Danh mục bài viết

Cập nhật 31/10/2019 - 22:2 - Lượt xem 339

Hiệp Thông Trong Đức Tin

...Tháng 11 không chỉ là thời gian để chúng ta cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời, mà đây cũng là lúc để ta suy ngẫm về cuộc đời mình, bởi mỗi khi tiễn đưa một người xuống nấm mồ, chúng ta luôn ý thức chúng ta là những kẻ sẽ chết tiễn đưa những người đã chết...

 

Đất và trời, cảnh và sắc đang giao mùa. Không còn nữa những ngày trời dịu mát với những cơn gió nên thơ thu, thay vào đó là tiết lạnh xem lẫn với những cơn mưa đầu đông làm cho những cành cây phải ngậm ngùi nhìn những chiếc lá vô tình rơi xuống đất mẹ. Mùa nào cũng có cái đặc thù riêng của nó. Mùa đông là lúc mặt trời đang hạ dần xuống điếm thấp nhất về phía nam vào ngày Đông chí, để rồi cao dần lên về phía bắc vào ngày Hạ chí. Ngắm nhìn vạn vật đang trong sự thay đổi tuần hoàn của đất trời, chợt thấy có những bông hoa chưa kịp bung mình hứng đủ ánh sáng thì đã bị đêm đen tĩnh mịch gọi về. Điều này khiến chúng ta nghĩ về kiếp nhân sinh vắn vỏi. Có nhiều cuộc đời cũng “chưa kịp…” như thế và đã lặng lẽ trở về với bóng tối trong lòng đất tĩnh mịch lạnh lẽo cùng sự thương tiếc và nỗi nhớ khôn nguôi của người ở lại. 

Truyền thống của Giáo Hội công giáo dành tháng 11 để đặc biệt cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời. Những ngày đầu tháng 11 này, người Kitô hữu được sống sự hiệp thông của mầu nhiệm “các thánh thông công” cách cụ thể. Ngày 01 tháng 11, Giáo hội hướng về Thiên Quốc, chiêm ngắm vẻ đẹp huy hoàng, vinh hiển của các thánh trên trời, cùng các Thánh dâng lời tạ ơn Thiên Chúa. Sau đó, ngày 2 tháng 11, Giáo Hội – Mẹ chúng ta, mời gọi con cái mình – những người người còn đang chiến đấu trong cuộc lữ hành Đức Tin, hướng tâm tình tới những anh chị em của chúng ta thuộc Giáo hội đau khổ để thông hiệp với các linh hồn nơi thanh luyện. 

Việc cầu nguyện cho người đã khuất mà chúng ta vẫn thường làm khởi đi từ xa xưa. Trong Cựu ước, sách Ma-ca-bê thuật lại việc Giu-đa sau khi đánh bại được quân đội An-ti-ô-cô, đã quyên góp được khoảng hai ngàn quan tiền gửi về Giê-ru-sa-lem để xin dâng lễ đền tội cho những tử sĩ của mình vì trong áo của họ người ta tìm thấy lá bùa của tượng thần Giam-ni-a: đó là điều luật cấm. Điều quan trọng hơn, ông Giu-đa xin dâng lễ đền tội cho những người này vì tin rằng họ sẽ sống lại. Sang thời Tân ước, thánh Phao-lô đã khuyên ông Ti-mô-thê-ô cầu nguyện cho O-nê-si-pho-rô, một cộng tác viên của vị thánh Tông đồ tại Ê-phê-xô (x. 2Tm 1,16-18) và tập tục này được duy trì trong suốt lịch sử hội thánh. 

Qủa thực, việc cầu nguyện cho những kẻ đã qua đời đối là một việc thật ý nghĩa và cần thiết đối với các Kitô hữu bởi:

Các linh hồn hằng cậy nhờ vào lời cầu nguyện của các tín hữu

Trong 150 Thánh vịnh, Thánh vịnh 88  được xem là lời than vãn “tối tăm” nhất trong các lời than vãn, là tiếng kêu van từ sâu tận của một tâm hồn đang thổn thức, não nề.

Lạy Chúa là Thiên Chúa cứu độ con,
trước Thánh Nhan, đêm ngày con kêu cứu.
Nguyện cho lời kinh vọng tới Ngài,
xin lắng nghe tiếng lòng thổn thức. (Tv 88, 2)

Đây chính là lời than vãn của một người còn sống, một tâm hồn tuyệt vọng và “tràn ngập đau khổ”. Nơi đây, mỗi chúng ta thấy mình như đang được nghe khúc ai ca của một kẻ đang nằm sâu trong nấm mồ vì tác giả Thánh vịnh liên tục ví mạng sống của mình như “âm phủ gần kề”, thân xác mình như những tử thi khác bị “vùi trong mồ mả”, “bị Chúa quên đi” và “không được tay Ngài săn sóc”. Lời than vãn “tối tăm” ấy vô hình trung gợi lên những hình dung về trạng thái con người sau khi chết  dẫu rằng những gợi mở ấy dẫu rằng vẫn còn tương đối mơ hồ. Những kẻ ở trong luyện ngục mặc dầu ở “trên” chúng ta do tính không thể phạm tội, nhưng vẫn ở tình trạng “dưới” chúng ta nếu chúng ta xem xét sự đau khổ mà họ phải chịu. Về phương diện này họ không ở trong tình trạng có thể cầu nguyện cho chúng ta, đúng hơn là chúng ta phải cầu nguyện cho họ.[1]

Bản chất của Giáo hội là sự hiệp thông:

Giáo lí Hội Thánh Công Giáo dạy chúng ta rằng: “Những người chết trong ân sủng và tình thân nghĩa của Thiên Chúa, nhưng chưa được thanh luyện hoàn toàn, thì tuy họ chắc chắn sẽ được cứu độ muôn đời, họ còn phải chịu thanh luyện sau khi chết, để đạt được sự thánh thiện cần thiết hầu tiến vào hưởng niềm vui thiên đàng”[2]

Như vậy, dưới lăng kính này, chúng ta thấy luyện ngục không phải là nơi Thiên Chúa luận phạt, mà là nơi để Thiên Chúa diễn tả lòng Thương xót của Ngài giành con người. Tình lòng thương xót ấy, con người chẳng thể nào diễn tả được bởi lẽ, tình yêu ấy bao la tới mức “Dầu cha mẹ có bỏ con đi nữa, thì hãy còn có Chúa đón nhận con” (Tv 27,10). Chính vì thế, sự chuyển cầu của những người còn sống có thể giúp các linh hồn đang chịu thanh luyện mau chóng đạt đến sự thánh thiện vẹn toàn.[3]

Đàng khác, trong kinh Tin Kính, chúng ta tuyên xưng: “Tôi tin có Hội Thánh hằng có ở khắp thế này”, tức là chúng ta tuyên xưng mầu nhiệm “các Thánh cùng thông công”. Linh hồn của những kẻ hiếu trung không bị tách ra khỏi Hội thánh của Thiên Chúa, vì vậy những lời cầu nguyện và việc làm của những người còn sống sẽ hữu ích với những người đã qua đời[4]. Chính vì thế, Hội thánh lữ hành luôn tưởng nhắc nhớ đến những tín hữu đang thanh luyện trong Thánh Lễ, bởi chúng ta tất cả đều là con cái của Thiên Chúa và hợp thành một gia đình trong Đức Kitô, nên khi chúng ta hiệp thông với nhau trong đức mến hỗ tương và trong cùng một lời ngợi khen Chúa Ba Ngôi Chí Thánh, chúng ta sống phù hợp với ơn gọi thâm sâu của Hội Thánh.[5]

Suy về cái chết của chính mình

Tháng 11 không chỉ là thời gian để chúng ta cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời, mà đây cũng là lúc để ta suy ngẫm về cuộc đời mình, bởi mỗi khi tiễn đưa một người xuống nấm mồ, chúng ta luôn ý thức chúng ta là những kẻ sẽ chết tiễn đưa những người đã chết. 

Tháng 11 có lẽ là thời gian mỗi tín hữu chúng ta đến nghĩa trang nhiều nhất trong năm. Nơi ấy, chúng ta nhớ về kỉ niệm với giọt lệ sầu vương ra hàng mi, bởi hơn một lần, chúng ta phải ngậm ngùi chứng kiến những người thân thuộc của chúng ta ra đi. Một sự ra đi không bao giờ trở lại. Nầm mồ trước mặt chúng ta như một sự thức tỉnh mỗi chúng ta trong cơn mê của tội lỗi và những điều phù vân của thế gian. Nấm mồ ấy như một lời nhắc nhở mỗi chúng ta rằng một ngày kia chúng ta cũng sẽ phải vùi mình xuống đó.

Bước vào kiếp nhân sinh, chúng ta chỉ có một đời để sống. Sau bao năm tháng bôn ba trên cõi đời, cố Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã viết nên những dòng tâm sự, như một lời tự chất vấn mình: “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, để một mai tôi trở về cát bụi..”. Dù là giàu có, quyền cao chức trọng hay những kẻ nghèo khổ…không ai thoát khỏi một sự thật phũ phàng, một thực tế đau khổ ẩn mình sau tấm áo cuộc đời đó là : “sinh – lão – bệnh – tử”. Cùng trường suy tư ấy, chúng ta liên tưởng đến lời Thánh Vịnh mà các vịnh gia đã viết nên để mỗi người chúng ta suy ngẫm:

“Đời sống con người chóng qua như cỏ.
Như bông hoa nở trong cánh đồng.
Một cơn gió thoảng đủ làm nó biến đi,
Nơi nó mọc cũng không còn mang vết tích”. 
(Tv. 102:3)

Hay:

“Kìa thiên hạ thấy người khôn cũng chết,
kẻ ngu đần dại dột cũng tiêu vong,
bỏ lại tài sản mình cho người khác.

Tuy họ lấy tên mình mà đặt cho miền này xứ nọ,
nhưng ba tấc đất mới thật là nhà,
nơi họ ở muôn đời muôn kiếp.

Dù sống trong danh vọng,
con người cũng không thể trường tồn ;
thật nó chẳng khác chi
con vật một ngày kia phải chết”. (Tv 49,11-13).

Đến đây, chúng ta khám phá rằng, sống thọ hay không không là điều quan trọng, mà điều đáng để chúng ta lưu tâm đó là chúng ta phải sống cuộc sống lữ hành này thế nào, để đây tựa như một sự chuẩn bị khôn ngoan cho cái chết. Vậy chúng ta phải sống thế nào: Đó là luôn ý thức về lòng nhân của Chúa, luôn sống trọn vẹn giây phút hiện tại của mình:

Xin dạy chúng con đếm tháng ngày mình sống,
Ngõ hầu tâm trí được khôn ngoan.” (Tv 90,12).

Có lẽ, việc “đếm” tháng ngày mình sống không phải là sự lo buồn về cuộc sống lữ hành, mà là sự chuẩn bị với tâm thế hân hoan, luôn ngẫm suy về ý nghĩa của cuộc đời mình để tâm hồn luôn được bình an. Luôn để cho tâm trí mình được khôn ngoan nghĩa là luôn nâng hồn lên tới Thiên Chúa bởi“kính sợ Chúa là đầu mối khôn ngoan.” (Tv 111,10) và “lòng kính sợ Đức Chúa là tuyệt đỉnh của khôn ngoan, mang lại bình an và sức khoẻ dồi dào.” (Hc 1,18). Chúng ta hãy luôn tìm kiếm Thánh ý Thiên Chúa, đấng có thể đưa chúng ta tới chỗ chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa”(Kh 21, 4b)… Được như vậy, chúng ta sẽ xác tin vào tình yêu của Đức Kitô, để rồi cái chết chẳng còn phải là điều gì đó đáng sợ với chúng ta nữa vì:“Đối với tôi sống là Đức Kitô và chết là một mối lợi” (Pl 1,21).

Để kết thúc, xin được mượn những lời ca trong ca khúc “Sự sống thay đổi mà không mất đi” của nhạc sĩ Phanxicô như một lời ca mang trọn niềm hi vọng cậy trông:

“Sự sống này chỉ thay đổi mà không mất đi, lúc con người nằm yên giấc ngủ, mắt nhắm lại rồi là thấy tương lai. Trọn kiếp người nay không còn nước mắt nụ cười, nhưng con tin rằng ngày mai trong Chúa, chẳng có nỗi buồn, đẹp mãi niềm vui. Sự sống không mất nhưng chỉ đổi thay, đã qua bao ngày trọn một kiếp này. Dù sống hay chết tin vào ngày mai, sự sống không mất nhưng chỉ đổi thay.”

Chúng con cậy vì Danh Chúa nhân từ, xin cho các linh hồn được lên chốn nghỉ ngơi, hằng xem thấy mặt Đức Chúa Trời, sáng láng vui vẻ vô cùng.Amen.

 

Gioakim Phạm 

 


[1] Summa Theologiae II, q.83, a.11

[2] GLHTCG, số 130

[3] Tông Huấn Giáo Lý Ân Xá, (Indulgentiarum Doctrina), số 3

[4] Thành đô Thiên Chúa XX.9

[5] GLHTCG, số 947, 958, 959


Sinh hoạt khác

Tin Giáo Hội

Mục Tổng Hợp

» Xem tất cả Video

Liên kết website

Bài viết được quan tâm