Danh mục bài viết

Cập nhật 22/10/2011 - 20:34 - Lượt xem 4125

Hội Thánh và Iternet Kinh Nghiệm của Philíppin

Đây là kinh nghiệm về Internet của HĐGM Công Giáo Philíppin (“Catholic Bishops’ Conference of the Philippines,” gọi tắt là CBCP). Bước vào thế kỷ mới, họ đã là nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP) hàng đầu ở Thành phố Manila, ngăn chặn các website nguy hiểm đối với đức tin và phong hoá. Mặc dù công trình này chỉ tồn tại trong hai năm, song đây là một kinh nghiệm có một không hai tại Châu Á và có lẽ tại bất cứ nơi nào trong thế giới Công Giáo.

Ý tưởng có một sự hiện diện đặc trưng của Công Giáo Philíppin trong lãnh vực không gian mạng đã xuất hiện vào nửa cuối của thập niên 1990 với các quan chức của CBCP có trụ sở ở Manila. Họ nghĩ phương tiện truyền thông mới này có thể là một công cụ cho thừa tác vụ và quả thật đúng như thế. Với một tài khoản email và Internet, văn phòng đã có thể gia tăng hầu như tức khắc và với tốc độ đáng kinh ngạc nguồn tin tức và thư từ vốn đã rất rộng của mình.
Hài lòng với kết quả đạt được của đề án, các Giám Mục phê chuẩn đề án không một chút hoài nghi về việc mở rộng nó để có một website đầy đủ. Thế là website www.cbcp.net ra đời với sự trợ giúp của một ISP thương mại. Đến giữa 1996, website này đã hoạt động đầy đủ hoàn toàn, với các tin tức và thông tin về khoảng 79 giáo phận trong nước.
Website chủ yếu cung cấp cho tín hữu các thông tin về Hội Thánh tại Philíppin. Các khách ngoài Kitô giáo sẽ không cảm thấy mình bị dụ dỗ theo đạo. Các giám mục thấy đây là một sự đáp ứng cụ thể và thoả đáng cho lời kêu gọi của Toà Thánh yêu cầu các Giáo Hội địa phương “sử dụng, sở hữu, phát triển và duy trì” các công cụ truyền thông chuyên biệt Công Giáo (Aetatis Novae số 17).
Năm 1997, Hội Thánh bắt đầu dấn sâu vào các hoạt động trong lãnh vực công nghệ thông tin (IT). Năm ấy, các lãnh đạo Hội Thánh được mọi người biết đến trên các phương tiện truyền thông khi các ngài hô hào một mục đích không chuyên biệt tôn giáo nhưng có ảnh hưởng lớn tới đời sống dân chúng. Đối lập với chính quyền, Hội Thánh liên kết với các tổ chức phi chính phủ (NGOs) và các nhóm có cùng mục đích để mở một chiến dịch chống lại đề nghị sửa đổi hiến pháp của tổng thống đương nhiệm.
Bấy giờ người ta nghĩ tới việc kết nối một mạng máy tính giữa các văn phòng của các Giám mục trên khắp quần đảo để đẩy mạnh việc trao đổi thông tin. Mục đích là để có một sự phối hợp chặt chẽ cho chiến dịch bởi vì cũng có một số nhóm phong trào tương tự đang nổi lên ở những nơi khác ngoài Manila.
Kế hoạch này cần phải sử dụng một ISP. Tự mình CBCP không đủ khả năng làm chủ một ISP vì rất bị giới hạn về chuyên môn và không có cơ sở hạ tầng cần thiết. Mặt khác, vấn đề tài chánh được coi là nhẹ hơn, vì có thể trích từ quĩ trung ương hiện có cũng như từ các khoản quyên góp của giáo dân.
Hệ thống này được đề nghị vào phiên họp toàn thể của các Giám mục vào đầu năm 1998 và được chấp nhận. Mọi người phấn khởi vì bước đột phá truyền thông của Giáo Hội, các chi tiết của đề án dần dần được triển khai. Một kế hoạch “kết nối” các văn phòng của các Giám mục đã được thiết kế.
Giữa năm ấy, Giáo Hội lại đứng trước một cuộc thánh chiến khác, lần này là chống lại nạn khiêu dâm và bạo lực trên các phương tiện truyền thông. Giữa các cuộc tuần hành thường xuyên trên đường phố, một ý tưởng đã được hình thành là đưa cuộc chiến đi vào các trận địa ảo. Những người đề xuất cbcp.net nghĩ phải đánh vào mọi đại lộ mà các chất liệu phi pháp có thể dùng để đi vào các gia đình người Phi. Không gian mạng mau chóng trở thành một hang ổ của điều xấu và các công dân mạng (netizens)người Phi cũng ngày một tăng. Nhu cầu ngăn chặn loại phương tiện quỉ quyệt này được cảm thấy hết sức bức bách.
Tự mình không được trang bị tốt cho cuộc chiến, các giới chức CBCP đi tìm đối tác trong lãnh vực IT. Họ tham khảo riêng các ISP thương mại và các công ty điện thoại, nhưng không nhà cung cấp nào dám công khai tuyên bố ủng hộ vì sợ mất khách hàng và cuối cùng là mất hầu bao. Các nhà cung cấp ISP chỉ đồng ý giúp một cách thận trọng nếu Giáo Hội chấp nhận trở thành một nhà cung cấp giống như họ. Mặt khác, các công ty điện thoại đề nghị cho thuê các băng tần với giá thuê hạ.
Sau khi suy nghĩ kỹ lưỡng, bộ đầu não của CBCP bạo gan quyết định lấy thế chủ động. Giáo Hội sẽ trở thành một nhà cung cấp ISP, đặt mình vào thị trường như một chọn lựa “tốt” cho việc lướt Internet.
Tuy nhiên, đề án này chỉ có thể được đẩy mạnh nhờ sự hợp tác của các giám mục trong Hội Đồng. Công trình này phải được thiết lập ở cấp quốc gia và để duy trì nó cần phải có sự hợp tác đầy đủ của các Giáo Hội địa phương. Các Giám mục sẽ quản lý doanh nghiệp mạo hiểm này trong các giáo phận của mình. Đây là vấn đề cực khó bởi vì doanh thu dự kiến của nó tuy có thể làm tăng doanh thu của mỗi giáo phận, nhưng chắc chắn không thể nào đủ để bù đắp những chi phí bảo trì quá lớn cho dự án.
Các chi tiết cho việc thể hiện đề án được chuẩn bị để trình lên Hội nghị toàn thể của các Giám mục vào tháng 1, 1999. Cơ cấu tổ chức của đơn vị làm việc mới này trong trụ sở CBCP được thiết lập. Các thủ tục hành chánh, gồm việc đào tạo nhân sự và mua trang thiết bị cũng được vạch ra. Các hạt, các nhà cung cấp ISP địa phương, được cung cấp đủ số máy điều khiển. Ở những nơi không có đường dây điện thoại, các chảo vệ tinh sẽ được đặt để nối với căn cứ ở Manila.
Tại cuộc họp, các Giám mục đã chấp nhận đề án. Viễn tượng tăng doanh thu được quan tâm nhiều hơn là các yếu tố cơ bản của việc thiết lập công trình, còn vấn đề tài chánh quan trọng thì lại càng ít được đả động đến. Vừa quản lý doanh nghiệp vừa chăm lo các trách nhiệm mục vụ không phải là nhiệm vụ dễ dàng. Nhưng các Giám mục, vốn là những tay mơ trong một công trình như thế, đã cảm thấy an ủi trước viễn tượng sẽ được cung cấp từng trang thiết bị một. Ban nhân sự ở địa phương cũng sẽ được đào tạo để điều hành cái được gọi là ‘cbcpNet.’ Thực ra, đây là khoản chi phí duy nhất của các Giáo Hội địa phương: học làm doanh nghiệp.
Sau khi được các Giám mục phê chuẩn, hợp đồng đã được ký với các đối tác có khả năng trong nước và ở nước ngoài. Các hợp đồng được ký kết chủ yếu liên quan đến việc sử dụng cơ sở hạ tầng, nhân sự và kỹ thuật. Các công ty đòi giấu tên và không chịu được gọi là các đối tác hay tài trợ. cbcpNet sẽ được biết đến như là một doanh nghiệp độc lập mang tên tập đoàn riêng của mình giống như 130 công ty cạnh tranh khác đang hoạt động vào thời điểm ấy.
Các chi phí cũng được bảo đảm chủ yếu nhờ quyên góp. Một công ty vệ tinh đặt căn cứ tại Hoa Kỳ, Công ty Gelat, được dùng để cung cấp đường truyền với các cổng Internet lớn trên thế giới. Vào nửa đầu của năm 2000, Gelat là một đối tác tích cực nhưng về sau tỏ ra kém hiệu quả. Các tín hiệu truyền thông trước tiên phải đến máy chủ ở bờ biển phía Tây rồi mới trở lại bờ biển Philíppin, khiến cho đường truyền chậm mất 10 giây. Sự chậm trễ này có thể tránh được nếu dùng một nhà cung cấp vệ tinh có căn cứ ở đâu đó trên đất Châu Á. Thế là đã có các thử nghiệm với các công ty ở Singapore và Trung Quốc.
Người khởi xướng tất cả các sáng kiến này là Đức Ông Pete Quitorio, làm Thư Ký của CBCP lúc ấy. Ngài huy động một dàn các kỹ sư và kỹ thuật viên ngoài đời được thuê ngay sau khi các Giám mục phê chuẩn đề án. cbcpNet có một Ban Giám Đốc điều hành, đa phần là Giám mục, các vị này cống hiến sự nâng đỡ tôn giáo và tinh thần cho đề án. Còn về lãnh vực kỹ thuật và kinh doanh, Đức Ông nhờ đến ban nhân sự và các nghiên cứu riêng của ngài.
cbcpNet cất cánh vào tháng 1 năm 2000, lúc đầu như một mạng nội bộ (LAN) trong trụ sở CBCP. Đến tháng 3 năm ấy, nó phát triển lên tầm cỡ của một ISP tại Thành phố Manila. Tháng 12, Uỷ Ban Viễn Thông Quốc Gia cấp giấy chứng nhận nó như là một ISP phi lợi nhuận của Giáo Hội. Ở thời điểm ấy, cbcpNet và các đối tác của nó đã có thể xây dựng đường xương sống Internet chạy suốt 1000 dặm của quần đảo Philíppin. Lúc này, đã có bốn giáo phận cũng được kết nối và hoạt động đầy đủ trong khu vực của họ.
Dự kiến là sẽ kết nối tất cả các hạt trước cuối năm 2000, nhưng vì thiếu nhân sự và các mối quan tâm khác, Quitorio và êkíp của ngài chỉ có thể tiến hành từng buớc một. Ngoài công việc của một ISP, cbcpNet cũng mạo hiểm một chương trình cho thuê băng tần cho các công ty ISP nhỏ hơn. Nó cũng nhà cung cấp website cho các khách hàng như Radio Veritas Asia (RVA), đài phát thanh làn sóng ngắn châu lục, và cho Liên Hội Đồng Giám Mục Châu Á (FABC).
Cơ sở cho các hoạt động tương lai cũng bắt đầu được xây dựng. Khoảng 2900 trường học giáo xứ trên khắp nước, các nút đích tiếp theo của mạng sau các giáo hạt, đang chuẩn bị được kết nối. Trong khi ấy, các chuyên gia phần mềm tại trụ sở đang lên kế hoạch cho hoạt động tư vấn trực tuyến và truyền các cuộc cử hành phụng vụ trên mạng. Các dịch vụ “điện thoại” trực tuyến cũng được lên kế hoạch cho người Phi ở hải ngoại để kết nối với gia đình họ trong nước với giá chỉ bằng một phần của giá cước điện thoại thương mại.
Đầu năm 2000, cbcpNet bắt đầu nổi lên trên trường quốc tế. Các phóng viên của tạp chí TIME, International Herald Tribune, và The Mercury News thường xuyên đến thăm căn cứ của cbcpNet tại Manila. Câu chuyện về nó như là người thay thế cho cha mẹ của giới trẻ lên mạng và như là cầu nối cho “khoảng cách kỹ thuật số” trong nước được kể tới tận Châu Âu, Châu Mỹ và Nam Á.
Trong nước, các kỹ sư đã hoàn thiện chương trình “X-STOP” để ngăn chặn các website phơi bày tình dục phi pháp, nạn đồng tính luyến ái, bạo lực và thờ ma quỉ. Các chuyên gia này túc trực 24/24 giờ trước các máy điều khiển cá nhân để rà soát các đường dẫn URL hay các địa chỉ web có các nội dung xấu ấy. Nếu được phát hiện, tên của các vùng này được nhập vào một dữ liệu “cấm”, dữ liệu này được chỉ đến mỗi khi có ai đăng ký yêu cầu một địa chỉ. Nếu ai cố đi vào bất kỳ một site cấm nào trong số này đều bị chặn lại kèm theo một lời nhắc nhở trên màn hình về cùng đích thiêng liêng của con người. Đến giữa năm 2000, danh sách các địa chỉ cấm này đã lên đến 35 ngàn đường dẫn URL.*
Các thẻ cbcpNet vào thời kỳ này bán rất chạy trên thị trường. Vào tháng 12 năm ấy, doanh số tại Thủ đô Manila lên đến hơn một triệu pêsô, qua mặt các đối thủ cạnh tranh và làm cho ISP của Giáo Hội trở thành nhà cung cấp ISP hàng đầu về doanh số. Sự thành công này đã kích thích sự phát triển từ một máy chủ duy nhất tại trụ sở của CBCP lên thành ba, tất cả đều đặt tại Thủ đô Manila. Các máy điều khiển và các thiết bị phụ cũng được mua thêm, làm cho chi phí hoạt động vốn đã cao lại càng cao thêm.
Các băng tần mới được trang bị mấy tháng trước đã nâng chi phí hằng tháng lên hàng trăm ngàn đôla Mỹ. Có cả thảy 8 băng tần được duy trì ở thời điểm cực thịnh của cbcpNet, cống hiến cho người sử dụng một tốc độ lướt mạng nhanh chưa từng có. Nhưng doanh số không đủ để trang trải các chi phí. Cuối cùng, đến tháng 1, 2001, chỉ sau một tháng không thể thanh toán nợ, giấc mơ về một thừa tác vụ mạng của Giáo Hội bắt đầu tan vỡ.
Việc cung cấp thẻ cbcpNet bắt đầu chập chờn vào quí đầu của năm ấy. Từ đó các khách hàng bỏ sang các công ty khác. Nhà cung cấp ISP hàng đầu tiếp tục sa sút trong những tháng tiếp theo. Các công ty từng thuê website của cbcpNet nay quay sang tìm kiếm các nhà cung cấp khác ổn định hơn. Đến tháng 6, 2001, công trình hoàn toàn rơi vào im lặng. Các thẻ của nó vốn được săn đuổi trước đây nay hoàn toàn biến mất khỏi thị trường và đề án này không còn được nghe nói đến nữa.
Tháng 10, 2001, Ban Giám Đốc đi vào vòng thương thảo cuối cùng với một đối tác tiềm năng để giúp gánh vác khoản đầu tư quá lớn. Vì đây là một đối tác phi Giáo Hội, các nhà phê bình sợ rằng cuối cùng công trình có thể bị chuyển sang mục đích lợi nhuận và làm tổn hại tới sứ mạng thiêng liêng của nó. Họ sợ rằng cơ sở dữ liệu cấm có thể bị mở ra để thu hút khách hàng.
Tuy nhiên, hợp đồng được ký kết vẫn giữ lại được các lý tưởng và mục tiêu của cbcpNet. Trên thực tế, các điều khoản trong hợp đồng rất thuận lợi đối với sứ mạng Công Giáo trong không gian mạng. Mọi vi phạm từ phía bên kia sẽ cho phía Giáo Hội quyền chấm dứt hợp đồng và rút tên mình khỏi công cuộc mới này.
Trong tình trạng hiện thời, cuộc tái khởi động công cuộc đã rất gần kề, và để bù đắp cho sự chờ đợi, cbcpNet hứa hẹn sẽ có những dịch vụ tốt hơn và ổn định hơn. Tuy nhiên, trước tình trạng cạnh tranh gay gắt, người sử dụng chỉ có thể hi vọng rằng thời gian chờ đợi sẽ không quá lâu khiến cho ISP của Giáo Hội có thể bị xoá khỏi bộ nhớ của họ.
 
Kết luận
 
cbcpNet là một trong nhiều ISP tại Thủ đô Manila đã phải ngưng hoạt động những năm gần đây. Lý do chủ yếu là vì thị trường không ổn định. Một doanh nghiệp muốn phát triển trong những điều kiện như thế thì cần có nguồn lực khổng lồ hoặc phải liên kết với các công ty đã có chỗ đứng vững chắc với một bộ phận quản lý giỏi và các chương trình chuyên nghiệp.
Hội Thánh khó có thể mạo hiểm thành công vào lãnh vực kinh doanh IT hàng đầu này, cho dù những người khởi xướng chắc chắn cũng là những người sử dụng công nghệ có tầm cỡ. Tuy nhiên, cách làm hợp lý hơn có lẽ là bắt đầu với một nghiên cứu tổng thể về tính khả thi của công trình và có một sơ đồ chiến lược. Phân tích các vấn đề có thể gặp cũng rất có ích, đặc biệt học hỏi các trường hợp khác đã có trong khu vực. Ở đây, chúng ta có thể nghĩ ngay đến kinh nghiệm của HĐGM Thái Lan năm 1997 với “Truyền Hình Kitô Giáo Á Châu” (ACT = Asian Christian Television).
Huấn thị Mục vụ Communio et Progressio kêu gọi sự hỗ trợ tích cực của giáo dân cho các sáng kiến truyền thông của Hội Thánh (các số 100, 103, 133). Tại các nước đang phát triển như Philíppin, sự hỗ trợ tài chánh của giáo dân có thể là không đủ, đặc biệt cho các đề án khổng lồ như cbcpNet. Một chương trình mục vụ hiệu quả có thể là một thách thức cho nhiều chuyên gia Công Giáo trong lãnh vực IT để họ thanh tẩy Internet khỏi các nội dung “nguy hiểm,” và miễn cho Hội Thánh một nhiệm vụ mà Hội Thánh chưa được chuẩn bị.*
 
 
 
 
 
 
 
 


* URL: Universal/Uniform Resource Locator, đường dẫn chính vào các địa chỉ Web.
* Ghi chú:
Tháng 4 năm 2002, Văn Phòng Truyền Thông Đại Chúng Quốc Gia của HĐGM Philíppin loan báo việc tung ra CBCP/World vào ngày 12 tháng 5 để đánh dấu Ngày Truyền Thông 2002. CBCP/World sẽ là một máy chủ cấp quốc gia, cung cấp các chương trình đã được tẩy sạch các nội dung đôi truỵ và bạo lực.

Sinh hoạt khác

Tin Giáo Hội

Mục Tổng Hợp

» Xem tất cả Video

Liên kết website

Bài viết được quan tâm