Danh mục bài viết

Cập nhật 22/10/2011 - 20:55 - Lượt xem 4030

Đào tạo truyền thông cho linh mục/tu sĩ và người hoạt động mục vụ và tôn giáo Jacob Srampickal, sj

BỐI CẢNH… 1. Huấn luyện truyền thông ở chủng viện. Kinh nghiệm của Ấn độ. a. Các khóa báo chí được ưa chuộng b. Khóa Truyền thông Mục vụ sáu ngày cho chủng sinh năm thứ tư Nội dung: Đa phương tiện không phải là một thành phần của văn hóa, nó là văn hóa. Sau khi chịu chức, linh mục phải hành động thực sự, truyền thông nhóm/ kịch nghệ, giáo dục đa phương tiện, sử dụng đa phương tiện trong phụng vụ như kể truyện và những phương pháp tương tác trong bài giảng, v.v...

 

c. Khóa một tháng cho chủng sinh trong kỳ nghỉ hè
 
Những hạn chế trong thời gian hè (nhiều chủng sinh không thích những hạn chế này vì còn đang ở tuổi trẻ, họ rất thích các loại giải trí đa phương tiện mà không được phép vì sự cấm đoán của chủng viện):
a.             không có những hoạt động hè nghiêm túc,
b.            không công bằng khi đặt gánh nặng lên chủng sinh trong dịp hè.
 
2. Giáo sư chủng viện
 
a. Sức mạnh truyền thông
 
c.       đó là giải trí: nhu cầu giải trí, thư giãn
d.      đó là nghệ thuật: satyam, shivam, sundaram
e.       đó là giáo dục
cùng với việc cung cấp thông tin.
 
b. Dạy triết học/ thần học bằng đa phương tiện như thế nào?
 
Phương pháp học với phương tiện truyền thông theo nhóm: thảo luận, tranh luận, diễn vai, kịch nghệ trong công nghệ giáo dục để làm cho học trở thành một trải nghiệm thú vị.
 
Chúng ta hãy xem xét kỹ những vấn đề liên quan sau đây
 
1. Chương trình đào tạo chủng viện có thể sửa chữa được khiếm khuyết “truyền thông” nào cho tu sĩ và nhân viên mục vụ?
  • Khi truyền thông các tu sĩ thường có vẻ như quên mất người tiếp nhận thông điệp của mình. Nội dung (thần học) dường như chiếm sự quan tâm tối thượng khiến họ quên sử dụng phương pháp hấp dẫn người nghe. Kết quả là tôn giáo dường như nằm ngoài thực tại con người và chỉ là một thứ phụ lục. Bởi vì (theo một số mục tử) Thiên Chúa ‘ghê tởm’ các cuộc đấu tranh và ước muốn trần tục của con người nên họ chẳng thà nhìn thấy Đức Giêsu bị khóa trong nhà tạm còn hơn ‘đi trước họ tới Galilee.’ Các linh mục thường hay phớt lờ những vấn đề thực tế, nỗi lo, niềm ao ước và hi vọng của con người mà họ được phái đến để phục vụ. Do đó bài giảng của họ ‘thất bại’, không truyền thông được Tin Mừng đời sống.
  • Nói chuyện tôn giáo bằng một ngôn ngữ rất khác với ngôn ngữ của người thường. Sau những năm dài đào tạo trong chủng viện, bị ‘cách ly’ với những biến chuyển của thế giới bên ngoài, các linh mục không hiểu được văn hóa và các phát biểu đức tin của người thường. Kết quả là họ trở nên những ‘ông quan’ của Giáo Hội chỉ muốn là nhà độc tài cai trị hơn là trở nên người dẫn dắt và giải phóng. Họ chỉ muốn hoạt động với vài người có ảnh hưởng trong cộng đồng hơn là xây dựng cộng đồng Kitô giáo.
  • Trong hệ thống đa phương tiện mà người thời nay luôn tiếp xúc, con người truyền thông và thuyết phục bằng các phạm trù tương ứng, các linh mục dường như bị gắn chặt vào logic, kết quả là việc truyền thông không hiệu quả ngay cả theo logic của Tin Mừng. Vì thế, người ta tham dự các nghi thức mà không chăm chú, chỉ là những ‘khán giả’ thụ động cho đúng luật. Trong đời sống của nhiều Kitô hữu, có sự tách biệt giữa đức tin và cuộc sống. Đây cũng là vì các nhà lãnh đạo tinh thần của họ không hiểu Kitô giáo là một đạo nhập thế, và Thiên Chúa ‘yêu thế gian đến nỗi ban Con một của Người’ ngõ hầu thế gian được cứu rỗi.
  • Ngôn ngữ nghe-nhìn thúc đẩy giá trị chứng tá. ‘Phương tiện cũng là thông tin’, điều này có nghĩa là người ta không còn quan tâm tới những điều người khác nói cho bằng tin vào những gì họ nhìn thấy. Cách sống của linh mục, cách thức làm chứng cho giá trị của Chúa Giêsu tạo ra một dấu vết không thể xoá nhoà đối với mọi người. Cầu nguyện, hi sinh, chăm sóc, thái độ yêu thương . . . truyền thông một cách mãnh liệt hình ảnh của Chúa Giêsu.
  • Thậm chí ngày nay có nhiều linh mục giảng phạm trù đạo đức của thế kỷ 16. Điều này tạo ra cảm giác tội lỗi và người ta muốn tránh xa định chế pháp luật này.
  • Nhiều vị linh mục thiếu tự tin và thiếu ‘công cụ’ để tạo ra cộng đồng chia sẻ và tham dự. Họ cảm thấy sợ vì những ý kiến tự do của người khác. Triết học và thần học mà họ đã học qua truyền thông một chiều – các bài giảng do các vị giáo sư kém trình độ – khiến họ không thể tiêu hóa, mà chỉ biết chia nhỏ nó thành những thành ngữ và biểu tượng, và không bao giờ đi đến mức độ ứng dụng, là mức độ cốt lõi của học tập. Sợ sai lầm đã bóp nghẹt việc tìm kiếm và diễn đạt cũng như khả năng đối thoại với người tín hữu và với các tôn giáo khác. Điều này làm cho linh mục trở thành một người ẩn dật – ‘bóng ma’ của thế kỷ quá khứ.
  • Những linh mục như thế không có giác quan văn hóa nghe-nhìn, không hiểu được những người tạo ra chân tướng và hấp thu các giá trị của họ từ truyền thông đa phương tiện, không hiểu thanh niên tìm thấy vai trò gương mẫu trong văn hóa đa phương tiện và suy nghĩ cũng bằng những phương tiện này…
  • Nói tóm lại, linh mục ngày nay, những người được gọi để phục vụ ‘các công dân’ của nền văn hóa đa phương tiện, không thể phục vụ hiệu quả nếu cứ theo phong cách quan liêu.
Tuy vậy có những linh mục mới biết ứng dụng thành công khoa truyền thông hiện đại trong vai trò làm người tạo cảm hứng và lãnh đạo xã hội. Đây là bằng chứng cho cho thấy việc huấn luyện ý thức truyền thông có thể và sẽ tạo ra được những mục tử tốt hơn như đã được hình dung trong Huấn thị Mục vụ “Communio et Progressio” và những văn kiện về đào tạo khác.
 
2. Bạn chuẩn bị cho chủng sinh, linh mục trẻ…và nhân viên mục vụ như thế nào để xử lý ‘yếu tố truyền thông’ trong kế hoạch mục vụ?
  • Cái mà các chủng sinh, linh mục và những người trong thời kỳ đào luyện cần đến không phải là một chương trình đào tạo truyền thông khép kín, mà là kiến thức tổng hợp, sự trải nghiệm và thực hành truyền thông. Điều này đòi hỏi nhà đào luyện một bầu khí đối thoại, chia sẻ và cộng tác để khả năng truyền thông trở nên có cá tính. Kế hoạch mục vụ cần được triển khai qua cộng tác và khả năng này được phát triển từ nếp sống trong nhà đào tạo.
  • Chức năng quan trọng nhất của truyền thông là cung cấp cơ hội ‘trở về với cộng đồng.’ Do đó, nhân viên mục vụ cần phải được huấn luyện để “loan báo Tin Mừng và mở đường.” Ý nghĩa tông đồ này khuyến khích những người đang trong quá trình đào tạo để họ học hỏi nhờ đa phương tiện và sử dụng đa phương tiện để có thể góp phần một cách sáng tạo vào kế hoạch mục vụ của Hội Thánh địa phương.
  • Họ phải học về bản chất và hình thức truyền thông, phải được giúp đỡ để trở nên những con người truyền thông có khả năng cho và nhận trong cộng đồng, được trợ giúp để khám phá ra chân tướng của mình, có khả năng khám phá ra chân tướng của cộng đồng, khám phá cách diễn đạt đức tin, nghi thức, . . trong cộng đồng, biết truyền thông đa phương tiện để có thể ‘đọc’ và học từ truyền thông đa phương tiện và có kỹ năng cơ bản về truyền thông đa phương tiện hiện đại. Việc đào tạo như thế sẽ tạo ra sự tự tin để truyền bá Tin Mừng qua đa phương tiện và Tin Mừng hóa đa phương tiện. Vì vậy, sự hiểu biết thần học trong bối cảnh và lịch sử là yếu tố cần thiết để hội nhập đức tin vào cuộc sống.
  • Ngoài sự đào tạo thông thường cho mọi người, những người có khả năng đặc biệt có thể được đào tạo cách riêng để đóng góp hiệu quả hơn vào yếu tố truyền thông trong kế hoạch mục vụ.
  • Linh mục trẻ nên có cơ hội gặp gỡ nhau để chia sẻ kinh nghiệm và học hỏi lẫn nhau để không trở nên trì trệ nhưng luôn đổi mới. Kinh nghiệm cộng đồng và hiệp thông của họ có thể làm cho họ trở nên những người xây dựng cộng đồng tốt hơn, cùng hợp tác xây dụng Hội Thánh địa phương và giảm thiểu khuynh hướng cá nhân chủ nghĩa.
 
3. Mức độ nhận thức cần phải hành động trong lãnh vực giáo dục truyền thông: giám mục, giám đốc, trưởng khoa, giáo sư môn thuyết giảng, …?
 
  • Nhận thức được tạo ra dần dần và phát triển giữa những người được đề cập ở trên. “Ngu dốt là cội nguồn mọi thành kiến.” Vì thế, việc đọc các văn kiện của Hội Thánh về truyền thông xã hội và những thứ liên quan đến đa phương tiện trong đào tạo, học hỏi theo nhóm giữa giám mục, nhân viên đào tạo, giám đốc, trưởng khoa , v.v... được xem là một khởi đầu tốt.
  • Ở Ấn Độ, Viện Quốc Gia Nghiên Cứu và Huấn Luyện Truyền Thông Xã Hội (NISCORT) đã có vài đóng góp tích cực trong lãnh vực này. Chín khóa học đã được tổ chức cho các giáo sư đại chủng viện và sáu bề trên tỉnh và các tập sư. Ở vài chủng viện, có một ít giáo sư nhận ra nhu cầu đưa đa phương tiện vào việc đào tạo. Họ đã sử dụng kiến thức này được bao nhiêu thì còn phải đánh giá.
  • Nhiều giám mục và giám đốc ý thức nhu cầu tích hợp đa phương tiện vào chủng viện nhưng họ còn đang mò mẫm với các ‘phương thức’ thực hiện. Thiếu thời gian, thiếu giáo viên được huấn luyện, lo sợ khi đi vào một kỷ nguyên mới, bận bịu với khía cạnh nghi thức, thiếu nỗ lực phối hợp,… là một vài lý do cản trở việc tích hợp đa phương tiện.
  • Sự ý thức về tầm quan trọng của đa phương tiện đối với thừa tác vụ linh mục được chứng tỏ qua sự kiện 14 giám mục đã xin tham dự khóa học một năm về đa phương tiện và báo chí vào năm tới.
  • Chặng đường phải đi còn dài, và nói về chương trình tích hợp, tôi cảm thấy Viện Quốc Gia Nghiên Cứu và Huấn Luyện Truyền Thông Xã Hội (NISCORT) đã có đáp ứng khi tạo ra một diễn đàn cho các giám mục, giám đốc, các nhà thần học, các giáo sư môn thuyết giảng, trên diễn đàn này họ có thể thảo luận và đi đến nhất trí. Các giám mục hơn bao giờ hết đã cởi mở hơn khi chấp nhận những đề xuất và áp dụng chúng.
 4. Tích hợp truyền thông vào đạo tạo trong chủng viện như thế nào?
  • Dựa vào những môn học như mặc khải, bí tích, Giáo hội học, giảng thuyết, tôi thấy không khó khi thêm vào các chương trình văn hóa, văn chương cũng như phát triển kỹ năng nghệ thuật, âm nhạc, trò chơi . . . Cũng không khó khi tích hợp môn truyền thông vào chương trình đào tạo chủng viện. Cái chúng ta cần là một não trạng có thể vượt ra khỏi cơ chế và thời gian biểu đang tồn tại. Có thể đưa các khía cạnh truyền thông vào mọi bài học triết và thần học. Một ví dụ là áp dụng chính qui trình truyền thông vào học tập. Chủng viện có thể tổ chức học theo nhóm, hội thảo, thuyết trình thay vì giáo sư mớm từng chút một rồi làm bài khảo luận cuối khóa. Phương pháp này không những tạo cho sinh viên nắm được bài học tốt hơn mà còn học được qui trình truyền thông. Giáo sư lúc này trở thành người hướng dẫn và sinh động hóa chứ không phải là kho kiến thức.
  • “Phương tiện chính là thông điệp”. Điều này hàm ý bầu không khí và phong cách hoạt động trong chủng viện phải là bầu không khí của một cộng đồng như cộng đồng các Kitô hữu tiên khởi, chia sẻ, thờ phượng và phục vụ. Một bầu không khí tự do, học hỏi và bình đẳng là một cách học tập tốt nhất đối với môn truyền thông. Tôi cảm thấy có một bầu khí sợ hãi, giả tạo, không cảm thấy mình là một thành viên và chủ nghĩa bè nhóm trong chủng viện và trong các nhà đào tạo. Trong môi trường như thế, dù môn truyền thông có nội dung tốt nhất cũng không phát huy hiệu quả.
  • Định kỳ chủng viện nên mời các linh mục quản xứ giỏi về truyền thông, các chuyên gia truyền thông ở địa phương, và tổ chức những khóa hội thảo và thảo luận về những vấn đề truyền thông hiện đại ở cấp quốc gia và quốc tế.
  • Giống như con người cần có một số kỹ năng phát triển nhất định nào đó trong giai đoạn phát triển, chủng viện cũng cần xác định một số kỹ năng truyền thông phải đạt được cuối mỗi năm hay mỗi khóa học.
  • Chủng viện cũng cần học cách sử dụng những thời giờ nhàn rỗi để tái tích hợp bằng cách học đa phương tiện. Nhiều khi người ta không coi thời giờ rảnh rỗi là có ích. Các trại hè học đa phương tiện có thể được tổ chức một cách sáng tạo bằng cách lên kế hoạch sao cho trở thành một trải nghiệm thích thú và mang lại kiến thức. Trải nghiệm này tốt cho tinh thần cộng đồng, nó là điều kiện sống còn cho truyền thông.
  • Thanh niên đầy năng lực, họ có thể dùng thời gian để phát triển và diễn tả kỹ năng truyền thông qua trình bày bài nói hàng tuần, kể truyện, truyền thông nhóm, nghe (truyền thông cơ bản), coi và phê bình phim ảnh ở mức cơ bản. Chỉ những giám đốc và giáo sư có tinh thần sứ mệnh, có năng lực, cởi mở và ý muốn sử dụng thời gian của mình mới có thể có những sáng kiến như thế.
  • Chủng viện có thể kêu gọi sự hỗ trợ của các trung tâm vùng hay quốc gia giúp chủng sinh phát triển kỹ năng sản xuất. Cách làm này sẽ tránh được vấn đề trang thiết bị. Qua đó họ có thể học sản xuất chương trình truyền thanh và video.
 
Truyền thông là tính chất chủ yếu của Thiên Chúa, vì thế không có gì mang tính thần học hơn truyền thông. Bản chất của Thiên Chúa và bản chất của truyền thông làm cho ai muốn truyền đạt Thiên Chúa và đức tin phải là thành phần của bản chất này.
 
Vài đề xuất cho tương lai:
  1. Ở mỗi chủng viện phải có ít nhất một người đã được đào tạo truyền thông đa phương tiện.
  1. Ở chủng viện, giáo sư và sinh viên cần truyền thông với nhau nhiều hơn, cần tinh thần cởi mở và cho phép suy nghĩ tự do.
  1. Ban giảng dạy cần biết sử dụng đa phương tiện cho mục đích giải trí. Các quan niệm không đúng của chủng sinh có thể thay đổi được qua giáo dục truyền thông đúng, với việc coi truyền thông là một môn học như môn học khác.
  1. Mỗi giáo sư cần có khả năng quan sát ảnh hưởng của truyền thông đa phương tiện đối với môn học của mình, ví dụ như: thần học luân lý, Giáo hội học, ý Chúa, . . .
  1. Khả năng trình bày lại triết học/thần học theo phương thức đa phương tiện cho phép sử dụng công nghệ truyền thông nhóm và người dùng có thể tham dự tích cực hơn.
  1. Chúng ta cần những giám đốc ý thức được rằng linh mục phải biết đa phương tiện truyền thông.
  1. Mỗi giáo sư cần ứng dụng sản phẩm đa phương tiện vào việc dạy môn học của mình, chứ không chỉ biết sử dụng thiết bị.
 
 

 

 


Sinh hoạt khác

Tin Giáo Hội

Mục Tổng Hợp

» Xem tất cả Video

Liên kết website

Bài viết được quan tâm