn Tin Mừng được trích đọc trong thánh lễ hôm nay ghi là cuộc gặp gỡ Chúa Giêsu Phục Sinh và bà Maria Magdala.

Qua trình thuật này, chúng ta nhận ra được rằng, tình yêu là ngả đường duy nhất dẫn vào mầu nhiêm Phục Sinh.

Tại sao Maria Magdala, người đầu tiên được diễm phúc thấy Chúa Giêsu Phục Sinh? Thưa là vì bà đã chấp nhận mọi sự, để nói lên rằng bà yêu Chúa. Bà đã chấp nhận tốn kém, để mua một bình dầu cam tùng quí gía, xức cho Chúa trong một bữa ăn tại nhà bà. Đối với bà, Chúa Giêsu là tất cả.

Việc tìm đến mộ Chúa vào sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần và việc lo lắng đi tìm kiếm xác Chúa khi thấy xác đó không còn ở trong mộ nữa, cũng đã nói lên lòng yêu mến thiết tha của bà đối với Chúa Giêsu, cho dù lúc đó Ngài đã chết.

Nếu ngày xưa đã có những người như Magdala, thì ngàynay cũng có những người như người bạn tù của bà Archengette ở trên kia, người đã dám công bố sứ điệp Phục sinh ngay ở trong nhà tù, bất chấp những khổ hình.

“Tất cả mọi truyện khác đều không quan trọng”.

Vậy thì chỉ còn có một điều quan trọng đó là “ Loan truyền việc Chúa Giêsu chiụ chết và tuyên xưng việc Chúa sống lại cho tới khi Chúa lại đến”

Trong thánh lễ hôm nay, chúng ta hãy cầu xin cho mọi con dân Chúa ý thức được sứ mạng loan truyền đó và nhất là thực thi sứ mạng đó trong mọi hoàn cảnh, mọi lãnh vực. Công việc này chỉ có thể thực hiện được khi chúng ta nhạy bén đối với tình yêu của Chúa, để có thể nhận ra sự hiện diện của Ngài rồi giới thiệu Ngài cho những người khác.

Nhưng để có thể nhạy bén nhận ra tình yêu của Chúa đối với chúng ta, chúng ta phải cạo bỏ lờp ten xét của tâm hồn chúng ta là tội lỗi bằng  lòng thống hối của chúng ta. Hãy bắt tay vào việc đó ngay giờ này.

 

 

 

3. Niềm Tin Phục Sinh

Trong một đêm tao ngộ do một nhóm thân hữu tổ chức tại Sidney, Australia, vào một tối Chúa Nhật cuối tháng 4/2001, nhạc sĩ Vũ Thành An, tác giả của những bài ca không tên bất hủ, đã xuất hiện không như một nhạc sĩ, mà như một nhà truyền đạo. Ở cao điểm của đêm tao ngộ, nhạc sĩ Vũ Thành An đã giới thiệu và trình bày những tác phẩm mà ông gọi là Những bài ca nhân bản và thánh ca. Như ông đã giải thích, những bài ca nhân bản đề cao tình người và những bài thánh ca ca tụng tình yêu Chúa này nói lên chính cuộc đổi đời của ông. Những dòng tâm sự và giọng hát của tác giả đã được khán thính giả đón nhận như một bài giảng thuyết về mầu nhiệm Phục Sinh.

Niềm tin và sự gặp gỡ của con người với Ðấng Phục Sinh thường đến sau những đổ vỡ, mất mát, thất bại và khổ đau. Ðiều này đã diễn ra với hầu hết các môn đệ của Chúa Giêsu. Vào giữa lúc họ buồn bã quay về làng cũ, họ gặp Ngài. Vào giữa lúc họ từ bỏ con đường đi theo Ngài để trở về sau chuyến bôn ba của cuộc sống, Ngài đến với họ. Ngài cũng đến với họ khi họ giam mình trong sợ hãi, buồn phiền. Maria Mađalêna cũng được gặp Ngài giữa tiếng khóc than. Chính lúc bà tưởng mình đã mất tất cả, Ngài đã đến với bà.

Quả thật, Ðấng Phục Sinh thường đến với con người vào những lúc bất ngờ nhất và dưới những hình dạng con người không hề chờ đón. Hầu hết trong mọi trường hợp, Ngài đến với họ như người vô danh, một người mà họ không thể nhận ra tức khắc. Phục sinh là một biến cố lịch sử, nhưng không có bất cứ một người nào đã chứng kiến giây phút lịch sử ấy, từ các môn đệ cho đến chúng ta ngày nay. Ðể tin nhận Ngài, con người luôn làm một bước nhảy vọt trong các biến cố của cuộc sống, những biến cố ấy thường là những mất mát, thất bại và khổ đau. Cần phải trải qua đau khổ để đến vinh quang, đó là định luật của niềm tin, phép rửa nhờ đó chúng ta trở thành tín hữu Kitô, không đương nhiên biến chúng ta thành những người thông minh đĩnh đạc hay may mắn thịnh vượng hơn người. Nhưng chúng ta phải xem mình là những người may mắn nhất, bởi vì giữa tăm tối của cuộc sống, chúng ta vẫn còn nhận ra được ánh sáng; giữa những đổ vỡ, mất mát, thất bại và khổ đau, chúng ta vẫn tiếp tục tin tưởng.

Niềm tin Phục Sinh mang lại ý nghĩa cho cuộc sống của chúng ta. Chúng ta hãy cảm tạ Chúa vì đã ban cho chúng ta niềm tin ấy và xin Ngài củng cố niềm tin ấy cho chúng ta.

 

4. Gặp Đấng Phục Sinh 

Allêluia! Chúa đã sống lại: đó là điệp khúc mà các kitô hữu không ngừng hát lên trong suốt mùa Phục Sinh. Thế nhưng, đâu là ý nghĩa đích thực của mầu nhiệm Phục sinh đối với mỗi người chúng ta trong cuộc sống mỗi ngày? Nếu việc Chúa sống lại chỉ là một việc tuyên xưng trên môi miệng, mà không phải là một thực tại có sứ lay động và thay đổi tận gốc rễ cuộc sống chúng ta, thì Chúa Kitô đã không thực sự sống lại cho chúng ta, và dù có được long trọng tưởng niệm, Ngài cũng chỉ là một người quá cố như muôn người quá cố khác mà thôi .

Trong Tin mừng hôm nay, thánh Gioan mời gọi chúng ta đi vào tâm tình của Maria Mađalêna, người phụ nữ được diễm phúc nhận ra Chúa ngay trong buổi sáng đầu tiên đi viếng mộ.

Sự hiện diện của Đấng Phục sinh mà Maria Mađalêna cảm nhận được không phải là một sự hiện diện khả giác, nhưng chỉ có đôi mắt đức tin mới có thể nhận ra Ngài. Ngài muốn để cho ai nhận ra Ngài, và nhận ra khi nào là tùy ý muốn của Ngài, do đó, mầu nhiệm Phục Sinh là đối tượng của niềm tin hơn là những lý chứng. Đây là cảm nghiệm mà Maria Mađalêna có được vào buổi sáng ngày Phục sinh: bà không thấy gì ngoài ngôi mộ trống. Chúa Kitô Phục sinh không xuất hiện như Đấng mà bà đã từng gặp gỡ, mà như một người làm vườn xa lạ, thế nhưng sự hiện diện của Đấng Phục Sinh đã có sứ làm bật ra một lời tuyên xưng đầy xác tín và một niềm vui khôn tả.

Chúa Kitô hôm qua, hôm nay và mãi mãi vẫn là một Chúa Kitô Phục Sinh mà bà Maria Mađalêna đã nhận ra dưới hình dạng của một người làm vườn xa lạ, cũng chính là Chúa Kitô Phục Sinh đang đến với chúng ta trong giây phút hiện tại. Ngôi mộ trống bà Manh Mađalêna đã thấy vào buổi sáng Phục Sinh là biểu tượng của biết bao mất mát và trống vắng, mà chúng ta đang trải qua trong cuộc sống mỗi ngày. Cũng như Maria Mađalêna, với cái nhìn hoàn toàn trần tục, chúng ta chỉ nhận thấy những trống vắng, đổ vỡ, mất mát, nhưng dối với đôi mắt dực tin, chúng ta được mời gọi để nhận những dấu chứng hiện diện của chính Đấng Phục Sinh. Người làm vườn vô danh mà Maria Mađalêna đã nhận diện được như chính Thầy chí ái của mình, là hình ảnh của mỗi người chúng ta gặp gỡ từng ngày. Trong mầu nhiệm phục sinh, mỗi tiếp xúc với tha nhân đối với chúng ta cũng phải là một gặp gỡ với Đấng Phục sinh.

Nguyện xin Chúa Kitô Phục Sinh, Đấng đang hiện diện và diện với chúng ta một cách vô danh và lặng lẽ trong cuộc sống mỗi ngày luôn là sức sống tràn ngập tâm hồn chúng ta, và đem lại niềm vui và an bình cho mỗi người chúng ta gặp gỡ hàng ngày. 

 

5. Trong chúng ta cũng như trong Maria Mađalêna.

Hôm nay chúng ta gặp một phụ nữ đáng thương, Maria Mađalêna, một phụ nữ đã từng theo Chúa Giêsu đến chân thánh giá và giờ đây vẫn còn đau khổ, còn chịu tang. Trong bà là cả một sự vắng bóng của chứng từ.

Chúng ta gặp bà trước tiên bên mộ, sợ hãi, đầy lo âu: “Tôi không biết người ta đặt Ngài ở đâu”. Mặc dù bà đã có mặt vào ngày chôn cất. Hẳn là vẫn còn lại một cái gì của Chúa Kitô chứ.

Qua Kinh Thánh, chúng ta đã biết rằng Chúa Kitô hiện diện trong Giáo hội Ngài, trong cộng đoàn tín hữu, trong từng con người. Nhưng những người đến gặp Ngài thường gặp những ngôi mộ trống. Và họ vẫn ở trong tình trạng nghi nan.

Kế đến, chúng ta thấy rằng Maria Mađalêna được một ai đó gọi ngỏ lời, một người mà cô không biết tên. Cô nhận ra Ngài khi nghe gọi “Maria”. 

Chỉ người nào nghe Chúa Giêsu gọi tên mình, chỉ người nào được Ngài chạm đến trong một tương quan cá nhân mới nhận ra được Ngài. Ta không thể trách móc những người rời bỏ Giáo hội và không đi lễ ngày chúa nhật, nếu không ai nối kết với họ một mối tương giao cá nhân. Việc hội họp của những con người vô danh đã giết mất sự hiểu biết về Chúa Kitô. 

Sau đó Maria muốn giữ Chúa Giêsu lại. Như nhiều người trong chúng ta cũng muốn giữ Chúa Kitô cho riêng mình, vì chúng ta cần Ngài để xoá tan nỗi buồn trong cuộc sống chúng ta, như một nơi trú ẩn đối với những gian nan, lo lắng. Bao nhiêu người trong chúng ta đã giữ lại Chúa Kitô của mình, không chịu chia sẻ, không chịu nói về Ngài, không bao giờ lên tiếng công bố về Ngài ? Việc chúng ta tham dự phụng vụ Lời Chúa, hay đúng hơn sự dửng dưng của chúng ta thi tham dự, có thể là dấu hiệu của điều chúng ta làm: tôi đã có Chúa Kitô của mình, tôi giữ lấy Ngài.

Cuối cùng, sau khi lột bỏ sự sợ hãi và ý định giữ lấy Ngài cho riêng mình, sau khi trở nên người được gọi tên, sau khi được thôi thúc bởi tiếng gọi cá nhân nơi chiều sâu, Maria ra đi làm chứng.

 

6. Tôi đã trông thấy Chúa

Hôm nay phần Kinh Thánh trình bày việc Chúa sống lại bằng sự kiện: Chúa hiện ra với chị Maria Madalêna. Đó là ngày thứ ba sau vụ xử án đóng đinh Chúa. Các phụ nữ đã từng có mặt bên thập giá (Mc 15,47 Gio 19,25) rủ nhau đi đến mồ theo thói quen để xức thuốc thơm (Mc 16,1). Thánh sử Gioan kể Maria Madalena như một nhân vật chính. Có lẽ chị là người hoạt động nhất. Chị đến mồ khi trời còn tối (Mc 16,2: Mặt trời mọc tang tảng sáng), để thăm mộ và để tỏ ra mình còn đang chịu đại tang như phong tục ấy.

Khi đến mồ thì thấy mồ mở toang, khối đá lăn qua một bên, chị lo lắng thêm và quên hết lời Kinh thánh chính Chúa đã tiên báo cuộc Phục sinh (Mt 16,21-23. Mc 8,17-21. Mt 18,31-34) càng chìm sâu vào nỗi ưu phiền. Lập tức, chị nghĩ  xác Chúa bị ăn cắp. Chị nghĩ sao người ta còn hành hạ Ngài tới tận nấm mồ nữa kia (c.13). Không tìm gì hơn nữa, Maria vụt chạy về báo cho các môn đệ (20,2). Hai môn đệ yêu dấu bỏ chạy (Gio 1,37-40) đi tới mộ. Họ là nhân chứng xác thực cho sự kiện mộ trống (Mt 27,64.28,12-15). Họ ra về mà không nói chi cho Maria cả. Chị trở lại mộ và khóc ròng (c.11). Nước mắt chị chứng tỏ lòng quyến luyến xâu xa, thương mến ngút ngàn. Nhưng đây không phải là nơi trào đổ những giọt lệ trần thế. Có thể những giọt nước mắt mờ không cho chị nhận ra Chúa Phục sinh.

Mặc dù được hai thiên sứ cho biết mà chị vẫn chưa tin được. Hai vị mặc áo trắng toát như thói quen của nhân vật thiên quốc (Mc 9,3.16,5 Sđcv 1,10. Kh 3,4) ngồi đúng nơi an táng Chúa  (Lc 24,4). Dấu đó đáng lẽ đủ cho Maria hiểu việc Chúa Phục sinh, nhưng cũng như Matta khó hiểu vì em mình sống lại (Gio 11,23-24), cũng như hai môn đệ Emmau (Lc 24,16), Maria không thể nhận ra Chúa vì bà đang ở trong thửa vườn, nên chị tưởng đâu là bác làm vườn nào đó. Nhưng khi Chúa gọi đúng tên chị với giọng quen thuộc như Ngài đã gọi đúng tên Nathanael, Giakêu (Gio 1,47. Lc 19,5). Lúc ấy, Maria mắt sáng lên “Lạy Thầy” (c.16) Maria tưởng đâu Chúa trở về sống giữa họ như xưa.

Chị Maria không giấu nổi nỗi vui mừng tràn ngập, chị ôm chầm lấy chân Chúa như phong tục lúc ấy. Nhưng đây không phải là Chúa trở về mà là Chúa đến (Gal 14,3. 18,23. 1,16). Nhưng Chúa nói: “Đừng chạm vào Ta, vì Ta chưa về...” (c.17). Đây là một kiểu nói để Maria đừng bấu víu vào quan niệm về Ngài trong lãnh vực trần thế nữa. Thực ra Ngài đã về trời rồi, vì cái chết của Chúa có nghĩa là về trời, là thăng thiên.

Ngoài ra chữ “đừng chạm đến ra”, theo P. Jouen có nghĩa là mệnh lệnh truyền giáo, hãy để đó đi loan báo Tin Mừng cho anh em. Hãy chia vui cùng kẻ vui. Niềm vui được nhiều người chia sẻ càng lớn lao. Cho nên không phải là Chúa không cho phép chạm vào Chúa theo phong tục của Đông phương vì Tôma cũng đã được làm thế (Gio 20,28). Cho nên câu Chúa nói “Đừng chạm... vì Ta chưa về cùng Cha...” (c.17): Chúa chưa dứt khoát về Trời đâu, Chúa chưa bỏ trần gian ngay đâu mà lo, đừng sợ mất Ngài. Vậy hãy đi loan báo cho các tông đồ đang lúc họ tuyệt vọng trong một căn phòng đóng kín mít để họ lấy lại sức mạnh và lòng tin.

Mỗi chúng ta là một Madalêna mới của hôm nay. Nhờ đức tin, chúng ta đã nắm được Chúa Kitô vững chắc hơn Madalêna nữa. Vậy hãy ra đi vào cuộc sống mà loan truyền sự sống của Chúa cho anh em.

 

 

7. Thuộc về Chúa Giêsu

Một hôm có một tu sĩ thuộc Hội dòng truyền giáo do Mẹ Têrêxa Calcutta sáng lập đã đến gặp Mẹ và nói lên tất cả tâm tư nguyện vọng của mình:

- Thưa mẹ, ơn gọi của con là phục vụ những người phong cùi. Con nguyện đem tất cả cuộc sống và năng lực để sống ơn gọi ấy.

Nghe thế, Mẹ Têrêxa liền nói:

- Thầy lầm rồi, ơn gọi của thầy là thuộc về Chúa Giêsu. Chính Ngài đã chọn Thầy và công việc Thầy đang làm chỉ là phương tiện để diễn tả tình yêu của Thầy đối với Ngài. Do đó, công việc mà Thầy chọn không quan trọng, điều quan trọng là thuộc về Ngài, là đón nhận từ Ngài những phương tiện để phục vụ Ngài. 

Ơn gọi của người Kitô là thuộc về Chúa Giêsu, là sống và phục vụ Ngài. Đó là chân tý mà có lẽ Giáo Hội muốn nhắc nhở chúng ta trong suốt Mùa Phục Sinh này. Kitô giáo không phải là một ý thức hệ, một hệ thống luân lý hay chỉ là một tổ chức xã hội, nhưng Kitô giáo thiết yếu là một con người, tức là Đức Giêsu Kitô, Đấng hôm qua, hôm nay và mãi mãi vẫn là một. Làm người Kitô hữu hay sống đạo có nghĩa là thuộc về Chúa Kitô và sống bằng chính sự sống của Ngài. Bài Tin mừng hôm nay mời gọi chúng ta mặc lấy tâm tình của Maria Madalêna, đó là tâm tình của một người thuộc trọn về Chúa. Madalena đi tìm Chúa bà đến với Ngài với tất cả tình yêu và không chờ đợi gì khác hơn là được gặp Ngài được sống trong sự hiện diện của Ngài. Chúa Giêsu là tất cả của bà.

Sự tìm kiếm của Madalena là hình ảnh của mối quan hệ giữa chúng ta với Chúa Giêsu. Là môn đệ của Ngài trước tiên là khao khát tìm gặp và ở lại với Ngài. Đi theo Ngài có nghĩa là chọn Ngài làm tất cả, yêu mến và sẵn sàng sống chết vì Ngài. Khi hiện ra với Phêrô trên bờ hồ, trước sự hiện diện của một số môn đệ khác, Chúa Giêsu đã hỏi Phêrô ba lần: Phêrô con có yêu mến Ta không? Chỉ khi Phêrô đoan hứa yêu Ngài, Chúa Giêsu mới ủy thác cho ông nhiệm vụ lãnh đạo Giáo Hội của Ngài.

Chúa Giêsu Phục Sinh đang sống giữa chúng ta, đó là trọng tâm của niêm tin chúng ta. Ngài mời gọi chúng ta đến chia sẻ cuộc sống phục sinh với Ngài, chúng ta hãy mở rộng tâm hồn đón nhận Ngài. Ước gì sự kết hiệp với Ngài sẽ đưa chúng ta đến với tha nhan, để cả cuộc sống chúng ta trở thành một lời chứng về sự hiện điện và tình yêu của Đấng đã chết và sống lại vì chúng ta. 

 


Sinh hoạt khác

Tin Giáo Hội

Mục Tổng Hợp

» Xem tất cả Video

Liên kết website

Bài viết được quan tâm