Danh mục bài viết

Cập nhật 21/10/2011 - 23:25 - Lượt xem 5344

RADIO VERITAS ĐỔI MỚI VÀ TRUYỀN CẢM HỨNG CHO HÀNG TRIỆU NGƯỜI TẠI ẤN ĐỘ Bài của Prakash Chand Dubey

PATNA, Ấn Độ (UCAN). ― Anh Sudhir Mishra, một người Hinđu tại một làng hẻo lánh ở Ấn Độ, nói rằng sở dĩ anh vẫn còn sống là nhờ một đài phát thanh Công Giáo tại Philíppin. Người cha 27 tuổi này có ba đứa con và sinh sống tại làng Barwa của bang Bihar. Anh thú nhận anh đã định tự tử vì không chịu đựng nổi những giày vò của những người trong gia đình vì anh bị thất nghiệp, cho tới một lần tình cờ nghe đài phát thanh anh đã thay đổi cuộc đời mình.

 

Chuyện xảy ra hồi tháng giêng vừa qua. Anh nghe một bài giảng trên đài bằng tiếng Hinđi nói về dụ ngôn Đứa Con Hoang Đàng của Tin Mừng Thánh Luca. Misha sau đó viết về sự thay đổi này trong tâm hồn mình và gửi đến đài phát thanh do Liên Đoàn Giám Mục Châu Á điều hành và đặt cơ sở ngay ở ngoại ô Manila.
Theo Linh mục Dòng Tên Arun Ignatius Abraham, trợ lý điều hành chương trình Radio Veritas bằng tiếng Hinđi, các lá thư như của Mishra cho thấy hàng ngàn người ở Bắc Ấn Độ tìm thấy ý nghĩa mới trong cuộc sống nhờ chương trình này.
Radio Veritas nhận được trung bình 6 ngàn lá thư mỗi năm từ các thính giả Hinđi, theo lời Cha Abraham, giám đốc một trung tâm truyền thông vùng ở thủ phủ Bihar của Patna, cách New Delhi 1.015 kilômét về phía đông. Ngài cho UCA News biết các lá thư ấy cho thấy “số lượng thính giả chúng tôi đạt tới là khổng lồ vì tình trạng biết chữ rất thấp trong số thính giả chúng tôi nhắm tới,” và ngài ước tính rằng chương trình của ban phát thanh tiếng Hinđi đến được với hàng triệu người ở Bắc Ấn Độ.
TGM Telesphore Toppo của giáo phận Ranchi ca ngợi đài phát thanh này như là ‘nhà truyền giáo trên đất Hinđi,” vì đài này đang làm điều mà giới giáo sĩ không làm được trên đất bởi vì quá thiếu người. TGM nói nhiều triệu người nghe đài trong vùng này là thổ dân và những người dalit (những dân không thể nào tiếp cận được).
Trong số những thính giả hâm mộ đài tại địa phương này có ông Tirtharaj Kushwaha, 54 tuổi, ở làng Rampurwa, cách Patna 300 kilômét về phía bắc. Người dân làng Hinđu này cho UCA News biết hồi tháng 11 rằng ông đã “hầu như nghiện” đài Satya Swar (‘Tiếng Nói Chân Lý’) phát lúc 7 giờ tối bằng tiếng Hinđi từ ba năm nay. Ông nói ông tình cờ bắt được đài này trong lúc mở nghe tin tức của đài BBC.
 
“Đương nhiên có các đài khác cho bạn các tin tức chính trị và các sự kiện xã hội khác, nhưng Satya Swar nói cho bạn những điều rất cơ bản của đời sống,” Kushwaha giải thích. Ông cũng nói ông không thấy có gì mang tính chất phe phái trong chương trình này, mặc dù nó đặt nền trên các giáo huấn Kitô giáo và Kinh Thánh. Rađiô Công Giáo “hoàn toàn không’ phương hại gì đến đức tin Hinđu của ông, ông khẳng định như vậy, mà chỉ giúp ông quan tâm nhiều hơn tới lợi ích của dân làng của ông.
Các tình cảm như thế của thính giả đã thúc đẩy Cha Carlos Lariosa Dòng Thừa Sai Lời Chúa và là tổng giám đốc của Radio Veritas, gọi chương trình phát thanh bằng tiếng Hindi là “tiếng nói của Hội Thánh Công Giáo” tại Bắc Ấn Độ. Vị linh mục có trụ sở đặt tại Philíppin này đã nói chuyện với UCA News hồi tháng mười đang khi ngài đến Patna thuyết trình cho các giám mục của vùng nói tiếng Hinđi.
Cha Deepak Sulaya, một đồng nghiệp đặc trách điều phối chương trình, cho nhận xét rằng tiếng Hinđi là ngôn ngữ có số người nói đông thứ ba trên thế giới, sau tiếng Trung Quốc và tiếng Anh. Cha nói với tờ UCA News rằng chương trình phát sóng 30 phút sáng và tối của đài Satya Swar trình bày các giá trị của Nước Thiên Chúa “trong môi trường văn hoá và xã hội địa phương.”
Cha nói rằng các chương trình đề cập tới “hàng loạt vấn đề khác nhau nói lên các giá trị của Nước Thiên Chúa” và cống hiến những nhận thức sâu sắc về các giá trị văn hoá, xã hội và gia đình. Trong chương trình có các mảng về “Các Lời dạy của Đức Kitô” và “Cuộc đời các Thánh.”
Theo Cha Abraham, 97% người nghe đài này là người thuộc các tôn giáo khác, đa phần là Hinđu. Họ ở độ tuổi từ 15-40 và làm các nghề khác nhau, gồm cả nghề nông và nghề giáo.
Linh mục Dòng Tên này nói đa số các thư đến từ các câu lạc bộ nghe đài. Có vài trường hợp, cả một làng là một câu lạc bộ và những người có học trong số họ viết thư. Các lá thư chứng tỏ rằng các chương trình đã giúp thay đổi lối sống và các giá trị của họ, khơi nguồn cảm hứng cho họ theo Đức Kitô trong việc phục vụ tha nhân, Cha nói.
Khi Misha gửi thư hồi tháng 6, anh nói anh đang kiếm được tiền nhờ dạy học cho các trẻ em trong làng. “Nhưng trên hết, tôi đã trở thành một con người đáng kính trong làng,” anh cử nhân này nói thêm. Anh nói anh tự hỏi không biết anh có thể ra như thế nào nếu anh đã không nghe câu truyện về Udau Putra (Đứa Con Hoang Đàng).
 
“Đúng vậy, chương trình này đã cho tôi punarjanama (‘tái sinh’), anh nói. (HẾT)
 
Truyền hình cũng có thể được sử dụng cho việc truyền thông truyền giáo. Kênh chủ yếu Tin Lành “Tele-evangelists” tại Hoa Kỳ có một thời khá thành công trong các chương trình của nó. Với một định hướng nhấn vào sức khoẻ và giàu sang nhờ đức tin Kitô giáo, các chương trình này đã thu hút được khá đông khán thính giả và nhờ đó đã xây dựng được các cộng đồng xung quanh chương trình của họ. Thêm vào đó, họ còn thu nhận được khá nhiều tài trợ nên trong vài trường hợp họ đã có thể mở các cơ sở và trường đại học của họ. Tuy nhiên sau một số vụ tai tiếng và các vấn đề khác nữa, ảnh hưởng ban đầu của họ giảm dần, mặc dù các chương trình của họ đã phổ biến khắp thế giới với một định hướng và phương thức nhắm nhiều hơn tới khán thính giả Mỹ. Với cách làm này, họ đương nhiên không đáp ứng các nhu cầu và kỳ vọng của dân chúng tại các nước Châu Âu, huống hồ các nước không Kitô giáo tại Châu Âu hay Châu Phi. Tại hầu hết các nước Châu Á, ngoại trừ nước Philíppin mà phần đa dân số là người Công Giáo, thì việc đưa các chương trình thuần tuý Kitô giáo lên màn hình TV quả là rất khó, trừ một vài dịp đặc biệt như các lễ Giáng Sinh và Phục Sinh. Tại các nước ấy, có lẽ phương thức “thuyết phục gián tiếp” có nhiều cơ may thành công hơn nhưng cũng không dễ thực hiện.
 
Các truyện truyền hình kiểu ‘telenovelas’ có xuất xứ từ Châu Mỹ Latinh nhưng cũng được áp dụng cho các môi trường Châu Á có thể có một hiệu quả truyền thông truyền giáo nếu chúng dọi chiếu các giá trị và nếp sống Kitô giáo. Người ta thường rất dễ bị cám dỗ theo gương các ‘người hùng’ trong truyện và cách sống và ứng xử của những người này.
 
Vai trò chính của truyền hình trong việc truyền thông truyền giáo thực sự là ở giai đoạn tiền-rao giảng Tin Mừng: chuẩn bị một bầu khí và mảnh đất để đức tin Kitô giáo được dung nạp và có thể được chấp nhận một cách tích cực như một đối tác. Về phương diện này, một tường thuật về các nhân cách lỗi lạc như Mẹ Têrêsa Calcutta hay ĐGH Gioan Phaolô II sẽ có tác dụng rất lớn. Một tường thuật về các chuyến đi của Đức Giáo Hoàng đôi khi tạo được một ảnh hưởng vượt quá một khu vực riêng lẻ, và trở thành biểu tượng cho khát vọng hoà bình và hiệp nhất của thế giới nếu chẳng hạn ngài đi thăm một đền thờ Hồi Giáo hay các lãnh thổ của Paléttin tại Israel.
 
Tuy nhiên việc thiết kế chương trình TV cho truyền thông truyền giáo đòi hỏi một sự bén nhậy đặc biệt của nhà sản xuất và tất cả những người có liên quan, để họ biết kính trọng phẩm giá và các niềm xác tín của những nhân vật được tường thuật hay được nói tới.
 
Các câu truyện là những phương tiện truyền thông rất mạnh. Riêng đối với truyền thông truyền giáo cũng vậy. Các câu truyện kể trực tiếp diện đối diện, và cả các câu truyện phát sóng trên đài, rất dễ tạo ảnh hưởng đối với con người. Tuy nhiên các công trình nghiên cứu cho thấy rằng các vở kịch phát trên rađiô thường có ảnh hưởng mạnh hơn các màn trình diễn trên TV. Nhờ chăm chú nghe trên rađiô, trí tưởng tượng của người nghe được kích thích và thách thức mạnh hơn các câu truyện trên TV, vì trên TV cái gì cũng được phô bày và cái gì cũng có thể xem thấy. Trong các vở kịch trên TV, không có nhiều chỗ được dành cho trí tưởng tượng của người xem hoạt động. Một câu truyện TV thường được chấp nhận và trải nghiệm như một thông tin hơn là một cái gì mà người xem trực trực tiếp tham dự. Ngược lại kịch rađiô buộc người nghe phải tham dự vào bằng trí tưởng tượng của mình. Dầu sao vẫn phải lưu tâm tới sức mạnh đặc biệt của các hình ảnh.
 
Sự tiếp xúc cá nhân và các câu truyện cuộc đời luôn luôn có giá trị lớn trong truyền thông truyền giáo và thường tác động mạnh hơn bất cứ lý thuyết hay suy tư tốt nhất nào.
 
7.3.1        Phim
 
Người ta thích nghe các câu truyện và dễ bị ảnh hưởng bởi chúng. Ngay tứ lúc mới được phát minh năm 1895, phim ảnh đã muốn thoả mãn tính tò mò của con người. Phim diễn lại các câu truyện cuộc đời bằng nhiều cách khác nhau và các câu truyện về những mảnh đời thường khơi dậy nhiều cảm xúc. Dần dà với sự phát triển của nó, phim đã trở thành một mảng nghệ thuật, đặc biệt trong nghệ thuật kể truyện. Chẳng hạn phim có thể kể những câu truyện về các thánh và các người tội lỗi trong số các vĩ nhân trong lịch sử, cũng như những con người bình thường trên đường phố. Các truyện phim trình bày các giá trị và gương đời sống và bằng cách này chúng dễ có một hiệu quả truyền thông truyền giáo. Các giá trị Kitô giáo trong các phim chia sẻ một điều gì đó của Tin Mừng. Trong lịch sử, các phim đã vẽ lên chân dung của các thánh như Thánh Phanxicô Assisi hay Vinhsơn Phaolô, đã trình bày câu truyện Lộ Đức (“Bài ca của Bernadette”) và cuộc đời của các linh mục và tu sĩ như “Nhật ký của một Linh mục Miền Quê” (Bresson).
 
Cũng có khá nhiều phim kể truyện Chúa Giêsu như phim “Tin Mừng Thánh Mátthêu” (Pasolini) hay vẽ lại chân dung Đức Giêsu dựa trên Kinh Thánh. Ấn Độ cũng sản xuất một phim về cuộc đời Chúa Giêsu được khởi xướng bởi Amruthavani, trung tâm truyền thông của Tổng giáo phận Hyderabad, phim rất được hưởng ứng bởi những người Hindu và Hồi Giáo và được lồng hai thứ ngôn ngữ khác nhau của Ấn Độ. Phim loại này có thể được coi là một ví dụ về truyền thông truyền giáo.
 
Cũng có những phim mà các vai chính trở thành phần nào “các diện mạo Đức Kitô” phản ánh cách này hay cách khác chính Đức Giêsu Kitô hay một cách đặc biệt các giá trị của Đức Kitô.
 
Ví dụ, nếu Babette, một người tị nạn từ Paris đến Jutland ở Đan Mạch, trong phim “Bữa Tiệc của Babette,” đã tiêu toàn bộ số tiền chị nhận được từ cuộc chơi lô-tô ở Pháp để chiêu đãi một bữa ăn trong một nhà dòng, thì mặc dù chị không có mặt trong bữa ăn, câu truyện cũng được xem như phản ánh tiệc Thánh Thể và hành vi tự trao ban của chính Chúa Giêsu Kitô. Có nhiều phim khác với các hành động và các diện mạo của Đức Kitô giống như thế, làm cho khán giả cảm thấy sinh động và suy tư về cuộc đời và số phận của mình. Communio et Progressio thậm chí còn nhắc nhở chúng ta rằng “trong số những phim được công nhận là kinh điển, nhiều phim đã bàn chuyên về các đề tài tôn giáo. Sự kiện này không những chứng minh rằng điện ảnh là một kênh truyền tải những đề tài cao đẹp như thế, nó còn là một sự khích lệ mạnh để sản xuất các phim loại này.”
 
Những lời ĐGH Piô XII đã viết trong Thông điệp Miranda Prorsus từ năm 1957 (số 74) vẫn còn giá trị hôm nay cho việc truyền thông truyền giáo: “Điện ảnh. . . ngày nay phải được kể trong số những phương tiện quan trọng nhất nhờ đó các ý tưởng và khám phá của thời đại chúng ta được biết đến.”
 
Khi bình luận về 100 năm Điện Ảnh, ĐGH Gioan Phaolô II trong Thông điệp cho Ngày Thế Giới Truyền Thông 1995 đã nhắc nhở chúng ta: “Với khả năng to lớn của nó, điện ảnh có thể trở thành một phương tiện mạnh mẽ cho việc rao giảng Tin Mừng. Hội Thánh thúc đẩy các nhà sản xuất, các đạo diễn và mọi người có liên quan, những người tự nhận mình là Kitô hữu và hoạt động trong thế giới phức tạp và độc đáo này của điện ảnh, hãy hành động một cách nhất quán với Đức Tin của mình và có những sáng kiến can đảm. . . để nhờ hoạt động chuyên nghiệp của họ, thông điệp Kitô giáo với nội dung là Tin Mừng cứu độ cho mọi người có thể hiện diện nhiều hơn trên thế giới.”
 
ĐGH nhìn thấy tiềm năng truyền giáo của Điện Ảnh đặc biệt trong mối tương quan giữa phim ảnh và văn hoá. Trong một cuộc tiếp tân ngày 25 tháng 11, 1999 dành cho các nhà sản xuất phim, ngài nói: “Tôi cũng tin tưởng rằng các phim quí vị sản xuất sẽ là một trợ cụ hiệu quả trong cuộc đối thoại cần thiết đang diễn ra giữa văn hoá và đức tin trong thời đại chúng ta. Trong thế giới điện ảnh và truyền hình, nơi đồng qui của lịch sử, nghệ thuật và ngôn ngữ biểu cảm, hoạt động của quí vị trong tư cách là các nhà chuyên môn và là tín hữu, đang tỏ ra đặc biệt cần thiết. Tự chính bản chất của nó, văn hoá là truyền thông: truyền thông của các cá nhân với nhau và của con người với môi trường sống của họ. Được đức tin soi sáng, văn hoá có thể phản ánh cuộc đối thoại của cá nhân với Thiên Chúa trong Đức Kitô. Vì vậy đức tin và văn hoá được kêu gọi gặp gỡ nhau và tương tác với nhau ở chính trong lãnh vực truyền thông. Đặc biệt ở thời đại chúng ta được đánh dấu bởi sự phát triển của các phương tiện truyền thông đại chúng, văn hoá bị ảnh hưởng và về nhiều phương diện được hình thành bởi các khả năng mới của các phương tiện truyền thông. Lưu ý đến sự kiện này là điều quan trọng.”
 
7.4          Truyền thông Đa phương tiện: Truyền giáo Điện tử
 
Trong văn kiện Gaudium et Spes về Hội Thánh trong Thế Giới Hôm Nay, các Nghị phụ Công Đồng viết rằng tiến bộ kỹ thuật đã đang “biến đổi bộ mặt trái đất” và đang vươn tới chinh phục không gian (GS số 5). Theo hướng này, thông điệp cho Ngày Thế Giới Hoà Bình năm 1990 của ĐGH Gioan Phaolô II về ‘thông điệp Kitô giáo trong một văn hoá máy tính’ quả quyết rằng các Nghị phụ Công Đồng đã “nhìn nhận rằng các phát triển về công nghệ truyền thông . . . sẽ tạo ra những phản ứng dây chuyền với những hậu quả không thể lường trước được.” Nhưng cũng theo tinh thần này của Gaudium et Spes, “dân Thiên Chúa (phải) sử dụng với óc sáng kiến các khám phá và các kỹ thuật mới vì lợi ích nhân loại và sự hoàn thành ý định của Thiên Chúa đối với thế giới.” Trong lãnh vực này, “Hội Thánh được cống hiến thêm phương tiện hoàn thành sứ mạng của mình.” Ngoài việc gia tăng sự truyền thông đối nội (‘ad intra’), Hội Thánh với sự giứp đỡ của các công nghệ mới cũng có thể “sẵn sàng hơn để loan báo cho thế giới biết các niềm tin của mình và cắt nghĩa các lý do cho lập trường của mình đối với mọi vấn đề và sự kiện liên quan.”
 
Điều này tạo ra những cơ hội mới cho việc truyền thông truyền giáo của Hội Thánh, dựa trên các nhận xét chung của Vaticanô II (GS số 58) rằng “Thiên Chúa đã nói với loài người tuỳ theo nền văn hoá riêng của mỗi thời đại. Cũng vậy, Hội Thánh trong dòng lịch sử đã tồn tại giữa các hoàn cảnh khác nhau, đã sử dụng các nguồn lực của các nền văn hoá khác nhau trong việc rao giảng của mình để truyền bá và cắt nghĩa thông điệp của Đức Kitô.” ĐGH Gioan Phaolô II đã hiểu theo tinh thần này khi ngài vạch ra chức năng truyền giáo của Internet trong cuộc gặp gỡ các giám đốc của các Hội Giáo Hoàng Truyền Giáo của Hoa Kỳ ngày 23 tháng 2, 2003. Ngài nói: “Sự phát triển của Internet những năm gần đây cống hiến một cơ hội chưa từng có để mở rộng cánh đồng truyền giáo của Hội Thánh, vì nó đã trở thành một nguồn thông tin và truyền thông hàng đầu cho biết bao con người thời đại chúng ta, đặc biệt là giới trẻ.”
 
7.4.1        Các Chương trình trên Mạng
 
Chính trong thông điệp cho Ngày Thế Giới Truyền Thông năm 2002 về “Internet: Một Diễn Đàn Mới cho việc Rao giảng Tin Mừng,” ĐGH Gioan Phaolô II đã nói chi tiết hơn về việc phải sử dụng Internet thế nào cho việc truyền thông truyền giáo.
 
Qua Internet, Hội Thánh không chỉ tham gia cuộc đối thoại của xã hội giống như người ta ngồi nói chuyện ở nơi họp chợ (Forum, Aeropagus) của thế giới. Nhờ Internet mà các thông tin và suy tư về đức tin Kitô giáo cũng được truyền đạt. Internet có thể kích thích sự quan tâm “và làm cho cuộc gặp gỡ đầu tiên với thông điệp Kitô giáo có thể thực hiện được.” Điều quan trọng là phải duy trì và phát triển mối quan tâm này, đặc biệt giữa giới trẻ. Tuy nhiên, ta phải ý thức rằng cuối cùng người ta cũng sẽ phải bỏ thế giới ảo để vào thế giới thật của cộng đoàn Kitô giáo.
 
Một khả năng nữa trong việc sử dụng Internet cho việc truyền giáo là cung cấp sự giúp đỡ tiếp theo sau cuộc gặp gỡ ban đầu. Các chương trình Internet có thể giúp đào sâu đức tin và nhận thức. Chúng có thể được dùng cho việc giảng dạy giáo lý ban đầu và thường xuyên, và cũng được dùng để chia sẻ kinh nghiệm đức tin, trả lời các câu hỏi và cung cấp một bối cảnh tốt hơn cho các cuộc gặp gỡ ban đầu và các kinh nghiệm đức tin.
 
Nhưng việc sử dụng Internet trong truyền thông truyền giáo cũng có một số hạn chế. Trong một nền văn hoá sống dựa trên cái phù du, người ta dễ rơi vào nguy cơ tin rằng cái quan trọng là các sự kiện chứ không phải các giá trị. Internet cung cấp những sự hiểu biết hết sức rộng rãi, nhưng không dạy các giá trị; và khi các giá trị bị coi thường, thì chính nhân tính của chúng ta cũng bị hạ thấp và người ta dễ đánh mất phẩm giá siêu việt của mình. Bất chấp những tiềm năng to lớn của nó cho sự thiện, ai ai cũng đã thấy rõ ràng một số cách thức đê hèn và bần tiện mà việc sử dụng Internet gây ra. . .”
 
Các chương trình được thiết kế đặc biệt cho truyền thông truyền giáo trên Internet có thể là hình thức cung cấp thông tin đơn giản qua các website (vd., www.vatican.va), nhưng cũng có cả các dịch vụ tư vấn, các thắc mắc và trả lời; chúng có thể là các ‘phòng-chat’ hay các hình thức đối thoại khác để trao đổi kinh nghiệm và ý kiến. Có thể có các chương trình huấn luyện và đào tạo qua Net cho các cuộc tiếp xúc đầu tiên và cả cho việc đào sâu hiểu biết và xác tín. Các chương trình Iternet có thể sinh động hoá và khuyến khích thêm nhiều cuộc tiếp xúc và kinh nghiệm đức tin sâu hơn. “Nhờ Internet người ta có thể gia tăng các mối tiếp xúc bằng các cách xưa nay chưa từng được nghĩ tới, sự kiện này mở ra những tiềm năng tuyệt vời cho việc loan báo Tin Mừng. Nhưng cũng đúng là các mối quan hệ được thiết lập bằng các phương tiện điện tử không bao giờ có thể thay thế cho sự tiếp xúc cá nhân trực tiếp mà việc loan báo Tin Mừng đích thực đòi hỏi. Vì rao giảng Tin Mừng luôn luôn lệ thuộc vào chứng tá bản thân của người được sai đi rao giảng (xem Rm 10:14-15). Làm thế nào để từ những mối tiếp xúc được cung cấp bởi Internet, Hội Thánh dẫn đến sự truyền thông sâu hơn do việc loan báo của Kitô giáo đòi hỏi? Chúng ta xây dựng thế nào từ sự tiếp xúc và trao đổi thông tin đầu tiên mà Internet cung cấp?” (Thông điệp cho Ngày Thế Giới Truyền Thông 2002).
 
7.4.2        Các Thừa sai Mạng
 
Một số người không chỉ chế ra từ “Tin Lành điện tử” (e-vangelism) theo mẫu các thuật ngữ tương tự như “thương mại điện tử” (e-commerce) và “ngân hàng điện tử” (e-banking). Tin Lành điện tử là một cố gắng hệ thống nhằm sử dụng Internet và không gian mạng (cyberspace) cho việc truyền thông truyền giáo. Tin Lành điện tử sử dụng các chức năng khác nhau của Net để rao giảng và chia sẻ Tin Mừng của Đức Kitô. Những người muốn hiến đời mình cho một hoạt động như thế được gọi là các “thừa sai mạng” (cyber missionaries). Họ đi lại trên không gian ảo như ở nhà mình và chia sẻ Tin Mừng với bất cứ ai họ gặp. Để sử dụng phương pháp này, rõ ràng họ phải là các chuyên gia tin học, đặc biệt về ngành lập trình, và có khả năng xử lý Mạng thành thạo. Nhưng họ cũng phải là những người đầy đức tin và có kinh nghiệm bản thân về Đức Kitô để họ có thể chia sẻ. Đồng thời họ phải là những người hiểu biết mọi nhu cầu và khát vọng của con người. Họ cũng cần ý thức rằng cuối cùng đức tin được sống trong thực tế chứ không phải trong không gian ảo. Bằng cách này, vai trò của các ‘thừa sai mạng’ thường chỉ giới hạn ở giai đoạn gặp gỡ đầu tiên. Họ chỉ mở ra cánh cửa của thực tại ảo để chỉ con đường tới đời sống thực, chạm đến mọi kinh nghiệm của con người. Các ‘thừa sai mạng’ là những chuyên gia ở giai đoạn Tiền-Rao giảng Tin Mừng và họ quảng đại nhường nhiệm vụ đào sâu bên kia không gian ảo cho những người trong các cộng đoàn đức tin sống thực, ở đó sự truyền thông người-với-người chuẩn bị giai đoạn chót cho một cuộc dấn thân sâu xa hơn với Đức Kitô.
 
“Internet làm cho hàng tỉ hình ảnh xuất hiện trên hàng triệu màn hình máy tính trên khắp hành tinh này. Từ ngân hà hình ảnh và âm thanh này, liệu khuôn mặt Đức Kitô có hiện lên không và tiếng nói của Người có được nghe thấy hay không? Vì chỉ khi khuôn mặt Người được nhìn thấy và tiếng nói Người được nghe thấy, thế giới mới biết được tin vui về sự cứu chuộc của chúng ta. Đây là mục đích của rao giảng Tin Mừng. và đây là điều sẽ làm cho Internet trở thành một không gian con người đích thực, vì nếu không có chỗ cho Đức Kitô, thì cũng không có chỗ cho con người.” (Ngày Thế Giới Truyền Thông 2002).
 
1.      Lập kế hoạch và Đào tạo cho Truyền thông Truyền giáo
 
Việc lập kế hoạch cho truyền thông truyền giáo sử dụng cùng những nguyên tắc cơ bản giống như việc lập kế hoạch cho các lãnh vực truyền thông khác. Tuy nhiên nó phải đặc biệt bao gồm một sự suy xét về những con người phải đạt tới. Đôi khi nó có thể có nghĩa là dựa ít hơn vào cơ cấu nhưng xây dựng trên sự linh động, sáng tạo và cởi mở với Chúa Thánh Thần. Nhưng dù vậy, truyền thông truyền giáo không thể thực hiện mà không có một kế hoạch và cơ cấu căn bản. Giống như mọi công trình tương tự, nó cần có kế hoạch thích hợp về nhân sự, hoạt động và tài chánh để có thể tồn tại chứ không chỉ là một công việc ‘đầu voi đuôi chuột.’
 
Việc truyền thông truyền giáo hiệu quả cũng cần có sự đào tạo. Ngoài đào tạo và huấn luyện tổng quát về truyền thông cho các loại phương tiện khác nhau, còn cần có tài năng, các đường hướng và thái độ thích hợp.
 
Vì truyền thông truyền giáo rất thường xuyên đối xử với những người của các nền văn hoá và các bối cảnh văn hoá khác nhau, nên nó cần những hiểu biết căn bản và có thể cả những năng khiếu về truyền thông liên văn hoá. Các hiểu biết căn bản gồm một sự ý thức về những khác biệt trong các nền văn hoá cũng như sự nhậy cảm và sự đáp ứng cả đối với những thái độ và cách ứng xử khác với văn hoá của chính người truyền thông. Truyền thông truyền giáo cần có khả năng phần nào bỏ qua một bên nền văn hoá riêng của mình để đi tới văn hoá của người khác với những cách nhìn, kinh nghiệm và lối sống khác với của mình. Một con người có sự nhậy cảm liên văn hoá phải có thể sống một cách thoải mái trong hai hay nhiều nền văn hoá khác nhau mà không đánh mất căn tính riêng của mình.
 
Nhiều doanh nghiệp quốc tế có các phương thức đào tạo đặc biệt để dạy nhân viên của họ cách ứng xử trong các nền văn hoá khác để thành công hơn trong công việc buôn bán. Có vẻ như trong các cộng đoàn Kitô giáo chưa có cách thực hành này, mặc dù không phải như thế trong các cộng đoàn chuyên lo việc truyền giáo ad gentes. Các sách giáo khoa chuyên về đào tạo và các nghiên cứu thực địa sâu rộng cũng như các tạp chí nghiên cứu về truyền thông liên văn hoá hiện có nhiều nhưng có vẻ như rất ít người Kitô giáo để ý đến điều này. Để làm bất cứ việc truyền thông nào, cần có ít là một khoá học cơ bản.
 
Một sự học hỏi và kinh nghiệm về đối thoại liên tôn hay lãnh vực tôn giáo so sánh cũng rất ích lợi. Khi đối xử với những người thuộc các tôn giáo khác, có ít là một chút hiểu biết cơ bản về họ tưởng cũng là hợp lý.
 
Từ sau Công Đồng Vaticanô II, người ta ngày càng gia tăng sự xác tín về nhu cầu đối thoại liên tôn và đối thoại với văn hoá, là một phần của tiến trình truyền thông truyền giáo. “Đối thoại liên tôn là một phần của sứ mạng truyền giáo của Hội Thánh. Hiểu như là một phương pháp và dụng cụ để hiểu biết lẫn nhau và làm giàu lẫn cho nhau, đối thoại không đi ngược với sứ mạng ad gentes, thực ra nó có liên hệ đặc biệt với sứ mạng này và là một trong các cách diễn tả của sứ mạng này. . .” (Redemptoris Missio số 55).
 
Cũng theo triền tư tưởng này, sẽ hết sức ích lợi nếu người truyền thông truyền giáo thông thạo các lãnh vực khác nhau của truyền giáo học. Truyền giáo học như một môn thần học của Hội Thánh trong sứ mạng ad gentes không chỉ bao gồm các môn học như lịch sử truyền giáo, phương pháp truyền giáo và nền tảng Kinh Thánh của truyền giáo. Nó cũng bao gồm học thuyết thần học làm cơ sở của việc truyền thông truyền giáo. Khi học về các phương pháp truyền giáo, cũng phải học về vai trò của truyền thông xã hội. Trong quá khứ, rất thường xuyên truyền thông được coi chỉ đơn giản như là biết cách sử dụng các phương tiện đại chúng vì các mục đích truyền giáo chẳng hạn. Nhưng theo cách hiểu ngày nay, truyền giáo tự nó là một sự kiện truyền thông và phải được coi và học giống như mọi lãnh vực thần học khác dưới góc cạnh truyền thông này như một nguyên tắc thần học. Thông điệp của ĐGH Gioan Phaolô II cho Ngày Thế Giới Truyền Thông 1990 về “Thông Điệp Kitô Giáo trong một nền Văn Hoá Máy Tính” vạch ra cùng một hướng ấy khi nói:
 
“Ngày nay không ai còn nghĩ hay nói về truyền thông xã hội như chỉ là các dụng cụ hay kỹ thuật. Ngược lại truyền thông xã hội bây giờ được nhìn như một phần của một nền văn hoá còn chưa mở ra hết và các hệ luỵ của nó còn chưa được hiểu hoàn toàn, cũng như các tiềm năng của nó tạm thời mới chỉ được khai thác một phần.” Cùng năm ấy, Thông điệp Redemptoris Missio (số 37c) nói về truyền thông xã hội như là nơi họp chợ (‘areopagus’) hàng đầu của thời đại chúng ta với một ‘văn hoá mới’ phát sinh từ “chính sự kiện là có những cách thức truyền thông mới, với những ngôn ngữ mới, những kỹ thuật mới và một tâm lý mới.”
 
Trong các suy tư Kinh Thánh của ngài về truyền thông xã hội, Hồng Y Carlo Martini đặt một nền móng nữa cho một đường lối truyền thông truyền giáo như thế, nó phải là thành phẩn của mọi việc đào tạo.
 
Truyền thông truyền giáo phải được coi như một cố gắng liên ngành được xây dựng dựa trên các môn thần học, xã hội học cũng như nhân chủng học. Tương tự, điều này cũng đúng với truyền thông mục vụ. Hoạt động mục vụ và truyền giáo của Hội Thánh phải nghiêm túc lấy chiều kích truyền thông làm một cơ sở thần học với những hệ quả xa rộng và thực tiễn.

 


Sinh hoạt khác

Tin Giáo Hội

Mục Tổng Hợp

» Xem tất cả Video

Liên kết website

Bài viết được quan tâm