Danh mục bài viết

Cập nhật 1/4/2013 - 8:30 - Lượt xem 4908

Giáo Lý Thánh Kinh

Tài liệu Giáo lý Thánh Kinh do BGL Gp. Thái Bình sưu tầm và biên soạn (2008)

 

THAY LỜI NÓI ĐẦU

---—+–---

Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã nói với con người thông qua các ngôn sứ, và đến thời sau hết, Ngài đã nói qua Con Một của Ngài là Đức Giêsu Kitô – Đấng là mạc khải trọn vẹn của Thiên Chúa và là trung tâm của Thánh Kinh. Như lời Thánh Giê-rô-ni-mô đã dạy: “Không biết Thánh Kinh là không biết Chúa Ki-tô”.

Đức Bê-nê-đích-tô XVI trong bài huấn dụ của mình tại quảng trường thánh Phê-rô vào ngày 7/11/2007 cũng nói: “…theo gương thánh Giê-rô-ni-mô, ước gì anh chị em có thể dùng thời giờ mà đọc Thánh Kinh cách đều đặn. Khi trở nên thân quen với Lời Chúa, anh chị em sẽ gặp được nơi Lời Chúa chính Đức Ki-tô để sống thân tình với Người”.

Ý thức tầm quan trọng của việc học hỏi giáo lý Lời Chúa, Đức Giám mục Phanxicô Xavie trong thông cáo gửi các thành phần dân Chúa trong giáo phận Thái Bình về việc thực hành năm Hồng Đào đã coi việc học hỏi giáo lý Lời Chúa là một trong bốn cỗ đại xa của người kitô hữu trên hành trình tiến về quê trời.

Hưởng ứng lời mời gọi của Đức Giám mục, Ban Giáo lý của giáo phận muốn tiếp tục tinh thần học hỏi và đào sâu Giáo lý, vốn đã trở thành truyền thống tốt đẹp của giáo phận trong những năm gần đây. Với định hướng cho dịp hè trong những năm tiếp theo, chúng tôi quyết định chọn chủ đề Giáo lý Thánh Kinh phỏng theo mô hình của giáo phận Nha Trang. Khởi đầu cho định hướng này là một tháng hè trong năm 2008 (từ ngày 15/6 đến 20/7). Theo đó, giới trẻ trong giáo phận sẽ được học hỏi về Giáo lý Thánh Kinh Cựu Ước với sự trợ giúp của các thầy chủng sinh, các tu sỹ nam nữ, các ứng sinh chủng viện và các giáo lý viên. Vì vậy, tập giáo trình Giáo lý Thánh Kinh Cựu ước được soạn thảo trong dịp này là một giải pháp phần nào cho định hướng nói trên.  

            Vì thuộc thể loại giáo lý, nên nội dung của giáo trình không đặt tham vọng như những môn học nghiên cứu về Thánh Kinh, nhưng mong muốn trình bày những chân lý căn bản được ghi chép trong các sách Cựu Ước như một cách nhìn tổng quát; từ đó rút ra một vài gợi ý cho bài học áp dụng trong đời sống đạo hôm nay.

            Cuối cùng, với sự hạn chế về khả năng cũng như về thời gian, tập tài liệu này chắc chắn không tránh khỏi những thiếu xót nhất định, kính mong các Đấng bậc và quý vị rộng tình lượng thứ và bổ xung. 

                                                                                                BAN GIÁO LÝ

 

BÀI 1 : TỔNG QUÁT VỀ THÁNH KINH

A-DẪN NHẬP

1 - Thánh hoá đầu giờ

(GLV tùy nghi có thể hát một bài hoặc đọc một kinh hay một lời nguyện)

          Lạy Chúa, chúng con cảm tạ Chúa đã qui tụ chúng con về nơi đây để cùng nhau học hỏi Lời Chúa. Xin Chúa thánh hóa cuộc sống và công việc của chúng con. Mỗi khi bắt tay làm việc xin Chúa giúp sức, để từ khởi sự đến khi hoàn thành, chúng con đều cậy nhờ ân sủng của Chúa và xin Chúa chúc lành cho buổi học của chúng con. Amen.

2 - Gợi ý câu chuyện minh hoạ “Triết gia và vị thiền sư”

          Một triết gia thông thái luôn khao khát học hỏi những điều hay của người khác. Ông ta sống trong một thành phố sầm uất nhưng lúc nào cũng tỏ ra thất vọng bởi vì theo ông ta, thành phố này không còn ai khôn ngoan để ông ta có thể trao đổi và học hỏi. Một người bạn cho ông ta biết, trong sa mạc có một vị thiền sư rất uyên bác, có thể thấu hiểu mọi sự. Vị triết gia quyết định vào sa mạc để gặp vị thiền sư với mục đích: hy vọng học hỏi được ở người này nhiều điều để làm phong phú vốn hiểu biết của mình.

          Sau khi chào hỏi, vị thiền sư tiếp triết gia trên một phiến đá với một bình trà và một cái ly. Không đợi vị thiền sư lên tiếng, triết gia nọ thao thao bất tuyệt nói về những hiểu biết của mình. Khi triết gia nói xong thì trời cũng đã về khuya, vị thiền sư lặng thinh cầm bình trà lên rót vào ly. Ông cố tình đổ cho tràn ly, nước chảy đầy mặt phiến đá. Vị triết gia ngạc nhiên nói: “Ông không thấy nước tràn sao?”. Vị thiền sư trả lời: “Có! Nhưng ông thấy không, khi ly đã đầy rồi thì làm sao chứa thêm nước được nữa. Ông tới đây với mục đích truy tìm sự khôn ngoan với tôi, nhưng từ lúc tới đây, ông luôn miệng nói về những điều ông biết. Vậy ông chẳng giống như ly nước đầy tràn này sao?”.

3 - Dẫn vào bài

          Câu chuyện trên cho chúng ta thấy, cuộc sống vẫn còn nhiều điều mà chúng ta chưa biết. Muốn hiểu biết, ta nên có thái độ khiêm tốn để học hỏi. Cũng vậy, nhiều người cho rằng, Thánh Kinh là những bản văn cổ xưa, dạy những điều ngược với chân lý khoa học, cho nên họ không cần đọc. Tuy nhiên, trong Thánh Kinh  chứa đựng những giá trịù quí báu không chỉ về mặt tôn giáo, mà cả về văn hoá, đạo đức, … Hơn nữa, Thánh Kinh chính là Lời của Thiên Chúa nói với con người, là sách ghi lại lịch sử cứu độ mà không ai có thể nhận ra nếu không có ơn soi sáng của Thiên Chúa, không có Đức tin và cả sự khiêm tốn đơn sơ. Đó chính là nội dung của bài học hôm nay mà chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu.

4 - Công bố Lời Chúa  (Dt 1, 1-2)

Lời Chúa  trong thư gửi tín hữu Do-thái

“Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử .”

Đó là Lời Chúa.

B-NỘI DUNG

1. Thánh Kinh là gì?

          Trong bối cảnh xã hội thời nay, người ta thường nghe những tiếng ồn ào của xe cộ, của những bản nhạc và của mọi lo toan trong cuộc sống, nên phần lớn trong số họ không nghe được tiếng Chúa nói. Tuy nhiên, nhiều người dù có tin hay không thì vẫn tồn tại một chân lý rằng: Thiên Chúa đã nói. Thiên Chúa không nói với con người bằng ngôn ngữ của Ngài, nhưng Ngài đã dùng chính ngôn ngữ của con người mà nói với họ dưới hình thức: hành động, lời, sau cùng nơi Đức Giê-su Ki-tô.

          a. Thiên Chúa nói bằng hành động

          Để dạy loài người nhận ra tình yêu của Thiên Chúa, trước hết, Ngài đã chứng tỏ tình yêu ấy bằng hành động: Ngài trao ban mọi sự cho con người và cứu giúp con người trước. Chính Thiên Chúa đã hành động như thế liên tục trong lịch sử nhân loại mà không nói bằng lời. Giống như người mẹ thương con, bà hy sinh tận tuỵ lo lắng cho con từ khi nó còn trong bụng mà không cần phải nói gì. Đứa con thật sự hiếu thảo cũng không cần đợi được nghe người mẹ kể lể về nỗi vất vả của mình mới nhận ra những hy sinh đó của mẹ. Nó đọc được điều ấy qua tất cả những gì mà bà mẹ đã, đang và sẽ làm cho nó.

          b. Thiên Chúa nói bằng lời

          Có khi, vì gặp phải đứa con hư, bất đắc dĩ người mẹ phải nói về tình thương của bà, về những hy sinh vất vả mà bà đã chịu đựng vì nó, những điều mà lẽ ra bà chỉ muốn dấu kín trong lòng. Cũng có khi bà mẹ sung sướng vì đứa con ngoan, tin cậy nó, muốn nó học được những điều tốt của bà nên bà đã ngồi tâm sự, nói cho nó nghe cả những điều thần kín. Cũng vậy, Thiên Chúa dùng lời lẽ của chính con người mà nói với họ vừa để mời gọi con người từ bỏ tội lỗi, vừa để giúp con người nên giống Ngài. Thiên Chúa muốn khẳng định rằng Ngài yêu thương ta hơn cha mẹ: “Dù có người mẹ nào quên được con mình đi nữa, Ta vẫn không bao giờ quên con” (Is 49, 15).

          Thiên Chúa tỏ rõ sự can thiệp của Ngài trong lịch sử, đặc biệt là trong lịch sử của dân tộc Ít-ra-en - dân riêng Ngài đã chọn. Qua các Ngôn sứ, Thiên Chúa đã dùng chính ngôn ngữ của con người để giúp họ hiểu tình thương cứu độ của Ngài sẽ được thực hiện nơi Đức Giê-su Ki-tô.

          c. Thiên Chúa nói tất cả nơi Đức Giê-su

          Thánh Gio-an cho biết: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một của mình, để ai tin vào Người Con ấy thì khỏi phải chết, nhưng được sống đời đời” (Ga 3,16). Con Thiên Chúa đến cứu chuộc chúng ta trước hết là bằng cách nói cho chúng ta biết về Thiên Chúa: “Không ai đã thấy Thiên Chúa bao giờ, nhưng Con Một là Thiên Chúa và là Đấng hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha, chính Ngài đã tỏ cho chúng ta biết” (Ga 1, 18).

          Đức Giê-su là đỉnh cao nhất của mạc khải[1]. Ngài là Lời trọn hảo của Chúa Cha nói với con người, nên sau Ngài không còn mạc khải chính thức nào nữa. Như vậy, Thiên Chúa đã nói bằng Lời qua các Tổ phụ, các Tiên tri và nhất là nói trọn vẹn nơi Đức Giê-su.

2. Sự hình thành Thánh Kinh

          a. Tác giả Thánh Kinh

          Thánh Kinh là một công trình vĩ đại của nhiều người trong suốt hơn 12 thế kỷ. Với hình thức không phải là một cuốn sách đơn lẻ bình thường, Thánh Kinh như một thư viện chứa đựng một kho tàng tư tưởng phong phú với đủ mọi thể loại văn chương: từ lịch sử, triết lý, luật pháp, thư, kịch, truyện, cho đến thánh ca, tình ca, châm ngôn, các lời tiên tri, những tâm tình cầu nguyện…

          Tuy nhiên, Thánh Kinh không đơn thuần là lời của con người, mà trước hết là Lời Thiên Chúa. Đây là bản chất đích thực của Thánh Kinh làm cho Thánh Kinh luôn có giá trị cho mọi người, mọi thời đại. Chính Chúa Thánh Thần đã tác động và soi sáng cho những người Ngài chọn, để họ viết lên những điều Ngài mạc khải nhằm phục vụ cho chương trình cứu độ của Thiên Chúa tuỳ theo cách thức của mỗi người. Vì vậy, tác giả chính của Thánh Kinh là Thiên Chúa, chính Thiên Chúa đã linh hứng cho các tác giả loài người, Ngài hành động trong họ và nhờ họ.

          Thực tế cho thấy, nếu không biết Tiếng Anh, chúng ta cũng không thể nào giao tiếp được với người Mỹ, vì khi chúng ta nói, họ đâu hiểu được. Do đó, khi nói với con người, Thiên Chúa đã dùng chính ngôn ngữ của con người mà nói với họ. Có như thế, con người mới khám phá được tình thương yêu của Thiên Chúa trong lịch sử đời mình.

          b. Linh hứng

Theo nghĩa Thánh Kinh, linh hứng (hay thần hứng) có nghĩa là đầy tràn Chúa Thánh Thần hoặc thống trị bởi Chúa Thánh Thần.

          Linh hứng rất quan trọng trong việc diễn giải Thánh Kinh, nhưng vai trò của Thiên Chúa qua Chúa Thánh Thần – tác giả đích thực của Thánh Kinh không tước bỏ hoàn toàn các giới hạn phàm trần của các tác giả viết Thánh Kinh. Theo đó, Thiên Chúa trong ý định quan phòng mầu nhiệm của Ngài đã cung ứng cho toàn thể loài người một Thánh Kinh, trong đó lịch sử sáng tạo – cứu độ, lịch sử mối tương quan thân thiết giữa Thiên Chúa cho loài người qua Ít-ra-en và trong Chúa Ki-tô, được ghi lại bởi các tác giả Thánh Kinh. Các tác giả này, khi viết các sách thánh dưới sự linh hứng của Chúa Thánh Thần, đều là những con người bị giới hạn bởi gia đình, xã hội, lịch sử, văn hoá, kiến thức, học lực, tôn giáo, nhân sinh quan, thế giới quan của thời họ đang sống (khoảng thế kỷ XIII đến thế kỷ I TCN đối với các sách Cựu Ước và khoảng thế kỷ I – II SCN đối với các sách Tân Ước). Hơn nữa, các tác giả Thánh Kinh này viết các sách thánh của họ cho các cộng đoàn tín hữu trong thời đại của họ, cho nên các tác phẩm của họ không nhất thiết cung cấp các câu trả lời cho những vấn nạn về thần học cũng như luân lý của những thời đại sau đó, như thời của chúng ta chẳng hạn. Chính Thiên Chúa sẽ đáp trả cho những vấn nạn của các thời đại qua Chúa Thánh Thần hoạt động trong việc chú giải Thánh Kinh vấn tiếp diễn, trong truyền thống và các dấu chỉ thời đại.

3. Thánh Kinh gồm những phần chính nào ?

          Thánh Kinh gồm có hai phần chính là Cựu Ước và Tân Ước.

          a. Cựu Ước: (sẽ được trình bày ở bài kế tiếp)

b. Tân Ước

Theo thuật ngữ, Tân là mới; ước là hẹn. Tân Ước là giao ước mới.

          Theo nghĩa của bài, Tân Ước là một bộ sách gồm 27 cuốn sách thánh riêng của Ki-tô giáo, nguyên văn chép bằng tiếng Hy-lạp, được thành hình trong nửa sau của thế kỷ thứ nhất sau công nguyên.

          Nội dung của Tân Ước trình bày về các mầu nhiệm của Chúa Giê-su Ki-tô. Ngài là Ngôi Lời đầy tràn ân sủng và chân lý đã nhập thể và ở giữa chúng ta. Chính Ngài đã thiết lập Nước Thiên Chúa trên trần gian, mạc khải Chúa Cha và chính mình Ngài qua lời nói và việc làm. Ngài hoàn tất công trình cứu chuộc của mình qua mầu nhiệm sự chết, sống lại, lên trời vinh hiển và ban Thánh Thần đến cho nhân loại. Ngài là Đấng Duy nhất có những lời ban sự sống vĩnh cửu. Những mầu nhiệm này chưa bao giờ được tỏ cho các thế hệ khác biết, nay đã được mạc khải trong Thánh Thần cho các Tông đồ của Ngài để họ rao giảng Tin mừng, cổ võ lòng tin vào Chúa Giê-su là Đấng được xức dầu và là Chúa, để qui tụ Hội Thánh.

C. KẾT THÚC

1. Bài học áp dụng

          Trong cuộc đời, có biết bao lời dạy của cha mẹ, thày cô giáo, chúng ta hằng ghi nhớ. Chẳng hạn: Hồi ấy, bố tôi có dặn tôi thế này... hoặc mẹ tôi khuyên tôi thế kia.... Cũng vậy, Cha trên trời còn luôn yêu thương, lo lắng cho ta hơn thế, nên đã sai Đức Giê-su, Con Một Người, đến dạy dỗ, hi sinh đền tội cho ta. Đức Giê-su đã nói, đã dạy ta con đường sự thật, Ngài đã lấy mạng sống hi sinh để lời nói ấy có giá trị. Đón nhận Lời Chúa không những là cử chỉ đền đáp ân tình của Ngài thương yêu, lo lắng cho ta, mà còn là nhu cầu của chính bản thân ta nữa.

          Lời Chúa ban sự sống, như cơm bánh ban sức sống cho thân xác. Con người còn có linh hồn và linh hồn cũng cần phải được nuôi dưỡng bằng lương thực thiêng liêng. Cái đói của thân xác thấy được, nên ai cũng sợ và ra sức kiếm đồ ăn, thức uống nuôi nó; nhưng còn cái đói, cái chết của linh hồn, người ta không thấy được nên không sợ.

          Ở đây có một điều lầm lẫn tai hại: nhiều người ngày nay chỉ coi linh hồn như là trí khôn, nên họ nuôi nó bằng khoa học, triết học, lời hay ý đẹp ở các sách vở, phim ảnh, truyền hình... Như thế thôi chưa đủ, linh hồn, ngoài chức năng trí tuệ, còn có cái linh hướng về tâm linh nên cần của ăn thiêng liêng, như Chúa Giê-su dạy: “Con người không chỉ sống bằng cơm bánh, mà còn sống bằng các Lời Chúa phán ra” (Mt 4, 4). Lời Chúa nuôi ta, có nghĩa là không chỉ soi sáng trí khôn ta biết đường phải, đường thật mà đi, nhưng nhất là còn ban sức mạnh thúc đẩy ý chí ta làm sự lành, tránh sự dữ, phục vụ, thương yêu tha nhân, xây dựng xã hội...

          Đối với các bạn trẻ, tâm hồn các bạn đang mở ra khao khát đón nhận đủ mọi thứ: học chữ, học nghề, học sống, học ăn, học nói, học gói, học mở... Nói tóm lại, tâm hồn các bạn đang khao khát chân lý. Chớ gì đang khi học các môn học bồi dưỡng trí tuệ, các bạn đừng quên phần linh thiêng trong các bạn. Thiếu nó, các bạn không thể trở nên con người trọn hảo.

2. Gợi ý cầu nguyện

          Lạy Chúa, xin ban cho chúng con thái độ khiêm tốn mỗi khi đọc Lời Chúa, lắng nghe Lời Chúa và học hỏi Lời Chúa. Xin ban cho chúng con biết từ bỏ ý riêng mà sống theo Lời Chúa dạy. Lạy Chúa, xin dạy chúng con luôn khắc ghi lời Chúa: “chúng con ở trong thế gian, nhưng không thuộc về thế gian”, để chúng con luôn can đảm khước từ những dụ dỗ của thế gian. Xin cho ngọn lửa yêu thương của Lời Chúa luôn thôi thúc chúng con hành động, để cho thế gian luôn nhận ra rằng, chúng con thuộc về Chúa. Amen.

 

BẠN CÓ BIẾT ?

KHUNG CẢNH ĐỊA LÝ CỦA CỰU ƯỚC

Lịch sử Cựu ước diễn ra trong vùng tiếp cận giữa châu Á, châu Âu và châu Phi, ngày nay quen gọi là Trung Đông hay Cận Đông. Vùng này tuy không lớn (diện tích chỉ bằng vùng Đông Nam Á) nhưng có một vai trò quan trọng trong lịch sử, vì là nơi phát xuất của những nền văn minh cổ nhất thế giới.

Ở phía tây vùng Trung Đông là Ai Cập. Mạch sống của Ai-cập là sông Nin, dài 6.000 km. Tại đây, một nền văn minh đã phát sinh từ 3000 năm trước công nguyên, với những công trình kiến trúc vĩ đại (các đền đài, các kim tự tháp), những tác phẩm nghệ thuật tinh vi và một nền văn minh phong phú. Ai-cập là một nước sớm thống nhất và đã có những thời kỳ thế lực chính trị khá mạnh.

Ở phía đông là miền Lưỡng-hà. Gọi như thế vì đó là một đồng bằng phì nhiêu có hai cong sông lớn chảy qua: sông Ti-gơ-ra và sông Êu-phơ-rát. Văn minh ở vùng này cũng rất xưa và rực rỡ: tại đây loài người đã phát minh ra chữ viết đầu tiên, cách đây hơn 5000 năm. Về mặt chính trị, miền này khi thì chia ra những thành phố tự lập, khi thì thống nhất dưới quyền một đế quốc lớn như Át-xi-ri (thế kỷ 8-7 trước công nguyên), Ba-bi-lon (thế kỷ 7-6).

Nối liền Ai-cập và miền Lưỡng-hà là bờ biển Phê-ni-ki, một giải đất hẹp nằm giữa núi Li-băng và Địa-trung-hải. Văn minh ở vùng này cũng có từ lâu đời, ngôn ngữ rất gần với tiếng Híp-ri của Ít-ra-en. Phần phía nam của bờ biển Phê-ni-ki là xứ Pa-lét-tin, nơi các chi tộc Ít-ra-en sinh sống trong thời Cựu ước.

Xứ Pa-lét-tin có chiều dài 240 km, chiều rộng từ 40 đến 150 km, diện tích chừng 2.500 km2 ; phía bắc giáp núi Li-băng; phía đông và nam giáp sa mạc, phía tây giáp Địa-trung-hải. Từ tây sang đông có 4 miền chính, chạy từ bắc tới nam:

* Miền duyên hải: Phía bắc có núi Các-men cao 530m. Phía nam là đồng bằng. Bờ biển này không có cửa biển tốt.

* Miền núi: là nơi ở chính của dân Ít-ra-en xưa, cao trung bình 500-900m. Từ bắc xuống nam, miền núi lại chia thành:

   - Xứ Ga-li-lê: Ở phía bắc cao hơn, phía nam thấp hơn (có Na-da-rét, núi Ta-bo).

   - Xứ Sa-ma-ri: Có hai ngọn núi cao nhất là Gơ-ri-dim (881m) và Ê-ban (940m), giữa hai ngọn là thung lũng Si-khem.

   - Xứ Giu-đa: Cao hơn xứ Sa-ma-ri, có núi Ô-liu (814m) ở phía đông thành Giê-ru-sa-lem (750m); về phía nam có Bê-lem và Khép-rôn.

* Thung lũng sống Gio-đan: Sông này bắt nguồn từ sườn phía nam núi Li-băng, rồi chảy vào hồ Ti-bê-ri-a (cũng gọi là hồ Ghê-nê-xa-rét hay Biển Ga-li-lê). Mặt hồ ở 220m dưới mực nước Địa-trung-hải. Hồ này dài 21km, rộng 11km, sâu 45m, nước ngọt, nhiều cá.

Ra khỏi hồ Ti-bê-ri-a, sông Gio-đan chảy qua một thung lũng sâu (trong thung lũng này có Giê-ri-khô, một thành cổ bậc nhất thế giới) rồi đổ vào biển Chết. Biển này dài 76km, rộng 16km, mặt nước ở đó thấp hơn mặt Địa-trung-hải 390m, chỗ sâu nhất là 400m (tức là 790m so với mặt Địa-trung-hải). Nước có muối và khoáng chất đậm đặc gấp 6 lần nước biển thường, không có sinh vật nào sống được, do đó mà gọi là biển Chết.

* Cao nguyên phía đông sông Gio-đan, xưa có rừng rậm và đồng cỏ.

Nói chung, khí hậu miền Pa-lét-tin ôn hoà và lành. Mưa tương đối ít: lượng mưa trung bình hàng năm là 55cm tại Giê-ru-sa-lem, 20cm trong thung lũng sông Gio-đan và vùng giáp sa mạc phía nam. Đất đai không giầu lắm. Nền kinh tế căn bản là nông nghiệp (lúa mì, nho, ô-liu, vả) và chăn nuôi (cừu, dê, bò, lừa). Dân số thời thịnh nhất (thế kỷ 8) ước chừng một triệu. Riêng tại Giê-ru-sa-lem có khoảng 30.000 dân.

 

BÀI 2

KHÁI QUÁT VỀ THÁNH KINH CỰU ƯỚC

A. DẪN NHẬP

1. Thánh hoá đầu giờ

          Lạy Chúa Giê-su, sau khi về trời, Chúa đã xin cùng Chúa Cha sai Chúa Thánh Thần đến để hướng dẫn Hội Thánh tiếp tục sứ vụ đem ơn cứu độ đến cho mọi người. Giờ đây, chúng con cũng nài xin Chúa ban Thánh Thần xuống trên chúng con để chúng con luôn biết học hiểu và suy gẫm Lời Chúa, để từ đó chúng con lại tiếp tục sứ mạng loan báo Lời Chúa đến cho mọi người. Amen.

2. Câu chuyện minh hoạ “Lấy Thánh Kinh ra khỏi văn cảnh”.

          Một Ki-tô hữu chỉ biết có Thánh Kinh, gặp những vấn đề nghiêm trọng trong việc kinh doanh vì khủng hoảng kinh tế. Công việc kinh doanh của ông sắp bị phá sản.

          Trong lúc bối rối, ông muốn mở Thánh Kinh cắt ngang để tìm điều Thiên Chúa muốn ông phải làm. Vì thế, ông lấy cuốn Thánh Kinh dày cộm, mở đại ra trong lúc mắt ông nhắm lại, ngón tay trỏ di chuyển trên trang giấy. Khi ông dừng lại, ngón tay chỉ vào sách Mát thêu 27, 5, ông đọc: “Giu-đa lui ra và đi thắt cổ”. Ông rất đau buồn và lẩm bẩm: “Có phải đây là điều Thiên Chúa muốn tôi làm bây giờ?”. Vì thế, ông thử lại lần nữa theo cùng một cách thức. Mắt nhắm lại, ông mở Thánh Kinh và di chuyển ngón trỏ trên trang giấy. Mở mắt ra, ông thấy ngón tay chỉ vào sách Luca 10, 37, ông đọc: “Ông hãy đi và làm như vậy”. Con người khốn khổ đó càng thêm đau buồn.

          Ông ta nói: “Mình hãy thử lại lần thứ ba để xem lần này có xác nhận hai lần trước không?”. Ông mở sách và gấp sách, rồi mở lại, cùng một cách thức. Khi mở mắt ra, ông thấy ngón tay chỉ vào sách Gio-an 13, 27. Ông ta ngã quị xuống đất bởi cơn đau tim, vì câu Thánh Kinh ấy nói: “Anh làm gì thì làm mau đi”.

3. Dẫn vào bài

          Thật là nguy hiểm khi giải thích những đoạn Thánh Kinh ra ngoài văn cảnh. Biết Thánh Kinh nói gì chưa đủ, nhưng điều quan trọng hơn là phải biết ý nghĩa của nó. Cựu Ước vốn là một phần của Thánh Kinh, nhưng đối với nhiều Ki-tô hữu, Cựu Ước có vẻ xa lạ. Nếu có dịp đọc, chúng ta sẽ khám phá ra cả một kho tàng ẩn dấu trong đó. Đọc Cựu Ước không chỉ giúp chúng ta hiểu Tân Ước, nhưng còn giúp chúng ta hiểu rõ chương trình tình thương cứu độ của Thiên Chúa đối với loài người. Nội dung của bài này sẽ cho chúng ta cách nhìn tổng quát về các sách Cựu Ước.

4. Đọc Thánh Kinh  (Lc 24, 13 - 27).

          Lời Chúa trong Tin Mừng theo thánh Lu-ca.

          Cũng ngày hôm ấy, có hai người trong nhóm môn đệ đi đến một làng kia tên là Em-mau, cách Giê-ru-sa-lem chừng mười một cây số. Họ trò chuyện với nhau về tất cả những sự việc mới xảy ra. Đang lúc họ trò chuyện và bàn tán, thì chính Đức Giê-su tiến đến gần và cùng đi với họ. Nhưng mắt họ còn bị ngăn cản, không nhận ra Người. Người hỏi họ: "Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy ?" Họ dừng lại, vẻ mặt buồn rầu. Một trong hai người tên là Cơ-lê-ô-pát trả lời: "Chắc ông là người duy nhất trú ngụ tại Giê-ru-sa-lem mà không hay biết những chuyện đã xảy ra trong thành mấy bữa nay." Đức Giê-su hỏi: "Chuyện gì vậy ?" Họ thưa: "Chuyện ông Giê-su Na-da-rét. Người là một ngôn sứ đầy uy thế trong việc làm cũng như lời nói trước mặt Thiên Chúa và toàn dân. Thế mà các thượng tế và thủ lãnh của chúng ta đã nộp Người để Người bị án tử hình, và đã đóng đinh Người vào thập giá. Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng rằng chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc Ít-ra-en. Hơn nữa, những việc ấy xảy ra đến nay là ngày thứ ba rồi. Thật ra, cũng có mấy người đàn bà trong nhóm chúng tôi đã làm chúng tôi kinh ngạc. Các bà ấy ra mộ hồi sáng sớm, không thấy xác Người đâu cả, về còn nói là đã thấy thiên thần hiện ra bảo rằng Người vẫn sống. Vài người trong nhóm chúng tôi đã ra mộ, và thấy sự việc y như các bà ấy nói; còn chính Người thì họ không thấy." Bấy giờ Đức Giê-su nói với hai ông rằng: "Các anh chẳng hiểu gì cả ! Lòng trí các anh thật là chậm tin vào lời các ngôn sứ ! Nào Đấng Ki-tô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao ? Rồi bắt đầu từ ông Mô-sê và tất cả các ngôn sứ, Người giải thích cho hai ông những gì liên quan đến Người trong tất cả Sách Thánh.

          Đó là Lời Chúa.

B. NỘI DUNG

1. Cựu Ước là gì ?

          Theo thuật ngữ Hán tự, Cựu là cũ, xưa; Ước là hẹn. Cựu Ước là giao ước cũ.

          Theo nghĩa của bài, Cựu Ước là một bộ sách gồm có 46 cuốn (qui điển của Giáo Hội Công Giáo), thuộc nhiều thể văn khác nhau như: sử ký, truyền kỳ, luật pháp, giảng thuyết, khuyên răn, truyện để dạy đời, thi ca… “Những cuốn này do nhiều tác giả Thánh Kinh sưu tầm và viết lên, ấn bản vào nhiều thời khác nhau. Những phần cổ nhất được chép thành văn vào khoảng 1000 năm trước khi Chúa Giê-su sinh ra, còn những phần mới nhất chừng gần 100 năm trước thời Người”[1].

Nội dung của Thánh Kinh Cựu Ước nói về công trình sáng tạo của Thiên Chúa, sự sa ngã của loài thụ tạo, lời hứa cứu độ cho toàn thể thụ tạo nói chung và loài người nói riêng, qua việc Thiên Chúa chọn lựa Áp-ra-ham và dân Do-thái như một dụng cụ hay phương tiện để dọn đường, tiên báo, thực hiện và hoàn thành công trình cứu độ của Người cho toàn thể thụ tạo trong Đức Ki-tô. Lịch sử dân này trải qua nhiều thời đại khác nhau trong một thời gian khá dài: khoảng từ năm 1900 TCN đến hết năm 1 TCN.

2. Các sách Cựu Ước

Cựu Ước gồm 46 cuốn được phân chia như sau:

a. Ngũ Thư ( sách Luật Mô-sê)

          - Khái niệm: Là năm cuốn đầu tiên của Thánh Kinh Cựu Ước bao gồm: Sáng thế, Xuất hành, Lê-vi, Dân số và Đệ nhị luật; nói về công trình sáng tạo của Thiên Chúa, sự sa ngã của toàn thể loài thụ tạo và lời hứa cứu độ của Thiên Chúa cho mọi người qua việc Ngài chọn ông Áp-ra-ham và thành lập dân Ít-ra-en trong sa mạc với Giao ước và lề luật.

          - Sứ điệp: là bộ luật, Ngũ thư đã đặt nền cho Do-thái giáo và còn minh chứng đạo Cựu Ước là đạo mặc khải: Thiên Chúa đã tỏ cho những người sống trong những thời đại và hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Người đã can thiệp cách đặc biệt vào sự tiến triển của loài người.

          Lời hứa, giao ước, luật là những tư tưởng chính gắn kết với nhau xuyên suốt Ngũ Thư. Bài học luân lý và đạo đức đối với chúng ta ngày nay vẫn còn y nguyên, bởi vì Chúa Giê-su đã kiện toàn luật Cựu Ước (x. Mt 5,17), nên đức tin Ki-tô giáo đòi chúng ta có một tâm tình đối với các thực tại của luật mới là Tin Mừng tương tự như tâm tình của dân Ít-ra-en xưa đối với Luật. Hơn nữa, đối với mỗi Ki-tô hữu, lịch sử mà Ngũ Thư kể lại còn có ý nghĩa của cuộc hành trình đi tới Thiên Chúa, trong đó mỗi sách tiêu biểu cho một chặng đường, và mỗi sách đều chứa đựng một bài học riêng về thái độ của con người đối với Thiên Chúa.

          b. Các sách Lịch sử

          - Khái niệm: Là những cuốn sách nói chung về ba giai đoạn lịch sử của dân Ít-ra-en: Thời kỳ trong đất hứa; Thời kỳ lưu đày và hậu lưu đày; Thời kỳ cuối hậu lưu đày, bao gồm có 16 cuốn (Giô-suê, Thủ lãnh, 1&2 Sa-mu-en, 1&2 Các Vua, Rút, 1&2 Sử biên niên, Ét-ra, Ét-te, 1&2 Ma-ca-bê, Tô-bi-a, Giu-đi-tha và Nơ-khê-mi-a).

          - Sứ điệp: các sách lịch sử, với dạng thức cuối cùng, là công trình biên soạn của những người sùng đạo đã thấm nhiễm những tư tưởng của Đệ nhị luật. Họ suy tư về quá khứ dân tộc họ và từ đó rút ra một bài học về tôn giáo. Nhưng các sách ấy cũng lưu truyền cho chúng ta những khẩu truyền, bút tích đã có từ thời tiến vào Đất Hứa, tường thuật các sự kiện nổi bật trong lịch sử Ít-ra-en. Nếu lịch sử này được trình bày như một “lịch sử thánh”, thì nó cũng giảm thiểu sức hấp dẫn đối với các sử gia; nhưng trái lại, nó có giá trị đối với các tín hữu. Bởi vì thông qua lịch sử ấy, chúng ta không những nhận biết bàn tay Thiên Chúa trong mọi biến cố thế trần, nhưng còn nhìn thấy sự ân cần và tình thương bao la của Thiên Chúa đối với Dân Người tuyển chọn, sự phát triển tiệm tiến chuẩn bị cho dân Ít-ra-en mới là cộng đồng những kẻ tin.

          c. Các sách Giáo huấn

          - Khái niệm: Là những cuốn sách chứa đựng một kho tàng phong phú, thâm sâu về sự khôn ngoan và lối suy tư của người Do-thái về tôn giáo, nhân sinh quan, vũ trụ quan, cuộc sống và đức tin của họ, bao gồm 7 cuốn: Gióp, Thánh vịnh, Châm ngôn, Giảng viên, Diễm ca, Khôn ngoan, Huấn ca.

          - Sứ điệp: các sách giáo huấn trong Thánh Kinh mang tính chất nhân bản sâu xa. Một đàng nó dựa trên những lý luận của nền luân lý tự nhiên để tìm ra những mối tương quan cũng như những nghĩa vụ của mọi người nói chung; nhưng đàng khác nó còn liên hệ với Thiên Chúa và Luật của Người mang tính siêu việt hơn.

          Phổ quát chứ không hạn hẹp vào những tham vọng quốc gia của Ít-ra-en: suy nghĩ về con người bất phân chủng tộc trong những mối liên lạc tín ngưỡng với Thiên Chúa, Đấng tạo thành và an bài mọi sự.

          Đề cao luân thường đạo lý. Tán dương các nhân đức, luật trung dung, lấy lòng kính sợ Thiên Chúa làm nền tảng đời sống khôn ngoan. Các nghĩa vụ gia đình và xã hội đều bắt nguồn từ nguyên tắc đạo đức này.

          Lấy độc thần giáo làm căn bản. Tất cả tín ngưỡng và luân lý của Cựu Ước đều xoay quanh ý niệm một Đấng tối cao, nhân hậu mà công thẳng, đồng thời tỏ ra rất quan tâm đến con người.

          Những tư tưởng vừa kể làm nổi bật các tác phẩm giáo huấn của sách thánh về phương diện luân lý, phù hợp với truyền thống đạo đức chung của Ít-ra-en.

          d. Các sách Tiên tri

          - Khái niệm: Là những sách được sưu tầm và ấn bản theo danh tính của từng ngôn sứ qua các thời đại khác nhau với các sứ điệp khác nhau của chính Thiên Chúa cho Ít-ra-en và cho toàn thể thế giới, bao gồm 18 cuốn: I-sa-i-a, Giê-rê-mi-a, Ai ca, Ba-rúc, Ê-dê-ki-en, Đa-ni-en, Hô-sê, Giô-en, A-mốt, Ô-va-đi-a, Giô-na, Mi-kha, Na-khum, Kha-ba-cúc, Xô-phô-ni-a, Khác-gai, Da-ca-ri-a và Ma-la-khi.

          - Sứ điệp: vì là những con người của tôn giáo, các ngôn sứ nhìn mọi sự dưới cái nhìn tôn giáo, kể cả những biến cố chính trị, những sự kiện văn hóa đời thường. Các ngôn sứ đã đóng một vai trò quan trọng trong việc mở mang tôn giáo ở Ít-ra-en, không những họ đã giữ gìn và hướng dẫn dân trong đường lối đạo đức của Gia-vê, mà họ còn là những bộ phận chính cho sự phát triển tiệm tiến của mặc khải trong công việc đa dụng ấy, mỗi vị đã có một vai trò riêng và đã góp phần xây dựng cho tòa lâu đài đạo lý. Điểm chung tư tưởng của họ là: Độc thần, một nền luân lý, và lòng mong chờ Đấng Mê-si-a.                                                                                                           

3. Thể văn Cựu Ước

          L?i Chúa không được thông truyền cho chúng ta trực tiếp, nhưng nó thường mặc một hình thức của nhân loại. Vì Thiên Chúa muốn dùng con người để thông truyền sứ điệp của Ngài. Chúng ta cần phải hiểu biết cách suy tư và diễn tả của những vị đó. Bộ Thánh Kinh hình thành trong suốt 12 thế kỷ, nên các tác giả sách thánh chịu ảnh hưởng môi trường sống của các ngài như văn hóa Su-mer Ak-kad, Ca-na-an, Ai-cập và Hy-lạp nữa. Hơn nữa, Ít-ra-en còn có những đặc điểm riêng của Giao ước Mô-sê, là người lập ra mối hiệp thông duy nhất với Thiên Chúa cho dân. Các tác giả sách thánh dùng những kiểu cách để diễn tả sứ điệp mà các ngài truyền bá. Ta gọi những kiểu diễn tả là văn loại Thánh Kinh. Cựu Ước bao gồm rất nhiều thể văn như: lịch sử, tích truyện, ngôn sứ, ...

          - Loại văn Lịch sử: Loại văn này là mảnh đất vững vàng và phì nhiêu là cơ sở cho những loại văn khác. Nhưng nên nhớ, lịch sử Thánh Kinh lúc nào cũng là phương tiện chứ không phải là mục đích. Các sứ giả tân thời cố làm sao cho trình thuật của mình phù hợp với biến cố xảy ra, nhưng các tác giả Thánh Kinh chỉ dùng các sự kiện mà các ngài ghi lại làm điểm tựa để trình bày đạo lý. Các vị không có ý làm cho trình thuật của mình phù hợp với toàn bộ biến cố, nhưng trình bày theo một phương diện đặc biệt của biến cố hầu đạt đến mục đích mà các vị theo đuổi. Do đó, đôi khi có những chỗ giản dị hóa, bỏ qua, nhấn mạnh. Hơn nữa, tác giả coi lịch sử là sự hiện thực chương trình cứu độ của Gia-vê đối với Ít-ra-en, nên phép lạ là một phần trong lịch sử ấy. Sau hết, tác giả sách thánh dùng nhiều hình thức trong văn loại lịch sử đương thời đang sử dụng với nhiều hình thức khác nhau như: Lịch sử có tính chất tài liệu, lịch sử hùng ca, lịch sử dân gian, lịch sử thời khởi nguyên, lịch sử khuyến thiện và trình thuật giáo dục.

          - Loại văn tự tình: thể văn này được sử dụng nhiều trong Thánh Vịnh, đồng thời trong các bài thương ca, các phần vịnh trong tác phẩm lịch sử và tiên tri, sách Diệu Ca. Ngoài ra, còn xuất hiện trong các bài ca khải hoàn của My-ri-am, Đơ-bô-ra (x. Xh 15; Tl 5), thậm chí cả những bài ca yến ẩm (x. Is 22,13; 56,12). Thể loại này thường là thi ca. Luật cơ bản nhất trong thi văn Sê-mít là song đối: câu văn có hai vế bổ túc cho nhau dưới hình thức tương đồng (x. Gv 2,2), hay trái nghịch (x. Kn 10,1). Câu thơ có vần điệu theo luật bằng trắc. Hai ba câu thơ hợp thành một tiết. Thơ trữ tình dồi dào về hình ảnh và so sánh sinh động: quan niệm nhân hình về Thiên Chúa (x. Xh 15,8); nhân hóa các vật vô tri (x. Tv 7,8).

          - Loại văn Giáo dục: Tất cả các sách Khôn Ngoan được trình bày dưới thể văn này. Đúng với tên của nó, loại văn nhằm trình bày lời khuyên dạy. Các tác phẩm loại này thường viết theo văn vần và có nhiều dạng khác nhau: Châm Ngôn, Ẩn Ngữ, Dụ Ngôn, Ngụ ngôn. Những tác giả có thể triển khai trong trình thuật: Tô-bi-a, Giu-se.

          - Loại văn Pháp chế: Thể văn này có quan hệ với Giao ước vì giao ước bao hàm tuân giữ Lề Luật. Đây là hành văn của ngũ thư (đặc biệt là sách Đệ Nhị Luật và “luật Thánh đức” (x. Lv 17-26). Về hình thức văn thể này có dạng câu điều kiện: “Nếu kẻ nào đả thương chết người, tất cả phải chết” (Xh 21,12) hay sử dụng thì tương lai ở dạng thường: “Ngươi sẽ không giết người” (Xh 20,13). Dạng thứ nhất tức là hình thức vấn nạn, một hình thức du nhập từ một khoản luật thông thường của nước ngoài. Dạng thứ hai có một thể văn đặc biệt của truyền thống Đa-vít.

          - Loại văn Ngôn sứ: loại văn chương Tây Phương hiện đại không có hình thức văn chương này. Người ta sử dụng khi trình  bày hoạt động ngôn sứ: trong các tác phẩm lịch sử, đặc biệt các tác phẩm ngôn sứ. Loại văn này không tách biệt hoàn toàn nhưng người ta thấy chúng ở dạng pha phôi với các thể văn khác: lịch sử, trữ tình và khôn ngoan. Vì thế có những phần tự thuật, có những chi tiết nói về bối cảnh lịch sử, xã hội và tôn giáo. Đôi khi biểu hiện tâm tình rất mãnh liệt (thí dụ Hô-sê, Giê-rê-mi-a và Ê-dê-ki-en). Ít nhất cũng cầu nguyện (x. Is 44,23). Có những lúc, giáo huấn của Ngôn sứ rất trừu tượng, giống như hành văn của các hiền triết (x. Is 11,1-4).

          Yếu tố chủ yếu nhất là sấm ngôn, loại này được trình bày theo dạng mẫu: “Đây là lời Gia-vê phán” và kết thúc là “sấm của Gia-vê” (điển hình Gr 9, 22-23). Loại khác là sấm ngôn khuyên nhủ: đây là loại chú giải sấm ngôn, với hình thức này, ngôn sứ biểu lộ tính khí một cách bộc trực hơn (x. Is 34, 1-5). Sấm ngôn và khuyến dụ thường có các hình ảnh miêu tả phụ họa và các cử chỉ diễn ý.

          - Loại văn Khải huyền: loại này gần với thể văn ngôn sứ nhưng nét dị biệt khá rõ ràng. Thể văn này phát khởi thời Ê-dê-ki-en và Gia-ca-ri-a, triển khai trong sách Đa-ni-en và kết thúc với sách Khải Huyền của Gio-an. Loại văn này có đặc điểm: có các giấc mơ, thị kiến, các thiên thần hành động, nói đến các tai họa thiên nhiên, đối chiếu với lịch sử khi phê phán và coi trọng yếu tố cánh chung.

C. KẾT THÚC

1. Bài học áp dụng

          Cựu Ước nói về việc Thiên Chúa chọn dân Ít-ra-en làm dân riêng, dạy dỗ và hướng dẫn họ qua lịch sử để chuẩn bị cho họ đón nhận Tin mừng của Chúa Ki-tô. Khi Chúa Ki-tô đến, Ngài có nói: “Ta đến không phải để bãi bỏ Cựu Ước, nhưng để làm cho Cựu Ước đầy đủ ý nghĩa”(Mt 5, 17). Mặc dù có một số điều chưa hoàn toàn, Cựu Ước vẫn còn giá trị, vì Thiên Chúa phán trong Cựu Ước vẫn là Thiên Chúa phán trong Tân Ước, và vì Cựu Ước vẫn có thể dạy chúng ta là dân mới của Thiên Chúa, biết đón nhận Tin mừng Chúa Ki-tô và sống với Ngài.

Chính vì những lý do đó, Hội Thánh luôn trân trọng các sách Cựu Ước và vẫn đọc Cựu Ước trong phụng vụ cho giáo dân nghe. Bài đọc thứ nhất trong các Chúa nhật và đại lễ thường vẫn được trích từ Cựu Ước. Riêng các Thánh vịnh đã được dùng làm lời cầu nguyện chính thức của Hội Thánh. Vì vậy, khi đọc và nghe Lời Chúa ta cần có tâm tình tôn kính, yêu mến L?i Chúa.

2. Gợi ý cầu nguyện

          Lạy Chúa, Thánh Kinh chính là lời mặc khải của Chúa, Cựu Ước là hình bóng của Tân Ước, và tất cả đều được kiện toàn nơi Đức Giê-su Ki-tô, vì Chính Đức Giê-su Ki-tô là Lời và là mạc khải tròn đầy của Thiên Chúa. Xin cho chúng con luôn biết siêng năng học hỏi và gẫm suy Lời Chúa, đặc biệt qua lời giáo huấn của Giáo Hội và Lời Chúa trong Thánh Lễ mỗi ngày. Xin cho chúng con luôn cảm nghiệm được tình yêu thương của Chúa và sẵn sàng ra đi làm chứng và đem Tin Mừng của Chúa cho trần gian  như Lời Chúa dạy: “Anh em hãy ra đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo”

(x. Mc16,15). Amen.

B ẠN CÓ BIẾT ?

CÁCH TRƯNG DẪN KINH THÁNH

Khi chưng dẫn Kinh Thánh, ta không nêu số trang nhưng nêu số chương (cũng gọi là đoạn) và số câu: Ví dụ, trưng dẫn sách Sa-mu-en quyển 1:

1 Sm 2: chương 2

1 Sm 2-3: chương 2 đến hết chương 3

1 Sm 2, 18     : chương 2 câu 18

1 Sm 2, 18-21: chương 2 câu 18 đến hết câu 21

1 Sm 2, 18. 26: chương 2 câu 18 và câu 26

1 Sm 2, 18-3, 19       : chương 2 câu 18 đến chương 3 câu 19

1 Sm 2, 18; 3,19       : chương 2 câu 18 và chương 3 câu 19

NGÔN SỨ

- Ngôn: Lời nói

- Sứ: Người được sai đến.

( Ngôn sứ: Người được Thiên Chúa sai đến để nói Lời của Ngài.

 

BÀI 3

THIÊN CHÚA SÁNG TẠO VŨ TRỤ VÀ CON NGƯỜI

A- DẪN NHẬP

1.      Thánh hoá đầu giờ

(GLV tùy nghi có thể hát một bài hoặc đọc một kinh hay một lời nguyện)

          Lạy Chúa, xin thương đổ tràn xuống tâm hồn con Chúa Thánh Thần. Xin Chúa Thánh Thần liên kết con chặt chẽ với Chúa, để con có đủ sức chu toàn sứ mạng Chúa trao phó cho. Amen.

2.      Câu chuyện minh hoạ “Đổ vỡ”

          Chuyện kể rằng, có một cậu trai sinh trưởng trong một gia đình Công Giáo nề nếp và đạo hạnh. Ngay từ nhỏ, cậu đã được cha dạy cho biết các đức tính nhân bản cần có của một con người; được mẹ dạy cho biết lòng kính sợ Thiên Chúa; được các giáo lý viên dạy cho biết những vấn đề căn bản của đạo lý Ki-tô giáo. Nhưng khi lớn lên, do tiếp xúc với các học thuyết khoa học, cậu đâm ra nghi ngờ về những điều mình tin trong đạo lý Công Giáo. Cậu còn tranh luận với bố mẹ cậu về những vấn đề của Đức tin rằng: Vũ trụ và con người là sản phẩm của quá trình tiến hoá của tự nhiên, vì khoa học đã chứng minh như vậy chứ không phải do Thiên Chúa sáng tạo. Phản ứng lại lý luận của cậu, bố cậu đã nóng giận đuổi cậu ra khỏi nhà. Nhờ sự giới thiệu của một người bạn, cậu xin được việc và vào làm phu hồ cho một tổ thợ xây đang thi công ở một nhà thờ thuộc một giáo xứ ở thành phố.

          Một hôm, trong lúc giải lao, cậu được tiếp chuyện với cha xứ. Sẵn có những thắc mắc về đức tin, cậu đem ra thỉnh giáo với vị cha xứ đó. Bằng tình thương yêu, bao dung và sự cởi mở của mình, vị linh mục già đã lần lượt giải thích cho cậu hiểu về nguyên nhân cùng đích của vũ trụ và con người. Kể từ đó, những lúc rảnh rỗi cậu luôn tìm dịp đến với cha để được thỏa mãn những thắc mắc của mình. Sau nhiều lần trao đổi và học hỏi, cuối cùng cậu đã trở về với Đức tin của mình và hơn nữa, trở thành một chủng sinh để tiến tới thiên chức linh mục.

3.      Dẫn vào bài

          Cũng vậy, nhiều khi trong môi trường của nếp sống văn minh ưa những bằng chứng xác thực, đức tin của chúng ta đôi khi bị chao đảo. Hầu hết những người trong số đó, họ đều hiểu Thánh Kinh theo nghĩa đen. Tức là chỉ căn cứ trên những trình thuật của Thánh Kinh, mà không tìm hiểu xem ý tác giả Thánh Kinh muốn chuyển tải ý nghĩa gì. Đây chính là nội dung mà hôm nay chúng ta cùng nhau tìm hiểu qua tường thuật của sách Sáng thế: Thiên Chúa sáng tạo nên vũ trụ và con người.  

4. Đọc Thánh Kinh (St 1-2, 4a)

          Lời Chúa trong Sách Sáng Thế     

          Lúc khởi đầu, Thiên Chúa sáng tạo trời đất. Đất còn trống rỗng, chưa có hình dạng, bóng tối bao trùm vực thẳm, và thần khí Thiên Chúa bay lượn trên mặt nước. Thiên Chúa phán: "Phải có ánh sáng." Liền có ánh sáng. Thiên Chúa thấy rằng ánh sáng tốt đẹp. Thiên Chúa phân rẽ ánh sáng và bóng tối. Thiên Chúa gọi ánh sáng là "ngày", bóng tối là "đêm". Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ nhất. Thiên Chúa phán: "Phải có một cái vòm ở giữa khối nước, để phân rẽ nước với nước." Thiên Chúa làm ra cái vòm đó và phân rẽ nước phía dưới vòm với nước phía trên. Liền có như vậy. Thiên Chúa gọi vòm đó là "trời". Qua một buổi chiều và một buổi sáng : đó là ngày thứ hai. Thiên Chúa phán: "Nước phía dưới trời phải tụ lại một nơi, để chỗ cạn lộ ra." Liền có như vậy. Thiên Chúa gọi chỗ cạn là "đất", khối nước tụ lại là "biển". Thiên Chúa thấy thế là tốt đẹp. Thiên Chúa phán: "Đất phải sinh thảo mộc xanh tươi, cỏ mang hạt giống, và cây trên mặt đất có trái, ra trái tuỳ theo loại, trong có hạt giống." Liền có như vậy. Đất trổ sinh thảo mộc, cỏ mang hạt giống tuỳ theo loại, và cây ra trái, trong trái có hạt giống tuỳ theo loại. Thiên Chúa thấy thế là tốt đẹp. Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ ba. Thiên Chúa phán: "Phải có những vầng sáng trên vòm trời, để phân rẽ ngày với đêm, để làm dấu chỉ xác định các đại lễ, ngày và năm. Đó sẽ là những vầng sáng trên vòm trời để chiếu soi mặt đất." Liền có như vậy. Thiên Chúa làm ra hai vầng sáng lớn: vầng sáng lớn hơn để điều khiển ngày, vầng sáng nhỏ hơn để điều khiển đêm; Người cũng làm ra các ngôi sao. Thiên Chúa đặt các vầng sáng trên vòm trời để chiếu soi mặt đất, để điều khiển ngày và đêm, và để phân rẽ ánh sáng với bóng tối. Thiên Chúa thấy thế là tốt đẹp. Qua một buổi chiều và một buổi sáng : đó là ngày thứ tư. Thiên Chúa phán: "Nước phải sinh ra đầy dẫy những sinh vật lúc nhúc, và loài chim phải bay lượn trên mặt đất, dưới vòm trời." Thiên Chúa sáng tạo các thuỷ quái khổng lồ, cùng mọi sinh vật vẫy vùng lúc nhúc dưới nước tuỳ theo loại, và mọi giống chim bay tuỳ theo loại. Thiên Chúa thấy thế là tốt đẹp. Thiên Chúa chúc phúc cho chúng rằng: "Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy biển ; và chim phải sinh sản cho nhiều trên mặt đất." Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ năm. Thiên Chúa phán: "Đất phải sinh ra các sinh vật tuỳ theo loại: gia súc, loài bò sát và dã thú tuỳ theo loại." Liền có như vậy. Thiên Chúa làm ra dã thú tuỳ theo loại, gia súc tuỳ theo loại và loài bò sát dưới đất tuỳ theo loại. Thiên Chúa thấy thế là tốt đẹp. Thiên Chúa phán: "Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta, để con người làm bá chủ cá biển, chim trời, gia súc, dã thú, tất cả mặt đất và mọi giống vật bò dưới đất." Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ. Thiên Chúa ban phúc lành cho họ, và Thiên Chúa phán với họ: "Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất, và thống trị mặt đất. Hãy làm bá chủ cá biển, chim trời, và mọi giống vật bò trên mặt đất." Thiên Chúa phán: "Đây Ta ban cho các ngươi mọi thứ cỏ mang hạt giống trên khắp mặt đất, và mọi thứ cây có trái mang hạt giống, để làm lương thực cho các ngươi. Còn đối với mọi dã thú, chim trời và mọi vật bò dưới đất mà có sinh khí, thì Ta ban cho chúng mọi thứ cỏ xanh tươi để làm lương thực. Liền có như vậy." Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp! Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ sáu.

          Thế là trời đất cùng với mọi thành phần đã hoàn tất. Ngày thứ bảy, Thiên Chúa đã hoàn thành công việc Người làm. Khi làm xong mọi công việc của Người, ngày thứ bảy, Thiên Chúa nghỉ ngơi. Thiên Chúa ban phúc lành cho ngày thứ bảy và thánh hoá ngày đó, vì ngày đó Người đã nghỉ, ngưng làm mọi công việc sáng tạo của Người. Đó là gốc tích trời đất khi được sáng tạo.

          Đó là Lời Chúa.

B. NỘI DUNG

1. Thiên Chúa sáng tạo vũ trụ

a- Tạo dựng. St 1, 1-2, 4a nói về Thiên Chúa sáng tạo vũ trụ. Đọc bản văn, chúng ta thấy trong một tuần, Thiên Chúa đã làm việc sáu ngày và nghỉ ngày thứ bảy (Sabát). Trong sáu ngày làm việc, Người đã sáng tạo các sự vật theo chương trình phân tách và trang trí. Chúng ta có thể hoạ đồ những công trình của Người như sau.

 

    Ngày

Phân tích

Ngày

Phân tích

1

 

2

 

3

Sáng / tối

(1, 3-5)

Nước trên/ nước dưới

( 1, 6-8)

Biển/ đất

(1, 9-10)

Cây cối

(1,11-13)

4

 

5

 

6

Mặt trời, trăng, sao

(1,14-19)

Cá/ chim

(1,20-23)

Thú vật ở đất

(1, 24-25)

Con người

(1, 26-31)

Tác giả nhằm một công việc thần học hơn là khoa học. Cách trình bày cũng như ngôn ngữ nhằm nói về Thiên Chúa và con người hơn là về vũ trụ một cách thuần tuý khoa học.

          b. Ý nghĩa của việc tạo dựng

          Sáng thế không có ý dạy ta về khoa học, nhưng được viết ra để khẳng định một chân lý rằng: Từ nguyên thuỷ, Thiên Chúa đã tạo thành trời và đất (x. St 1, 1-2, 4a). Vậy trong trình thuật Sáng thế, Thiên Chúa tạo dựng trong 6 ngày và Ngài nghỉ ngơi ngày thứ bảy liệu có mâu thuẫn với khoa học? Các triết gia và thần học gia Ki-tô giáo cho biết:

          Thứ nhất, người cổ đại nói đến sáu ngày tạo dựng mà chúng ta chắc chắn không được hiểu theo nghĩa đen tương đương với khái niệm “ngày” như thời của chúng ta. Một ngày trong trình thuật Sáng thế có thể kéo dài hàng ngàn, hàng vạn năm, vì đó là trình thuật có tính cách thần thoại; hơn nữa, quan niệm của những tôn giáo ở Đông Phương cũng cho biết, một ngày ở thượng giới bằng một ngàn năm ở hạ giới, vì vậy không mâu thuẫn với khoa học rằng, vũ trụ trải qua quá trình tiến hoá lâu dài và chậm chạp.

          Thứ hai, trong trình thuật của mình, tác giả sách Sáng thế muốn dạy ta mỗi tuần chỉ nên làm việc sáu ngày và dành một ngày để thờ phượng Thiên Chúa. Thực tế cuộc sống cho thấy, trong hoạt động một tuần, con người dùng sáu ngày để lao động, sản xuất ra của cải vật chất phục vụ cho nhu cầu ăn, mặc, ở và phương tiện đi lại. Tuy nhiên, đó không phải là tất cả nhu cầu của con người. Nhu cầu của con người còn có yếu tố tinh thần, cần được nghỉ ngơi sau những ngày lao động mệt nhọc và nhất là cần phải có nhu cầu tâm linh, vì chính ở đó, họ mới tìm được sự bình an đích thực. Vì vậy, tác giả sách Sáng thế muốn dạy chúng ta phải dành một ngày trong tuần để được bồi bổ về tinh thần qua việc đến với Thiên Chúa.

2. Thiên Chúa sáng tạo con người

          a. Thiên Chúa sáng tạo con người giống hình ảnh Chúa

          Trong học thuyết tiến hoá của Darwin, con người là kết quả của quá trình tiến hoá lâu dài của giới sinh vật chứ không phải được dựng nên từ bùn đất như Thánh Kinh đã nói. Nghĩa là Darwin đã dựa vào các bằng chứng của khảo cổ học và lập luận rằng, con người là do sự tiến hoá từ một loài vượn. Tuy nhiên, khi tìm hiểu kỹ lưỡng thì học thuyết đó không mâu thuẫn với chân lý được dạy trong sách Sáng thế.

          Như đã biết, sách Sáng thế không dạy những chân lý khoa học, nhưng có ý chuyển tải một ý nghĩa rằng, Thiên Chúa đã tạo dựng nên vũ trụ và tất cả mọi loài, trong đó có con người. Mặt khác, với nhãn quan của người Do-thái thời cổ đại, họ chỉ có thể trình bày chân lý ấy bằng phương pháp trực quan sinh động, chứ không theo phương pháp của khoa học như ngày nay. Vì vậy, việc Thiên Chúa tạo dựng nên con người từ bùn đất, hay từ những sinh vật đơn bào – đa bào… vượn - người thì cũng cùng một nghĩa rằng: thân xác con người được tạo nên từ một dạng của vật chất, nghĩa là sự sống tự nhiên. Hơn nữa, nhờ Đức tin mà chúng ta khám phá ra rằng: nguyên nhân cùng đích của sự tiến hoá thành người chính là Thiên Chúa. Và con người không chỉ có thể xác là một dạng của vật chất, mà còn có linh hồn, tức sự sống siêu nhiên vì được tham dự vào sự sống của chính Ngài.

           Khi nói: Thiên Chúa sáng tạo con người nên giống hình ảnh của Chúa, tác giả Thánh Kinh muốn chuyển tải một ý nghĩa rằng: con người được Thiên Chúa tạo nên có lý trí, có tự do và có tình yêu. Nghĩa là con người được Thiên Chúa cho tham dự vào những ưu phẩm của Ngài. Đây là một trong những điều quan trọng nhất mà Thánh Kinh khẳng định: con người không bị giam hãm vô vọng trong thế giới của các ảo ảnh do mình tạo nên; con người cũng không là tù nhân của các phạm trù, các cơ cấu do mình đặt ra. Con người được sáng tạo cho Sự Thật. Thiên Chúa có thể nói cho con người biết những điều cốt yếu bằng chính kinh nghiệm và ngôn ngữ của con người. Theo hình ảnh của Thiên Chúa, con người được sáng tạo và chắc chắn được sáng tạo để đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa.

          Như vậy, Thánh Kinh đề cao phẩm giá con người, khi khẳng định con người xuất phát từ Thiên Chúa chứ không phải là sản phẩm ngẫu nhiên của thế giới vật chất. Chính điều này mà con người là đỉnh cao công trình sáng tạo của Thiên Chúa, là tạo vật hoàn hảo nhất, vượt trên tất cả mọi tạo vật, đúng như lời Thánh vịnh đã nói: “…

Chúa cho con người chẳng thua kém thần linh là mấy,

… cho làm chủ công trình tay Chúa sáng tạo”

(Tv 8, 6-7)

          b. Sáng tạo con người có nam có nữ

          Thánh Kinh cũng cóù nói Thiên Chúa lấy xương sườn của ông A-đam để tạo nên bà E-và. Trình thuật này có ý nói rằng: người Nam và người Nữ được Thiên Chúa tạo nên để trợ giúp và bổ túc cho nhau trong sự yêu thương và tôn trọng lẫn nhau, vì cả hai đều là hình ảnh của Thiên Chúa, có cùng một phẩm giá như nhau; vợ chồng kết hợp với nhau nên một để cộng tác vào công trình sáng tạo của Thiên Chúa. Trình thuật khác của sách Sáng thế cũng cho hay: “Con người ở một mình thì không tốt” (St 2,18). Nghĩa là Thiên Chúa là Đấng không biết đến cô đơn, sáng tạo nên hai giới nam nữ không phải như phương thế bắt buộc để truyền sinh, nhưng để cho vợ chồng kết hợp trong tình yêu, sự trao hiến chính mình và chia sẻ hạnh phúc với nhau.

C. KẾT THÚC

1.      Bài học áp dụng

          Tin tưởng vào Thiên Chúa là nguyên nhân của vũ trụ và mọi loài mà con người được mời gọi cộng tác với Ngài để tiếp tục công trình sáng tạo tiến tới sự hoàn thành viên mãn trong trời mới đất mới. Đó là:

          Nên giống hình ảnh Thiên Chúa, con người được mời gọi cộng tác để tiếp tục sáng tạo nên chính mình qua việc hoàn thành nhân cách và nuôi dưỡng đời sống tâm linh. Biết tôn trọng nhân phẩm của chính mình cũng như nhân phẩm của người khác vì thân xác con người chính là Đền thờ Thiên Chúa. Tập khám phá ra tiếng Chúa nói với ta qua lương tâm và qua tương quan với mọi người trong xã hội, nhất là biết làm chủ bản thân vì lý trí của ta được thông phần với lý trí Thiên Chúa.

          Thiên Chúa tạo dựng nên các tạo vật và đặt con người làm chủ mọi loài với tư cách là một người quản lý của Thiên Chúa. Vì thế, không phải để con người khai thác các tạo vật cách bừa bãi, nhưng biết cộng tác với Thiên Chúa để duy trì, kéo dài và hoàn thiện thiên nhiên. Vậy một trong những cộng tác tích cực là: hãy yêu thiên nhiên và phục hồi nó theo khả năng của mỗi người. Chẳng hạn như: không vứt rác bừa bãi, không xả các chất độc hại vào thiên nhiên, vào môi trường sống, không đốt phá rừng...

          Như vậy, tất cả mọi tạo vật được Thiên Chúa tạo nên là để giúp con người đạt tới mục đích cuối cùng là tôn vinh Thiên Chúa và cứu rỗi linh hồn mình. Con người chỉ nên sử dụng những của cải vật chất do sự cộng tác với Thiên Chúa mà có như một phương thế để tiến tới ơn Cứu độ chứ không phải coi đó là mục đích. Chính Thiên Chúa mới là cùng đích của con người và mọi loài.

          Sự sống con người là do Thiên Chúa ban, và gần với sự sống của Người hơn các loài khác. Chỉ mình Thiên Chúa mới có quyền trên sự sống. Do đó, chúng ta cũng phải biết tôn trọng sự sống của mình và của người khác.

          Con người phải biết vâng lời Thiên Chúa. Chỉ trong sự vâng lời, con người mới phát triển đầy đủ và đạt được trọn ý nghĩa của định mệnh mình, và do đó, mới có thể cộng tác với kế hoạch của Thiên Chúa.

2. Gợi ý cầu nguyện

          Lạy Chúa, Chúa là Đấng Tạo dựng muôn loài, muôn vật. Chúng con xin dâng lời cảm tạ Chúa, vì đã cho loài người chúng con vinh dự cao quí vượt trên mọi loài, mọi vật của vũ trụ này, là có linh hồn thiêng liêng bất tử, để chúng con bá chủ muôn loài và để chúng con biết Chúa, yêu mến Chúa cùng phục vụ đồng loại sống cuộc đời vui tươi, hào hứng, đáng sống ở đời này, hy vọng về sống mãi muôn đời với Chúa đời sau. Amen.

BẠN CÓ BIẾT ?

CON NGƯỜI LÀ HÌNH ẢNH CỦA THIÊN CHÚA

Khoa sinh vật học ngày nay cho biết rằng các sinh vật xuất hiện trên trái đất từ những thời kỳ khác nhau: những sinh vật đơn giản đã có trước, những sinh vật càng có cơ thể phức tạp càng xuất hiện muộn.

Cách đây 500-220 triệu năm: lần lượt xuất hiện các sinh vật không xương sống ở biển rồi đến cá, ếch, nhái. Cách đây 220-70 triệu năm: các sinh vật thuộc loài bò sát. Cách đây 70-1 triệu năm: các sinh vật thuộc lớp có vú. Cách năm 1 triệu năm trở lại: con người.

Người ta suy ra rằng đã có một sự tiến triển: các sinh vật có trước đã dần dần trở mình và nhảy vọt lên thành những sinh vật cao cấp hơn. Cách suy nghĩ ấy gọi là thuyết tiến hoá.

Theo cách suy nghĩ ấy, người ta cho rằng con người và vượn người có chung một nguồn gốc. Người ta ghi nhận giữa người và vượn người có những điểm giống nhau và những điểm khác nhau.

Những điểm giống nhau giữa người và vượn người:

Hình dạng và kích thước tương tự nhau. Não bộ, hệ thần kinh, hệ tuần hoàn và các tuyến nội tiết của đôi bên đều có cơ cấu và sự vận hành giống nhau. Cũng có một số bệnh chỉ gặp nơi con người và vượn người. Máu của hai bên đều gồm các loại A, B, AB, O, Rh.

Những điểm khác biệt giữa người và vượn người:

Chỉ có con người mới có dáng đứng thẳng. Não bộ của con người phát triển và có khối lượng vượt hẳn khối lượng não bộ của vượn người (1600 phân khối so với 600 phân khối). Đặc biệt chỉ có con người mới biết dùng lửa, trồng trọt, chế tạo dụng cụ. Điều khác biệt nhất là con người có ngôn ngữ: vượn chỉ biết kêu, còn người thì biết nói.

Ngôn ngữ chứng tỏ con người có ý thức, có tư duy trừu tượng, biết suy luận. Đó là chỉ mới so sánh bên ngoài thôi, chưa nói đến tự do và tình yêu mến.

Tất cả những điều ấy cho thấy con người được dựng nên thật cao cả.

“Con người là chi mà Chúa cần nhớ đến,

Phàm nhân là gì mà Chúa phải bận tâm?”

(Tv 8)

BÀI ĐỌC THÊM

Những vấn nạn

- Quan điểm vô thần

Trong giai đoạn hiện nay, với sự phát triển không ngừng của khoa học, đặc biệt là những đột phá ngoạn mục trong ngành vũ trụ học đã vô tình củng cố thêm luận cứ cho một hoài nghi về vấn đề hiện hữu của Thiên Chúa cũng như nguồn gốc thực sự của vũ trụ. Nhiều người từng kết luận, những hiểu biết khoa học về quá trình tiến hóa của vũ trụ đã làm suy giảm đức tin tâm linh của con người. Kết luận này được bắt nguồn từ cách hiểu về Thánh Kinh rằng, trong trình thuật về sự sáng tạo, Thiên Chúa đã tạo dựng nên toàn cõi vũ trụ trong vòng sáu ngày (x. St 1, 3-31), do đó mâu thuẫn với quan điểm của các nhà khoa học ngày nay: vũ trụ bắt đầu từ một “vụ nổ” và thường được gọi với thuật ngữ “Big Bang” - một học thuyết được Georger Gamow đưa ra vào năm 1948 [1]. Học thuyết này cho biết, sau hàng tỷ năm, các ngôi sao và thiên hà bắt đầu hình thành, nghĩa là vũ trụ của chúng ta phải trải qua một quá trình tiến hóa lâu dài và chậm chạp chứ không phải là trải qua sáu ngày như Thánh Kinh đã nói.

Quan điểm thịnh hành ở thời điểm đó cho rằng, vũ trụ trong trạng thái tồn tại vĩnh hằng nên không có khởi điểm, nghĩa là không có bàn tay của Thiên Chúa hay của một vị thần nào trong sự xuất hiện của nó. Đại diện tiêu biểu nhất cho quan điểm này là học thuyết của chủ nghĩa Mác-Lênin. Theo họ, vũ trụ là sản phẩm thuần tuý của tự nhiên chứ không phải là công trình sáng tạo của Thiên Chúa hay một vị thần nào khác.

- Quan điểm hữu thần

Đối lập với quan điểm vô thần, các nhà khoa học hữu thần khẳng định, vũ trụ phải có một thời khắc khởi đầu trong quá khứ chứ không phải tự nó được hình thành như lập luận của các nhà khoa học vô thần. Họ khẳng định, khi chúng ta lấy sự hiểu biết của thời đại mình để đo lường tri thức thời tiền sử như vậy, thì đích thực là giả thuyết và phương thức giải quyết vấn đề của Thánh Kinh và khoa học lại không tương thích với nhau. Thực tế cho thấy, có rất nhiều quan điểm coi lý thuyết "Big Bang" như là một lời khẳng định ý niệm của Thiên Chúa về sự tạo thành vũ trụ. Bằng chứng đầu tiên của lý thuyết "Big Bang" được khám phá vào năm 1929 bởi nhà thiên văn người Mỹ Edwin Hubble. Các quan sát của Hubble chỉ ra rằng: vũ trụ đang giãn nở [1]. Không ít nhà khoa học đã bác bỏ ý kiến này, bởi theo họ, nó mang bóng dáng tư tưởng của tôn giáo. Nếu vũ trụ có một khởi đầu thì phải có một Đấng tạo hóa và cũng đồng nghĩa với việc không có chỗ cho khoa học. Tuy nhiên, khám phá của Hubble về sự giãn nở của vũ trụ đã đặt dấu chấm hết cho một vũ trụ tĩnh không thay đổi theo thời gian; đồng thời nó cũng đưa chúng ta tới một suy luận rằng, vũ trụ có một thời khắc khởi đầu xác định trong quá khứ. Hơn nữa, quan niệm này đã củng cố cho thuyết tương đối rộng của Einstein, mà ở đó, nó đưa ra một loạt các phương trình phức tạp để miêu tả cách thức mà vũ trụ xuất hiện từ hư không, nghĩa là phải có bàn tay tác động của Đấng Tạo Hoá. Vậy ai đã tạo ra vũ trụ vật chất này? Ai đã làm ra các định luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng vào trong vật chất? Ai đã làm cho sự sống được nảy sinh và tiến triển theo một chiều hướng đi lên?

 

BÀI 4

TỘI NGUYÊN TỔ VÀ LỜI HỨA BAN ĐẤNG CỨU ĐỘ

A. DẪN NHẬP

1. Thánh hoá đầu giờ

(GLV tùy nghi có thể hát một bài hoặc đọc một kinh hay một lời nguyện)

          Lạy Chúa, con chúc tụng và cảm tạ Chúa đã ban Lời Hằng Sống cho con. Lời Chúa là sự sống, là ánh sáng, bình an, hoan lạc và yêu thương. Xin Thánh Thần Chúa ngự xuống tràn đầy trên con, mở đôi mắt tâm linh và trái tim, để con thấu hiểu và cảm nhận Lời Chúa đang nói với con. Xin cho con sống và thực hành Lời Chúa hôm nay và suốt cả đời con. Amen.

2. Câu chuyện minh hoạ “Tự nhận thức”.

          Có lần, một người thợ săn tìm thấy một quả trứng đại bàng ở trên một khe núi. Anh ta muốn trả lại quả trứng đó về tổ đại bàng, nhưng điều ấy quả là rất khó khăn. Vì vậy, anh ta quyết định thực hiện điều tốt nhất mà mình có thể làm được cho quả trứng ấy. Anh thợ săn đem trứng đại bàng về nhà và đặt vào giữa những quả trứng gà đang được ấp trong trang trại của mình.

          Con gà mái không hề nhận ra, nó ấp cả trứng gà lẫn trứng đại bàng. Sau vài tuần lễ, trứng nở ra gà và một con đại bàng con. Đại bàng con lớn lên cùng với gà con. Nhưng nó không bao giờ nghĩ nó là loài đại bàng, nên nó vẫn làm theo những gì mà gà con đã làm. Nó kêu chíp chíp như những con gà con khác, bới đất để tìm thức ăn và vỗ cánh như chúng.

          Thời gian trôi qua, gà con lớn lên thành gà mái, gà trống và lìa đàn để có gia đình chung của chúng. Con đại bàng cũng già đi nhưng nó vẫn cứ tưởng mình là một con gà. Một hôm, trên bầu trời xuất hiện một con chim lớn, đẹp, đang giang rộng đôi cánh bay lượn một cách oai hùng. Con đại bàng già thều thào hỏi: “Con chim xinh đẹp và oai hùng kia là chim gì vậy?”. Các bạn gà của nó đáp: “Đó là một con đại bàng, vua của loài chim. Bạn không bao giờ có thể giống được đại bàng đâu. Bạn chỉ là một con gà lười biếng”. Vì thế, con đại bàng già sống và chết như một con gà, không bao giờ nghĩ rằng: nó là một con chim đại bàng.

3. Dẫn vào bài

          Ngụ ý của câu chuyện cho chúng ta thấy: Một con vật lẽ ra có thể bay cao trên bầu trời, nhưng không bao giờ nhận ra mình là ai, cho nên nó đã sống đời sống của một con gà. Điều ấy cũng có thể xảy ra với con người khi họ không biết nhận ra mình đã được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa; không biết gìn giữ và tôn trọng nhân phẩm của mình. Đây cũng chính là ngụ ý mà tác giả sách Sáng thế muốn truyền đạt cho chúng ta trong đoạn Thánh Kinh sau đây. Mời các bạn cùng lắng nghe.

4. Đọc Thánh Kinh  (St 3, 1 - 24).

          Lời Chúa trong sách Sáng thế.

          Rắn là loài xảo quyệt nhất trong mọi giống vật ngoài đồng, mà ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa đã làm ra. Nó nói với người đàn bà: "Có thật Thiên Chúa bảo: 'Các ngươi không được ăn hết mọi trái cây trong vườn không ?' Người đàn bà nói với con rắn: "Trái các cây trong vườn, thì chúng tôi được ăn. Còn trái trên cây ở giữa vườn, Thiên Chúa đã bảo: 'Các ngươi không được ăn, không được động tới, kẻo phải chết." Rắn nói với người đàn bà: "Chẳng chết chóc gì đâu ! Nhưng Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần biết điều thiện điều ác." Người đàn bà thấy trái cây đó ăn thì ngon, trông thì đẹp mắt, và đáng quý vì làm cho mình được tinh khôn. Bà liền hái trái cây mà ăn, rồi đưa cho cả chồng đang ở đó với mình; ông cũng ăn. Bấy giờ mắt hai người mở ra, và họ thấy mình trần truồng : họ mới kết lá vả làm khố che thân. Nghe thấy tiếng ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa đi dạo trong vườn lúc gió thổi trong ngày, con người và vợ mình trốn vào giữa cây cối trong vườn, để khỏi giáp mặt ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa. ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa gọi con người và hỏi: "Ngươi ở đâu ?" Con người thưa: "Con nghe thấy tiếng Ngài trong vườn, con sợ hãi vì con trần truồng, nên con lẩn trốn." ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa hỏi: "Ai đã cho ngươi biết là ngươi trần truồng ? Có phải ngươi đã ăn trái cây mà Ta đã cấm ngươi ăn không ?" Con người thưa: "Người đàn bà Ngài cho ở với con, đã cho con trái cây ấy, nên con ăn." ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa hỏi người đàn bà: "Ngươi đã làm gì thế ?" Người đàn bà thưa: "Con rắn đã lừa dối con, nên con ăn." ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa phán với con rắn: "Mi đã làm điều đó, nên mi đáng bị nguyền rủa nhất trong mọi loài súc vật và mọi loài dã thú. Mi phải bò bằng bụng, phải ăn bụi đất mọi ngày trong đời mi. Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy; dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn vào gót nó." Với người đàn bà, Chúa phán: "Ta sẽ làm cho ngươi phải cực nhọc thật nhiều khi thai nghén ; ngươi sẽ phải cực nhọc lúc sinh con. Ngươi sẽ thèm muốn chồng ngươi, và nó sẽ thống trị ngươi." Với con người, Chúa phán: "Vì ngươi đã nghe lời vợ và ăn trái cây mà Ta đã truyền cho ngươi rằng: 'Ngươi đừng ăn nó', nên đất đai bị nguyền rủa vì ngươi; ngươi sẽ phải cực nhọc mọi ngày trong đời ngươi, mới kiếm được miếng ăn từ đất mà ra. Đất đai sẽ trổ sinh gai góc cho ngươi, ngươi sẽ ăn cỏ ngoài đồng. Ngươi sẽ phải đổ mồ hôi trán mới có bánh ăn, cho đến khi trở về với đất, vì từ đất, ngươi đã được lấy ra. Ngươi là bụi đất, và sẽ trở về với bụi đất." Con người đặt tên cho vợ là E-và, vì bà là mẹ của chúng sinh. ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa làm cho con người và vợ con người những chiếc áo bằng da và mặc cho họ. ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa nói: "Này con người đã trở thành như một kẻ trong chúng ta, biết điều thiện điều ác. Bây giờ, đừng để nó giơ tay hái cả trái cây trường sinh mà ăn và được sống mãi." ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa đuổi con người ra khỏi vườn Ê-đen để cày cấy đất đai, từ đó con người đã được lấy ra. Người trục xuất con người, và ở phía đông vườn Ê-đen, Người đặt các thần hộ giá với lưỡi gươm sáng loé, để canh giữ đường đến cây trường sinh.

          Đó là Lời Chúa.

B. NỘI DUNG

1. Con người bị cám dỗ và sa ngã

          Theo trình thuật Thánh Kinh, “rắn là loài xảo quyệt nhất trong mọi giống vật ở ngoài đồng mà Thiên Chúa đã làm ra” (St 3, 1). Con rắn  tượng trưng cho một quyền lực ác cám dỗ con người để phá vỡ hạnh phúc của họ. Trong văn chương các dân tộc Trung Đông, rắn vừa là loài độc ác, vừa là loài linh thiêng. Tuy nhiên, chúng ta phải khẳng định rằng: Cái xấu không đến từ Thiên Chúa bởi vì Ngài tạo dựng nên mọi sự đều tốt đẹp.

          a. Cám dỗ

          Chúng ta vẫn thường nghe người ta nói tới trái táo hay trái cấm, nhưng thực ra trong bài trình thuật Thánh Kinh mà chúng ta vừa nghe, không hề có trái táo hay trái cấm nào cả, mà đó là cây biết điều thiện ác và hoa trái của nó. “Cơn cám dỗ đến và nguỵ trang dưới chiếc áo tốt lành là quyến rũ ta đi tìm sự khôn ngoan. Nên biết, người xưa dùng động từ ăn chỉ việc học đi học lại cho thuộc lòng những lời nói của các thánh hiền: người ta ăn những hoa trái của sự khôn ngoan. Cây cho biết thiện ác có nghĩa là nghệ thuật sống và thành công và cũng chính là sự tự do của con người mở ra cho nó con đường dẫn tới thiện và ác, sống và chết. Ở đây, Thiên Chúa lại đặt con người trong một hoàn cảnh có mâu thuẫn, khi để sự khôn ngoan ở trong tầm tay của họ, nhưng đồng thời lại nói: Ngươi không được ăn. Vậy trước hết, con người phải khước từ việc chiếm đoạt sự khôn ngoan để rồi cho rằng mình giống như Thiên Chúa biết điều thiện ác”.

          Như vậy, điều con rắn nói là không sai: đối với con người, đâu có gì là quá cao vời, không với tới được. Nhưng nó cũng khơi gợi nơi lòng con người sự nghi ngờ đối với Thiên Chúa.

          b. Sa ngã

          Cuộc đối thoại tay ba (Thiên Chúa – A-đam, E-và) trong trình thuật Thánh Kinh mà chúng ta vừa nghe cho thấy, người đàn bà thèm ăn, nhưng người đàn ông mới thật sự là thủ phạm. Người đàn bà dụ dỗ, vì trong thời đó, điều này là sự thật vì tác giả thấy nhởn nhơ trong xã hội mình cảnh người ta khai thác phụ nữ, cũng như cái khéo léo của kẻ bị người khác khai thác để lấy lòng các ông chủ của họ. Nhưng vì thấy hai bên không đau khổ đồng đều, nên tác giả kết luận là chắc chắn người đàn bà là người đầu tiên đã bất trung với Thiên Chúa. Hai chi tiết: một là Mắt ông bà sẽ mở ra – để thấy mình trần truồng; hai là Ông bà sẽ nên như vị thần biết điều thiện ác – mà ở đây, họ chỉ còn có biết đến cái ác. Điều này nói lên cách mỉa mai về nỗi thất vọng ê chề của người có tội.

          Như vậy, con rắn và bà E-và không biểu trưng cho ma quỉ cám dỗ hoặc người nữ là nguồn gốc của mọi yếu hèn đáng bị quở trách. Cả con rắn và bà E-và đều là thụ tạo của Thiên Chúa, nhưng cả hai đều có ý đồ muốn làm Thiên Chúa hay bằng Thiên Chúa mà không cần đến Ngài. Ngay cả ông A-đam cũng thế, ông cũng có ý đồ như vậy. Họ đều là những con người trưởng thành, có trí khôn, có hiểu biết và có tự do. Họ biết giao ước giữa họ và Thiên Chúa: lệnh cấm ăn trái cây của cây biết lành dữ chính là ranh giới giữa Đấng Sáng tạo và loài thụ tạo. Cả A-đam, E-và cũng như con rắn đều biết điều này, nhưng tất cả đều đã chọn không ở trong hàng thụ tạo của mình. Chính sự chọn lựa do lòng tự phụ và bất phục tùng này là nguyên nhân của tội lỗi.

2. Hậu quả của tội nguyên tổ

          Con người được dựng nên để sống thân mật với Thiên Chúa. Mỗi lần nghe bước chân Chúa đến, lẽ ra con người phải sung sướng reo lên: “Lạy Chúa con đây”. Thế nhưng sau khi phạm tội, con người đã chạy trốn Thiên Chúa khiến Ngài phải lên tiếng hỏi: “A-đam, ngươi ở đâu?” (St 3, 9).

          Thực tế cuộc sống cho thấy, nếu chúng ta biết sử dụng đúng đắn tự do để mưu cầu hạnh phúc cho mình và cho người khác, thì cuộc đời sẽ trở nên tốt đẹp và bình an. Nhưng nếu con người chỉ dùng tự do theo ý riêng mình mà thôi, mặc kệ tự do của người khác, kể cả tự do của Thiên Chúa, con người có thể vui hưởng được giây lát, trong tạm bợ và ảo tưởng, nhưng rồi chỉ mang hại đến cho mình: ngại đối thoại với Thiên Chúa và với những người đạo đức, nên hậu quả của tội lỗi được thể hiện ra là:

          a. Cắt đứt mối quan hệ giữa con người với Thiên Chúa

          Sau khi sa ngã, A-đam và E-và mất quân bình khi thấy mình trần truồng (x.St 3,7) và chạy trốn Thiên Chúa (x.St 3,8). Họ biết mình trần truồng, tức là họ mất đi giao ước không còn hưởng phúc sống chung với Thiên Chúa trong vườn địa đàng và không còn hưởng ân huệ trường sinh. Đánh mất sự hòa hợp với Thiên Chúa, con người bị chia rẽ và xáo trộn nơi chính bản thân mình. Và hậu quả bi đát nhất là con người phải chết. Cái chết đã đến với con người, nên sinh ra là người ai cũng phải chết (x.Rm 5,12). Và từ tội đầu tiên này, tội lỗi đã lan tràn và thống trị khắp thế giới. "Nhìn sâu tận đáy lòng mình, con người cũng khám phá ra rằng, mình đã hướng về sự dữ và đã ngụp lặn trong muôn vàn sự dữ là những điều không thể xuất phát từ Đấng Tạo Hóa. Nhiều khi từ chối không nhìn nhận Thiên Chúa như nguyên ủy của mình, con người cũng đã phá đổ trật tự phải có để đạt tới cứu cánh.

          b. Cắt đứt mối quan hệ giữa con người với con người

          Giữa A-đam và E-và không còn cảm nghiệm hiệp nhất như trước nữa, không còn tin tưởng ở nhau, người này đổ lỗi cho người kia và không ai chịu nhận lỗi về mình (x.St 3,16). Từ tội đầu tiên này cả trần thế bị chìm trong tội lỗi: huynh đệ tương tàn, khởi đầu là Ca-in giết A-ben (x. St 4, 3-15); tiếp đến là sự sa đọa của cả loài người. Cũng vậy, trong lịch sử Ít-ra-en, tội thường xuyên xuất hiện, nhất là dưới dạng bất trung với Thiên Chúa và sự vi phạm luật Mô-sê; cả sau khi Đức Ki-tô đã sống lại, tội vẫn tiếp tục xuất hiện dưới nhiều dạng ngay giữa những người Ki-tô hữu (x. 1Cr 1-6; Kh 2-3). Thánh Kinh và truyền thống Hội Thánh không ngừng nhắc nhở tội hiện diện khắp nơi trong lịch sử loài người: Điều Thiên Chúa mặc khải cho ta biết, cũng được kinh nghiệm của ta xác nhận. Bởi Vì nếu nhìn sâu tận đáy lòng, con người cũng khám phá ra mình hướng về sự dữ, và ngụp lặn trong muôn vàn sự dữ là những điều không thể xuất phát từ Đấng Tạo Hóa tốt lành.

          c. Cắt đứt mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên

          Không còn hoà thuận với nhau, A-đam và E-và mất đi quyền thống trị muôn loài trong hoà bình và trong công lý. Đất đai đã chống lại con người và con người phải vất vả cực nhọc mới chinh phục được thiên nhiên. Cuối cùng, con người phải trở về bụi đất (x.St 3,18-19).

3. Lời hứa ban Đấng Cứu Độ

          Khi đã phạm tội chống lại Thiên Chúa, con người trở nên thù địch của Ngài. Thế nhưng Thiên Chúa vẫn tiếp tục yêu thương tha thứ. Thiên Chúa đã dựng nên con người thật cao quí. Ngài không nỡ thấy tạo vật ấy bị hư hỏng luôn, cho nên Ngài tìm mọi cách để cứu vãn. Ngài đã hứa ban Đấng Cứu thế đến để cứu chuộc con người, phục hồi phẩm giá cho họ và cho họ được trở lại trạng thái ban đầu là sống thân tình với Thiên Chúa (x. St 1, 15).

          Thật ra tội lỗi con người không làm hỏng chương trình của Thiên Chúa, mà là cơ hội Thiên Chúa biểu lộ tình thương xót nhân từ không biết mệt mỏi của Người, hầu đưa toàn thể nhân loại đạt tới cùng đích của mình là sự sống muôn đời. Việc Chúa Ki-tô khải hoàn vinh thắng đã mang lại cho chúng ta những lợi ích lớn lao hơn là những gì mà tội đã làm mất đi. "Ở đâu tội lỗi đã lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa chan gấp bội" (Rm 5, 20).

C. KẾT THÚC

1. Bài học áp dụng                   

          Tất cả mọi người đều chịu ảnh hưởng của tội lỗi. Cuộc sống con người trên trần gian trở thành cuộc chiến đấu chống lại sự ác dưới mọi hình thức, nơi bản thân cũng như nơi xã hội, để đạt tới sự tốt lành như Thiên Chúa muốn.

          Trong câu chuyện kể trên, chúng ta thấy anh thợ săn đã tìm mọi cách tốt nhất mà anh ta có thể thực hiện cho quả trứng đại bàng; nhưng mặt khác, chúng ta cũng đừng giống như con đại bàng: đánh mất chính mình, không còn nhận ra mình là ai. Ý thức về nhân phẩm của mình, chúng ta phải gìn giữ và phát huy mối tương quan giữa mình với Thiên Chúa, với mọi người và với mọi tạo vật khác.

2. Gợi ý cầu nguyện

          Lạy Chúa, Nguyên tổ chúng con đã phạm tội vì đã không chấp nhận vị thế của mình, muốn đặt mình ngang hàng với Thiên Chúa nên bị cám dỗ và sa ngã. Cơn cám dỗ đó ngày hôm nay cũng vẫn luôn theo đuổi chúng con. Chúng con xin lỗi Chúa vì biết bao tội lỗi của loài người và của chính bản thân mỗi người chúng con... Chúng con cám ơn Chúa vì Ngài đã gửi Đức Giê-su đến cứu độ, tha thứ mọi tội lỗi và cho chúng con được làm con cái của Chúa. Xin cho chúng con luôn ý thức về thân phận yếu đuối của mình và tín thác vào sự quan phòng của Chúa. Amen.

BẠN CÓ BIẾT ?

HA-LÊ-LUI-A / ALÊLUIA

Trong tiếng Híp-ri, Hallel có nghĩa là ngợi khen. YA là “Gia-vê” (YAWH). Halleluia nghĩa là “ngợi khen Gia-vê”; “ngợi khen Thiên Chúa”.

AMEN

Trong tiếng Híp-ri có nghĩa là “quả thật, đúng như vậy”, cũng có thể dịch là: “Được, hoan hô, đồng ý, tán thành” và “ước được như vậy”.

BẢN DỊCH BẢY MƯƠI

Bản dịch Kinh Thánh đầu tiên từ tiếng Híp-ri sang tiếng Hy-lạp, công việc kéo dài 100 năm (250-150 trước công nguyên) do 70 người thực hiện.

BẢN DỊCH PHỔ THÔNG

Bản dịch Kinh Thánh sang tiếng La-tinh nhằm phổ biến rộng trong Hội Thánh Công Giáo, do thánh Giê-rô-ni-mô (347-419) thực hiện.

THỦ BẢN BIỂN CHẾT

Người Do Thái xưa chép Kinh Thánh trên những cuộn giấy da. Họ sao chép từng mảng, hết sức tỉ mỉ, không để sai chạy một nét nào. Những cuộn Kinh Thánh đã quá cũ được xếp vào một chỗ riêng để tự hoại theo thời gian. Vì thế, ta không có được những thủ bản bằng tiếng Hip-ri trước thế kỷ thứ XIX. May thay vào năm 1947, tại Cum-ran (Qumran) gần biển Chết, giữa tàn tích của một tu viện phái Ét-xê-nô người ta tìm thấy một thư viện chôn dấu từ thế kỷ thứ nhất sau công nguyên. Trong đó, có những miếng da sao chép Kinh Thánh của tất cả các sách trong bộ Cựu ước (trừ sách Ét-te). Nhiều bản còn nguyên vẹn. Sách I-sa-i-a đầy đủ từ đầu đến cuối. Những tài liệu này có từ thế kỷ thứ II hoặc thế kỷ thứ I trước công nguyên, nhưng đối chiếu với các bản văn tiếng Híp-ri thế kỷ thứ IX ta thấy một sự trùng khít đáng kinh ngạc.

 

BÀI 5

ÁP-RA-HAM VÀ CÁC TỔ PHỤ KHÁC

A. DẪN NHẬP

1. Thánh hoá đầu giờ

          (GLV tùy nghi có thể hát một bài hoặc đọc một kinh hay một lời nguyện)

          Lạy Chúa Thánh Thần xin thương ngự đến trong tâm hồn con, giúp con trưởng thành trong đức tin, kiên trì trong đức cậy và nồng nàn trong đức mến, để mọi hành động lớn nhỏ trong đời sống con, đều được thấm nhuần ơn sủng Chúa, để con sống chứng nhân cho Chúa và để danh Chúa được mọi người kính phục và tôn vinh. Amen.

2. Câu chuyện minh hoạ “Ca mổ đầu tiên”.

          Chuyện kể rằng, có một bà cụ được đưa vào phòng mổ trên chiếc giường có bánh xe. Bà cụ có vẻ lo lắng, bà run run nói: “Thưa bác sỹ, xin bác sỹ nhẹ tay với tôi, vì đây là lần đầu tiên tôi được giải phẫu”.

          Bác sỹ giải phẫu bình thản nhìn bà và nói: “Xin bà đừng lo, chúng ta ở trong cùng một hoàn cảnh. Đây cũng là lần đầu tiên tôi thực hiện việc giải phẫu”.

3. Dẫn vào bài

          Nội dung câu chuyện trên cho thấy, nếu bác sỹ nói rằng ca giải phẫu của bạn sẽ thành công và bạn tin vào lời bác sỹ nói, dù rằng bạn không biết kết quả giải phẫu sẽ như thế nào, thì đó là sự tin tưởng – một sự tin tưởng nhân bản.

          Cũng vậy, đức tin vào Thiên Chúa là tin tưởng vào lời nói của Ngài, dù rằng chúng ta không thể biết lời ấy thực hiện như thế nào. Đó chính là niềm tin của Áp-ra-ham và Tổ phụ, là những nhân vật quan trọng trong lịch sử cứu độ mà chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu hôm nay. 

4. Đọc Thánh Kinh (St 12, 1 – 9; 17, 1 - 8)

          Lời Chúa trong Sách Sáng Thế.

          ĐỨC CHÚA phán với ông Áp-ram: "Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi tới đất Ta sẽ chỉ cho ngươi. Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn, sẽ chúc phúc cho ngươi. Ta sẽ cho tên tuổi ngươi được lẫy lừng, và ngươi sẽ là một mối phúc lành. Ta sẽ chúc phúc cho những ai chúc phúc cho ngươi; Ai nhục mạ ngươi, Ta sẽ nguyền rủa. Nhờ ngươi, mọi gia tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc." Ông Áp-ram ra đi, như ĐỨC CHÚA đã phán với ông. Ông Áp-ram được bảy mươi lăm tuổi khi ông rời Kha-ran. Ông Áp-ram đem theo vợ là bà Xa-rai, cháu là ông Lót, và mọi tài sản họ đã gầy dựng được, cùng với gia nhân họ đã có tại Kha-ran. Họ ra đi về phía đất Ca-na-an và đã tới đất đó. Ông Áp-ram đi qua đất ấy, đến nơi gọi là Si-khem, đến cây sồi Mô-rê. Thời bấy giờ, người Ca-na-an đang ở trong đất ấy. ĐỨC CHÚA hiện ra với ông Áp-ram và phán: "Ta sẽ ban đất này cho dòng dõi ngươi." Tại đây ông dựng một bàn thờ để kính ĐỨC CHÚA, Đấng đã hiện ra với ông. Từ chỗ ấy, ông sang miền núi, ở phía đông Bết Ên. Ông cắm lều giữa Bết-Ên ở phía tây và Ai ở phía đông. Tại đây ông dựng một bàn thờ để kính ĐỨC CHÚA và ông kêu cầu danh ĐỨC CHÚA. Rồi ông đi từ chặng nọ qua chặng kia đến miền Ne-ghép. Khi ông Áp-ram được chín mươi chín tuổi, ĐỨC CHÚA hiện ra với ông và phán: "Ta là Thiên Chúa Toàn Năng. Ngươi hãy bước đi trước mặt Ta và hãy sống hoàn hảo. Ta sẽ đặt giao ước của Ta giữa Ta với ngươi, và Ta sẽ cho ngươi trở nên đông, thật đông." Ông Áp-ram cúi rạp xuống. Thiên Chúa phán với ông rằng: "Phần Ta, đây là giao ước của Ta với ngươi : ngươi sẽ làm cha của vô số dân tộc. Người ta sẽ không còn gọi tên ngươi là Áp-ram nữa, nhưng là Áp-ra-ham, vì Ta đặt ngươi làm cha của vô số dân tộc. Ta sẽ cho ngươi sinh ra nhiều, thật nhiều: Ta sẽ làm cho ngươi thành những dân tộc, và vua chúa sẽ phát xuất từ ngươi. Ta sẽ lập giao ước của Ta giữa Ta với ngươi và với dòng dõi ngươi sau này, từ thế hệ này qua thế hệ khác. Đây sẽ là giao ước vĩnh cửu, do đó Ta sẽ là Thiên Chúa của ngươi và của dòng dõi ngươi sau này. Ta sẽ ban cho ngươi và dòng dõi ngươi sau này miền đất ngươi đang trú ngụ, tức là tất cả đất Ca-na-an, làm sở hữu vĩnh viễn; và Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng."

          Đó là Lời Chúa.

B. NỘI DUNG

1- Tổ phụ là ai ?

          Theo thuật ngữ, “tổ phụ” mang nhiều ý nghĩa khác nhau, nhưng ở đây chỉ muốn nói về các tổ phụ đầu tiên của dân tộc Ít-ra-en: Áp-ra-ham, I-xa-ác, Gia-cóp và Giu-se. Đó cũng là quan niệm thông thường. Có trường hợp người ta nói “các tổ phụ trước Hồng Thủy”(x. St 5), nhưng các tổ phụ này thuộc về một thời đại khác và cần cứu xét theo mọt đường lối khác. Ở đây chỉ xin thông qua vấn đề này. Khi nói đến các tổ phụ, có thể người ta muốn nói các con của Gia-cóp, nhưng thực ra thời tổ phụ kéo dài từ khi Áp-ra-ham được Thiên Chúa gọi cho đến khi các thị tộc nhà Gia-cóp di cư sang Ai-cập.

2 – Tổ phụ Áp-ra-ham

          a - Thiên Chúa gọi Áp-ra-ham

          Vào khoảng năm 1800 TCN, một số bộ lạc du mục cùng với đoàn súc vật của họ rời xứ Ca-đê đến sinh sống tại Ai-cập. Trong các bộ lạc và thị tộc du mục ấy, có một số gia đình mà người đứng đầu là ông Áp-ra-ham[1]. Ông là một người phú quí nhưng lại không có con: Thiên Chúa Duy Nhất đã được mạc khải cho ông, và với ông, công trình cứu độ đã bắt đầu cho một dân tộc. Vì vậy, Trong cuộc di dân rời khỏi Ca-đê, Áp-ra-ham ấp ủ một niềm hy vọng lớn lao là tin vào lời hứa của Đấng mà ông gọi là Thiên Chúa đã gọi ông: “Ngươi hãy bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cửa thân phụ ngươi, để đi đến một miền Ta sẽ chỉ cho. Ta sẽ làm cho ngươi trở thành một dân tộc vĩ đại” (St 12, 1-2).

          Việc Thiên Chúa gọi Áp-ra-ham bắt đầu cách khá đột ngột, nhưng đây là khởi điểm của một giai đoạn mới trong lịch sử cứu độ, do sáng kiến của Thiên Chúa. Lời Thiên Chúa nói cho ông biết ý Ngài, gồm một lệnh truyền và một lời hứa. Lệnh truyền rời bỏ quê hương họ hàng mà ra đi. Đối với người du mục, đó là một sự cắt đứt lớn lao và liều lĩnh, nhất là khi ông Áp-ra-ham phải bỏ để đi đến một nơi chưa xác định. Lời hứa là Thiên Chúa sẽ ban phúc lành. Áp-ra-ham đã vâng lệnh ra đi. Ông không nói gì, không hỏi lý do và ra đi như một người mất gốc bơ vơ, chỉ tin tưởng và dựa dẫm vào lời Thiên Chúa. Ông phó thác vận mệnh của mình cho Thiên Chúa và quyết lên đường tìm kiếm Đấng mà ông chưa hề biết, nhưng sẽ dủ lòng thương xót và ban cho vợ chồng ông một mụn con. Ông đã ra đi vì muốn đáp lại lời kêu gọi của Thiên Chúa. Niềm hy vọng chớm nở trong tái tim, Áp-ra-ham cảm thấy như một lời hứa của Thiên Chúa.

          b - Lời hứa của Thiên Chúa

          Để thể hiện mối liên hệ thân thiện, Thiên Chúa đã thiết lập minh ước với Áp-ra-ham bằng cách ban cho ông lời hứa. Nội dung của lời hứa bao gồm:

- Một dân tộc sẽ phát xuất từ Áp-ra-ham.

- Một đất nước thuộc quyền sở hữu của dân tộc này.

- Một phúc lành của Thiên Chúa được ban xuống cho các dân trên thế giới nhờ Áp-ra-ham.

          Kể từ đó, trong những năm tháng dài lê thê của tuổi già, Áp-ra-ham cứ tiếp tục đi theo một lộ trình dài, nhưng đó cũng là một cuộc hành trình nội tâm, một cuộc hành trình của đức tin. Ông dám từ bỏ mọi quyến luyến của gia đình xứ sở, trở thành cô độc trước mặt Thiên Chúa, hoàn toàn tín nhiệm vào một mình Thiên Chúa là Đấng tối cao. Sau cùng, chính Thiên Chúa ban cho ông một mụn con mà ông hằng ao ước, đó là I-xa-ác – khởi điểm cho một dòng dõi đông đúc như sao trên trời, như cát bãi biển.

          Như vậy, việc Thiên Chúa lập giao ước với Áp-ra-ham và long trọng ban lời hứa như một ám chỉ rằng: chính tự nơi ông, một dòng dõi hùng cường sẽ xuất hiện và dòng dõi ấy sẽ là một chuẩn bị để cho Đấng Cứu Thế xuất hiện. (x. St 15, 1-21; 17, 1-14; 22, 16-18).

          c -  Niềm tin của Áp-ra-ham

          Áp-ra-ham tin và với niềm tin đó, công trình cứu độ bắt đầu về phía loài người. Ông tin rằng Thiên Chúa sẽ cho dòng giống ấy đất Ca-na-an. Ông tin rằng sẽ có một dòng giống đông vô số, như sao trên trời, như cát bãi biển. Ông tin rằng Thiên Chúa sẽ ban cho mình một đứa con là khởi đầu cho một gia đình, một dân tộc. Đó không phải là một lời hứa dễ tin, nhưng rút cuộc ông đã tin, đã bỏ tất cả để thực hiện một cuộc hành trình đức tin, hướng về lời hứa ở tương lai.

          Áp-ra-ham yêu I-xa-ác như con ngươi trong mắt mình, bởi vì niềm hy vọng cứu độ của dòng dõi đông đúc đặt ở nơi cậu. Vậy mà khi Thiên Chúa bảo ông mang cậu con trai đi làm của lễ toàn thiêu thì ông vẫn vâng lệnh ra đi đến nơi tế lễ. Nhưng sau khi ông minh chứng niềm tin sâu xa của mình, Thiên Chúa đã trao hoàn lại cậu con trai cho ông. Chính vì điều này mà trong Tân Ước, thánh Phaolô đã giới thiệu Áp-ra-ham là cha của những kẻ tin vào Thiên Chúa (x. Rm 4). Niềm tin đó của Áp-ra-ham không chỉ được tiếp nối nơi con cháu ông, mà vẫn còn tiếp nối nơi những ai đã, đang và sẽ tin vào sự hiện hữu của Thiên Chúa.

3. Các Tổ phụ khác

          a. I-xa-ác

          Thiên Chúa đã giữ lời hứa với ông Áp-ra-ham. Ông đã sinh được người con là I-xa-ác, đứa con của lời hứa. So với cha mình, tuy I-xa-ác được mô tả bằng những nét nhợt nhạt, nhưng việc Thiên Chúa lập lại với ông những lời đã hứa là một điều quan trọng trong lịch sử cứu độ (St 26, 3). Điểm nổi bật nhất trong sự tích về I-xa-ác là việc ông trở thành của lễ hiến tế của cha mình dâng lên Thiên Chúa. Chính việc này đã khiến ông trở thành hình ảnh tuyệt vời về mọi hiến lễ sau này, trong đó phải kể đến hiến lễ của Đức Giê-su. Suy luận của A. Lapple cho chúng ta thấy: “Trong khi Áp-ra-ham xuất hiện như biểu tượng Thiên Chúa Cha, con người I-xa-ác xem ra phải đóng vai hình ảnh Đức Ki-tô” [1]. Các Giáo phụ đã so sánh hiến lễ của I-xa-ác với hiến lễ của Đức Ki-tô như sau: I-xa-ác là người con một của Áp-ra-ham, thì Đức Giê-su là người Con Một của Thiên Chúa; I-xa-ác sẵn sàng chịu chết trên một ngọn núi, thì Đức Giê-su sẵn sàng chịu chết trên núi sọ; với I-xa-ác, Thiên Chúa tha chết cho ông, thì với Đức Ki-tô, Thiên Chúa không tha chết cho Ngài.

           b. Gia-cóp

          Ông I-xa-ác và bà Rê-bê-ca sinh được hai người con trai là Ê-xau và Gia-cóp (St 25, 22). Tuy là con thứ, nhưng ông Gia-cóp lại được Thiên Chúa chọn và còn nhắc lại điều Ngài đã hứa với ông Áp-ra-ham (St 28, 13- 15). Thiên Chúa còn đổi tên cho ông thành Ít-ra-en, cái tên mà kể từ đó đến tận ngày nay, người Do-thái vẫn lấy để gọi quốc gia của mình.

          Việc ông Gia-cóp đã dùng mưu kế giả dạng Ê-xau để chiếm quyền trưởng nam xem ra có vẻ gian xảo, nhưng lại là một ví dụ cho thấy, Thiên Chúa thường vạch những đường thẳng xen kẽ những đường cong, bởi vì chương trình cứu độ sẽ tiếp tục xuyên qua Gia-cóp chứ không phải Ê-xau [1] . Gia-cóp được mô tả như một con người tồi tàn, nhưng từ khi ông trốn về phía Bắc Haran để tránh cơn giận của người anh, thì những vẻ tốt đẹp nơi ông mỗi ngày một gia tăng và đậm nét. Trình thuật sách Sáng thế có kể về việc ông khấn với Thiên Chúa và việc Thiên Chúa đã nhắc lại lời hứa với Áp-ra-ham và I-xa-ác, sau đó ông được đổi thành Ít-ra-en, cho thấy càng ngày ông càng thêm tiến đức. Hai người vợ của Gia-cóp là Ra-khel, Lê-a và hai người tớ gái của các bà đã sinh cho ông 12 người con trai mà chương trình của Thiên Chúa sẽ tiếp tục xuyên qua họ. 12 người con của Gia-cóp gồm: Với bà Lê-a, ông sinh hạ Ru-ven, Si-mê-on, Lê-vi, Giu-đa, Ít-xa-ca và Da-vơ-lun ; với bà Ra-khen, ông sinh hạ Giu-se và Ben-gia-min ; với bà Bin-ha, ông sinh hạ Đan và Nap-ta-li ; với bà Din-pa, ông sinh hạ Gat và A-se.

          c. Giu-se

          Ông Giu-se là người nổi bật nhất trong số các người con của Gia-cóp. Ông được cha mình quí mến hơn nên bị anh em ghen ghét và bán cho người It-ma-en đem sang Ai-cập. Khi bán Giu-se sang Ai-cập, các anh em của ông đã phạm hai tội ác: Cắt đứt tình huynh đệ và lừa dối cha già. Tuy nhiên chính trong biến cố đó, Thiên Chúa đã thực hiện chương trình của Ngài là cứu sống cả gia tộc Ít-ra-en qua khỏi nạn đói dữ dội xảy ra trong thời đó. Câu chuyện này được viết ra cốt để trình bày một chân lý rằng: trong mọi hoàn cảnh, Thiên Chúa vẫn quan phòng, chở che dân tộc mà Ngài đã kết ước với vị tổ phụ là Áp-ra-ham.

          Theo trình thuật Thánh Kinh, Giu-se đã giải được mộng tại đất Ai-cập (x. St 41, 12-13; 25-36), nhưng cũng có lẽ trong thời điểm đó, người Hic-xot đang nắm chính quyền trên toàn cõi Ai-cập, mà người Hic-xot cùng dòng dõi Sê-mit với người Hip-ri, nên ông được làm tới đại thần số một của vua Pha-ra-ô. Nhờ đó khi nạn đói xảy ra, gia đình tổ phụ Áp-ra-ham chạy sang Ai-cập, đã được đón tiếp và sinh sống dễ dàng. Như thế, Thiên Chúa đã biến cái xấu của con người trở thành cái tốt, điều đó nói lên những việc kỳ diệu của Thiên Chúa quan phòng (St 50, 2).

          Ông Giu-se qua đời, hai người con của ông là Ep-ra-im và Ma-na-xê được ông Gia-cóp nhận làm con nuôi. Còn chi tộc Lê-vi được dành riêng để lo việc tế tự. Mười chi tộc còn lại cộng với hai người con của ông Giu-se làm thành mười hai chi tộc Ít-ra-en. Sau này khi tuyển chọn các môn đệ để thiết lập Giáo Hội, Đức Giê-su cũng chọn mười hai người. Như vậy, Giáo Hội đã trở thành Ít-ra-en mới được xây dựng trên mười hai trụ cột là các tông đồ.

C. KẾT THÚC

1. Bài học áp dụng

          Khi đáp lại Lời Thiên Chúa, Áp-ra-ham và các Tổ phụ không chỉ làm một bước ngoặc cho cuộc đời các ngài, nhưng còn mở ra một nếp sống mới cho chúng ta, đó là tin vào Thiên Chúa. Tin vào Thiên Chúa nghĩa là hoàn toàn phó thác cho Ngài, chấp nhận mọi điều Chúa dạy và mọi lời Chúa hứa. Dù tương lai có mờ mịt, hoặc gặp cảnh gian nan thử thách, ta vẫn cứ một lòng cậy trông phó thác, mau mắn vâng lời Ngài vì biết rằng Ngài là Đấng Trung tín, “điều gì Thiên Chúa đã hứa thì Ngài có đủ quyền năng thực hiện” (Rm 4, 21). Một niềm tin như thế không làm cho con người chúng ta hèn yếu đi, nhưng trái lại, nó giúp chúng ta mỗi ngày một lớn lên không ngừng.

          Thực tế cho thấy, nếu không có niềm tin, chắc chắn cuộc sống sẽ trở nên vô nghĩa. Bệnh nhân sẽ chết dần chết mòn vì chính sự nghi ngờ của mình vào bác sỹ, hoặc mọi người sẽ nghi ngờ nhau dẫn tới hậu quả cắt đứt mối tương giao với nhau. Vậy chúng ta hãy noi theo tấm gương của Áp-ra-ham và các Tổ phụ, tin tưởng vào Thiên Chúa và tin tưởng vào tha nhân, bởi vì chính nơi tha nhân, Thiên Chúa đang hiện diện. Mặt khác, chúng ta cũng học nơi Thiên Chúa, trung tín giữ lời hứa của mình để khỏi tạo nên sự nghi ngờ cho người khác như ngạn ngữ có câu: “Một lần thất tín, vạn lần mất tin”.

2. Gợi ý cầu nguyện

          Lạy Chúa Giê-su, trên dòng đời ngược xuôi, chúng con không thoát khỏi những lần chao đảo, những phút ngả nghiêng, hoang mang, thất vọng. Xin cho chúng con biết noi gương các tổ phụ luôn biết vững vàng tin tưởng vào Chúa, phó thác cuộc đời cho Chúa. Xin Chúa giúp chúng con cảm nhận được Chúa đang đồng hành, nâng đỡ, chia sẻ cuộc sống và giơ tay giải thoát chúng con qua những anh chị em và qua Giáo hội của Chúa. Amen.

BẠN CÓ BIẾT ?

SÁCH XUẤT HÀNH

Sách Xuất Hành bàn tới 2 vấn đề chính: được giải phóng khỏi Ai-cập (chương 1 đến chương 15, 21) và giao ước tại Xi-nai (chương 19-40). Hai đề tài ấy được nối nhau bằng đề tài phụ: Cuộc hành trình trong sa mạc (15, 22 – 18,27).

Sau khi được Thiên Chúa tỏ cho biết tên của Ngài tại núi Xi-nai, ông Mô-sê đã dẫn dân Do-thái vừa được giải phóng tới đây. Thiên Chúa ngự đến đầy oai linh, ký kết giao ước với dân và ban lề luật Ngài cho họ. Vừa ký giao ước xong, dân chúng đã vi phạm ngay: họ thờ lạy bò vàng. Thế nhưng Thiên Chúa đã tha thứ và lặp lại những giao ước.

SÁCH LÊ-VI

Sách Lê-vi xen vào làm gián đoạn câu chuyện đang kể. Sách này quy định các nghi thức phụng vụ: các lễ tế, việc phong chức tư tế, những luật về sự thanh sạch và uế tạp…

SÁCH DÂN SỐ

Sách này thuật tiếp cuộc hành trình trong sa mạc: sau giao ước Xi-nai, người ta kiểm tra dân số để chuẩn bị lên đường. Sau khi cử hành lễ Vượt Qua lần thứ 2, họ rời núi Thánh và đi từng chặng tới Ca-đét, họ cố tiến vào đất Ca-na-an bằng phía nam, nhưng thất bại.

Sau ít lâu, họ chuyển hướng đi về vùng Mô-áp, đối diện với Giê-ri-khô. Dân Ma-đi-an thua. Đất họ là vùng bên kia sông Gio-đan, được chia cho các chi tộc Gát, Ru-ben và một nửa chi tộc Mơ-na-sê.

SÁCH ĐỆ NHỊ LUẬT (Thứ Luật)

Đây là bản luật thứ hai, gồm cả luật dân sự và luật tôn giáo. Sách này lấy lại một phần các lề luật đã được ban trong sa mạc. Sách cũng ghi lại 4 bài diễn từ lớn của Mô-sê, sứ vụ của Giô-suê, bài ca, di chúc và cái chết của Mô-sê.

 

BÀI 6

MÔ-SÊ VÀ BIẾN CỐ VƯỢT QUA CỦA NGƯỜI DO-THÁI

A. DẪN NHẬP

1. Thánh hoá đầu giờ

          (GLV tùy nghi có thể hát một bài hoặc đọc một kinh hay một lời nguyện)

          Lạy Chúa Thánh Thần, xin ban sức sống cho chúng con. Xin cho cuộc đời Ki-tô hữu của chúng con đừng rơi vào sự đơn điệu nghèo nàn, vào những lối mòn quen thuộc, nhưng xin canh tân và tái tạo chúng con mỗi ngày. Xin cho chúng con khám phá ra những chiều sâu khôn dò của Đức Ki-tô và ý nghĩa thâm thúy của Lời Chúa. Amen.

2. Câu chuyện minh họa “Ý muốn của Thiên Chúa

          Chuyện kể rằng, lần kia có một thanh niên leo lên đỉnh núi để thám hiểm. Bất thình lình, anh ta bị trượt chân và lăn xuống một vách núi rất dốc. Điều ấy có nghĩa là chết chắc, nhưng may thay, anh ta bám vào được một cành cây, cho nên không bị rơi xuống vực.

          Khi thấy cành cây không mấy chắc chắn sắp gãy, anh ta cầu nguyện lớn tiếng: “Lạy Chúa, nếu Chúa có ở trên cao, xin hãy đến cứu con”. Một âm thanh oang oang đáp lại: “Phải, Thiên Chúa đây”. Anh ta nài xin: “Lạy Chúa kính yêu, xin ngài giúp đỡ con”. Thiên Chúa nói: “Phải, ta sẽ giúp đỡ con, nhưng trước hết, con có tin ta không?”. Anh thanh niên cầu khẩn: “Lạy Chúa, dĩ nhiên là có, con tin Ngài”.

          Thiên Chúa ra lệnh: “Vậy con hãy thực hiện việc đu bám của con”. Anh ta đáp: “Vậy là sao?”. Rồi anh ta lại ngước nhìn lên núi và gào to: “Có ai khác ở trên đó không… cứu tôi!”. Cuối cùng, anh ta bị kiệt sức và rơi xuống vực trước khi các nhân viên cứu hộ đến được chỗ anh ta.

3. Dẫn vào bài

          Nội dung câu chuyện trên cho thấy, lệnh truyền của Thiên Chúa quá nhiều để cho chúng ta chấp nhận và thực hiện; vậy mà người thanh niên lại cầu nguyện một đàng, nhưng lại thực hiện theo một hướng khác. Chúng ta cầu xin, nhưng phải gắn liền với việc nỗ lực thực hiện những lời cầu xin ấy. Đó chính là cách làm của ông Mô-sê trong việc đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa-dẫn dắt dân Ít-ra-en thực hiện cuộc vượt qua của họ theo ý của Thiên Chúa.

4. Đọc Thánh Kinh (Xh 2, 1-10; 12, 1-8)

          Lời Chúa trong sách Sáng Thế.

          Có một người thuộc dòng họ Lê-vi đi lấy một người con gái cũng thuộc họ Lê-vi. Người đàn bà ấy thụ thai và sinh một con trai. Thấy đứa bé kháu khỉnh, nàng giấu nó ba tháng trời. Khi không thể giấu lâu hơn được nữa, nàng lấy một cái thúng cói, trét hắc-ín và nhựa chai, bỏ đứa bé vào, rồi đặt thúng trong đám sậy ở bờ sông Nin. Chị đứa bé đứng đàng xa để xem cho biết cái gì sẽ xảy ra cho em nó. Có nàng công chúa của Pha-ra-ô xuống tắm dưới sông, trong khi các thị nữ đi đi lại lại trên bờ. Nàng thấy chiếc thúng ở giữa đám sậy, thì sai con hầu đi lấy. Mở thúng ra, nàng thấy đứa trẻ: thì ra là một bé trai đang khóc. Nàng động lòng thương nó và nói: "Thằng này là một trong những đứa trẻ Híp-ri." Chị đứa bé thưa với công chúa của Pha-ra-ô: "Bà có muốn con đi gọi cho bà một vú nuôi người Híp-ri, để nuôi đứa bé cho bà không ?" Công chúa của Pha-ra-ô trả lời: "Cứ đi đi !" Người con gái liền đi gọi mẹ đứa bé. Công chúa của Pha-ra-ô bảo bà ấy: "Chị đem đứa bé này về nuôi cho tôi. Chính tôi sẽ trả công cho chị." Người đàn bà mang ngay đứa bé về nuôi. Khi đứa bé lớn lên, bà đưa nó đến cho công chúa của Pha-ra-ô. Nàng coi nó như con và đặt tên là Mô-sê; nàng nói: "Đó là vì ta đã vớt nó lên khỏi nước."

          ĐỨC CHÚA phán với ông Mô-sê và ông A-ha-ron trên đất Ai-cập: "Tháng này, các ngươi phải kể là tháng đứng đầu các tháng, tháng thứ nhất trong năm. Hãy nói với toàn thể cộng đồng Ít-ra-en : Mồng mười tháng này, ai nấy phải bắt một con chiên cho gia đình mình, mỗi nhà một con. Nếu nhà ít người, không ăn hết một con, thì chung với người hàng xóm gần nhà mình nhất, tuỳ theo số người. Các ngươi sẽ tuỳ theo sức mỗi người ăn được bao nhiêu mà chọn con chiên. Con chiên đó phải toàn vẹn, phải là con đực, không quá một tuổi. Các ngươi bắt chiên hay dê cũng được. Phải nhốt nó cho tới ngày mười bốn tháng này, rồi toàn thể đại hội cộng đồng Ít-ra-en đem sát tế vào lúc xế chiều, lấy máu bôi lên khung cửa những nhà có ăn thịt chiên. Còn thịt, sẽ ăn ngay đêm ấy, nướng lên, ăn với bánh không men và rau đắng.

          Đó là Lời Chúa.

B. NỘI DUNG

1. Ơn gọi của Mô-sê

          a. Được chọn từ nhỏ

          Tại Ai-cập, dòng dõi Ít-ra-en dần dà sinh sôi nảy nở ra nhiều. Các vua Ai-cập sợ họ trở nên quá mạnh, có thể gây hiểm hoạ, nên bắt đầu đàn áp và bắt họ làm nô lệ phục dịch trong các công trình xây cất của nhà vua như: xây cất kim tự tháp, xây các kho dự trữ lương thực.

          Đang khi dân phải chịu khổ cực như vậy, Thiên Chúa chuẩn bị cho một người đến cứu họ: đó là Mô-sê. Theo trình thuật của sách Xuất hành, Mô-sê là người gốc Ít-ra-en, thuở mới sinh bị bỏ trôi sông và được công chúa Ai-cập đón về nuôi. Ông đã được giáo dục trong triều đình Ai-cập và nhờ đó mà được chuẩn bị đầy đủ những kỹ năng của một nhà lãnh đạo và lập pháp để sau này giúp dân Ít-ra-en. Mô-sê vẫn sống bình lặng trong triều đình Ai-cập, nhưng ngày kia, một biến cố đã thay đổi hẳn đời ông. Đó là vào năm ông được 40 tuổi, Mô-sê không còn chịu nổi cảnh đồng bào ông bị áp bức, ông đã ra tay sát hại một người Ai-cập đang hành hạ người Do-thái. Vừa ra tay xong, ông biết ngay mình đã làm sai. Ông đã phải chạy thục mạng mới thoát được bàn tay săn lùng của những thám tử hoàng gia. Khi hành động như vậy, Mô-sê đã không làm theo ý Chúa, mà chỉ theo suy nghĩ của con người. Ông chưa hiểu được ý định của Thiên Chúa muốn dùng ông để giải cứu dân Ngài sau này. Nên Thiên Chúa đã tiếp tục uốn nắn ông trong một thời gian để ông trở thành một người hoàn toàn vâng phục Ngài và thực hiện công trình của Ngài chứ không phải chương trình của cá nhân ông.

          Khi Mô-sê chạy trốn vào sa mạc và sống tại đó, ông đã học biết cuộc sống lam lũ, nghèo nàn và tự do, đó cũng là cuộc sống của Áp-ra-ham – tổ phụ ông. Mô-sê sống giữa những người Ma-đi-an và đã nhận được nơi bố vợ ông (ông Rơ-u-ên) các truyền thống về tổ phụ Áp-ra-ham và đức tin của ông vào Thiên Chúa [1] và nhất là tại đây, ông đã gặp gỡ với Thiên Chúa. Chính trong lúc gặp được Thiên Chúa của cha ông mình, Mô-sê đã nhận ra sứ mạng của mình đối với dân Ít-ra-en.

          b. Sứ mạng của Mô-sê

          Thiên Chúa muốn giải thoát con cái Ít-ra-en thoát khỏi cảnh nô lệ của người Ai-cập, nên Ngài định chọn Mô-sê để làm việc đó. Ông ngần ngại vì sợ trách nhiệm quá nặng nề, nhưng Thiên Chúa hứa: Ta sẽ ở với ngươi. Phản ứng của Mô-sê là phản ứng tự nhiên của những người được Thiên Chúa chọn để giao phó một nhiệm vụ đặc biệt, như thủ lãnh Ghê-đê-ôn, tiên tri Giê-rê-mi-a, Đức Ma-ri-a... Nhưng lời chấn an mạnh nhất của Thiên Chúa bao giờ cũng là: Ta sẽ ở với ngươi. Kể từ đó, tất cả cuộc đời ông đều hướng về cuộc giải thoát dân tộc mình. Ông đã bị Thiên Chúa chiếm đoạt và sai phái đi; ông đã trở lại Ai-cập và thương lượng với vua Pha-ra-ô để dân Ít-ra-en được giải thoát. Quyền năng Thiên Chúa (được biểu lộ qua Mô-sê) đã thúc bách Pha-ra-ô sớm thực hiện cuộc phóng thích dân Do-thái. Chính nhờ sự chu toàn sứ mạng với niềm tín thác vào quyền lực của Thiên Chúa mà càng ngày ông càng tiến sâu vào mầu nhiệm của Ngài, Đấng thường đến với ông và với dân tộc ông trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời.  

2.  Biến cố Vượt Qua

          a. Mười tai ương

          Nước biến thành máu, ếch nhái, muỗi, ruồi nhặng, ôn dịch, ung nhọt, mưa đá, châu chấu, cảnh tối tăm và cái chết của các con đầu lòng Ai-cập. Ý nghĩa thực sự của mười tai ương ở đây không phải là lịch sử mà là tôn giáo:

          1- Thiên Chúa can thiệp để cứu dân Do-thái bị áp bức ra khỏi ách nô lệ của người Ai-cập.

          2- Sự xung đột hay phân tranh giữa hai thần: Thiên Chúa và Pha-ra-ô. Pha-ra-ô cho mình là chúa của đất nước Ai-cập và chủ của dân nô lệ Ít-ra-en, cho nên ông nắm quyền sinh tử của họ trong tay. Tuy nhiên, với mười tai ương do Thiên Chúa gửi đến (chín tai ương liên quan đến đời sống của người Ai-cập và tai ương thứ mười liên quan đến ngôi vua và dòng dõi Ai-cập), Thiên Chúa đã nói cho vua Pha-ra-ô, toàn thể dân Ai-cập và dân Ít-ra-en rằng, Ngài mới thật là Thiên Chúa duy nhất. Ngài thật là Chủ tể của cả trời đất vũ trụ chứ không phải là Pha-ra-ô hay bất cứ thần nào khác.

          b.  Bữa tiệc Vượt Qua

          Theo nguồn gốc, lễ này là sự phối hợp hai nghi lễ cổ xưa lại làm một, bao gồm: Lễ sát chiên: trong đó các mục tử giết một con chiên mới sinh vào dịp đầu xuân, rồi họ dùng máu của nó để xua đuổi các tà thần khi họ di chuyển bộ tộc mình từ đồng cỏ này sang đồng cỏ khác. Lễ làng nông: trong đó mọi người trong làng vứt bỏ đi hết tất cả các men và hạt giống cũ để ăn mừng mùa gặt mới với hạt giống mới vào dịp đầu xuân. Chính vì thế mà đối với người Do-thái, lễ Vượt Qua chính là lễ đầu Xuân cũng tương tự như tết Nguyên đán của người Việt vậy.

          Với biến cố bữa ăn chiên vượt qua (Xh 12), dân Ít-ra-en theo lệnh Thiên Chúa truyền đã làm thịt một con chiên, lấy máu bôi lên cửa, rồi hối hả ăn để ra đi bất cứ lúc nào. Đêm đó Thiên Thần Chúa rảo qua các vùng Ai-cập để sát hại tất cả các con đầu lòng, kể cả súc vật của người Ai-cập. Nhưng Thiên Chúa đã “vượt qua” những nhà có máu bôi trên cửa, vì thế, dân Ít-ra-en được bình yên vô sự.

          Như vậy, lễ Vượt Qua của người Do-thái là nhắc lại việc Thiên Chúa, trong đêm xuất hành đã đi ngang hay vượt qua các nhà của người Do-thái mà không giết các con đầu lòng, vì có dấu máu chiên bôi trên khung cửa nhà họ. Ngược lại, chính Thiên Chúa đã sát hại mọi con đầu lòng trong đất Ai-cập, từ con đầu lòng của vua Pha-ra-ô đến con đầu lòng của mọi người Ai-cập cũng như của loài vật. Cũng trong đêm đó, chính Thiên Chúa đã hạ bệ tất cả các thần của người Ai-cập.

          Vì vậy, lễ Vượt qua đóng vai trò quan trọng trong lịch sử Ít-ra-en, do đó hàng năm người Do-thái vẫn cử hành Bữa Tiệc Vượt Qua. Qua biến cố này, dân Do-thái càng ý thức về tình yêu của Thiên Chúa dành cho mình. Ngài đã dủ lòng thương khi họ gặp cảnh khốn cùng và dùng cánh tay hùng mạnh của Ngài để dẫn dân ra khỏi Ai-cập.

          c. Qua biển Đỏ

          Theo trình thuật về Biến cố “vượt qua” biển Đỏ (x. Xh 14), nước rẽ ra cho dân Do-thái băng qua, còn toàn bộ binh lính xe cộ của người Ai-cập thì bị nước biển nhấn chìm. Đây là một phép lạ hay chỉ là một hiện tượng tự nhiên đã từng xảy ra tại vùng này? Theo một số học giả Thánh Kinh, vùng này là một vùng đầm lầy (đó là hồ Timsah, phía bắc của kênh đào Suez ngày nay). Gió đông bắc thường thổi vào lúc nước ròng làm cho vùng này trở thành nơi khô cạn trong vài giờ khoảng gần sáng, cho nên người ta có thể đi ngang qua được. Tuy nhiên khi sáng đến, ngọn gió đổi chiều vì cơn gió nồm hay gió nam thổi đến, nước lớn ào ào quay trở lại với mực nước bình thường của nó. Ở đây, người Do-thái xem biến cố đi qua Biển Đỏ như là một phép lạ từ bàn tay uy quyền của Thiên Chúa. Nước đem lại sự sống cho dân Do-thái, nhưng đồng thời lại thanh tẩy những gì là tội lỗi. Chính Thiên Chúa là vị thần duy nhất đã cứu dân Ít-ra-en ra khỏi ách nô lệ của người Ai-cập. Chính Ngài dìu dắt họ qua các hiểm nguy của hỗn loạn và diệt vong trên biển dưới bàn tay của tử thần. Rồi chính Ngài làm cho họ nên một dân tộc riêng biệt và cho họ một cuộc sống mới trong tự do và hạnh phúc. Tất cả những kỳ công mà Thiên Chúa đã làm đây hoàn toàn là một món quà nhưng không của Ngài cho họ.

C. KẾT THÚC

1. Bài học áp dụng                

          Điều làm cho ông Mô-sê trở thành người của Thiên Chúa không phải là sự nhiệt tình của ông hồi 40 tuổi, nhưng là sự cầu nguyện trong thinh lặng. Hoàn cảnh đã đưa đẩy ông thường xuyên phải sống cô độc một mình trong sa mạc. Suốt những năm chăn súc vật giữa trời đất bao la, nhiệt tình hoạt động của ông Mô-sê đã chuyển thành một tâm hồn chiêm niệm. Chính trong sự thinh lặng triền miên, Thiên Chúa đã uốn nắn tâm hồn ông, giúp ông bỏ chương trình riêng để vâng theo chương trình của Thiên Chúa. Ông luôn sống thân mật với Chúa và đời sống ấy đã giúp cho hoạt động của ông có kết quả, mà nhất là đã biến đổi ông nên giống Thiên Chúa, cả trong tâm hồn cũng như trên khuôn mặt. Noi gương ông Mô-sê, mỗi người trong chúng ta được mời gọi cộng tác với Thiên Chúa trong việc giải phóng chính mình khỏi sự kìm kẹp của những tính hư nết xấu. Sống thân mật với Chúa bằng đời sống cầu nguyện để qua đó, nhận ra chương trình của Thiên Chúa trên cuộc đời mình và mau mắn đáp trả. Thực tế cho thấy, nhiều khi chúng ta mải mê hành động theo những toan tính cho nên đến khi gặp thất bại, chúng ta lại đổ lỗi rằng: tại sao Chúa không thương, không quan tâm đến mình. Kết luận đó quả là một sai lầm, bởi lẽ, nếu không có được đời sống cầu nguyện và biết thinh lặng lắng nghe, chúng ta dễ gì nhận ra được tiếng Chúa.

          Với biến cố Vượt Qua của dân Do-thái, chúng ta được mời gọi thực hiện cuộc ra khỏi chính mình. Đó là việc từ bỏ những ý riêng, những toan tính và những ích kỷ của mình để tìm gặp gỡ Thiên Chúa và mọi người. Phải từ bỏ những lợi ích riêng, đó là một điều không dễ chút nào, nhưng nếu thực sự trong tâm hồn bạn có Chúa hiện diện, thì việc từ bỏ đó sẽ đem lại cho bạn niềm vui lớn.

2. Gợi ý cầu nguyện

          Lạy Chúa Giê-su, xin cho chúng con luôn biết chạy đến với Chúa trong mọi hoàn cảnh: dù hạnh phúc hay đau khổ. Chúng con luôn có một thái độ tín thác và kiên nhẫn. Xin soi sáng cho chúng con, để chúng con luôn xác tín rằng Chúa luôn lắng nghe và làm những điều tốt nhất cho chúng con. Xin cho chúng con luôn vui vẻ đón nhận tất cả từ Chúa trong bình an và tin tưởng phó thác. Amen.

BẠN CÓ BIẾT ?

SÁCH GIÔ-SUÊ

Sách này trình bày việc chiếm xứ Pa-let-tin, dưới sự lãnh đạo của ông Giô-suê, người kế vị Mô-sê, và việc chia lãnh thổ cho 12 chi tộc Ít-ra-en.

SÁCH THỦ LÃNH (THẨM PHÁN)

Sách Thủ Lãnh kể về 200 năm đầu vùng đất mới chiếm. Dân Ít-ra-en còn sống theo quy chế bộ lạc, chưa lập thành quốc gia. Họ bị quyến rũ tôn thờ các ngẫu tượng và bị các dân địa phương hoặc láng giềng áp bức. Thiên Chúa đã cho nhiều người đứng lên bênh vực họ, cứu họ khỏi kẻ thù: Ốt-ni-en, Ê-hút, Sam-ga, Đê-bô-ra và Ba-rắc, Ghê-đê-ôn và A-bi-mê-lết, Tô-la, Giai-a, Giép-tê, Íp-san, Ay-lon, Áp-đôn, Sam-son. Những người này được gọi là thẩm phán, không phải vì họ lo xử kiện, nhưng vì họ đã thi hành các phán quyết của Thiên Chúa, tức là những lần Thiên Chúa can thiệp để bênh vực dân Ngài.

SÁCH RÚT

Sách này kể chuyện về bà Rút. Bà là một phụ nữ gốc Mô-áp, tức là một người ngoại bang, đã lấy chồng là một người Ít-ra-en, nhưng ông  này chết sớm. Chung thành với người chồng đã khuất, bà Rút quyết định theo mẹ chồng về Pa-let-tin. Sau đó bà lập gia đình với ông Bô-a và sinh ra Ô-vét là ông nội vua Đa-vít. Tuy là một phụ nữ ngoại bang, nhưng bà Rút đã được chọn vào hàng tổ tiên của Đấng Cứu Thế.

SÁCH SA-MU-EN 1 VÀ 2

Hai sách Sa-mu-en lúc đầu chỉ là một, về sau người ta mới chia ra cho tiện. Sách này tường thuật lại giai đoạn đầu của vương quốc Ít-ra-en, về Sa-mu-en là vị thẩm phán cuối cùng và là ngôn sứ, về vị vua thứ nhất là Sa-un, và về những diễn tiến đưa Đa-vít lên ngôi vua.

SÁCH SỬ BIÊN NIÊN (KÝ SỰ 1 VÀ 2)

Sách này ghi chép sự việc theo thời gian (nên được gọi là Ký Sự hoặc là sử chép theo từng năm). Các tác giả hai sách này muốn chứng tỏ rằng khi dân Ít-ra-en trung thành với với giao ước thì Thiên Chúa bênh vực họ, và ngài đánh phạt họ khi họ lìa bỏ giao ước. Được biên soạn vào thế kỷ thứ 4 trước công nguyên, sau sách Sa-mu-en và sách Các Vua, nên các sách Sử Biên Niên bổ túc nhiều cho các sách ấy.

SÁCH ÉT-RA VÀ SÁCH NƠ-KHE-MI-A

Hai sách này làm thành một khối, trình bày phần tiêp theo hai sách Sử Biên Niên. Hai sách này ghi lại bút tích của ông Ét-ra và ông Nơ-khe-mi-a cùng với những văn kiện của nhà nước đế quốc thời ấy, để nói về cuộc hồi hương vào năm -538 của những người lưu đày. Họ trở về xây dựng lại đền thờ và khôi phục lại việc thờ phượng tại Giê-ru-sa-lem (Ét-ra) đồng thời tái thiết lại các tường luỹ của thành thánh (Nơ-khe-mi-a).

SÁCH TÔ-BI-A

Sách Tô-bi-a là một chuyện bình dân, thấm nhuần tư tưởng đạo đức Do Thái giáo. Sách kể lại những chuyện không may của ông Tô-bít và con ông là Tô-bi-a trong cảnh sống lưu đầy của người Do Thái giữa đế quốc Ba-tư rộng lớn. Câu chuyện thật tươi mát, nêu bật giá trị của lý tưởng về hôn nhân, về gia đình, của các bổn phận đạo đức như cầu nguyện, bố thí, ăn chay và bổn phận đối với người chết. Mỗi trang sách đều sáng lên lòng tin cậy vào Thiên Chúa. Cuối cùng, người công chính đã được Thiên Chúa ban thưởng.

 

BÀI 7

GIAO ƯỚC XI-NAI VÀ HÀNH TRÌNH TIẾN VÀO ĐẤT HỨA

A. DẪN NHẬP

1. Thánh hoá đầu giờ

          Lạy Chúa, giao ước Xi-nai là một giao ước vô cùng quan trọng đối với dân Do-thái, bởi vì đây không chỉ là lời giao ước suông, mà nó còn là trọng tâm của toàn thể lịch sử của dân Ít-ra-en. Xin Chúa ban Thần Khí Chúa trên chúng con để chúng con luôn biết tuân giữ giao ước của Ngài. Đặc biệt trong giờ học và chia sẻ hôm nay, xin Chúa soi dẫn lòng trí chúng con để chúng con có thể học hỏi và hiểu Lời Chúa ngày một sâu sắc hơn. Amen.

2. Câu chuyện minh hoạ “Giá trị con người”.

          Một phát thanh viên nổi tiếng bắt đầu cuộc họp mặt chuyên đề có sự tham dự của hai trăm người thuộc dân nghèo. Ông ta cầm một tờ 50 đô la còn mới, giơ cao và nói: “Tôi muốn cho số tiền này, nhưng trước hết tôi phải làm một điều”. Rồi ông ta vò nhàu tờ giấy bạc và hỏi: “Ai cần số tiền này?”. Có khá nhiều cánh tay giơ lên. Ông ta bỏ tờ giấy bạc xuống dưới đất rồi lấy mũi giầy chà đạp lên. Khi ông ta cầm tờ 50 đô la lên, nó nhăn nheo và dơ bẩn.

          “Giờ đây, ai vẫn còn cần số tiền này?” - ông ta lại hỏi. Cũng lại những cánh tay lúc nãy giơ lên. Vị phát thanh viên nói: “Các bạn thân mến, tất cả các bạn vừa được học một bài học rất giá trị, dù tôi có làm gì với tờ giấy bạc, các bạn vẫn muốn có nó bởi vì nó đã không giảm giá trị. Nó vẫn có giá là 50 đô la”.

3. Dẫn vào bài

          Nhiều lần trong đời sống, chúng ta vấp ngã, lệch lạc và rơi vào bùn đất bởi những quyết định mà chúng ta thực hiện và bởi những hoàn cảnh mà chúng ta gặp trên đường đời. Chúng ta cảm thấy như thể mình không có giá trị gì. Tuy nhiên, dù điều gì đã xảy ra hoặc sẽ xảy ra với bạn, thì trong mắt của Thiên Chúa, bạn không bao giờ mất giá trị của mình, bởi vì Ngài luôn yêu thương săn sóc bạn.

          Cũng vậy, dân Ít-ra-en xưa được Thiên Chúa tuyển chọn và thương yêu che chở, nhưng họ vẫn có thái độ chống đối Thiên Chúa và phạm đủ thứ tội nghịch với sự thánh thiện của Ngài. Vậy mà Thiên Chúa vẫn yêu thương, lại còn ban cho họ một lề luật, để họ ý thức về sự vô giá của nhân phẩm mình. Đó chính là nội dung của bài học mà chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu hôm nay.

4. Đọc Thánh Kinh (Xh 24, 3- 18)

          Lời Chúa trong sách Xuất Hành.

          Ông Mô-sê xuống thuật lại cho dân mọi lời của ĐỨC CHÚA và mọi điều luật. Toàn dân đồng thanh đáp: "Mọi lời ĐỨC CHÚA đã phán, chúng tôi sẽ thi hành." Ông Mô-sê chép lại mọi lời của ĐỨC CHÚA. Sáng hôm sau, ông dậy sớm, lập một bàn thờ dưới chân núi và dựng mười hai trụ đá cho mười hai chi tộc Ít-ra-en. Rồi ông sai các thanh niên trong dân Ít-ra-en dâng những lễ toàn thiêu, và ngả bò làm hy lễ kỳ an tế ĐỨC CHÚA. Ông Mô-sê lấy một nửa phần máu, đổ vào những cái chậu, còn nửa kia thì rảy lên bàn thờ. Ông lấy cuốn sách giao ước đọc cho dân nghe. Họ thưa: "Tất cả những gì ĐỨC CHÚA đã phán, chúng tôi sẽ thi hành và tuân theo." Bấy giờ, ông Mô-sê lấy máu rảy lên dân và nói: "Đây là máu giao ước ĐỨC CHÚA đã lập với anh em, dựa trên những lời này." Ông Mô-sê đi lên cùng với ông A-ha-ron, Na-đáp, A-vi-hu và bảy mươi người trong hàng kỳ mục Ít-ra-en. Họ nhìn thấy Thiên Chúa của Ít-ra-en; dưới chân Người như có nền lát bằng lam ngọc, trong vắt như chính bầu trời. Người không ra tay hại những bậc vị vọng của Ít-ra-en; họ được chiêm ngưỡng Thiên Chúa, và sau đó họ ăn uống. ĐỨC CHÚA phán với ông Mô-sê: "Hãy lên núi với Ta và ở lại đó; Ta sẽ ban cho ngươi những bia đá: luật và mệnh lệnh Ta đã viết ra để dạy dỗ chúng." Ông Mô-sê đứng lên cùng với người phụ tá là ông Giô-suê, rồi ông Mô-sê lên núi của Thiên Chúa. Ông nói với các kỳ mục: "Các ông đợi chúng tôi ở đây cho đến khi chúng tôi trở lại với các ông. Đây có ông A-ha-ron và ông Khua ở với các ông. Ai có việc gì, cứ đến với hai ông ấy." Ông Mô-sê lên núi. Bấy giờ mây bao phủ núi. Vinh quang ĐỨC CHÚA ngự trên núi Xi-nai và mây bao phủ núi sáu ngày. Đến ngày thứ bảy, từ giữa đám mây, Người gọi ông Mô-sê. Vinh quang ĐỨC CHÚA xuất hiện trên đỉnh núi trông giống như ngọn lửa thiêu, trước mắt con cái Ít-ra-en. Ông Mô-sê vào giữa đám mây và đi lên núi. Ông Mô-sê ở trên núi bốn mươi ngày bốn mươi đêm.

          Đó là Lời Chúa.

B - NỘI DUNG

1- Giao ước Xi-nai

          a. Nội dung

          Trên hành trình tiến về đất hứa, dân Ít-ra-en đến núi Xi-nai. Tại đây, Thiên Chúa đã gọi ông Mô-sê lên núi và ban cho ông Thập Điều Giao Ước[1] (Xh 20,1-17) mà chúng ta quen gọi là Mười điều răn. Nội dung chính yếu của giao ước được ghi lại trong Xh 19- 24, bao gồm:

          1- Lời tựa và mở đầu: Thiên Chúa tuyên bố lý do của Giao ước. Đó là việc Ngài đã đem Ít-ra-en ra khỏi Ai-cập đến núi Xi-nai (Xh 19, 3-6; 20, 2).

          2 -Thập điều và các bộ luật giao ước, qui định trách nhiệm và bổn phận của Ít-ra-en đối với Thiên Chúa (qua việc phụng thờ) và đối với tha nhân (qua bác ái công bình) (x. Xh 20, 3-17; 20, 22-23).

          3-Bảo tồn và lưu trữ: Thập điều giao ước được khắc trên hai bia đá và được đặt trong khám gọi là Hòm bia giao ước.

          4-Danh sách các chứng tá thần linh, chúc lành và chúc dữ: không có trong giao ước Xi-nai. Tuy nhiên, sự hiện diện của Thiên Chúa được thể hiện qua các dấu chỉ như khói, lửa, sấm sét, tiếng tù và cùng mây đen (19, 16-19; 20, 18-20).

          Như vậy theo Giao ước, Thiên Chúa trở nên Cha của dân; ngược lại, họ trở nên những người con của Ngài. Để bảo chứng cho Giao ước này, ông Mô-sê đã giết bò mà tế lễ Thiên Chúa. Ông lấy phân nửa máu rẩy trên bàn thờ đại diện cho Thiên Chúa, còn nửa kia ông rẩy trên dân mà nói: “Đây là máu của Giao ước mà Thiên Chúa đã ký kết với anh em” (Xh 24, 8). Máu là biểu tượng cho sự sống. Khi rẩy máu trên bàn thờ và trên dân, thì có nghĩa là Thiên Chúa và dân Ngài cùng liên hệ sự sống với nhau. Nghi thức được kết thúc bằng bữa ăn hiệp thông trên núi thánh (x. Xh 24, 11).

          b. Ý nghĩa

          Thập Điều Giao ước (Xh 20,1-17) được ban trong bối cảnh dân Do-thái khi đó họ chỉ là đám dân ô hợp. Ô hợp, vì họ chưa có đường lối lãnh đạo và mục đích cụ thể. Ô hợp, vì cùng đi với họ có những người không phải là người Do-thái. Vì thế, họ ô hợp cả về tôn giáo.

          Chính Thập Điều Giao Ước làm cho họ trở nên một khối thống nhất, thống nhất cả về tôn giáo. Giờ đây, Thập Điều Giao Ước chính là pháp luật của họ. Thiên Chúa chính là nhà lập pháp của dân Do-thái. Thập Điều Giao Ước bao gồm những điều khoản mà Thiên Chúa đã ký với dân, làm cho họ trở thành một dân tộc. Giao ước đó chính là một cam kết tình yêu: Thiên Chúa nhận Ít-ra-en làm con của Ngài. Hiểu được như thế, ta dễ dàng nhận ra Thập Điều Giao Ước không phải là gánh nặng Thiên Chúa chất lên vai dân, mà chính là con đường, là điều kiện để con người đạt được hạnh phúc, được bảo tồn sự vô giá của nhân phẩm vì được làm con Thiên Chúa. Người Ki-tô hữu ngày nay hiểu được ý nghĩa, xuất xứ của Thập Điều Giao Ước sẽ không cảm thấy nặng nề khi thi hành các điều Giao Ước.

2. Hành trình tiến vào đất hứa

          Sau khi dân ở núi Xi-nai chừng một năm, Mô-sê lại đưa dân lên đường về Ca-na-an, đất mà Gia-vê đã hứa cho tổ phụ họ. Cuộc hành trình từ Ai Cập về đất Ca-na-an đáng lẽ chỉ 40 ngày, nhưng lại kéo dài gần 40 năm, nhằm thanh luyện dân. Việc xác định lộ trình của cuộc Xuất hành và vị trí các giai đoạn rất là khó khăn. Mặc dù trong các bản văn của Thánh Kinh, một số tên cá thể cho chúng ta thấy lộ trình qua phía Bắc, nghĩa là qua xứ người Phi-li-tinh. Đó là con đường thông thường, song song với bờ biển, ngang qua Si-lê (ngày nay là El - Kantanra), rải rác có giếng nước và được canh phòng. Nhóm chạy trốn chắc chắn là không đi con đường đó để tránh khỏi đụng độ với người Phi-li-tinh. Vì vậy, hành trình của họ phải đi là theo phía Nam. Hành trình tiến vào đất hứa của dân Do-thái được chia làm hai chặng sau:

          a. Từ Xi-nai đến Ca-đê

          Thoát khỏi sự khống chế của Pha-ra-ô, dân Do-thái thấy mình được tự do, nhưng lại rơi vào một lo âu không kém khi trước mắt là cả một cao nguyên Xi-nai khô cằn, biết tìm đâu ra cái ăn để sinh sống. Chính những vấn đề khó khăn của cuộc sống thường ngày đã buộc họ phải qui tụ từ cảnh lộn xộn thành một dân tộc. Họ tập trung cùng đi với nhau, cùng tìm chỗ có nước, cùng dựng lều lán, cùng chấp nhận nếp sống gian khổ, cùng giúp nhau tự vệ chống lại các đám du mục đó đây đi càn quét ức hiếp những người chạy trốn. Tuy nhiên, không vì thế mà không xảy ra những cãi vã gây chia rẽ nội bộ. Lúc đó, Mô-sê phải tìm cách bảo toàn thống nhất, lướt thắng những vụ chống đối quyền lãnh tụ của ông. Vì vậy, cần tổ chức cho tập thể xử lý các sự việc chung, nhất là khi có kiện cáo. Luật lệ phải từ từ tạo cơ sở, tổ chức việc quản lý và cắt đặt những người có trách nhiệm về các mặt sinh hoạt. Từ kinh nghiệm sống, Mô-sê đặt nền tảng cho bộ luật dựa vào niềm tin ở Đấng đã giải phóng dân tộc của Ngài. Thập Điều Giao Ước chính là hạt nhân đầu tiên của bộ luật này.

          Kinh nghiệm hình thành một dân tộc có quản lý như thế cũng là một chuỗi kinh nghiệm tôn giáo. Dân ngày càng thống nhất chặt chẽ với nhau thì càng tăng cường niềm tin sâu sắc vào Gia-vê. Quang cảnh hùng vĩ của Xi-nai chắc chắn đã góp phần cho kinh nghiệm tôn giáo có tính chất lạ lùng trọng đại của dân tộc Do-thái.

          Từ núi Xi-nai, dân đi thẳng lên phía bắc theo lối gần nhất về xứ Ca-na-an. Đến Ca-đê, Theo lệnh truyền của Thiên Chúa, Mô-sê cho người vào do thám xứ đó: “Ngươi hãy sai người đi do thám đất Ca-na-an, đất mà Ta sẽ ban cho con cái Ít-ra-en. Các ngươi sẽ sai đi mỗi chi tộc một người và tất cả phải là kỳ mục trong dân” (Ds 13, 2). Sau 40 ngày họ trở về đem theo hoa trái địa phương và nói rằng đất đó rất phì nhiêu, nhưng họ cũng cho biết là dân đất ấy rất mạnh. Nghe vậy, con cái Ít-ra-en lại nổi dậy kêu trách Mô-sê. Cũng chính vì tội này, Thiên Chúa kết án tất cả những người từ hai mươi tuổi trở lên sẽ phải sống và bỏ xác trong sa mạc, chỉ con cái họ mới được vào đất hứa. Vì thế, dân Ít-ra-en phải sống gần bốn mươi năm ở sa mạc Ca-đê, phía nam xứ Ca-na-an.

          b. Từ Ca-đê đến bờ sông Gio-đan

          Sau thời gian sống ở Ca-đê, Mô-sê lại đưa dân về đất hứa, nhưng không phải đi vào từ phía nam mà đi từ phía đông. Họ phải đi vòng xuống phía đông nam để tránh dân Ê-đôm, rồi từ đó đi ngược lên phía bắc (x. Ds 20).

          Ít-ra-en đánh chiếm được một vùng phía đông sông Gio-đan, rồi xuống đóng trại ở đồng bằng Mô-áp, tức là thung lũng ở phía đông sông Gio-đan, phía bắc Biển Chết (x. Ds 21).  Thực ra, việc tấn công và xâm chiếm đất Ca-na-an của dân tộc Ít-ra-en là cả một quá trình lâu dài. “Theo phân tích lịch sử cho thấy, đó là cả một quá trình phức tạp, không phải tất cả cùng vào qua một hướng và không phải bởi một lãnh tụ duy nhất. Một số bộ lạc có lẽ đã xâm nhập vào Ca-na-an từ mạn nam. Vài bộ lạc khác đi vòng để tiến vào từ mạn đông; ít toán khác dừng lại định cư bên kia sông Gio-đan; còn một số toán khác thì theo Giô-su-ê – người kế vị Mô-sê đã vượt sông Gio-đan và xâm nhập vào miền trung bộ Ca-na-an.”. Mặt khác, có một số bộ tộc đã đến định cư thành dân địa phương từ trước mà không di cư xuống Ai-cập, vì phần lớn dân cư Pa-lét-tin đều cùng gốc A-mô-ri như người Ít-ra-en. Có thể họ cũng ủng hộ lực lượng xâm nhập. Theo suy luận của W. Harrington thì: “… một phần đáng kể xứ này đã chẳng cần phải chiếm, đặc biệt ở miền trung. Vì vậy, nghi thức ở Si-khem (Gs 24) rất có thể là lễ sáp nhập các thành phần dân khác vào trong cơ cấu các chi tộc Ít-ra-en”

          Bên cạnh đó, các dữ kiện khảo cổ học nhìn nhận cách chung chung trình thuật Thánh Kinh, tuy rằng cũng nêu lên vài vấn đề nghiêm trọng: “Trong khoảng thời gian dài, người ta đã tin rằng những đào bới tại Giê-ri-khô đã mang lại nhiều bằng chứng giá trị, nhưng đến nay lại không còn phù hợp nữa. Mặt khác, người ta biết rằng, thành Hai được coi là do Giô-su-ê chiếm (xem Gs 8, 1-23) thật ra bị phá huỷ năm 2200 TCN và nơi ấy không có dân cư, vắng tanh cho mãi tới thế kỷ XII. Có thể chuyện ghi trong Gs 8 thật ra lại nhằm việc chiếm Bê-then là nơi cách đó 1800m, nhất là các cuộc đào xới lại cho thấy nơi ấy đã bị phá huỷ vào nửa sau thế kỷ XIII. Ngược lại, các trình thuật liên hệ đến việc chiếm Debir (Gs 10, 38-39); Lakish (10, 31-32); Eglon (10 34-35) và Hasor (10, 11) phù hợp với các sự kiện chứng tỏ các thành đó bị phá huỷ vào cuối thế kỷ XII”. Như vậy, các chứng tích do khảo cổ học cung cấp thật là đáng kể, nhưng những chứng tích đó không xác nhận hết mọi chi tiết của bản văn Thánh Kinh, cho nên không loại trừ sự kiện là việc chiếm đất có thể xảy ra khá phức tạp. Tuy nhiên, dù việc dân Ít-ra-en chiếm đất có phức tạp, dù cho trong trình thuật sách Giô-su-ê có giản lược hoá thực tại thì vẫn có một điều chắc chắn là: “…một cuộc xâm chiếm bằng võ lực đã xảy ra vào cuối thế kỷ XIII”

          Trong thực tế, đã có những việc xâm nhập êm thắm khi họ đi kiếm cỏ cho súc vật. Một vài chỗ, họ đã liên hiệp được với các bộ lạc Ca-na-an địa phương; nhưng rồi sau đó, những đám mới đến đã đụng độ với với các thành trì đã có sẵn. Khi thắng trận, dân Chúa tin rằng đó là chiến thắng của Gia-vê; nhưng cũng có lúc họ bại trận. Cũng theo các tác giả của cuốn Đi tìm Lời Chúa trong Thánh Kinh thì “…thừa lúc Giô-su-ê kéo quân xâm nhập Ca-na-an, các bộ lạc miền Bắc đã nổi lên chống lại đám lãnh chúa Ca-na-an ở tại địa phương ấy”

          Trở lại với trình thuật của sách Dân số, những chiến thắng của dân tộc Ít-ra-en tại những nơi đó đã giúp họ một lần nữa nhận ra rằng: Thiên Chúa là Đấng cứu độ của họ. Chính ở đây bắt đầu câu chuyện về ông Balaam - một phù thuỷ ở phương xa do người Mô-áp mời đến để nguyền rủa Ít-ra-en, được thêu dệt dưới hình thức một truyền thuyết. Khi dân của Thiên Chúa chọn đi trên con đường của tự do, họ phải đương đầu với nhiều nguy hiểm: kẻ thù và những sự hèn nhát của riêng họ trước những hy sinh cần thiết. Hơn nữa, có một hiểm nguy lớn hơn đang đe doạ mà họ không biết: đó là thầy phù thuỷ Balaam. Nhưng Thiên Chúa đã bảo vệ họ không những thoát khỏi kẻ thù nhân linh hữu hình, nhưng còn bảo vệ khỏi kẻ thù vô hình; đồng thời còn dùng chính miệng lưỡi của kẻ thù chúc phúc cho dân Ít-ra-en (xem Ds 23, 20-23; 24, 5-6). Ba-la-am lại còn tiên báo về vương triều Đa-vít:

          “Tôi trông thấy nó, nhưng không phải cho bây giờ, tôi ngó thấy nó, nhưng không phải gần đây; một tinh tú mọc lên từ Gia-cóp, một vương trượng dấy lên từ Ít-ra-en” (Ds 24, 17).

          Đến đây, nhiệm vụ của Mô-sê sắp chấm dứt. Ông đã dẫn dân từ Ai-cập đến ngưỡng cửa Đất Hứa. Giờ đây ông chia cho một số thị tộc phần đất đã chiếm được ở phía đông sông Gio-đan (xem Ds 32; Đnl 3, 12-17), ông qui định lại luật pháp cho dân và truyền lại cho Giô-su-ê quyền lãnh đạo dân (Đnl 31).

          Từ đồng bằng Mô-áp, Mô-sê lên đỉnh núi Nê-bô ở phía đông bắc Biển Chết và từ đó nhìn sang đất hứa, nơi ông đã ngưỡng vọng từ lâu, nhưng lại không được vào. Rồi ông từ trần. Kể từ đó, dân Ít-ra-en không bao giờ có một vị ngôn sứ như Mô-sê, người diện kiến Gia-vê (x. Đnl 34).

C. KẾT THÚC

1. Bài học áp dụng

          Thứ nhất, Giao ước Xi-nai là sự chuẩn bị của một giao ước mới thời Tân Ước, được ký kết và đóng ấn nhờ máu của Đức Giê-su Ki-tô. Chính Chúa Giê-su cũng khai mào Giao ước mới của Ngài bằng một bữa ăn. Vì vậy, khi tham dự thánh lễ, chúng ta lập lại giao ước mới, chúng ta ăn uống Mình và Máu Thánh Chúa, để có sự sống thần linh bổ sức trên đường về quê hương vĩnh cửu.

          Thứ hai, đối với người Ít-ra-en, hành trình tiến vào đất hứa là một trong những thử thách lớn nhất trong lịch sử. Đó là một thử thách về niềm tin mà đỉnh điểm của nó là những tháng năm sống vất vưởng ở Ca-đê. Tuy nhiên, chính trong những khó khăn đó mà họ đã nhận ra sự quan phòng của Thiên Chúa trong tương quan với họ là dân được tuyển chọn. Hành trình Xi-nai - Ca-đê - Gio-đan vừa là một dấu chỉ về tình yêu của Thiên Chúa; vừa là bảo chứng của một tình yêu cứu độ - Thiên Chúa, Đấng đã giải phóng dân Người khỏi ách nô lệ Ai-cập cũng sẽ cứu họ khi họ gặp nguy hiểm bị các kẻ thù tấn công. Hành trình tiến vào đất hứa của người Do-thái thật không đơn giản. Mỗi chặng đường đều có những gian nan vất vả riêng, nhưng trong mỗi khó khăn đó, Thiên Chúa luôn đồng hành và giúp đỡ họ. Đối với các Ki-tô hữu, cuộc đời chính là một cuộc Xuất hành về Thiên đàng. Trong cuộc xuất hành đó, nhiều chặng đường được xác lập không chỉ mang tính thử thách và rèn luyện; nhưng còn mang ý nghĩa là ý muốn của Thiên Chúa, để thông qua đó, Ngài tỏ lộ tình yêu cứu độ đối với mỗi người như xưa Ngài đã từng đối xử với dân Do-thái trong Hành trình tiến vào đất hứa.

2. Gợi ý cầu nguyện

          Lạy Chúa, chúng con cám ơn Chúa đã hạ mình để ký kết Giao ước với loài người chúng con. Xin Chúa cũng tiếp tục nâng đỡ và đồng hành với chúng con trong mọi hoàn cảnh, biến cố của cuộc đời. Chúng con ca tụng lòng nhân từ khoan dung của Chúa đã tha thứ  và đồng hành chúng ngay cả khi chúng con lầm lỗi và vi phạm giới răn của Chúa. Xin cho chúng con biết chỗi dạy, luôn vững niềm tin tưởng vào tình thương của Chúa và tuân giữ Thập điều giao ước với tất cả lòng yêu mến và đem ra thực hành trong đời sống chúng con.

          Qua Giao Ước Xi-nai, Máu chính là biểu tượng của sự sống, Bữa Ăn chính là bữa “chia sẻ sự sống” cho nhau, và Lời của giao ước chính là “Lời” Thiên Chúa được diễn tả qua các lề luật. Tất cả nghi lễ giao ước đó được kiện toàn trong Chúa Giê-su Ki-tô vì chính Ngài là giao ước và Ngài cũng chính là Lời Thiên Chúa nhập thể, lời của tình yêu, hòa bình và công lý, lời của hiệp nhất và ơn cứu rỗi. Xin cho chúng con biết ý thức siêng năng tham dự Thánh Lễ, tự hiến tế đời mình để thông phần vào của lễ hiến tế của Chúa Chúa Giê-su trên thập giá và trong Thánh Lễ Mi-sa mỗi ngày trên bàn thờ. Và xin cho mỗi người chúng con biết thực hành các giao ước của Chúa, đặc biệt là Lời Chúa trong cuộc sống của chúng con sau Thánh Lễ như là nhân chứng và là kiểu mẫu cho toàn thế giới noi theo. Amen.

BẠN CÓ BIẾT ?

SÁCH GIU-ĐI-THA

Sách kể lại cuộc giải cứu thành Bê-tu-li bị bao vây dưới thời vua Na-bu-cô-đô-nô-sô. Là một quả phụ trẻ đẹp, bà Giu-đi-tha đã một thân một mình tiến vào doanh trại của quân thù. Tướng Hô-lô-phe-nơ mê sắc đẹp của bà, đem bà vào lều và bị bà cắt đầu. Đây là một tiểu thuyết lịch sử ca ngợi lòng tin vào Thiên Chúa và lòng yêu nước.

SÁCH ÉT-TE

Sách kể lại chuyện bà Ét-te, một người phụ nữ Do Thái trẻ đẹp trong thời lưu đày được chọn làm hoàng hậu nước Ba Tư, và nhờ đó mà phá vỡ được âm mưu tiêu giệt dân Do Thái.

SÁCH MA-CA-BÊ 1 VÀ 2

Hai sách Ma-ca-bê không tiếp nối nhau nhưng cũng thuật lại những hồi quan trọng lịch sử dân Ít-ra-en từ nửa đầu thế kỷ thứ 2 trước công nguyên. Dưới quyền các vua Ba Tư và Hi-lạp, xứ Pa-lét-tin vẫn được hưởng tự do tôn giáo cho đến năm -167. Vào năm này, vị vua thuộc triều Sơ-lu-cô là An-ti-ô-cô IV Ê-pi-pha-nô quyết định dùng vũ lực bắt ép người Do Thái phải thờ phụng và tin tưởng như người Hy Lạp. Ông đã đặt tượng thần Giu-pi-te cả trong đền thờ Giê-ru-sa-lem. Nhiều người Do Thái thà chết chứ không bỏ đạo.

Tư tế Ma-ta-thi-a đã cùng với 5 người con trốn vào bưng. Một trong 5 người ấy là Giu-đa, biệt danh là Ma-ca-bê nổi bật với những cú đấm ngàn cân. Cuối cùng các vua triều Sơ-lu-cô phải bó tay trước đám du kích và quốc gia Do Thái được tái lập.

SÁCH GIÓP

Tác giả sách Gióp vẽ lên một nhân vật tiêu biểu để giúp ta suy nghĩ về sự đau khổ. Ông Gióp là một người tốt lành, phúc hậu. Bỗng dưng trong phút chốc ông mất hết của cải, con cái và sức khoẻ. Bạn hữu nhắc nhở ông rằng ông có phạm tội gì đó mới bị phạt như thế. Nhưng cuối cùng, ông được minh oan và được an ủi: ông được bù đắp cả về sức khoẻ và tài sản, gia đình và danh dự.

SÁCH THÁNH VỊNH

Đây là sưu tập các bài thơ dùng để hát trong việc thờ phượng của người Do Thái. Vua Đa-vít được coi là ông tổ của ngành Thánh Vịnh, bởi đó, nhiều Thánh Vịnh được quy cho ông, nhưng rất khó xác định Thánh Vịnh nào do ông làm ra. Rất nhiều bài được viết trong thời lưu đày và sau lưu đày.

Hội Thánh Công Giáo đã dùng các Thánh Vịnh làm lời cầu nguyện chính thức của mình, không sửa đổi, bởi vì những lời ấy diễn tả thái độ mà mọi người phải có trước mặt Thiên Chúa. Nhờ Đức Kitô, các Thánh Vịnh còn mang thêm ý nghĩa mới mẻ và phong phú.

SÁCH CHÂM NGÔN

Sách này thu góp nhiều châm ngôn nhằm dạy lẽ khôn ngoan, nghĩa là nghệ thuật ăn ở sao cho phù hợp với thánh ý Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh ở đời.

SÁCH GIẢNG VIÊN

Sách Giảng Viên còn gọi là sách Qohêlet (Cô-hê-lét). Tiếng này có nghĩa là “Người lên tiếng trong cộng đoàn”. Sách xuất hiện vào thế kỷ 5 trước công nguyên. Nó trình bày một suy tư khác thường về ý nghĩa đời người: tất cả đều monh manh hão huyền.

SÁCH DIỄM CA (HAY DIỆU CA)

Tựa đề sách có nghĩa là ca khúc đẹp nhất. Nó là một sưu tập thơ tình yêu, ca ngợi phẩm giá tình yêu nhân loại, đã được dùng là hình ảnh quan hệ yêu thương mà nhờ giao ước, Thiên Chúa đã thiết lập giữa Ngài với dân Ngài, giữa Ngài và người tín hữu, giữa Đức Kitô và Hội Thánh.

 

BÀI 8

VIỆC THÀNH LẬP VƯƠNG QUỐC ÍT-RA-EN VÀ VUA ĐA-VÍT

A. DẪN NHẬP

1. Thánh hóa đầu giờ

          Lạy Chúa, khi lãnh nhận Chúa Thánh Thần trong ngày Lễ Ngũ Tuần các Tông Đồ đã trở nên những con người hoàn toàn mới. Không bao giờ chúng con có thể khám phá hết những điều kỳ diệu mà Chúa đã dành cho chúng con. Hôm nay, chúng con cũng qui tụ nơi đây để học hỏi Lời chúa, chúng con nài xin Chúa tuôn đổ Ơn Chúa Thánh Thần xuống cho chúng con, xin ban ơn soi sáng cho chúng con thấu hiểu những điều Chúa dạy. Amen.

2.    Câu chuyện minh hoạ “Những người tình nguyện”

          Ngày xưa có một vị Giáo hoàng nhân từ. Ngài bị đau tim nặng, vì thế ngài cần được thay tim. Tin buồn này được thông báo cho đám đông trên Quảng trường Thánh Phêrô với lời kêu gọi một người tình nguyện cho tim. Để đáp lại, hầu hết những người đàn ông có mặt đều giơ tay lên.

          Vì có quá nhiều người tình nguyện, trong khi đó chỉ cần một người, vị Hồng Y – thư ký thông báo rằng, việc chọn lựa người tình nguyện sẽ được thực hiện bằng cách ngài thả một cái lông chim từ ban công của Đức Giáo hoàng và cái lông chim ấy rơi trúng người nào, người đó sẽ được đặc ân hiến cho Đức Giáo hoàng trái tim của mình. Cái lông chim được thả xuống, nó từ từ đong đưa trong không trung rồi xuống thấp dần.

          Nhưng khi nó lướt bồng bềnh trên đầu của những người tình nguyện, thì: “Phù….. phù”, họ dùng hết sức thổi nó đi chỗ khác! Cái lông chim rơi xuống đất không chạm vào một ai!!!

3. Dẫn vào bài

          Thực tế cuộc sống cho ta thấy, tuyên xưng lòng trung tín và đức tin bằng lời là chuyện dễ. Nhưng giữ được lòng trung tín và đức tin là việc thật khó vì nó đòi hỏi sự hy sinh rất lớn.

          Cũng vậy, trong trình thuật Thánh Kinh, chúng ta được biết đến hai khuôn mặt khác nhau của hai vị vua tiên khởi là Sa-un và Đa-vít. Vua Sa-un thì tuyên xưng lòng trung tín và đức tin của mình bằng lời nói, nhưng trong thực hành thì lại không giữ, nên cuối cùng bị Thiên Chúa truất phế; ngược lại, vua Đa-vít không chỉ tuyên xưng bằng lời nói, nhưng bằng cả tấm lòng và cả cuộc đời của mình, cho nên được Thiên Chúa chúc phúc và thiết lập cho triều đại ấy được bền vững đến muôn đời. Đó chính là nội dung mà chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu hôm nay.

4. Đọc Thánh Kinh (1 Sm 16, 1 - 23)

          Lời Chúa trong sách Sa-mu-en quyển thứ nhất.

          ĐỨC CHÚA phán với ông Sa-mu-en: "Ngươi còn khóc thương Sa-un cho đến bao giờ, khi ta đã gạt bỏ nó, không cho làm vua cai trị Ít-ra-en nữa ? Ngươi hãy lấy dầu đổ đầy sừng và lên đường. Ta sai ngươi đến gặp Gie-sê người Bê-lem, vì Ta đã thấy trong các con trai nó một người Ta muốn đặt làm vua." Ông Sa-mu-en thưa: "Con đi thế nào được ? Vua Sa-un mà nghe biết thì vua sẽ giết con !" ĐỨC CHÚA phán: "Ngươi hãy đem theo một con bò cái tơ và hãy nói: 'Tôi tới đây là để dâng hy lễ lên ĐỨC CHÚA.' Ngươi sẽ mời Gie-sê đến dự hy lễ; phần Ta, Ta sẽ cho ngươi biết điều ngươi phải làm, và ngươi sẽ xức dầu tấn phong cho Ta kẻ Ta sẽ nói cho ngươi hay." Ông Sa-mu-en làm điều ĐỨC CHÚA đã phán ; ông đến Bê-lem và các kỳ mục trong thành run sợ ra đón ông. Họ nói: "Ông đến có phải là để đem bình an không ?" Ông trả lời: "Bình an ! Tôi tới đây là để dâng hy lễ lên ĐỨC CHÚA. Các ông hãy thanh tẩy mình và đến dự hy lễ với tôi." Ông thanh tẩy ông Gie-sê và các con trai ông ấy và mời họ đến dự hy lễ. Khi họ đến, ông thấy Ê-li-áp, ông nghĩ: "Đúng rồi ! Người ĐỨC CHÚA xức dầu tấn phong đang ở trước mặt ĐỨC CHÚA đây !" Nhưng ĐỨC CHÚA phán với ông Sa-mu-en: "Đừng xét theo hình dáng và vóc người cao lớn của nó, vì Ta đã gạt bỏ nó. Thiên Chúa không nhìn theo kiểu người phàm: người phàm chỉ thấy điều mắt thấy, còn ĐỨC CHÚA thì thấy tận đáy lòng." Ông Gie-sê gọi A-vi-na-đáp và cho cậu đi qua trước mặt Sa-mu-en, nhưng ông Sa-mu-en nói: "Cả người này, ĐỨC CHÚA cũng không chọn." Ông Gie-sê cho Sa-ma đi qua, nhưng ông Sa-mu-en nói: "Cả người này, ĐỨC CHÚA cũng không chọn." Ông Gie-sê cho bảy người con trai đi qua trước mặt ông Sa-mu-en, nhưng ông Sa-mu-en nói với ông Gie-sê: "ĐỨC CHÚA không chọn những người này." Rồi ông lại hỏi ông Gie-sê: "Các con ông có mặt đầy đủ chưa ?" Ông Gie-sê trả lời: "Còn cháu út nữa, nó đang chăn chiên." Ông Sa-mu-en liền nói với ông Gie-sê: "Xin ông cho người đi tìm nó về, chúng ta sẽ không nhập tiệc trước khi nó tới đây." Ông Gie-sê cho người đi đón cậu về. Cậu có mái tóc hung, đôi mắt đẹp và khuôn mặt xinh xắn. ĐỨC CHÚA phán với ông Sa-mu-en : "Đứng dậy, xức dầu tấn phong nó đi ! Chính nó đó !" Ông Sa-mu-en cầm lấy sừng dầu và xức cho cậu, ở giữa các anh của cậu. Thần khí ĐỨC CHÚA nhập vào Đa-vít từ ngày đó trở đi. Ông Sa-mu-en đứng dậy và đi Ra-ma. Thần khí ĐỨC CHÚA rời khỏi vua Sa-un và một thần khí xấu từ ĐỨC CHÚA đến ám vua.  Triều thần nói với vua Sa-un: "Ngài thấy đó, một thần khí xấu của Thiên Chúa ám ngài. Xin ngài truyền. Bề tôi của ngài đang ở trước mặt ngài: họ sẽ tìm một người biết gảy đàn, và khi thần khí xấu của Thiên Chúa xuống trên ngài, thì người ấy sẽ gảy đàn và ngài sẽ cảm thấy dễ chịu." Vua Sa-un nói với triều thần: "Các người hãy đi tìm cho ta một tay gảy đàn giỏi và đưa đến cho ta." Một người trong đám gia nhân thưa rằng: "Tôi biết ông Gie-sê người Bê-lem, có một người con trai biết gảy đàn. Anh ta là một dũng sĩ can đảm, một chiến binh, một người có tài ăn nói, đẹp trai, và ĐỨC CHÚA ở với anh." Vua Sa-un sai sứ giả đến với ông Gie-sê và nói với ông: "Ngươi hãy gửi cho ta Đa-vít, con ngươi, đứa chăn chiên." Ông Gie-sê bắt một con lừa, cho chở bánh, một bầu da rượu, và một con dê con, rồi sai Đa-vít, con ông, mang đến cho vua Sa-un. Đa-vít đến với vua Sa-un và chầu chực trước mặt vua. Vua thương cậu lắm và cậu trở thành người hầu cận của vua. Vua Sa-un sai người đến nói với ông Giê-sê: "Hãy để Đa-vít chầu chực trước mặt ta, vì nó được đẹp lòng ta." Như vậy, khi thần khí Thiên Chúa xuống trên vua Sa-un, thì Đa-vít cầm đàn và gảy. Bấy giờ vua Sa-un nguôi bệnh, cảm thấy dễ chịu, và thần khí xấu rời khỏi vua.

          Đó là Lời Chúa.

B. NỘI DUNG

1. Thành lập vương quốc Ít-ra-en

          a. Từ bộ lạc đến vương quốc

          Miền đất Thiên Chúa hứa ban cho dân Ít-ra-en nằm hai bên bờ sông Gio-đan. Cho đến cuối đời, Mô-sê mới chỉ chiếm được một phần đất phía đông (Ds 13). 40 năm trôi qua kể từ lễ Vượt qua đầu tiên, hầu hết những người Ít-ra-en lớn tuổi ra đi từ Ai-cập đều đã bỏ mình trong Sa mạc. Ông Mô-sê cũng cùng chung một số phận ấy với dân chúng. Sau khi được Thiên Chúa đưa lên một ngọn núi cao (núi Nê-bô) để nhìn thấy miền đất Ngài sắp ban cho dân, ông đã qua đời trong Sa mạc (x. Đnl 34). Sau đó, ông Giô-su-ê - một người trợ tá của ông Mô-sê được Thiên Chúa trao trách nhiệm đưa dân Ít-ra-en vào đất hứa.

          Sau khi vào đất hứa, dân Ít-ra-en chưa được tổ chức thành một nước. Suốt 200 năm, họ sống không có vua quan, chỉ một mình Thiên Chúa đích thân hướng dẫn họ. Những khi cần, Thiên Chúa đã chọn một thủ lãnh từ giữa các chi tộc, để giúp họ chống ngoại xâm và để giúp họ sống trung thành với Giao ước. Những thủ lãnh ấy thực hiện các phán quyết của Thiên Chúa nên được gọi là các thẩm phán hay các phán quan. Nổi bật nhất trong số đó là các ông Ghê-đê-ôn, Sam-son, Giép-tê… và vị thẩm phán cuối cùng là ngôn sứ Sa-mu-en, một ngôn sứ nổi bật về thái độ lắng nghe tiếng Chúa [1].

          Vào cuối thời đại các thủ lãnh, dân Ít-ra-en thấy cần phải có sự thống nhất về mặt chính trị thì mới đương đầu nổi với ngoại bang, vì thế họ xin Sa-mu-en, vị thủ lãnh cuối cùng lập cho họ một vua: đó là Sa-un. Nền quân chủ bắt đầu từ đó và sẽ kéo dài trong vòng 450 năm, cho đến khi dân bị đem đi lưu đày bên Ba-bi-lon.

          b. Thời các thẩm phán

          Sau khi chiếm xong Ca-na-an, mười hai chi tộc sống trong mười hai lãnh thổ của mình, nhưng cùng làm thành một quốc gia, một quốc gia không vua, chỉ hợp nhất bằng tôn giáo mà tượng trưng là khám Giao ước, đặt tại Si-lô, thuộc chi tộc Ép-ra-im (Gs 18, 1).

          Trong giai đoạn này, người Do-thái và người Ca-na-an vẫn sống lẫn lộn với nhau, các chi tộc độc lập về chính trị, chỉ liên minh về mặt tôn giáo. Khi có giặc ngoại xâm, các chi tộc liên minh lại, bầu ra một vị thủ lãnh để chống giặc. Thời này có hai mối nguy lớn: Về tôn giáo: vì có dân ngoại sống hỗn hợp nên nhiều người Do-thái thờ thần ngoại. Về chính trị: còn yếu nên thường bị các dân tộc xung quanh đánh phá. Thời kỳ này ít quan trọng đối với lịch sử, ngoại trừ việc Ít-ra-en đã hai lần bỏ rơi Thiên Chúa để tôn thờ ngẫu tượng là thần Ba-an và At-ta-rôt. Vì thế, Thiên Chúa đã trừng phạt họ, Ngài để cho ngoại bang xâm lăng. Nhưng Thiên Chúa từ bi đã không bỏ rơi dân đã tuyển chọn, Ngài cho xuất hiện những anh hùng mà ta gọi là Thủ lãnh (Thẩm phán) để dẹp giặc. Thánh Kinh đã ghi lại 12 Thủ lãnh sau:

          Sáu Thủ lãnh nhỏ: Sam-ga, Tô-la, Gia-ia, Ip-xan, Ê-lon và Ấp-đon.

          Sáu Thủ lãnh lớn: Ốt-ni-an, Ê-hút, Ba-rác, Gít-on, Gíp-ta và Sam-son

          * Gít-ôn (thắng quân Ma-đi-an). Đầu tiên Thiên Chúa gọi ông, ông thoái thác, nhưng Chúa hứa ở với ông (Tl 6,11-21). Việc tuyển lựa binh sỹ giảm từ 22.000 xuống còn 10.000, cuối cùng còn 300 mà vẫn thắng. Điều đó cho thấy sự cứu thoát là bởi quyền năng Thiên Chúa chứ không phải sức mạnh của con người (x. Tl 7,1-10).

          * Gíp-ta (thắng quân A-môn). Ông vướng phải lời thề oan nghiệt. Ông thề nếu chiến thắng trở về sẽ sát tế người nào mình gặp đầu tiên để dâng cho Chúa, không ngờ đó lại là con gái của mình (x. Tl 10,12). Lời thề tuy thô sơ, nhưng cũng làm nổi bật sự tuân giữ lời hứa một cách nghiêm túc cho dù phải tan nát cõi lòng.

          * Sam-son: Có sức mạnh vô địch, nhưng lại nhu nhược trước sắc đẹp và rượu chè, nên cuối cùng chết cách nhục nhã.

          Tóm lại, Thủ lãnh là những người hèn kém yếu đuối, nhưng họ được Thiên Chúa hỗ trợ, nên đã thực hiện được những việc phi thường. Điều đó cho thấy, Thiên Chúa muốn chọn sự bất toàn để làm những công việc vĩ đại miễn là đương sự để cho Thiên Chúa dẫn dắt mình.

          c. Khởi đầu thời quân chủ

          * Sa-mu-en: Ông sinh khoảng năm 1060 TCN lúc cha mẹ đã già (ông En-ca-na và bà An-na). Ngay từ nhỏ, ông đã được đưa vào Thánh điện để phụng sự Thiên Chúa thời tư tế Ê-li. Tại đây, vào một đêm ông đã được Thiên Chúa gọi, ông đáp lại: “Lạy Chúa, xin hãy phán dạy, tôi tớ Chúa đang lắng nghe” (1Sm 3,10).

          Trong vòng 20 năm từ khi Ê-li chết, Sa-mu-en là người lãnh đạo Ít-ra-en. Ông là vị thẩm phán cuối cùng và là vị ngôn sứ thứ nhất. Đời ông không hạnh phúc, vì Khám giao ước bị kẻ thù cướp mất, dân lại mất niềm tin vào Thiên Chúa.

* Vua Sa-un: Ít-ra-en luôn bị ngoại bang xâm lăng, họ cho rằng nguyên nhân là vì họ không có vua như những dân tộc khác. Vì thế, họ đòi Sa-mu-en phải tấn phong cho họ một vị vua. Dù Sa-mu-en không muốn, nhưng cuối cùng ông cũng đặt một người làm vua theo lời Thiên Chúa bảo (x.1Sm 8,19-22). Vị vua đầu tiên là Sa-un, thuộc chi tộc Ben-gia-min.

          Nếu xét về mặt chính trị thì khi có vua, các chi tộc sẽ liên minh chặt chẽ hơn, tổ chức quân đội sẽ hữu hiệu hùng cường hơn, nhưng đọc yêu cầu của dân chúng bằng cặp mắt đức tin thì quả thật yêu cầu này đã gián tiếp hạ bệ Thiên Chúa. Bởi vì, từ trước đến giờ chỉ có một mình Gia-vê Thiên Chúa là vua duy nhất trên dân Ít-ra-en. Sa-mu-en đã chọn theo đức tin nhưng sau này thì Chúa truyền dạy, nên ông vâng phục và xức dầu phong vương cho Sa-un dẫu rằng việc làm này đi ngược lại với quan điểm của ông và gây cho ông nhiều đau khổ. Là người được Thiên Chúa tuyển chọn và xức dầu để đại diện cho Ngài, nhưng Sa-un đã nghe lời dân chúng hơn nghe lời Thiên Chúa. Vì thế ông bị Thiên Chúa loại bỏ. Kể từ đó, vua Sa-un luôn âu lo buồn phiền và trở nên tiều tuỵ. Ông ghen tị với công lao của Đa-vít và tìm cách để giết hại. Nhưng cuối cùng chính cuộc đời của ông lại kết thúc cách bi thảm.

2. Vua Đa-vít

          a. Vua Đa-vít với lời hứa của Thiên Chúa

- Vua Đa-vít

          Vua Sa-un không chu toàn nghĩa vụ, Sa-mu-en đã đến Bê-lem, tại nhà ông Giê-sê thuộc chi tộc Giu-đa để sức dầu phong vương cho cậu út Đa-vít (x. 1Sm 16,1-13). “Đừng xét theo hình dáng bên ngoài. Người phàm chỉ thấy điều mắt thấy, còn Đức Chúa thì thấy tận đáy lòng” (1 Sm ).

          Lúc đầu Đa-vít chỉ là tuỳ tùng của vua Sa-un, sau thành sỹ quan xuất sắc. Nhưng Sa-un luôn ghen ghét với Đa-vít vì ông thành công hơn, nên ông phải trốn đi. Ngược lại, Đa-vít luôn kính trọng Sa-un, vì là người được Thiên Chúa sức dầu. Hơn nữa, Đa-vít lại là bạn thân của Gio-na-than, con trai của Sa-un, và là con rể của vua.

          Khoảng năm 1000 TCN, vua Sa-un chết, Đa-vít lên kế vị ngai vàng. Ông có một hành động khôn ngoan là dời đô về Giê-ru-sa-lem, một thành không thuộc chi tộc nào. Từ đây, Giê-ru-sa-lem trở thành trung tâm chính trị, tôn giáo của Ít-ra-en. Dưới triều đại của ông, Ít-ra-en đã trở thành một quốc gia hùng cường trong vùng.

          Câu chuyện về cuôc đời Đa-vít sẽ thiếu sót nếu bỏ qua một trọng tội mà ông đã phạm: ngoại tình với vợ của Uria là Bát-sê-va, rồi âm mưu giết Uria để cưới nàng làm vợ. Nhưng Đa-vít đã vô cùng hối hận khi bị tiên tri Na-than khiển trách, ông nói: “Tôi đã phạm tội nghịch với Gia-vê” (1 V  ). Sau đó ông trai tịnh bảy ngày đêm. Một trong những hậu quả của tội ông đã phạm là Áp-sa-lôm, một người con của ông đã nổi loạn để cướp ngôi cha, rồi bị giết. Tuy nhiên, vua Đa-vít vẫn luôn thương đứa con ngỗ nghịch này. Ông đã khóc lóc thảm thiết khi hay tin con bị giết: “Áp-sa-lôm con ơi! Áp-sa-lôm con ơi! Phải chi cha chết thay cho con” (2V 18,33). Đa-vít quả là một con người lạ thường: một cậu bé chăn cừu, một chiến sỹ anh hùng, một người si tình đến sát nhân, một thi sỹ, một đế vương, một người tội lỗi, một người biết thống hối, một người cha nhân từ, một người bạn trung tín.

          Tóm lại, Cuộc đời Đa-vít được đan dệt bởi ánh sáng và bóng tối. Nhưng trên hết mọi sự, Đa-vít luôn có lòng khiêm tốn và mến Chúa chân thành, vì vậy dù vấp váp, sa ngã ông vẫn được Chúa tha thứ và nâng đỡ trong cuộc đời.

          - Lời hứa của Thiên Chúa

          Sau khi đã chinh phục xong đất Ca-na-an, thiết lập biên giới rõ rệt, chọn Giê-ru-sa-lem làm thủ đô, vua Đa-vít nghĩ đến việc xây cất cho Thiên Chúa một đền thờ. Nhưng qua miệng ngôn sứ Na-than Thiên Chúa nói không phải Đa-vít làm cho Chúa, nhưng chính Chúa làm cho Đa-vít: “Ta sẽ làm cho ngai vàng của nó vững bền mãi mãi. Đối với nó Ta sẽ là cha, đối với Ta nó sẽ là con. Ta sẽ cho vương quyền nó vững mạnh” (x. 2Sm 7,13-16).

          Tại sao Đa-vít muốn xây dựng đền thờ cho Thiên Chúa? Một mặt vì lòng nhiệt thành của ông với Chúa; mặt khác, lòng dân sẽ hướng về đền thờ Thiên Chúa tại Giê-ru-sa-lem, cũng có nghĩa là họ hướng về triều đại Đa-vít. Kể từ đó, nghĩa là khi có lời sấm về Đấng Cứu Độ, trải qua bao thế hệ người Do-thái vẫn mong chờ Vị Cứu Tinh phát xuất từ dòng dõi Đa-vít.

          Lời sấm này thường được nhắc lại trong các sách khác của Cựu Ước, ngụ ý nói rằng: vương quốc của Đa-vít sẽ phổ quát cả về không gian và thời gian. Hơn nữa, các vua kế vị Đa-vít sẽ được gọi là con của Thiên Chúa. Điều này có nghĩa là các vua thuộc dòng dõi Đa-vít được bước vào giao ước Mô-sê và tôn giáo Mô-sê một cách độc đáo. Vị Cứu Tinh hay Đấng Cứu Độ ấy là chính Chúa Giê-su (x. Lc 1,32-33).

          Từ đây dân Ít-ra-en luôn hướng về triều đại và các vua thuộc dòng tộc Đa-vít, vì biết đâu vị vua này chính là Đấng Mê-si-a, hay ít ra họ cũng là trung gian làm cho Chúa Cứu Thế mau xuất hiện.

          Như thế với Đa-vít, chương trình cứu độ của Thiên Chúa tiến thêm một bước đầy ý nghĩa. Như Áp-ra-ham là cha của tất cả dân tộc Ít-ra-en, như Mô-sê là trung gian để Thiên Chúa ràng buộc Ngài với dân tộc này, thì Đa-vít là vị  vua Thiên Chúa chọn để thiết lập một vương quốc mà một ngày nào đó sẽ trở nên vĩnh cửu và phổ quát.

          b. Sau thời vua Đa-vít

          - Vua Sa-lô-môn: Ông là con trai của bà Bát-sê-va được chọn làm vua thể theo quyết định của vua Đa-vít lúc lâm chung. Lúc đầu, vua Sa-lô-môn rất khiêm tốn và đạo hạnh, nhưng sau vì say mê sắc dục nên xuống dốc (x. 1V 11,1-8). Mặt phải của ông là phát triển đất nước, xây cất đền thờ, tổ chức nghi lễ. Nhưng mặt trái của ông là thờ lạy tà thần, sưu cao thuế nặng, giữ đạo hình thức mà không có chiều sâu.

          Tuy nhiên, ông cũng có công là xây dựng Đền thờ nguy nga, lộng lẫy cho Thiên Chúa trong vòng 7 năm. Đền thờ dài độ 27 mét, rộng 9 mét, cao 13,5 mét, chia làm 3 phần chính: tiền đình, nơi thánh và nơi cực thánh. Khám giao ước được đặt ở giữa nơi cực thánh. Chỉ một mình vị thượng tế mới được phép vào nơi cực thánh một năm một lần vào dịp lễ đền tội. Ngoài ra, vua Sa-lô-môn cũng được mệnh danh là khôn ngoan, trong đó những lời khôn ngoan của ông đã được ghi lại trong sách Khôn ngoan và sách Thánh vịnh.

          - Sự phân chia vương quốc: Vua Sa-lô-môn chết, con là Rơ-kháp-am lên kế vị. Ông đã không giảm sưu thuế cho dân mà còn tăng thêm, nhất là khi dân chúng miền Bắc cho rằng chi tộc Giu-đa ở miền Nam không phải đóng thuế. Mối ganh tị Nam- Bắc có từ thời vua Đa-vít ngày càng tăng. Dưới sự lãnh đạo của Gia-róp-am (người miền Bắc thuộc chi tộc Ép-ra-im), toàn dân miền Bắc nổi lên chống lại dân miền Nam và đòi ly khai. Hậu quả là đất nước bị phân chia (khoảng năm 931): miền Nam gọi là nước Giu-đa, miền Bắc gọi là Ít-ra-en. Miền Bắc gồm 10 chi tộc, miềm Nam chỉ còn có chi tộc Giu-đa, một phần chi tộc Ben-gia-min và Si-mê-on.

          Để ngăn cản dân đi về Giê-ru-sa-lem, vua Gia-róp-am miền Bắc đã cho xây dựng hai đền thờ tại Đan và Bê-ten và cho thờ tượng bê vàng. Chính sự chia rẽ này là nguyên nhân làm cho vương quốc Ít-ra-en suy yếu và sau cùng dẫn tới thảm hoạ bị ngoại bang xâm chiếm và bị bắt đi lưu đày.

C. KẾT THÚC

1. Bài học áp dụng

          Nhìn vào dân Ít-ra-en, chúng ta thấy họ thiếu tin tưởng vào sự quan phòng của Thiên Chúa. Họ đã gián tiếp chối từ Thiên Chúa là vị vua của mình để chọn lựa một con người, nên đã bị Ngài để cho dân Phi-li-tinh quấy phá. Từ kinh ngiệm đó của dân Do-thái, mỗi người trong chúng ta được mời gọi đặt trọn niềm tin nơi Thiên Chúa, chọn Ngài là vị vua duy nhất thống trị lòng mình bằng cách khước từ những đam mê và sự quyễn rũ của sắc dục, tiền bạc hay danh vọng. Biết làm chủ bản thân trong mọi trường hợp ở mọi nơi, mọi lúc và mọi hoàn cảnh khó khăn nhất để được hưởng bình an nơi Thiên Chúa.

          Nhìn vào vua Đa-vít, chúng ta thấy ông là một người lãnh đạo tài ba, có đời sống thánh thiện và cầu nguyện sâu xa. Khi sa ngã, ông đã biết ăn năn trở lại. Là người lãnh đạo, ông đã cầu nguyện cho dân và nhân danh dân mình mà cầu nguyện. Ông còn làm nhiều thánh vịnh để ca tụng tình thương của Thiên Chúa. Nơi vua Đa-vít, ta học được tình bạn chân thật, lòng yêu mến quê hương dân tộc và nhất là đời sống đạo đức thâm sâu. Luôn vâng theo tiếng Chúa, biết hối cải khi lầm lỗi và chuyên chăm cầu nguyện.

2. Gợi ý cầu nguyện

          Lạy Chúa, trên bước đường theo Chúa hôm nay, nhiều lúc lòng tin của con bị chao đảo, vấp ngã, xin cho con được như Đa-vít luôn biết tin tưởng vào Chúa trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống, biết học nơi mẫu gương Đa-vít lòng nhiệt thành và quảng đại. Mặc dù Đa-vít thánh thiện nhưng cũng đã sa ngã phạm tội, xin cho con biết khôn ngoan, can đảm tránh xa những dịp tội và những cám dỗ của thế gian. Amen.

BẠN CÓ BIẾT ?

SÁCH KHÔN NGOAN

Đây là cuốn sách ra đời muộn nhất trong các sách Cựu ước, được soạn bằng tiếng Hi-lạp, vào thế kỷ thứ 1 trước công nguyên. Theo tác giả, sự khôn ngoan đích thật chỉ đến cùng Thiên Chúa, ai được nó thì có hạnh phúc, nhưng muốn có, phải cầu nguyện. Ông nhắc đến những kỳ diệu của công trình sáng tạo và của lịch sử để ca ngợi sự quan phòng sáng tạo của Thiên Chúa. Ông cũng quả quyết rằng sau khi chết, người lành sẽ được hưởng hạnh phúc vĩnh viễn với Thiên Chúa.

SÁCH HUẤN CA

Đây là công trình của một hiền nhân thế kỷ thứ 2 trước công nguyên, tên là “Giê-su con của Si-rắc”. Theo ông, sự khôn ngoan chính là sách luật giao ước, người khôn ngoan đích thật chính là người trung thành phụng sự luật Thiên Chúa.

SÁCH I-SAI-A

Một thi sĩ là I-sai-a được Thiên Chúa ban nhiệm vụ ngôn sứ vào năm -740, lúc 25 tuổi. Nhiệm vụ của ông là loan báo sự sụp đổ của Ít-ra-en và của Giu-đa; loan báo những hình phạt dành cho sự bất trung của dân. Ông thi hành sứ vụ trong 40 năm, vào thời nước Át-xi-ri đang chiếm ưu thế và thường xuyên đe doạ Ít-ra-en và Giu-đa.

I-sai-a là vị ngôn sứ của lòng tin. Trong những cuộc khủng hoảng của dân tộc, ông đòi hỏi mọi người chỉ tin tưởng nơi một mình Thiên Chúa.

Các chương 40-55 do một tác giả khác (gọi là I-sai-a thứ 2) viết trong thời lưu đày ở Ba-bi-lon, nhằm an ủi dân chúng và hướng lòng họ mong chờ ngày Thiên Chúa cứu chuộc. Phần này cũng nhấn mạnh Thiên Chúa là Thiên Chúa duy nhất, khôn ngoan và quan phòng. Trong phần này có 4 bài ca về Người Tôi Tớ Thiên Chúa, báo trước về Đức Kitô.

Các chương 56-66 được coi là công trình của một ngôn sứ khác nữa  (gọi là I-sai-a thứ 3).

SÁCH GIÊ-RÊ-MI-A

Giê-rê-mi-a là ngôn sứ ở Giê-ru-sa-lem sau I-sai-a khoảng 1 thế kỷ (năm -650). Ông đầy lòng yêu dân, nhưng ông lại là người cô độc, không được cảm thông, thường bị ngược đãi. Ông đã rao giảng, đe doạ, báo trước sự sụp đổ, cảnh cáo nhưng vô hiệu. Các vua bất tài kế tiếp nhau trên ngai vàng Đa-vít. Ông bị giới quân sự tố cáo là chủ bại, rồi bị bỏ tù. Năm -597, vua Na-bu-cô-đô-nô-sô chinh phục Giê-ru-sa-lem và bắt dân đi đày. Năm -587, dân Giê-ru-sa-lem nổi loạn, quân Ca-đê lại kéo đến chiếm thành, đốt đền thờ và bắt thêm dân đi lưu đày. Sau khi Giê-ru-sa-lem mất, Giê-rê-mi-a quyết ở lại quê nhà, nhưng sau đó, một nhóm người Do Thái chạy trốn sang Ai-cập đã lôi ông đi theo, và có lẽ ông đã chết ở Ai-cập.

 

Bài 9

KHÁI QUÁT VỀ CÁC NGÔN SỨ

A. DẪN NHẬP

1. Thánh hoá đầu giờ

          Lạy Chúa Thánh Thần, xin đổi mới chúng con, và dẫn đưa chúng con về đường chân lý. Xin ban cho mỗi người chung con biết yêu thương nhau, tôn trong nhau, cùng nhau xây dựng nước Chúa ngay ở trần gian này. Và giờ đây, xin cho chúng con hiểu được ý Chúa qua sứ điệp của các ngôn sứ trong bài học hôm nay. Amen.

2. Câu chuyện minh họa

          Một buổi chiều, có lữ khách nghèo tìm đến trước một dinh thự nằm ở ven rừng để xin trọ qua đêm. Không ngờ đây lại là nơi nghỉ chân sau những chuyến đi săn của một nhà quý tộc giàu có nhưng nổi tiếng là hết sức keo kiệt ích kỷ. Thế là đích thân chủ nhà ra xua đuổi không thương tiếc: "Đây là dinh thự của ta chứ không phải là nhà trọ mà ai muốn vào ở cũng được!" Cánh cửa đóng sập lại ngay. Nhưng người khách lạ vẫn kiên nhẫn đập cửa mãi cho đến khi nhà quý tộc lại phải ra mở cửa quát tháo to tiếng. Người khách vẫn từ tốn đề nghị: "Thưa ngài, xin ngài bình tĩnh bớt giận, xin phép cho tôi hỏi ngài ba câu, nếu như ngài là một người thông minh trả lời được thì tôi sẽ xin đi khỏi đây ngay!"

          Nhà quý tộc nổi máu tự ái nên nhận lời và tin chắc mình sẽ thắng. Người khách bắt đầu hỏi câu thứ nhất: "Ai đã ở trong dinh thự này trước ngài ?" Nhà quý tộc trả lời được ngay: "Cha ta đã ở đây chứ ai?" Người khách lại hỏi câu thứ hai: "Thế ai đã ở đây trước ông thân sinh của ngài?" Nhà quý tộc ngẩn ngơ không biết trả lời thế nào, vì cha con ông ta chỉ mới làm chủ tòa dinh thự này sau khi người chủ quý tộc trước đây đã bị phá sản rồi tự tử chết đã rất lâu. Đến đây thì người khách mới nói: "Nếu vậy thì cha ngài và cả ngài nữa, cũng chỉ là những người khách trọ ở đây trong một thời gian nào đó, rồi đến một ngày chính ngài cũng phải nhường lại cho một chủ nhân khác. Hóa ra cái dinh thự nguy nga này cũng chẳng khác gì một thứ quán trọ..."

          Người khách lạ nhận ra đã có sự đánh động sâu xa nơi nhà quý tộc, ông ta ngỏ lời: "Vì vậy, tôi thành thật khuyên ngài đừng quá phung phí tiền bạc để làm đẹp và chỉ bo bo giữ lấy cho riêng mình một cái quán trọ tạm bợ chóng qua như thế này. Ngược lại, tôi nghĩ ngài nên cởi mở tấm lòng để giúp đỡ những người nghèo khổ và cơ nhỡ thiếu thốn. Và như thế, chính là ngài đã biết chuẩn bị sửa soạn cho một chỗ ở vĩnh cửu đời sau trên Nước Trời..."

3.        Dẫn vào bài

          - Nhà quý tộc giàu có là con người như thế nào? (Ông ta sống quá ích kỷ và keo kiệt, không biết giúp đỡ khách lỡ đường)

          - Câu chuyện không kể hết, nhưng hãy thử đoán xem sau đó ông ta sẽ thay đổi ra sao? (Ông ta sẽ nhận ra lỗi lầm của mình, mời khách lạ vào nhà, và từ đó về sau, ông ta sẽ sống vị tha bác ái hơn).

          - Người khách lạ đã dựa vào đâu để phân tích giảng giải cho nhà quý tộc? (Ông ta đã dựa vào Lời Chúa)

          - Vậy chúng ta có thể gọi người khách lạ ấy là một vị sứ giả được Chúa sai đến để cảnh tỉnh nhà quý tộc không? Thánh Kinh Cựu Ước gọi những người được Thiên Chúa chọn để làm sứ giả nói Lời Chúa cho Dân của Ngài là các vị Ngôn Sứ).

          Hôm nay, các bạn sẽ tìm hiểu về các Ngôn Sứ được Thiên Chúa sai đến với Dân Ít-ra-en trong Cựu Ước.

4. Đọc Thánh Kinh (1 Sm 16, 1 - 23)

          Lời Chúa trong sách Sa-mu-en quyển thứ nhất.

          ĐỨC CHÚA phán với ông Sa-mu-en: "Ngươi còn khóc thương Sa-un cho đến bao giờ, khi ta đã gạt bỏ nó, không cho làm vua cai trị Ít-ra-en nữa ? Ngươi hãy lấy dầu đổ đầy sừng và lên đường. Ta sai ngươi đến gặp Gie-sê người Bê-lem, vì Ta đã thấy trong các con trai nó một người Ta muốn đặt làm vua." Ông Sa-mu-en thưa: "Con đi thế nào được ? Vua Sa-un mà nghe biết thì vua sẽ giết con !" ĐỨC CHÚA phán: "Ngươi hãy đem theo một con bò cái tơ và hãy nói : 'Tôi tới đây là để dâng hy lễ lên ĐỨC CHÚA.' Ngươi sẽ mời Gie-sê đến dự hy lễ; phần Ta, Ta sẽ cho ngươi biết điều ngươi phải làm, và ngươi sẽ xức dầu tấn phong cho Ta kẻ Ta sẽ nói cho ngươi hay." Ông Sa-mu-en làm điều ĐỨC CHÚA đã phán; ông đến Bê-lem và các kỳ mục trong thành run sợ ra đón ông. Họ nói : "Ông đến có phải là để đem bình an không ?" Ông trả lời: "Bình an ! Tôi tới đây là để dâng hy lễ lên ĐỨC CHÚA. Các ông hãy thanh tẩy mình và đến dự hy lễ với tôi." Ông thanh tẩy ông Gie-sê và các con trai ông ấy và mời họ đến dự hy lễ. Khi họ đến, ông thấy Ê-li-áp, ông nghĩ: "Đúng rồi ! Người ĐỨC CHÚA xức dầu tấn phong đang ở trước mặt ĐỨC CHÚA đây !" Nhưng ĐỨC CHÚA phán với ông Sa-mu-en: "Đừng xét theo hình dáng và vóc người cao lớn của nó, vì Ta đã gạt bỏ nó. Thiên Chúa không nhìn theo kiểu người phàm: người phàm chỉ thấy điều mắt thấy, còn ĐỨC CHÚA thì thấy tận đáy lòng." Ông Gie-sê gọi A-vi-na-đáp và cho cậu đi qua trước mặt Sa-mu-en, nhưng ông Sa-mu-en nói: "Cả người này, ĐỨC CHÚA cũng không chọn." Ông Gie-sê cho Sa-ma đi qua, nhưng ông Sa-mu-en nói: "Cả người này, ĐỨC CHÚA cũng không chọn." Ông Gie-sê cho bảy người con trai đi qua trước mặt ông Sa-mu-en, nhưng ông Sa-mu-en nói với ông Gie-sê: "ĐỨC CHÚA không chọn những người này." Rồi ông lại hỏi ông Gie-sê : "Các con ông có mặt đầy đủ chưa ?" Ông Gie-sê trả lời: "Còn cháu út nữa, nó đang chăn chiên." Ông Sa-mu-en liền nói với ông Gie-sê: "Xin ông cho người đi tìm nó về, chúng ta sẽ không nhập tiệc trước khi nó tới đây." Ông Gie-sê cho người đi đón cậu về. Cậu có mái tóc hung, đôi mắt đẹp và khuôn mặt xinh xắn. ĐỨC CHÚA phán với ông Sa-mu-en: "Đứng dậy, xức dầu tấn phong nó đi ! Chính nó đó !" Ông Sa-mu-en cầm lấy sừng dầu và xức cho cậu, ở giữa các anh của cậu. Thần khí ĐỨC CHÚA nhập vào Đa-vít từ ngày đó trở đi. Ông Sa-mu-en đứng dậy và đi Ra-ma. Thần khí ĐỨC CHÚA rời khỏi vua Sa-un và một thần khí xấu từ ĐỨC CHÚA đến ám vua. Triều thần nói với vua Sa-un : "Ngài thấy đó, một thần khí xấu của Thiên Chúa ám ngài. Xin ngài truyền. Bề tôi của ngài đang ở trước mặt ngài: họ sẽ tìm một người biết gảy đàn, và khi thần khí xấu của Thiên Chúa xuống trên ngài, thì người ấy sẽ gảy đàn và ngài sẽ cảm thấy dễ chịu." Vua Sa-un nói với triều thần: "Các người hãy đi tìm cho ta một tay gảy đàn giỏi và đưa đến cho ta." Một người trong đám gia nhân thưa rằng: "Tôi biết ông Gie-sê người Bê-lem, có một người con trai biết gảy đàn. Anh ta là một dũng sĩ can đảm, một chiến binh, một người có tài ăn nói, đẹp trai, và ĐỨC CHÚA ở với anh." Vua Sa-un sai sứ giả đến với ông Gie-sê và nói với ông: "Ngươi hãy gửi cho ta Đa-vít, con ngươi, đứa chăn chiên." Ông Gie-sê bắt một con lừa, cho chở bánh, một bầu da rượu, và một con dê con, rồi sai Đa-vít, con ông, mang đến cho vua Sa-un. Đa-vít đến với vua Sa-un và chầu chực trước mặt vua. Vua thương cậu lắm và cậu trở thành người hầu cận của vua. Vua Sa-un sai người đến nói với ông Gie-sê: "Hãy để Đa-vít chầu chực trước mặt ta, vì nó được đẹp lòng ta."Như vậy, khi thần khí Thiên Chúa xuống trên vua Sa-un, thì Đa-vít cầm đàn và gảy. Bấy giờ vua Sa-un nguôi bệnh, cảm thấy dễ chịu, và thần khí xấu rời khỏi vua.

          Đó là Lời Chúa.

B. NỘI DUNG

          Mỗi thời đại, mỗi hoàn cảnh, nhất là những lúc khó khăn, Thiên Chúa vẫn chọn và sai các sứ giả của Ngài đến để cảnh tỉnh những lỗi lầm, soi sáng củng cố lòng tin của dân Ít-ra-en trong Cựu Ước. Giờ đây chúng ta cùng nhau tìm hiểu xem các ngôn sứ là ai, các ngài có vai trò gì trong xã hội và tôn giáo.

1. Ngôn sứ là ai?

          Ngôn sứ mà ta thường gọi là tiên tri, nghĩa là những người có thể biết trước và báo trước tương lai. Định nghĩa này có phần đúng, nhưng việc báo trước tương lai không phải là tất cả và cũng không phải là chính yếu. Các ông là những phát ngôn viên của Thiên Chúa, những sứ giả mang Lời Chúa đến cho dân.

          Trong Cựu Ước, ngoài danh từ nabi (mà ta dịch là ngôn sứ) còn có những từ khác để chỉ các ông như: người thông suốt giác quan và linh cảm; người của Thiên Chúa, vì có những liên hệ mật thiết với Ngài (x. 2 V 1,9.11).

          Như vậy, ngôn sứ là người có kinh nghiệm về Thiên Chúa qua việc gặp gỡ, gắn bó với Ngài; được Thiên Chúa mặc khải về thánh ý, được giúp đỡ, soi sáng để đoán biết hiện tại và tiên báo tương lai; được Thiên Chúa sai đi để nhắc nhở cho nhân loại những yêu sách của Ngài và đưa nhân loại trở về cùng Thiên Chúa.

2. Các Ngôn sứ trong lịch sử Ít-ra-en

          Ngày nay người người ta thường phân chia các ngôn sứ là hai nhóm là các ngôn sứ lớn và các ngôn sứ nhỏ.

          - Các ngôn sứ lớn gồm 4 vị: I-sai-a, Giê-rê-mi-a, Ê-giê-ki-en, Đa-ni-en

          - Các ngôn sứ nhỏ gồm 12 vị: Hô-sê, Giô-en, A-mốt, Ô-va-đi-a, Giô-na, Mi-kha, Na-khum, Kha-ba-khúc, Sô-phô-ni-a, Khác-gai, Gia-ca-ri-a, Ma-la-khi.

3. Ơn gọi các ngôn sứ

          - Xác tín vào ơn Chúa gọi: ơn gọi ngôn sứ hoàn toàn lệ thuộc ý muốn của Thiên Chúa, bất kể điều kiện xã hội, văn hóa của đương sự trong Cựu Ước, ta thấy kể lại việc Chúa gọi Mô-sê (x. Xh 3-4); Sa-mu-en (x. 1Sm 3); Is (x. Is 6); Giê-rê-mi-a (x. Gr 1),… Các ngôn sứ đều xác tín rằng mình nói Lời Thiên Chúa, thay mặt Ngài và xác tín như vậy vì ý thức rằng Chúa đã chọn gọi và sai các ông đi.

          - Gọi để làm gì? Gọi để dạy dỗ và giữ gìn dân Chúa trung thành với đạo Gia-vê. Để chuẩn bị, hướng dẫn họ tới thời sung mãn mà lãnh nhận mặc khải nơi Đức Ki-tô.

          - Đáp trả ơn gọi: Lúc đầu, nghe Chúa gọi, các ngôn sứ không hứng thú gì để lãnh nhận vì họ biết sứ vụ thật là nặng nề. Thí dụ: Mô-sê tránh né, Giê-rê-mi-a than thở (x. Gr 20,7-10); Giô-na bỏ trốn. Tuy rụt rè nhưng các vị cảm thấy có một sức mạnh thúc bách khiến họ không thể chối từ. Sức mạnh ấy không phải là một sự áp đặt khiến đương sự mất tự do, đúng hơn là họ bị Thiên Chúa quyến rũ. A-mốt bảo: “sư tử đã gầm lên, ai mà không sợ hãi? Đức Chúa đã phán truyền, ai lại chẳng nói tiên tri?”(x. Am 3,8). Từ đó, tất cả đời sống các ông gắn liền với sứ mạng, các ông thâm tín rằng lời các ông nói là Lời Thiên Chúa và mạnh dạn nói lên lời ấy mà không sợ khó khăn nguy hiểm.

4. Các ngôn sứ trình bày giáo huấn như thế nào?

          - Bằng lời nói: Công việc chính yếu của ngôn sứ là giảng dạy, trách mắng, vạch ra những lỗi lầm của dân, ngăn đe những tai họa có thể xảy đến, khuyến dụ, dạy bảo dân phải làm gì cho đúng ý Chúa và đôi khi còn hứa hẹn một tương lai tốt đẹp hơn. Các lời ngôn sứ thường ngắn gọn, đanh thép. Về sau những lời ấy được sưu tập lại thành những tập nhỏ, rồi những tập nhỏ góp lại thành sách (x. Gr 36).

          - Bằng hành động: Trước hết là những hành động tượng trưng, hành động xảy ra thì lời ngôn sứ cũng sẽ được thực hiện. Thí dụ, A-khi-a xé áo choàng làm 12 mảnh, trao cho Giê-rô-bô-am 10 mảnh để chỉ rằng ông này sẽ làm vua 10 chi tộc (x. 1 V 11, 29-32). Giê-rê-mi-a đạp vỡ chiếc vò bằng đất để nói rằng Gia-vê sẽ đập tan dân và thành Giê-ru-sa-lem (x. Gr 19,32). Đặc biệt, Ê-dê-ki-en có nhiều hành động tượng trưng (x. Ed 3,22-5,17). Mặt khác, chính đời sống của ngôn sứ còn là một lời giảng dạy. Những trắc trở Hô-sê gặp phải trong đời hôn nhân tượng trưng cho mối liên lạc nhiều sóng gió giữa Gia-vê và Ít-ra-en (x. Hs 1-3), cách sống khắc khổ của Ê-li-a và Gio-an Tẩy Giả nói lên sự tuyệt đối của Thiên Chúa.

5. Sứ điệp các ngôn sứ.

          - Thiên Chúa độc nhất: Trên núi Xi-nai, Thiên Chúa mặc khải Ngài là Thiên Chúa duy nhất, lại tuyển chọn Ít-ra-en làm dân riêng, rồi còn lập giao ước mới. Ba sự việc ấy gắn liền với nhau. Vì thế, Thiên Chúa như là Thiên Chúa riêng của dân Ít-ra-en. Tuy nói thế, các ngôn sứ cũng tỏ ra là Thiên Chúa nắm vận mệnh các nước trong tay, xét xử nước lớn cũng như nước bé (x. Am 1,2) và sử dụng các nước như dụng cụ để thưởng phạt (x. Am 6,11; Is 7,18-19). Vì lẽ Thiên Chúa là Chúa tể duy nhất của toàn cõi địa cầu nên không còn chỗ cho thần nào khác. Các ngôn sứ đương đầu với các tôn giáo dân ngoại. Các ngài đả kích và phỉ báng các tà thần (x. Hs 2,7-15; Is 40,19-20). Ngoài ra, các ngôn sứ còn cho biết các đặc tính của Thiên Chúa: Ngài là Thiên Chúa thánh thiện, Thiên Chúa công bình, Thiên Chúa tình yêu.

          - Ý thức về tội lỗi: Kỳ thực ý niệm về tội lỗi cũng như ý niệm về Thiên Chúa duy nhất không phải là điều mới mẻ lắm, vì đã có trong Mười Điều Răn (x. 2Sm 12; 1 V 21). Điều mới mẻ trong sách các ngôn sứ là các ngài thường nhắc đi nhắc lại rằng, tội lỗi phân cách con người ra khỏi Thiên Chúa ( x. Is 59,2). Vì tội lỗi tràn đầy nên Thiên Chúa phải trừng phạt, ngày của Thiên Chúa phải đến (x. Is 2,6-22). Muốn thoát khỏi hình phạt phải thực thi thánh ý của Thiên Chúa, làm điều chính trực, ăn ở khiêm nhu. Điều Thiên Chúa đòi hỏi là sống đạo thật lòng, có một tôn giáo nội tâm, vì thế, các ngôn sứ đả phá mọi nghi thức thiếu luân lý và đạo đức (x. Is 1,16-17).

          - Niềm tin vào ơn cứu độ: Thiên Chúa trừng phạt, nhưng điều Ngài muốn, không phải là trừng phạt mà là cứu độ. Ngài sẽ tha cho một số người còn lại. Theo các ngôn sứ thì số người còn lại là những ai thoát khỏi nguy hiểm bây giờ và hưởng ơn cứu độ mai sau (x. Am 5,15). Để thiết lập nước trời trên mặt đất, Thiên Chúa ban cho dân Đấng Mê-si-a, nghĩa là Đấng được ngài xức dầu phong vương, Đấng Mê-si-a sẽ từ dòng dõi vua Đa-vít mà ra (x. 2 Sm 7). Vì thế, Đấng ấy sẽ xuất hiện tại Bê-lem Ê-pha-ta (x. Mk 5,1). Thần Khí Thiên Chúa sẽ ngự trên Ngài với tất cả ân sủng (x. Is 11,1-5). Ngài là Em-ma-nu-en, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta (x. Is 7,14). Ngài là Thiên Chúa, Đấng đem lại công bình cho chúng ta (x. Gr 23,6).

          Với thời gian, nước nhà sụp đổ, dân chúng bị lưu đày, nhưng niềm hy vọng về nước Thiên Chúa và Đấng cứu độ vẫn tồn tại. Quan niệm nếu có khác là khác về Đấng cứu độ. Theo các ngôn sứ, Đấng cứu độ sẽ là tân Đa-vít, là mục tử (x. Ed 34,23-24), là Đấng khiêm nhu (x. Dcr 9,9), Đấng Mê-si-a sẽ là vị tôi trung của Thiên Chúa (x. Is 42,1-7). Còn ngôn sứ Đa-ni-en thì gọi là Đấng Mê-si-a là con người sẽ ngự giá mây trời mà đến. Trong mọi giai đoạn lịch sử dân Ít-ra-en đều mong đợi Đấng Mê-si-a và nhờ đó vẫn tin cậy. Nhưng lòng mong đợi và tin cậy đó phải nói là mơ hồ mãi cho tới ngày Đức Giê-su đến để thực thi những gì các ngôn sứ đã loan báo.

C – KẾT THÚC

1. Bài học áp dụng

          Tác giả thư Do-thái đã viết: “Thuở xưa đã nhiều lần, nhiều cách Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua các ngôn sứ. Nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử” (Dt 1,1-2). Do đó, học hỏi các sách ngôn sứ chính là lắng nghe “sấm ngôn của Đức Chúa” gửi cho dân Ngài trong hoàn cảnh riêng biệt và giúp ta hiểu rõ hơn về sứ mạng của Đức Ki-tô.

          Khi lãnh nhận bí tích Rửa tội, người Ki-tô hữu lãnh nhận sứ vụ ngôn sứ, nên được mời gọi sống chiều kích ngôn sứ của mình bằng cách sống thân mật với Chúa, bằng việc cầu nguyện, lắng nghe Lời Chúa, nhờ đó nhận biết thánh ý Chúa. Như trong thư của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam năm 2000, đã nhắn nhủ các Ki-tô hữu khi sống Tin mừng, thì đồng thời thi hành sứ vụ ngôn sứ của mình, biến đổi cuộc đời, nhờ hông ân của Chúa Thánh Thần nâng đỡ, trở nên tạo vật mới, là nhân tố để xây dựng nền văn minh tình thương, bén rễ trong lòng dân tộc.

          Với vai trò ngôn sứ của mình, người Ki-tô hữu được mời gọi sống Tin mừng và loan báo Lời Chúa cách triệt để như một trách nhiệm dù có phải đi ngược dòng, bị cản trở, bị đe dọa ngoài xã hội cũng như trong Giáo hội. Lời của Chúa cũng là lời tạo niềm vui cho người ngôn sứ, nhưng cũng khiến người ngôn sứ bị dày vò.

2. Gợi ý cầu nguyện

          Lạy Chúa, Chúa luôn yêu thương Dân Ngài. Ngài đã chọn và sai các Ngôn sứ đến nói với Dân Ít-ra-en để giúp họ mau sám hối quay về, hoặc để họ được vững lòng cậy trông qua mọi thử thách. Hơn nữa Chúa đã gửi Đức Giê-su là vị Ngôn sứ tối cao và cuối cùng đến với nhân loại chúng con. Xin cho chúng con biết vâng nghe Lời Người, biết cảm nhận được sứ điệp mà Chúa gửi đến cho chúng con qua lời dạy của các ngôn sứ, qua các bài học Giáo lý, qua Tin Mừng trong Thánh Lễ và qua các lời giáo huấn dạy dỗ của Giáo Hội. Amen.

BẠN CÓ BIẾT ?

SÁCH AI-CA

Sách Ai-ca được soạn ở Pa-lét-tin sau khi Giê-ru-sa-lem sụp đổ năm -587. Sách gồm 5 bài thơ buồn dâng lên Thiên Chúa lời thương tiếc thành Giê-ru-sa-lem sụp đổ. Tuy nhiên, từ những lời ai oán ấy, lại toát ra một niềm tin không lay chuyển nơi Thiên Chúa và một tâm tình thống hối sâu xa.

SÁCH BA-RÚC

Theo lời mở đầu thì sách này do ông Ba-rúc là thư ký của ông Giê-rê-mi-a viết tại cảnh lưu đày ở Ba-bi-lon và gửi về Giê-ru-sa-lem để đọc trọng các buổi nhóm phụng vụ. Sách cũng an ủi những người lưu đày bằng cách nhắc lại niềm tin vào thời cứu thoát.

SÁCH Ê-GIÊ-KI-EN

Trong đám người bị lưu đày đợt 2, năm -587, có một vị ngôn sứ đi theo để an ủi khích lệ dân chúng. Đó là Ê-giê-ki-en. Thiên Chúa đã cho ông nhận thấy và tả lại cảnh vinh quang Thiên Chúa rời bỏ đền thờ Giê-ru-sa-lem để đến với những người bị lưu đày ở Ba-bi-lon. Ông kêu gọi đồng bào thật lòng hoán cải. Ông mạng mẻ đòi hỏi họ phải ý thức về trách nhiệm cá nhân, và ông mở cho họ thấy viễn tượng một giao ước mới trong Thánh Thân. Ông cũng báo trước rằng một ngày kia họ sẽ được trở về trong một đất thánh đã đổi mới, trong một Giê-ru-sa-lem mới hoàn toàn trung thành với Thiên Chúa, mà tên mới của Thành ấy sẽ là “Thiên Chúa ở đó”.

SÁCH ĐA-NI-EN

Sách Đa-ni-en được viết vào khoảng năm -165, trong thời kỳ có cuộc bách hại của vua An-ti-ô-cô Ê-pi-pha-nô và cuộc chiến tranh giải phóng. Mục đích là nâng đỡ ý chí kháng chiến của người Do-thái.

6 chương đầu kể chuyện một thiếu niên Do-thái tên là Đa-ni-en, phục vụ trong triều đình Ba-bi-lon và Ba-tư, mà vẫn luôn luôn trung thành với luật Chúa, bất chấp những khổ hình: bị ném vào lò lửa hay vào hang sư tử. Đa-ni-en còn giải thích các giấc mơ, tỏ rõ ý muốn của Thiên Chúa và báo trước về các đế quốc sẽ nối tiếp nhau trong tương lai cho tới ngày chiến thắng dứt khoát của Thiên Chúa và của những kẻ lành mà Thiên Chúa sẽ cho sống lại.

6 chương sau ghi lại các thị kiến về nước Thiên Chúa sẽ đến trong tương lai. Đó là một cuốc gia bao quát mọi dân nước, và không bao giờ chấm dứt. Đó là nước của các thánh, của Thiên Chúa, của Đấng Con Người đã được trao mọi quyền bính.

 

BÀI 10

CÁC NGÔN SỨ LỚN

A. DẪN NHẬP

1. Thánh hoá đầu giờ

            (GLV có thể hát, đọc kinh hay một lời nguyện tương tự)

Lạy Chúa, để giáo huấn dân được tuyển chọn, Chúa đã gửi đến với họ những ngôn sứ; cách đặc biệt, Chúa đã gửi đến cho loài người chúng con vị ngôn sứ vĩ đại là Đức Giê-su Ki-tô con Chúa, để nhờ Ngài mà chúng con được mặc khải về tình thương bao la của Chúa. Giờ đây, xin Chúa cũng tiếp tục gửi đến với chúng con lời rao giảng của các Ngài để nhờ đó, chúng con được biến đổi và sống thân tình với Chúa. Amen.

2. Câu chuyện minh hoạ “Xen vào việc người khác”.

Chuyện kể rằng, có một vị linh mục giảng dạy Lời Chúa cách nhiệt thành và rất hấp dẫn. Trong một buổi thuyết giảng tĩnh tâm mùa chay với chủ đề Thập điều giao ước, vị linh mục đó nói: “Anh em không được giết người”. Ngài vung cánh tay phải lên quét qua không khí. Một giáo dân ngồi ở hàng ghế đầu phấn khởi kêu lên tán thành: “Amen, lạy cha. A men”.

Vị linh mục bốc lửa nhiệt tình nói: “Anh em không được ăn cắp”. Cũng người giáo dân đó gào lên: “A men, hay quá cha ơi”. Với sự căng thẳng cao độ như có luồng điện, nhà thuyết giảng dừng lại và công bố rõ ràng: “Anh em không được phạm tội ngoại tình”. Người giáo dân lúc nãy đứng phắt dậy khua tay: “Vô lý, cha nói nhảm rồi. Cha đã không giảng nữa, cha đã chõ mũi vào đời sống của con”.

3. Dẫn vào bài

Đúng vậy, khi danh dự và quyền lợi của mình chưa bị đụng chạm, thì mọi vấn đề sẽ trở nên hết sức đơn giản. Nhưng khi quyền lợi và danh dự của mình bị đụng chạm, rất có thể mình sẽ cho mọi vấn đề là vô lý.

Đối với vương quốc Ít-ra-en,  trong khoảng 450 năm kể từ cuối triều đại vua Đa-vít cho đến sự sụp đổ của chế độ quân chủ và thành Thánh Giê-ru-sa-lem (năm 587), dân Ít-ra-en và những người lãnh đạo đã không còn tin vào Thiên Chúa. Họ tìm kiếm sự bảo vệ nơi quân đội ngoại bang khi bị xâm lược, lẽ ra những khi đó họ phải đặt tất cả sự tín thác và ẩn ý dưới sự bảo vệ của Đức Chúa. Chính vì sự thiếu vắng niềm tin vào Đức Chúa mà trong suốt bốn thế kỷ, Thiên Chúa đã phái đến với họ biết bao ngôn sứ. Những người này đã không ngừng nhắc nhở họ quay trở về với Thiên Chúa và cảnh giác đề phòng những thứ liên minh kháng chiến cùng những toan tính trần thế [1]. Tuy nhiên, nhiều sự kiện ghi chép trong sách Thánh cho thấy rằng, họ đã không chịu lắng nghe lời của các ngôn sứ và còn tìm cách sát hại các ngôn sứ chỉ vì các ngài đã nói lên sự thật. Trong số những người nhiệt thành, kêu gọi sự hoán cải của toàn dân Ít-ra-en là các ngôn sứ lớn mà chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu hôm nay.

4. Đọc Thánh Kinh (Gr 8, 4- 7)

Lời Chúa trong sách tiên tri Giê-rê-mi-a.

Ngươi sẽ nói với dân chúng : Đức Chúa phán thế này : Phải chăng người ta ngã xuống, rồi không chỗi dậy, bỏ đi rồi không trở lại sao ? Thế thì tại sao dân này cứ phản bội ? Giê-ru-sa-lem-phản bội mãi sao ? Chúng cố tình theo con đường lừa đảo, dứt khoát không trở về. Ta đã để ý nghe : Không phải như chúng nói. Chẳng ai hối hận về sự công chính của mình ; ai cũng nói : Nào tôi có làm chi ! Như con ngựa xông vào trận chiến, tất cả đều trở lại con đường tội ác xưa. Đến như giống cò bay lượn trên không còn biết được mùa di chuyển của nó ; chim cu, chim én và chim hạc còn biết theo thời tiết mà về ; nhưng dân Ta thì chẳng hay chẳng hiểu pháp luật Đức Chúa đã truyền ban.

Đó là lời Chúa.

1. I-sai-a

a - Ơn gọi

I-sai-a là một nhà quí tộc có học thức, ông thi hành nhiệm vụ ngôn sứ rất lâu, trải qua bốn đời vua (U-di-a, Giô-tham, A-khát và Ê-dê-ki-a). Cuối cùng ông bị cưa đôi người dưới thời vua Mơ-na-sê.

Trong một thị kiến, I-sai-a thấy Thiên Chúa Chí Thánh xuất hiện với vinh quang rạng ngời. Ngôn sứ nhận ra mình là con người ô uế, Thiên Chúa đã thanh luyện ông và sai ông đi vào sứ vụ. Nhưng Thiên Chúa cũng cho biết người ta sẽ chẳng nghe ông và tai hoạ sẽ xảy ra. Tuy nhiên, Ngài cũng cho ông biết sẽ có “một số còn sót lại” và từ số sót ấy, dân sẽ được phục hồi.

b- Sứ điệp

            Trong suốt hành trình ơn gọi của mình, ngôn sứ I-sai-a không ngừng rao giảng những chân lý: Thiên Chúa là Đấng Thánh; phải tin tưởng vào một mình Ngài; phải thánh thiện trong tâm hồn chứ không chỉ là hình thức bên ngoài mà thôi; sẽ còn sống sót một số người trung thành với Thiên Chúa giữa một dân tộc tội lỗi; Gia-vê đã chọn riêng Ít-ra-en và giao ước với họ; ơn cứu độ sẽ được ban cho dân ngoại và như thế, lời Thiên Chúa hứa cùng Tổ phụ Áp-ra-ham sắp được ứng nghiệm; Đấng Cứu Thế sẽ xuất thân từ dòng dõi vua Đa-vít và tên Ngài là Em-ma-nu-en.

2. Giê-rê-mi-a

a- Ơn gọi

Giê-rê-mi-a là một người thuộc hàng tư tế chào đời vào khoảng năm 650 TCN, sống ở tiểu vương quốc Giu-đa phía Nam. Ông được Thiên Chúa yêu mến và tuyển chọn từ lúc còn là bào thai trong dạ mẹ, để thi hành một sứ vụ vượt quá ranh giới của nước Giu-đa. Khác với I-sai-a, Giê-rê-mi-a được Thiên Chúa kêu gọi làm ngôn sứ qua tiếng nói của nội tâm vào lúc ông được khoảng 25 tuổi (năm 625 TCN). Ông thoái thác và viện cớ là mình còn quá trẻ, chưa có quyền ăn nói và cũng không biết ăn nói. Nhưng Thiên Chúa đã bác bỏ lời thoái thác đó vì tất cả những gì ông sẽ nói đều xuất phát từ Thiên Chúa chứ không phải từ khả năng và lòng dũng cảm của con người. Để khích lệ Giê-rê-mi-a, Thiên Chúa hứa sẽ ở với ông và giúp đỡ ông hoàn thành sứ vụ.

b- Sứ điệp

Trong suốt cuộc đời của mình, ngôn sứ Giê-rê-mi-a chịu sự chi phối của Lời Chúa. Ông được sai đi dùng Lời Chúa để đả phá tất cả những gì khiến dân Ít-ra-en an tâm, nhưng đồng thời cũng là người cổ võ việc xây dựng và vun trồng con đường sống mới theo ý định của Thiên Chúa.

3. Ê-dê-ki-en

a- Ơn gọi

Vào khoảng năm 593, bên bờ sông Cơ-va tại Ba-bi-lon, Ê-dê-ki-en được Thiên Chúa chọn gọi qua một loạt các thị kiến:

Thị kiến cuốn sách: Thị kiến này muốn nói, Ê-dê-ki-en sẽ phải thực hiện một sứ vụ thật khó khăn và cay đắng, nhưng khi thi hành ông lại cảm thấy ngọt ngào.

Thị kiến người canh gác: ông có nhiệm vụ cảnh tỉnh những người gian ác về lối sống của họ và ông sẽ phải trả lẽ trước Chúa về công việc này.

b- Sứ điệp

Sấm ngôn của Ê-dê-ki-en bao gồm: Thiên Chúa là Đấng siêu việt; Ngài thấu suốt mọi sự và hiện diện khắp nơi; đoạn tuyệt với quá khứ; thức tỉnh trách nhiệm cá nhân; kêu gọi mọi người hồi phục trong tương lai và cải tạo tâm hồn.

4. Đa-ni-en

a- Ơn gọi

Thông qua sách Đa-ni-en, một cuốn sách phức tạp về ngôn ngữ vì thuộc thể loại văn chương khải huyền, cho nên chúng ta cũng khó xác định về ngôn sứ Đa-ni-en và ơn gọi của ông. Theo suy luận của các học giả Thánh Kinh, có lẽ sách Đa-ni-en là do một tác giả năïc danh biên soạn rồi gán cho ông Đa-ni-en, một nhân vật theo truyền thống cổ xưa, vốn nổi tiếng vì sự khôn ngoan, công chính và trung thành với thần linh, với Thiên Chúa.

b- Sứ điệp

Sứ điệp của ngôn sứ Đa-ni-en được ghi lại trong sách mang tên ông. Nội dung của sứ điệp nói về nước Thiên Chúa, về quyền năng Thiên Chúa và lẽ cậy trông; về sự sống lại của thân xác.

C. KẾT THÚC

1. Bài học áp dụng

- Khi nhìn vào các ngôn sứ lớn, chúng ta thấy họ có vẻ đơn thương độc mã, đi ngược với dòng đời vì đã dám nói lên sự thật, nhưng đổi lại các ngài luôn có Chúa đồng hành. Người Ki-tô hữu trẻ hôm nay đôi khi cũng có thể cảm thấy cô đơn vì dám sống trung tín trong một xã hội không trung tín. Thế nhưng, cứ trông cậy như các Ngôn Sứ, chúng ta sẽ được Thiên Chúa cho gặp gỡ những người đồng hành cùng chí hướng. Thực tế cuộc sống cũng cho hay, sự nhiệt tình chỉ có nơi đầu môi chót lưỡi thì thật chẳng có ý nghĩa gì; nhưng khi nó được thể hiện bằng hành động, ngay cả biết trước những nguy hiểm sẽ xảy đến thì mới xứng đáng là người theo đúng nghĩa. Đó cũng chính là phong cách sống độc đáo của các ngôn sứ mà thiết nghĩ, mỗi người trong chúng ta nên noi gương bắt chước nhằm góp phần nhỏ bé của mình trong công cuộc xây dựng và phát triển xã hội và Giáo Hội.

- Nơi các Ngôn Sứ, chúng ta thấy bùng lên một ngọn lửa mến yêu Thiên Chúa. Ngọn lửa ấy vẫn bừng cháy qua nhiều thế hệ: trong tâm hồn của Tê-rê-xa Hài Đồng Giê-su; của Gio-an Thánh giá và của bao người khác. Hơn nữa, ông vẫn còn tiếp tục hét lên với mọi người hôm nay rằng: Nếu Chúa quả là Thiên Chúa đích thực, là Đấng Toàn năng độc nhất, thì anh em hãy theo Ngài. Anh em còn đi khập khiễng hai chân cho đến bao giờ? Còn ngập ngừng cho đến bao giờ giữa Đấng là sung mãn, hạnh phúc, chân lý, tức là Đức Giê-su Ki-tô Con Thiên Chúa thực sự phục sinh, Đấng hằng sống muôn đời và các thần tượng rỗng tuếch như: tiền bạc, danh dự, chức quyền, đam mê, các lạc thú trần tục khác. Tại sao lại chạy theo điều dối trá, đuổi bắt cái hư vô? Vì vậy, người tín hữu hôm nay phải thính tai sáng lòng nghe ngóng, để kịp thời nhận ra trong thinh lặng và cô tịch những bước chân nhẹ nhàng của Thiên Chúa đi qua. Chính những lần gặp gỡ sâu sắc ấy sẽ tăng cường sức lực cho người tông đồ và lại thúc đẩy chúng ta lên đường đường đến với những anh em khác làm chứng và mời gọi họ làm chứng cho sự thật như các vị ngôn sứ thuở xưa.

2. Gợi ý cầu nguyện

Lạy Chúa, trong cuộc sống mình, đôi khi vì mải chạy theo những đam mê, cám dỗ của cuộc đời mà chúng con đã vô tình hay cố ý lãng quên Chúa. Cũng có lúc vì sợ danh dự hay lợi ích của bản thân mà chúng con không dám sống và nói lên sự thật. Xin cho chúng con biết can đảm làm chứng cho Chúa, sống trung thực và kiên định trước mọi quyến rũ cám dỗ và những dọa dẫm của thế gian như các ngôn sứ; ngõ hầu nhờ đó chúng con cảm nghiệm được sâu sắc hơn khuôn mặt của Chúa nơi tâm hồn chúng con. Amen.

 

BÀI 11

LƯU ĐÀY VÀ HỒI HƯƠNG

A. DẪN NHẬP

1. Thánh hoá đầu giờ

            (GLV có thể hát, đọc một kinh hay một lời nguyện tương tự)

Lạy Chúa, xưa trên đường Em-mau, Chúa đã mở mắt cho hai môn đệ nhận ra chân lý chứa đựng trong Thánh Kinh. Giờ đây, xin Chúa cũng tiếp tục mở lòng trí chúng con biết nhận ra thông điệp của Chúa trong bài học này, để nhờ đó chúng con biết uốn nắn đời sống mình theo ý Chúa. Amen.

2. Câu chuyện minh hoạ “Người giàu có gặp khủng hoảng”

Một người keo kiệt có rất nhiều của cải ruộng đất. Thình lình, ông ta bị bệnh nặng. Thân nhiệt của ông ta vọt lên 40 độ. Vợ ông hoảng hốt đưa ông đến bác sỹ. Sau khi khám kỹ bệnh nhân, bác sỹ kết luận: “Thưa bà, tôi rất tiếc phải báo cho bà biết chồng bà bị bệnh ở giai đoạn cuối. Ông ấy không thể sống được. Tất cả những gì tôi khuyên bà là cầu nguyện”.

Nghe nói thế, người chồng lo lắng tập trung chút sức lực còn lại nói thều thào: “Bà hãy ra ngoài bố thí tiền cho những người nghèo túng, rồi bà đến nhà thờ cầu xin Thiên Chúa cho tôi được sống”. Kế đó, người vợ lập tức đi đến khu người nghèo của thị trấn và làm như người chồng đã nói. Rồi bà đến nhà thờ gần nhất cầu nguyện sốt sắng cho người chồng được bình phục. Ngay lúc đó, sức khoẻ của bệnh nhân nhanh chóng được cải thiện và như một phép lạ, chỉ trong ít ngày ông ta đã hoàn toàn bình phục. Người vợ thuật lại cho chồng những việc mà bà đã làm. Nhưng khi ông già keo kiệt nghe nói vợ mình đã bố thí cho người nghèo một số tiền lớn, ông ta tức giận kêu lên: “Tại sao bà lại làm thế?”. Bà nói: “Nhưng chính ông đã bảo tôi đi bố thí tiền bạc”. Ông ta đáp lại: “Nhưng lúc đó tôi sốt trên 40 độ, bà không biết rằng lúc đó tôi đang mê sảng sao?”

3. Dẫn vào bài

Câu chuyện trên cho thấy, ngay cả khi chúng ta có nhiều tiền của hơn mức vừa đủ, chúng ta vẫn bám chặt vào của cải của mình. Khi chúng ta gặp khủng hoảng, chẳng hạn như căn bệnh đe dọa đến mạng sống, chúng ta trở lại cùng Thiên Chúa, nhưng khi khoẻ mạnh, chúng ta lại quên Ngài. Chẳng phải vì thế mà đôi khi Thiên Chúa đặt chúng ta vào bước đường cùng để chúng ta có thể kêu cầu, cậy trông vào Ngài đó sao? Trường hợp này sẽ phần nào giúp chúng ta hiểu được tình cảnh của dân Do-thái trong thời lưu đày qua việc tìm hiểu nội dung bài học hôm nay.

4. Đọc Thánh Kinh (Is 40, 1-5)

Lời Chúa trong sách triên tri I-sai-a.

Thiên Chúa anh em phán: “Hãy an ủi dân Ta: hãy ngọt ngào an ủi dân Giê-ru-sa-lem, và hô lên cho Thành: thời phục dịch của Thành đã mãn, tội của Thành đã đền xong, vì Thành đã bị tay Đức Chúa giáng phạt hai lần tội phạm”. Có tiếng hô: “Trong sa mạc, hãy mở một con đường cho Đức Chúa, giữa đồng hoang, hãy vạch một con lộ thẳng băng cho Thiên Chúa chúng ta. Mọi thung lũng sẽ được lấp đầy, mọi núi đồi sẽ phải bạt xuống, nơi lồi lõm sẽ hoá thành đồng bằng, chốn gồ ghề nên vùng đất phẳng phiu. Bấy giờ vinh qua Đức Chúa sẽ tỏ hiện, và mọi người phàm sẽ được nhìn thấy rằng miệng Đức Chúa đã tuyên phán”.

Đó là lời Chúa.

B. NỘI DUNG

1. Lưu đày

a. Nguyên nhân

Sau khi vua Sa-lô-môn mất, vương quốc Ít-ra-en bị phân đôi. Mười chi tộc phía Bắc đã ly khai lập thành tiểu vương quốc Ít-ra-en; hai chi tộc còn lại ở phía Nam lập thành tiểu vương quốc Giu-đa. Nhiều vua trong cả hai tiểu vương quốc này không cai trị dân theo ý của Thiên Chúa, họ không bao giờ giữ giao ước của Ngài. Theo gương các vua, dân chúng cũng không trung thành với giao ước, bắt chước các dân chung quanh để thờ các thần của họ. Đối với tiểu vương quốc phía Bắc, ngay từ khi mới lên cầm quyền, vua Gia-róp-am đã cho xây dựng 2 đền thờ tại Đan và Bê-ten, đồng thời cho thờ tượng bê vàng. Chính vì điều này mà năm 721 TCN, Thiên Chúa đã cho nước Ít-ra-en phía Bắc rơi vào tay đế quốc Át-si-ri để phạt tội họ. Thảm hoạ đó của tiểu vương quốc phía Bắc là lời cảnh báo cho dân chúng tiểu vương qu?c Giu-đa ở phía Nam. Nhưng họ đâu có hiểu, họ vẫn bỏ ngoài tai những lời cảnh báo của các ngôn sứ do Chúa gửi đến. Việc thờ phượng thì chuộng hình thức bên ngoài, tưởng rằng lễ vật có thể thay thế cho lòng yêu mến và vâng phục Thiên Chúa. Trong xã hội thì bất công đối với người nghèo, lợi dụng đồng loại một cách vô nhân đạo. Họ cũng chạy theo tà giáo, sùng bái ngẫu tượng. Cuối cùng điều phải đến đã đến, thành Giê-ru-sa-lem bị thất thủ năm 587 TCN và vua quan cùng với dân chúng bị bắt đi lưu đày bên Ba-bi-lon. 

b. Ý nghĩa

Khi quốc gia bị chia rẽ sau cái chết của Sa-lô-môn, vương quốc Giu-đa ở phía Nam vẫn vững mạnh hơn, không bị xáo trộn như vương quốc Ít-ra-en ở phía Bắc. Lý do là vì, dựa vào lời ngôn sứ Na-than, người dân phía Nam luôn nghĩ rằng quyền lên ngôi vua chỉ thuộc về một gia đình là gia đình Đavít mà thôi. Thiên Chúa đã khẳng định rằng vương quốc nhà ?a-vít sẽ có ngày trở thành rộng khắp và tồn tại mãi. Người dân Giu-đa hãnh diện và ỷ lại vào điều đó. Vì thế họ không nghe lời các ngôn sứ mời gọi hoán cải và 135 năm sau, Ít-ra-en sụp đổ, vương quốc Giu-đa cũng bị hủy diệt, vua quan và dân chúng đều bị lưu đày.

+ Các ngôn sứ phía Nam: Dân Giu-đa cũng dần dần mắc phải những tội ác của Ít-ra-en: việc thờ phượng thì chuộng hình thức bên ngoài, xã hội thì đầy dẫy những bất công. Trong bối cảnh ấy, nhiều ngôn sứ đã xuất hiện, đấu tranh kịch liệt để giữ cho Giu-đa xứng đáng là người bạn trăm năm trinh trắng của Thiên Chúa. Đáng kể là các ngôn sứ Mi-kha và I-sai-a. Hai vị này có phần thành công nhờ sự sáng suốt của vua Ê-dê-ki-a, nhưng ngay trong thời cải cách của vua này, tội lỗi Giu-đa vẫn còn đầy dẫy. Một thế kỷ sau có ngôn sứ Giê-rê-mi-a. Vua Giô-si-a tìm được sách luật và hưởng ứng lời Giê-rê-mi-a để thực hiện cuộc cải cách, nhưng triều đại của ông chỉ được 13 năm. Các vua kế tiếp lại sa vào đường tà giáo.

Năm 587, sau một cuộc bao vây ác liệt khoảng một năm rưỡi, lực lượng của đế quốc Ba-by-lon đã tiến vào Giê-ru-sa-lem, phá hủy cả thành lẫn đền thờ. Vua quan và dân chúng bị lưu đày sang Ba-by-lon.

+ Trong cảnh lưu đày: Trong số người Giu-đa bị phát lưu lên đến khoảng 50.000 người. Họ phải đi bộ 700 dặm đến Ba-by-lon. Họ bước đi trong chán chường, vô vọng, đau khổ vì cuộc sống thiếu thốn trong những trại tập trung. Điều thử thách lớn nhất cho họ là thử thách về đức tin: Thiên Chúa đã ở đâu khi thành Giê-ru-sa-lem bị hủy diệt, và giờ đây Ngài ở nơi nào? Phải chăng tất cả chỉ là ảo vọng? Đền thờ, khám giao ước, hàng tư tế có ích gì?

Nhờ ngôn sứ Ê-dê-ki-en đi theo dạy dỗ, an ủi, dân Chúa lấy lại niềm hy vọng. Họ hiểu ra tội lỗi của họ và hiểu rằng điều Thiên Chúa chờ họ là tấm lòng. Ngài sửa phạt họ, vì Ngài muốn họ quay trở về, sống trung thành với Giao ước. Ngài thanh tẩy họ để họ xứng đáng là dân thánh của Ngài. Họ chỉ còn sót lại một nhóm nhỏ, nhưng Thiên Chúa chí thánh là Đấng hằng sống, Ngài không bỏ họ trong cõi chết. Ngài sẽ đổ Thần Khí ban sự sống của Ngài xuống trên họ. Họ sẽ được phục sinh và đổi mới. Thiên Chúa sẽ ghi khắc giao ước mới vào trong tim họ, sẽ thâu họp họ lại thành một dân mới để đem ánh sáng của Ngài đến cho muôn dân.

2. Hồi hương

a. Kirô vua dân ngoại, phóng thích dân Chúa

Na-bu-cô-đô-nô-sô, vua Át-si-ri, chết năm-560. Khoảng 20 năm sau, Ba-bi-lon sụp đổ của quân Ba-Tư và Mê-đê. Ki-rô đại đế, vua Ba-tư và Mê-đê, người sáng lập đế quốc Ba-tư hùng cường, đã vào Ba-bi-lon vào năm 539 TCN. Chỉ một năm sau, ông hạ chỉ cho những người lưu đày được hồi hương. Quả thật, ông là một vị vua đại lượng, biết tôn trọng những phong tục và những thần của các nước ông đã chinh phục. Ngôn sứ I-sai-a nói đến Ki-rô một cách kính cẩn đặc biệt, coi ông như một mục tử của Thiên Chúa (Is 44,28) và là kẻ được xức dầu của Thiên Chúa(Is45,1).

Năm 537 TCN, một năm sau khi sắc chỉ hồi hương được ký, người DoThái bắt đầu trở về Giu-đa. Nhiều người ở lại Ba-bi-lon vì  đã có nhà cửa đầy đủ tiện nghi và đã làm ăn phát đạt, tuy nhiên họ cũng bỏ tiền của ra để giúp đỡ những người hồi hương. Nhóm người Do Thái đầu tiên lên đường hồi hương dưới sự lãnh đạo của thượng tế Giô-sua (thuộc dòng dõi A-ha-ron) và hai người thuộc hoàng tộc là Sát-sa-ba-sa và Giô-rô-ba-ben (ông này thuộc dòng dõi Đa-vit). Hai ông là những người đầu tiên cai trị nước Giu-đa mới được phục hồi, nhưng chỉ là những viên chức được vua Ba-tư bổ nhiệm và hoàn toàn thuộc quyền vua Ba-tư. Cuộc sống của những người mới hồi hương gặp khó khăn về mọi mặt. Đây đúng là nhóm người nhỏ bé, là phần “dư tồn”, “số còn sống sốt” mà trước đây các ngôn sứ đã loan báo. Họ tụ tập lại trên đỉnh núi Thánh Sion mà dâng lễ hy sinh cho Thiên Chúa. Sau đó là công việc tái thiết đền thờ và thành phố.

b –Tái thiết đền thờ

Lúc đầu người ta phấn khởi, nhưng càng ngày càng ra uể oải, chần chừ, phần vì những dân xâm chiếm đất đai gây khó khăn, phần vì đám dân Samari miền bắc gây cản trở. Hai ngôn sứ Hác-gai và Da-ca-ri-a xuất hiện và hăng hái cổ võ lòng nhiệt thành của dân chúng. Sau cùng đền thờ đã được tái thiết y một kích thước theo hoạ đồ của đền thờ Sa-lô-môn và được cung hiến vào năm 515 TCN (tức là 17 năm sau khi hồi hương). Đây là đền thờ thứ hai, cũng gọi là đền thờ của Giô-rô-ba-ben. còn tường thành, sau khi được phép của vua Ba-tư, đã được Nê-hê-mi-a (445) đôn đốc tái thiết trong vòng hai tháng.

c- Phục hồi về mặt thiêng liêng

Nêhêmya có mặt ở Giêrusalem một thời gian thì Ét-ra, vị tư tế kí lục cũng đến đó. Ông này góp phần vào sự phục hồi Giuđa về mặt thiêng liêng. Điều này được mô tả trong sach Neh 8-9. Chương 8 thuật lại việc Ét-ra tập họp những người Giu-đa tại phía cổng nam đền thờ và độc cho họ nghe bản luật Mô-sê, cũng gọi là sách ngũ kinh, tức năm quyền đầu của bộ kinh thánh. Khi đọc, ông thường dừng lại ở nhiều đoạn để các Lêvi giải thích cho dân hiểu ý nghĩa những đoạn đã nghe. Chương 9 mô tả một cuộc hội họp long trọng khác, trong đó Ét-ra hướng dẫn dân chhúng cử hành lễ nghi nhắc lại giao ước cách trọng thể, ông thuật lại việc Thiên Chúa dựng lên thế giới đã kêu gọi Áp-ra-ham làm tổ phụ dân Người, đã cứu Ít-ra-en thoát cảnh nô lệ Ai cập, đã làm cho dân Ít-ra-en trở thành một gia đình ton giáo của Người trên núi Sinai, rồi sau đó đã dẫn dân Người vào đất hứa. Ét-ra cũng nói đến tội của Ít-ra-en thường xuyên bất tín bất trung  với Thiên Chúa. Nghe lời Ét-ra giảng dạy, dân chúng đã công khai thú tội và khẳng định ý muốn của họ là tự nguyện bước vào giao ước mới với Thiên Chúa.

C. KẾT THÚC

1. Bài học áp dụng

Trong xã hội hiện nay, với thực trạng vật giá leo thang, không ít người trong chúng ta rơi vào cảnh khó khăn túng thiếu. Đôi khi vì đó mà chúng ta đâm ra thất vọng, chán chường và sống cuộc sống bi quan đầy tiếng thở dài. Tuy nhiên, cũng có những người không chịu khuất phục trước những khó khăn đó, họ vùng lên tìm mọi cách để cải thiện đời sống. Có khi sự nỗ lực của họ lại đi trái với luân thường đạo lý. Họ bất chấp mọi luật lệ tôn giáo cũng như xã hội để chạy theo sự quyến rũ của tiền bạc. Họ bán rẻ nhân phẩm, coi thường người khác miễn sao là kiếm được nhiều tiền để trang trải cho những khó khăn đang xảy ra trước mắt. Đứng trước tình trạng đó, người Ki-tô hữu trẻ được mời gọi nhìn vào cuộc sống đầy gian nan của dân Do-thái trong cảnh lưu đày, sống chung với những khó khăn và trở nên như những ngôn sứ nhằm cảnh tỉnh mọi người, kêu gọi họ sám hối trở về với Chúa thông qua cuộc sống lạc quan và thánh thiện của mình. Biết nỗ lực để tạo ra của cải vật chất là rất tốt, vì đó là điều Chúa muốn và mời gọi để ta cộng tác vào công trình sáng tạo; nhưng cách thức để làm ra của cải như thế nào cho phù hợp với luân lý Ki-tô giáo lại là vấn đề cần chúng ta can đảm chọn lựa. Đó cũng chính là một cách chuẩn bị để tâm hồn chúng ta trở nên như những con đường cho Chúa đến với những người chưa nhận biết Ngài.

2. Gợi ý cầu nguyện

Lạy Thiên Chúa là Cha chúng con, chúng con cảm tạ Chúa đã mời gọi chúng con cộng tác vào chương trình cứu độ của Chúa. Chúng con cảm tạ Chúa đã rèn luyện chúng con qua những khó khăn của cuộc đời, để nhờ đó biến đổi chúng con trở nên hoàn thiện, như xưa Chúa đã rèn luyện và biến đổi dân Chúa trong cảnh lưu đày. Xin cho chúng con biết luôn ý thức về những hồng ân đó mà ra sức sửa đổi đời sống mình, xứng đáng trở nên con đường thẳng để Chúa đi qua chúng con mà đến với thế gian. Amen.

 

BÀI 12

DỌN LÒNG ĐÓN NHẬN ĐẤNG CỨU THẾ

A. PHẦN DẪN NHẬP

1. Thánh hoá đầu giờ.

Lạy Chúa, vì yêu thương nhân loại, Chúa đã ban Con Một của Chúa là Đức Giêsu Kitô đến cứu độ và phục hồi phẩm giá cho chúng con. Giờ đây, xin Chúa ban Thánh Thần thánh hoá và biến đổi tâm hồn, để chúng con biết đón nhận và thi hành Lời của Con Chúa . Amen.

2. Câu chuyện minh hoạ: “Chuẩn bị tinh thần”

Một thương gia và vợ của anh ta đang chuẩn bị lễ Rửa tội cho bé gái của họ thì cha xứ đến: “Anh chị đã chuẩn bị cho biến cố quan trọng này chưa?”.

Anh thương gia nói: “Con cũng đoán thế, con đã mua được hai đùi lợn rừng, dưa chua, bánh ngọt, bánh bao…”. Cha xứ ngắt lời: “Không, không! Tôi muốn nói anh chị đã chuẩn bị về mặt tinh thần chưa?”. Anh ta trả lời một cách lo lắng: “Thưa có, cha có nghĩ hai két bia và một chai whisky là đủ chứ?”. Cha xứ: !!!

3. Dẫn vào bài

Tâm tình trên của anh thương gia cũng phần nào giống như tâm tình của dân Do-thái xưa, chỉ chú trọng tới hình thức. Với bối cảnh đất nước đang bị đế quốc Rô-ma đô hộ, phần lớn người Do-thái chỉ hy vọng và trông chờ Đấng Cứu Thế đến, dùng quyền năng để đánh đuổi ngoại xâm, giải phóng dân tộc. Tuy nhiên, họ đã nhầm, Đấng cứu thế mà các tiên tri loan báo thời Cựu Ước đến không phải để giải phóng dân tộc Do-thái khỏi ách xâm lăng, nhưng để giải thoát nhân loại khỏi ách thống trị của tội lỗi và sự dữ. Vì vậy, sự chuẩn bị ở đây có ý nói tới lĩnh vực thiêng liêng chứ không phải hình thức bên ngoài. Trong tâm tình đó, khi kết thúc chương trình Giáo lý Thánh Kinh Cựu ước, chúng ta cũng được mời gọi chuẩn bị tinh thần để đón chờ Đấng Cứu Thế đến giải phóng chúng ta khỏi ách nô lệ của sự dữ và những cám dỗ của nó.

4. Đọc Thánh Kinh: (Lc 3, 2-6 )

Lời Chúa trong Tin Mừng theo thánh Lu-ca.

Có Lời Chúa phán cùng con ông Da-ca-ri-a là ông Gio-an trong hoang địa. Ông liền đi khắp vùng ven sông Gio-đan, rao giảng, kêu gọi người ta chịu phép rửa, tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội, như có lời chép trong sách ngôn sứ I-sai-a rằng: Có tiếng người hô trong hoang địa: hãy dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi. Mọi thung lũng, phải lấp cho đầy, mọi núi đồi, phải bạt cho thấp, khúc quanh co, phải uốn cho ngay, đường lồi lõm, phải san cho phẳng. Rồi hết mọi người phàm sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa.

Đó là Lời Chúa.

B. NỘI DUNG.

1. Quan niệm về Đấng Cứu Thế

a. Về mặt chính trị – xã hội

Từ khi trở về quê (hồi hương), dân Do-thái bị đế quốc Ba-tư cai trị gần 200 năm; đế quốc Hy-lạp cai trị gần 200 năm nữa. Năm 166 trước Chúa Giê-su giáng sinh, anh em nhà Ma-ca-bê đã lãnh đạo toàn dân vùng lên khởi nghĩa và dành độc lập được khoảng 100 năm. Đến năm 62 trước Chúa giáng sinh, họ lại bị rơi vào tay đế quốc Rô-ma.

Dưới ách thống trị của ngoại bang, dân Do-thái ngày đêm mong đợi Đấng Mê-si-a (Đấng Cứu Thế) mà các ngôn sứ đã loan báo. Tuy nhiên, đa số dân chúng trong lúc đó chưa hiểu được vai trò đích thật của Đấng Mê-si-a là cứu chuộc loài người khỏi ách nô lệ tội lỗi. Họ mong ước được giải phóng về mặt chính trị cho nên họ hình dung Đấng Cứu Thế sẽ đến như một vị vua trần gian, một nhà cải cách xã hội, hoặc một sứ giả từ trời xuống dùng mọi thứ quyền phép để bình định thiên hạ.

b. Về mặt tôn giáo

Thời đó trong dân Ít-ra-en cũng có những người sống tinh thần nghèo khó, họ khao khát mong chờ Đấng Cứu Thế theo gương các ngôn sứ loan báo:

Ngôn sứ I-sai-a cho biết, Đấng Cứu Thế sẽ do một trinh nữ sinh ra và được đặt tên là Em-ma-nu-en, nghĩa là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta” (Is 7, 14). Người là Tôi Trung của Thiên Chúa, phải chịu nhiều đau khổ vì chúng ta (x. Is 52, 13 - 53).

Ngôn sứ Mi-kha báo trước rằng, Đấng Cứu Thế sẽ sinh ra ở Bét-lem nước Giu-đa (x. Mk 5, 1).

Ngôn sứ Giê-rê-mi-a và ngôn sứ Ê-dê-ki-en báo trước Đấng Cứu Thế sẽ lập giao ước mới, ban Thánh Thần của Ngài cho ta (Gr 31, 31-34; Ed 36, 24 - 28). Chuyện ông Giô-na ở trong bụng cá ba ngày nhằm báo trước rằng Đấng Cứu Thế sẽ chết chôn trong mồ và ngày thứ ba sẽ sống lại (Mt 12, 40).

Những người mong đợi Đấng Cứu Thế theo hướng tâm linh này được gọi là nhóm những người nghèo của Chúa. Tiêu biểu là Đức Maria, Mẹ Chúa Giê-su, thánh Giuse, ông Da-ca-ri-a và bà Ê-li-sa-bét, cụ Si-mê-on, cụ An-na… họ mong đợi Đấng Cứu Thế đến thiết lập Nước Thiên Chúa, một nước rộng lớn lan tràn khắp thế giới. Ngài sẽ xây dựng một Đền thờ mới cho các dân tộc đến thờ phượng Thiên Chúa. Ngài sẽ thiết lập một giao ước mới và đổi mới tâm hồn mọi người. Đó là những hình ảnh về Nước Thiên Chúa mà Đấng Cứu Thế sẽ thiết lập.

2. Gio-an Tẩy Giả – vị Tiền hô của Đấng Cứu Thế

a. Con người của Gio-an

Vào những ngày Chúa Giê-su sắp xuất hiện rao giảng Tin mừng, người ta xôn xao nhắc lại cho nhau một lời sách ngôn sứ Isaia: “Có tiếng người hô trong hoang địa, hãy dọn đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi” (Lc 3, 4). Người ta xôn xao như thế bởi vì ông Gio-an Tẩy giả đã khởi sự rao giảng. Tin mừng Thánh Mát-thêu cho biết, Gio-an Tẩy giả là con của tư tế Da-ca-ri-a và bà Ê-li-sa-bét đã được sinh ra cách lạ lùng. Hai ông bà là người hiếm muộn, nhưng Thiên Chúa đã nhận lời ông cầu xin, sai sứ thần đến truyền tin cho ông : “ ...bà Ê-li-sa-bét vợ ông sẽ sinh cho ông một đứa con trai, và ông phải đặt tên cho con là Gio-an. Ông sẽ được vui mừng hớn hở, và nhiều người cũng được hỷ hoan ngày con trẻ chào đời.” (Lc 1, 13-14). Để làm bảo chứng cho niềm tin ấy, Thiên Chúa đã để cho ông Da-ca-ri-a bị câm cho đến khi Gio-an được chào đời. Trình thuật Thánh Kinh cũng cho biết, Gio-an càng lớn lên thì tinh thần càng vững mạnh. Ông vào sống ẩn dật trong hoang địa, ăn châu chấu và uống mật ong rừng, cho đến ngày ra mắt dân Ít-ra-en tại vùng sông Gio-đan. Sau cùng, ông bị vua Hê-rô-đê chém đầu do sự xúi dục của hoàng hậu Hê-rô-đi-a, vì ông đã ngăn không cho vua lấy vợ của em mình.

b. Sứ điệp của Gio-an Tẩy giả

Theo suy luận của nhiều học giả Thánh Kinh, Gio-an Tẩy giả được coi là vị tiên tri cuối cùng của thời Cựu Ước. Ông được Thiên Chúa sai đến để dọn đường cho Đấng Cứu Thế, như đã chép trong Tin mừng theo Thánh Lu-ca rằng: “Em sẽ đưa nhiều con cái Ít-ra-en về với Đức Chúa là Thiên Chúa của họ. Được đầy quyền năng của ngôn sứ Ê-li-a, em sẽ đi trước mặt Chúa, để làm cho lòng cha ông quay về với con cháu, để làm cho tâm tư kẻ ngỗ nghịch lại hướng về nẻo chính đường ngay và chuẩn bị một dân sẵn sàng đón Chúa.” (Lc 1, 16-17). Để thực hiện sứ vụ đó, Gio-an Tẩy giả đã làm phép rửa giúp mọi người thống hối, sửa đổi đời sống để tiếp nhận Đấng Cứu Thế.

C. KẾT THÚC

1. Bài học áp dụng

« Hãy Dọn đường Chúa » chính là lên đường. Nếu Đức Kitô là con đường mà Thiên Chúa đã ban tặng cho nhân loại thì dọn đường Chúa là đón nhận chính Đức Kitô và cất bước theo Ngài. Dọn đường Chúa là để cho Đức Kitô bạt đi những núi đồi kiêu ngạo, lấp sâu những hố sâu thù hận ngăn cách ta với Chúa cũng như với mọi người, uốn nắn lại những gì quanh co, không ngay thẳng trong lòng mình.

Lời Chúa hôm nay còn mang lại cho chúng ta niềm hy vọng. Một hy vọng đặt nền tảng trên niềm tin Ki-tô giáo: Thiên Chúa đã khai mở lối đi để con người tiến bước vững vàng "dưới ánh sáng vinh quang của Chúa, cùng với lòng thương xót và sự công chính của Ngài". Vì thế, dọn đường Chúa vừa là một hồng ân vừa là trách nhiệm đòi hỏi các ki-tô hữu thi hành nghiêm túc trong cuộc sống.

Hằng năm, mỗi khi Mùa Vọng trở về, hình ảnh vị ngôn sứ của rừng sâu và sa mạc lại đến. Khi đó, chúng ta lại có dịp sống tâm tình mong đợi Chúa Giê-su, đổi mới tâm hồn để đón chờ Ngài đến trong đời ta và trong ngày tận thế. Mặt khác, mỗi người trong chúng ta cũng được mời gọi để trở nên một tiếng kêu trong sa mạc, dọn đường cho Chúa đến; được mời gọi để san bằng đồi núi, dọn thẳng đường lòng mà trước hết là đường tâm hồn của chính mình và xin Chúa ngự đến, nhờ đó chúng ta giới thiệu Đấng Cứu Thế cho người khác, như xưa ông Gio-an đã giới thiệu Chúa cho người Do-thái vậy.

2. Gợi ý cầu nguyện

Lạy Chúa, Con Thiên Chúa xuống thế làm người để mang bình an cho nhân loại. Trong xã hội ngày nay chiến tranh, hận thù và chia rẽ còn lan tràn khắp nơi. Xin làm cho chúng con thành những người xây dựng hoà bình, sống yêu thương chan hòa với mọi người. Xin Chúa ban sức mạnh Thần Khí cho chúng con để chúng con can đảm tố giác bất công, áp bức, bóc lột và kỳ thị, góp phần xây dựng một xã hội tốt đẹp như ý Chúa mong muốn; đồng thời, Xin Chúa Cứu Thế ngự trị trong tâm hồn chúng con, biến đổi con trở nên giống Ngài. Amen. 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

---—&–---

1.      Kinh Thánh (bản dịch của Lm Nguyễn Thế Thuấn), Nxb Tôn Giáo, Hà Nội, 2004.

2.      Lời Chúa cho mọi người (bản dịch của nhóm các giờ kinh Phụng vụ), Nxb Tôn Giáo, Hà Nội, 2006.

3.      Thánh Công đồng Chung Vaticanô II, Phân khoa Thần học Giáo Hoàng học viện Thánh Piô X, Đà Lạt, 1972.

4.      Ban biên soạn chương trình Giáo lý Phổ thông Giáo phận Nha Trang, Giáo lý Kinh Thánh 1, Nxb Thuận Hoá, 1996.

5.      J. Dheilly, Từ điển Kinh Thánh, tập I, II, III, IV, Tp. Hồ Chí Minh, 1993.

6.      A. Hari (Chủ biên), Đi tìm Lời Chúa trong Thánh Kinh (bản dịch của Lm Bảo Tịnh), tập I, Nxb Les Éditions Ouvrères – Paris.

7.      W. Harrington OP, Dẫn vào Cựu Ước lịch sử Israel.

8.      Etienne Charpentier, Du lịch Thánh Kinh (bản dịch của cha Carolo Hồ Bặc Xái).

9.      John Brook, Trường cầu nguyện của mọi Kitô hữu, 1996.

10. Marcel Le Dorze, Tiếp cận Thánh Kinh trong 100 tuần, (bản dịch của Duyên Thập Tự O.S.B), Đan viện Thiên An, 1995.

11. Bel San Louis, SVD, Vui sống với nụ cười.

12. Vũ Huy Chương, Lịch sử cứu độ, Đại Chủng viện Thánh Qúi, Cần Thơ.

13. Trần Phúc Nhân, Tìm hiểu Cựu ước, 1995.

14. Hồ Bặc Xái, Bài học Cựu Ước, Đại Chủng viện Thánh Qúi, Cần Thơ, 1996.

15. Martin Trần Đức, Dẫn nhập vào Kinh Thánh Cựu ước, quyển I: Ngũ thư và các sách lịch sử, Sata Ana, 2004.

16. Martin Trần Đức, Dẫn nhập vào Kinh Thánh Cựu ước, quyển II: Các sách Khôn ngoan và các sách lịch sử , Đại Chủng viện Thánh Giuse, Hà Nội, 2007.

17. Trần Thanh Long, OP. Giới thiệu các sách Ngôn sứ, (Tài liệu lưu hành nội bộ lớp Giáo lý cho người trưởng thành), tháng 11 năm 2003.

18. Nguyễn Ngọc Rao, O.P, Tìm hiểu các sách Giáo huấn, Giáo trình môn Kinh Thánh lớp bồi dưỡng liên tu sỹ, 1999.

19. Nguyễn Ngọc Rao. O.P, Tìm hiểu các sách Lịch sử, 2002.

20. Nguyễn Ngọc Rao, O.P, Tìm hiểu Ngũ thư, 2005.

21. Nguyễn Ngọc Rao. O.P, Tìm hiểu các sách Ngôn sứ, 2006.

22. Nguyễn Quang Vinh (chuyển ngữ), Trả lời 101 câu hỏi về Thánh Kinh.

23. Hoàng Minh Tuấn, 100 bài Giáo lý Thánh Kinh (Lưu hành nội bộ), 1999.

24. Thiên Phúc, Lời gọi yêu thương, 30 câu chuyện, suy niệm và cầu nguyện.

25. Từ điển Bách Khoa tri thức phổ thông,  Nxb Thống kê.


Sinh hoạt khác

Tin Giáo Hội

Mục Tổng Hợp

» Xem tất cả Video

Liên kết web

Bài viết được quan tâm