Danh mục bài viết

Cập nhật 22/10/2011 - 20:57 - Lượt xem 3221

Làm phong phú việc đào tạo thừa tác vụ linh mục Angela Ann Zukowski, MHSH, D.Min. *

Lúc ban đầu… Cuộc hành trình hơn 32 năm qua của tôi với lịch sử truyền thông Công Giáo đã có được những dấu ấn kinh nghiệm và nhận thức mà chỉ gần đây mới bắt đầu được giải thích hầu tái tạo lại não trạng truyền thông truyền thống của chúng ta cho phù hợp với thế kỷ 21. Tôi tin rằng trong khi Hội Thánh đang có nhiều tiến bộ khi nắm bắt những ứng dụng tài nguyên và công nghệ truyền thông thì vẫn còn thiếu sự hiểu biết và đánh giá đầy đủ về một phương pháp mục vụ hợp tác toàn diện trong lãnh vực truyền thông. Một số người đọc chương này có thể không đồng ý hay chấp nhận những kết luận của tôi. Tôi biết luôn có những ngoại lệ. Tuy nhiên khi xem xét lại những gì xảy ra trong giáo phận hay Hội Đồng Giám Mục của bạn, bạn có thể thấy được những chiều kích nổi bật trong các kết luận của tôi.

 

Vào đầu thập niên 1970 tôi bắt đầu làm việc cho Giáo Phận Cincinnati. Mỗi tháng tôi phải đi hai ngàn năm trăm cây số. Tôi dạy người lớn và đào tạo giáo lý viên cho 100 họ đạo cỡ nhỏ và vừa, và 20 trường Công Giáo. Mỗi họ đạo đều muốn có chương trình của riêng mình mặc dù cách đó 5-6 cây số cũng có những khóa học như vậy. Một buổi tối kia tôi được giới thiệu với một người Công Giáo và người này đề nghị với tôi: “Tôi có một mạng truyền hình cáp ở ba cộng đồng quanh đây mà bà đang giảng dạy. Tôi đề nghị cho Gịa Phận sử dụng miễn phí phòng thu và phát sóng nếu bà muốn sản xuất chương trình truyền hình cáp.” Truyền hình cáp là một thực tại truyền thông mới mẻ vào đầu thập niên 70. Lúc đó tôi không có kiến thức gì về sản xuất chương trình truyền hình, nhưng lời đề nghị thật hấp dẫn và tôi bắt đầu sự nghiệp truyền thông chuyên nghiệp trong lãnh vực truyền hình cáp.
Háo hức đi tìm những người khác trong Giáo Hội Công Giáo tham gia vào truyền hình cáp, tôi liên hệ với Văn Phòng Truyền Thông Hội Đồng Giám Mục Mỹ. Người ta lịch sự trả lời tôi rằng thực sự không có tương lai cho Truyền Hình Cáp. Họ không quan tâm và tôi đang lãng phí thời gian của mình. Vị giám đốc cho tôi biết rằng có một linh mục trẻ ở Madison, Wisconsin, thỉnh thoảng sản xuất chương trình 10 tới 15 phút trên truyền hình cáp, tôi nên liên lạc với linh mục đó. Tôi đã liên hệ với ông. Phấn khởi bởi những gì linh mục này làm được trước những con mắt hoài nghi của những người cộng sự của mình, tôi tiếp tục tiến lên. “Truyền hình cáp không liên quan tới giáo dục tôn giáo. Bà đang gây nguy hiểm cho mục tiêu của chúng tôi và thời gian của bà.” Cho dù hết sức cố gắng để thuyết phục họ rằng chúng tôi có thể hiệu quả bằng hay hơn về thời gian và tài nguyên bằng cách đưa ra một vài chương trình và dịch vụ trên truyền hình cáp so với việc phải di chuyển 7 ngày mỗi tuần trên 2500 cây số mỗi tháng, thông điệp của tôi bị mọi người bỏ ngoài tai. May là Tổng Giám Mục mới của chúng tôi là Đúc Cha Joseph Bernardin hiểu ý nghĩa và giá trị của cơ hội truyền hình cáp đối với Hội Thánh địa phương ở vùng quê. Dù vậy, ngài đã không thể thuyết phục Văn Phòng Giáo Dục Tôn Giáo về những khả năng này. Cho nên công trình của tôi đã được liên kết với ngành Truyền Thông chứ không phải với Văn Phòng Giáo Dục Tôn Giáo.
Năm 1972 tôi tham gia một hiệp hội truyền thông mới ở Mỹ gọi là “Unda”. Tôi hi vọng cuối cùng mình đã tìm được một cộng đồng những người đồng nghiệp hiểu, ủng hộ và tích cực khuyến khích chúng tôi tiến lên trong việc rao giảng bằng truyền hình cáp. Tuy nhiên tôi gặp phải điều ngược lại. Một thành viên nói rằng: “Không có chỗ cho phát thanh viên trên truyền hình cáp. Truyền hình cáp không có tương lai. Unda chuyên về phát thanh và truyền hình. Chúng tôi là những người truyền thông, còn các bạn là những người giáo dục tôn giáo. Không có chỗ cho các bạn ở đây”. May là tôi không bận tâm tới câu nói này và vẫn tiếp tục theo đuổi Unda trong nhiều năm.
Kế đó tôi tập trung chú ý đến thành phần giáo dục Công Giáo. Tôi nghĩ “chắc chắn nó sẽ mở ra những khả năng và cơ hội về phương tiện truyền thông.” Tốt, họ xem tôi như một nhà truyền thông vì thừa tác vụ của tôi trên truyền hình cáp. Nhà truyền thông có gì chung với những người quản lý và giáo viên ở các trường công giáo? Nói chung là không có gì. (Họ nghĩ như thế!) Một thời gian ngắn sau đó tôi chấp nhận một việc làm ở đại học Dayton. Bấy giờ tôi đã được thừa nhận như một người có học vị trong ngành Giáo Dục Công Giáo Nâng Cao (Khoa Tôn Giáo) với kiến thức tổng hợp về Giáo dục tôn giáo, truyền thông, hoạch định chương trình và phát triển chương trình học cho các trường công giáo. Khi bắt đầu xem xét kỹ tình thế khó xử giữa thừa tác vụ và giáo dục Công giáo, tôi kết luận rằng nền tảng chung đáng hoan nghênh giữa thừa tác vụ và giáo dục công giáo không những có thể mà còn cần thiết trong thế kỷ 21. Mối liên hệ giữa hai bộ môn rất cần thiết và tinh thần cục bộ phân chia truyền thông và tác vụ cần phải giải tỏa thành một bộ môn mới đối với giáo dục Công Giáo và thừa tác vụ.
Vì vậy hiện giờ tôi đang trên hành trình rao giảng nền tảng chung đó để những người trong lãnh vực đào tạo thừa tác vụ trong chủng viện và đào tạo thừa tác vụ giáo dân hiểu rằng truyền thông là “con tim của Hội thánh”, thông hiểu và có kế hoạch truyền thông mục vụ hoàn chỉnh là một việc cấp bách nếu muốn rao giảng một cách có hiệu quả trong thế kỷ 21. Sau cùng, mọi người phục vụ trong thừa tác vụ và lãnh đạo Hội Thánh cần phải là những ‘chuyên gia truyền thông’. Chúng ta không thể chấp nhận khả năng kém hơn nơi những người dấn thân cho Tin Mừng và các giá trị của Tin Mừng.
 
Từ đây chúng ta đi đâu?
 
Trong bài này tôi sẽ chia sẻ các suy tư về cuộc nghiên cứu mục vụ hiện nay của tôi và cách thức thực hành với mong muốn làm sáng tỏ nền tảng chung để tăng cường sức mạnh của Hội Thánh để Hội Thánh có thể mở rộng đối thoại hầu hiểu biết và làm phong phú chủng viện và các chương trình đào tạo thừa tác vụ của chúng ta. Tôi tin tưởng rằng những người trong chúng ta có nền tảng vững chắc và kinh nghiệm về truyền thông mục vụ cần đẩy mạnh phương pháp tiếp cận liên ngành với tầm nhìn toàn diện để hiểu được mối quan hệ truyền thông và thừa tác vụ. Chúng ta có thể hiểu được Truyền thông là trái tim của Hội Thánh một cách khác như thế nào? Bản đồ hành trình của chúng ta gồm ba điểm chủ chốt:
 
 
 
Bản đồ của chúng ta ngày nay
 
                  Thực trạng
 
                  Thách thức
 
                    Ứng dụng
 
 
 
Thực trạng:
 
Nhiều người trong chúng ta phục vụ trong lãnh vực thừa tác vụ có thể đã trải nghiệm điều tôi gọi là Hội Chứng Rip Van Winkle. Như các bạn còn nhớ, Rip Van Winkle rơi vào một giấc ngủ mê trong nhiều năm. Khi tỉnh dậy anh ta thấy thế giới đã thay đổi hoàn toàn. Anh đi lang thang trong làng để tìm hiểu việc gì đã xảy ra. Vì sao anh không thể nhận ra những gì đã diễn ra quanh mình? Những người quen thuộc trong làng đâu cả rồi, những nơi chốn cho anh cảm giác tập trung và ổn định trong cuộc đời bây giờ ở đâu? Mọi sự đã thay đổi.
Một ngày nào đó trong cuộc đời, bất giác bạn nhận ra có gì đó đang thay đổi trong khung cảnh văn hóa xung quanh mình. Công nghệ, đặc biệt là công nghệ truyền thông đã thay đổi. Không chỉ công cụ và ngôn ngữ đã thay đổi mà con người còn bắt đầu truyền thông trong một không gian mới gọi là không gian điều khiển. Những công cụ truyền thông mới không chỉ ứng dụng trong kinh doanh mà còn được sử dụng ở nhà và trường học. Chúng ta khám phá ra rằng ngôn ngữ truyền thông có nhiều từ ngữ mới, khái niệm mới, biểu tượng mới đòi hỏi những kỹ năng mới. Làm sao không thấy và biết được những gì đang xảy ra? Làm sao không ý thức được có một hiện tượng văn hóa mới đang tồn tại?
Trong một tập san giáo dục mới ra gần đây có hình một thanh niên được trang bị đầy đủ để tham dự vào hiện thực văn hóa truyền thông mới. Nhìn hình này người ta có cảm giác như đây là hình một người ngoài hành tinh. Anh ta/ hay chị ta đeo tai nghe và đeo thiết bị ở cánh tay – dụng cụ dùng để du hành trong không gian mới gọi là không gian ảo. Ở thắt lưng chúng ta thấy phần cứng và phần mềm CD và DVD. Ở vai là một laptop với những phụ tùng cần thiết để du hành vào một không gian mới khác gọi là không gian điều khiển. Người này được trang bị đầy đủ để gặp gỡ với thế giới qua kỹ thuật truyền thông tương tác cao độ. Người thanh niên này là một cybercen, mộtcư dân của không gian điều khiển. Thanh niên này hiểu nền văn hóa mới đang tiến hóa nhanh chóng và không sợ đi tới biên cương của nó.
Hình ảnh này có thể làm người ta lo ngại nhưng nó đang thực sự trở thành hiện thực trong nhiều nền văn hóa của chúng ta. Thanh niên này không chỉ tham dự vào các chương trình phụng vụ và giáo lý của chúng ta mà còn là tương lai xứ đạo của chúng ta – là tương lai của Hội Thánh. Làm sao chúng ta, những thừa tác viên và nhà lãnh đạo có thể truyền thông cho thế hệ tương lai này? Cái gì trong nền văn hóa mới này có thể được phê chuẩn, cái gì thách thức và cái gì có thể sử dụng trong thừa tác vụ của chúng ta? Dù có hay không có chúng ta, nền văn hóa truyền thông mới này sẽ tiếp tục tiến hóa. Chúng ta cần phải tỉnh táo, thông hiểu và có kỹ năng trong nền văn hóa mới này nếu muốn thông điệp Tin Mừng được truyền thông một cách hiệu quả cho thế hệ Kitô Hữu Công Giáo mới này.
Chúng ta sống trong một nền văn hóa truyền thông phức tạp nhất trong lịch sử. Chúng ta, những người lãnh đạo và thừa tác viên của Hội Thánh đang đứng ở đâu? Phương pháp học mới trong thời đại truyền thông ít được áp dụng một cách phù hợp và rộng rãi trong việc đào tạo tu sĩ, thừa tác vụ và giáo lý viên. Tôi phải nói thêm rằng các trường đại học Công giáo của chúng ta trong lãnh vực thần học, tôn giáo và giáo dục tôn giáo không tiến bộ nhiều. Vấn đề này đã được ghi thành tư liệu trong các cuộc nghiên cứu ở nhiều nơi trên thế giới.
Cách đây vài năm có một điểm sáng khi Quĩ Lilly Endowment (Indiana, Ohio) hợp tác với đại học Wabash đã đề nghị trợ cấp cho một số đại học, cao đẳng và chủng viện (tôn giáo hỗn hợp) nghiên cứu những phương pháp nâng cao chất lượng giảng dạy thông qua sự trợ giúp của kỹ thuật đa phương tiện. Các học viện này đang thực hiện một số nghiên cứu thú vị và ứng dụng trong lãnh vực của mình để nâng cao kỹ năng truyền thông và đẩy mạnh trang bị kỹ thuật truyền thông tiên tiến. Tuy nhiên một cuộc nghiên cứu và hội thảo chuyên đề năm 2000 được Viện Sáng Kiến Mục Vụ đại học Dayton bảo trợ chỉ ra rằng rất ít các học viện Công Giáo ở bậc nâng cao về thần học, tôn giáo và giáo dục tôn giáo quan tâm tới không gian điều khiển như một võ đài mới tiềm năng trong lãnh vực nghiên cứu học thuật.
Các ý kiến bảo thủ tồn tại cho tới năm 2002, nhưng kể từ đó thực trạng văn hóa truyền thông mới và ảnh hưởng của nó trong việc đào tạo con người không thể bị làm ngơ nữa. Các học viện Công Giáo và các phân khoa nhận ra rằng họ cần thám hiểm biên cương của không gian điều khiển và xác định những phương pháp và những cách tiếp cận sáng tạo để tích hợp những khoá truyền hình trực tiếp, hội thảo và Internet vào môi trường học của mình.
Trong Tông huấn Evangelii Nuntiandi, ba câu hỏi được đặt ra kêu mời chúng ta có một cái nhìn thứ hai về cách thức tham gia vào hoạt động thừa tác vụ đặc biệt dưới ánh sáng văn hóa truyền thông mới:
 
1)            Trong thời đại của chúng ta, điều gì đã xảy ra cho sức mạnh tiềm ẩn của Tin Mừng, nó có ảnh hưởng mạnh mẽ gì tới lương tâm con người?
2)            Tới mức độ nào và bằng cách nào sức mạnh tin mừng có thể thực sự biến đổi được con người trong thế kỷ này?
3)            Phương pháp nào cần được áp dụng để sức mạnh Tin Mừng đạt được hiệu quả?
 
Có những thách đố cơ bản trong những câu hỏi về vấn đề đào tạo: ‘sức mạnh tiềm ẩn của Tin Mừng’, ‘ảnh hưởng mạnh’, ‘sức mạnh Tin Mừng’, ‘thực sự biến đổi’, ‘phương pháp nào’, ‘sức mạnh Tin Mừng có thể đạt hiệu quả’.  Những quan niệm này là những ý tưởng tích cực mời gọi chúng ta xác định những phương pháp tiếp cận kích thích hơn, linh động hơn, đa dạng hơn và biến đối hơn để loan báo Tin Mừng trong thế kỷ 21. Albert Einstein có lần đã nói: “Kẻ hoàn toàn điên khùng làm đi làm lại cùng một việc với hi vọng có được những kết quả khác biệt.” Tôi tin rằng nhiều người đã làm đi làm lại như Einstein nói trong chương trình đào tạo thừa tác vụ và lãnh đạo. Bây giờ là lúc phải nghĩ một cách khác. Suy nghĩ theo cùng một cách thì lúc nào cũng dễ đối với một chức vụ hay hoàn cảnh quen thuộc. Chúng ta cần đổ rượu mới vào bình mới (Mátthêu 9:17) nếu muốn tiếp tục truyền thông đức tin trong tương lai.
Cuộc hành trình vào biên cương đào tạo thì đầy những điều chưa biết. Đây là thực tại ‘biên cương mới’. Các rào cản thường ngăn chúng ta theo đuổi cách tiếp cận truyền thông mục vụ một cách tiên phong, năng động trong các cơ sở đào tạo và trong nền giáo dục Công Giáo nâng cao. Không phải chúng ta từ chối giá trị truyền thông, nhưng xuất phát từ lịch sử và nhận thức, chúng ta cho rằng để đào tạo lãnh đạo và thừa tác viên hiệu quả chúng ta phải tập trung vào ‘nội dung’, ‘qui luật’, ‘cơ cấu’ và ‘lối sống’. Có thể sự hiểu biết truyền thống của chúng ta về truyền thông quá sơ đẳng? Có phải có quá nhiều ngộ nhận cho rằng hễ một người nói được thì có thể truyền thông được?
Có người cho rằng giới hạn thời gian trong chương trình đào tạo cản trở việc đưa thêm các môn học, các cuộc hội thảo vào chương trình giảng dạy. Có lẽ rào cản lớn nhất không chỉ là nội dung và số lượng môn học về truyền thông, mà là cách thức và phương pháp giảng dạy cần phải được thay đổi sao cho dễ học thực sự. Lúc đó chúng ta mới có thể trở thành kiểu mẫu truyền thông thực sự trong môi trường học viện. Điều này kêu gọi các phân khoa phải chuyển đổi mô hình giảng dạy của mình. Cũng còn xuất hiện các rào cản khác nữa khi người ta bảo rằng việc giảng dạy, nghiên cứu, viết sách và làm giáo sư bảo trợ đã là quá mức đối với họ. Muốn thay đổi phương pháp giảng dạy, họ phải có thời gian, mà chuyện này thì họ nghĩ là không có. Thêm vào đó là tình trạng thiếu thốn kỹ thuật và hạ tầng cơ sở truyền thông để có thể làm được sự thay đổi này. Cuối cùng có người còn táo bạo tuyên bố rằng thần học, linh đạo, giáo luật, và thuyết giảng đã là những môn truyền thông rồi. Vậy tại sao lại phải thay đổi một hệ thống đã chuyên biệt về giao tiếp?
Đương nhiên đúng là như thế rồi; nhưng chúng ta cần tìm hiểu để biết ý nghĩa truyền thông sâu xa hơn. Chúng ta cần một thấu kính mới để nhìn ra những gì đang diễn ra trên thế giới quanh mình. Không chỉ những sinh viên đang và sẽ xuất hiện trong chương trình đào tạo của chúng ta đang và sẽ khác biệt vì có sự chuyển đổi trong môi trường tiểu học và trung học, mà chúng ta còn phải làm cho họ cảm thấy thoải mái và dễ dàng.
Có lẽ đơn giản là chúng ta đang sống trong một thời gian được đóng khung trong hai dấu ngoặc. Thách thức lớn nhất đối với việc đào tạo lãnh đạo là sửa soạn đường hướng cho tương lai. Quá khứ là quá khứ. Dù cho trong quá khứ phương pháp của chúng ta rất phong phú, song chúng ta đang sống trong thời đại mới. Tương lai là ở đây. Nó va chạm với ý thức của chúng ta và dệt nên tấm vải cuộc sống. Những người đang cố gắng đấu tranh để duy trì nguyên trạng đứng ở trong dấu ngoặc. Trong khi thời gian cú tiến tới thì dấu ngoặc lại đóng lại. Nếu chúng ta không dọn đường cho sự hiểu biết và đào tạo truyền thông, chúng ta và Hội Thánh sẽ bị đẩy ra khỏi văn hóa truyền thông và trở nên không phù hợp.
Một vài người cảm thấy khó chịu khi tôi dùng từ ‘không phù hợp’. Hội Thánh không thể được coi là không phù hợp. Thông điệp của Tin Mừng mang tính chất “đối ứng văn hóa” (counter culture), nó biến đổi chứ không rập theo văn hóa đương đại. Đây không phải là điều tôi muốn nói khi dùng từ ‘không phù hợp’. Tôi muốn nói rằng nếu truyền thông là con tim của Hội Thánh thì những thừa tác viên và những nhà lãnh đạo của Hội Thánh phải là những chuyên gia về các lãnh vực truyền thông trong đó có vài lãnh vực thiết yếu. Nếu muốn đáp ứng những thách đố trong các văn kiện như Communio et Progressio (“Hiệp thông và Tiến bộ”), Evangelii Nuntiandi (“Rao giảng Tin Mừng trong thời đại mới”), Redemptoris Missio (“Sứ Mạng Đấng Cứu Chuộc”), Aetatis Novae (Thời Đại Mới) và nhiều văn kiện khác với tinh thần nghiêm túc và tiên tri, chúng ta cần phải thay đổi cách thức chuẩn bị và tiếp cận trong tư cách là những thừa tác viên của thế kỷ 21.
 
Thách thức:
 
Trong việc đào tạo các linh mục, tu sĩ và lãnh đạo giáo dân, thách thức chủ yếu chúng ta phải đối mặt là khẳng định tầm quan trọng của việc đào tạo thừa tác vụ truyền thông mục vụ và có một ý tưởng rõ ràng về những nguyên tố tạo nên một nền móng bền vững cho việc phục vụ và rao truyền Tin Mừng trong kỷ nguyên truyền thông mới.
Có bốn loại não trạng hay tâm lý xuất hiện trong chương trình đào tạo của chúng ta khi đề cập tới mức độ ưu tiên dành cho chương trình đào tạo truyền thông. Tôi định nghĩa các não trạng này là: (a) cô lập, (b) chia ngăn, (c) cộng tác và (d) tương tác liên ngành. Các loại não trạng được hình thành không những bởi nội dung thần học truyền thông hay đưa môn truyền thông vào chỗ nào, mà còn bằng cách thức chúng ta giảng dạy như thế nào. Phương pháp dạy cũng quan trọng như nội dung giảng dạy. Truyền thông hiệu quả trong môi trường học không phải là một sự xa xỉ nhưng là điều thiết yếu nếu muốn các tu sĩ và các thừa tác viên giáo dân hiểu được truyền thông chính là con tim của Hội Thánh. Nói không bằng làm! Mô phỏng truyền thông hiệu quả chính là việc cần phải làm.
Não trạng cô lập được minh họa khi mà ngoài môn thuyết giảng, chương trình đào tạo không đưa vào bất cứ môn học truyền thông nào khác. Cách thức tiếp cận này không những coi truyền thông là thứ yếu đối với việc đào tạo thần học và linh đạo mà khi có cơ hội đào sâu truyền thông mục vụ thì nó cũng chỉ coi đó là một hoạt động ngoại khóa chứ không phải là một nội dung thiết yếu đối với đào tạo thừa tác vụ.
Ta hãy xem xét môn Giáo hội học và/hay các khoá học về ý nghĩa và ảnh hưởng của Công Đồng Vaticanô II để thấy một ví dụ cụ thể về cách thức não trạng này đã có thể diễn biến như thế nào ở cuối thể kỷ 20. Tôi cho rằng điểm chủ chốt là ở vị trí chúng ta dành cho Sắc lệnh Inter Mirifica (về truyền thông xã hội) so với các văn kiện khác của công đồng Vaticanô II. Cách đây một ít năm, Hội Thần Học Công Giáo vùng của chúng tôi kỷ niệm năm thứ 25 Công Đồng Vaticanô II. Tôi trình bày một bài về các văn kiện truyền thông của Hội Thánh. Tôi mở đầu bằng cách hỏi xem có bao nhiêu đồng nghiệp của tôi khi dạy môn Giáo hội học đã dùng số thời lượng của mình để đề cập đến Sắc lệnh Inter Mirifica bằng với thời lượng họ sử dụng cho các văn kiện khác như Gaudium et Spes, Ad Gentes, Lumen Gentium, Dei Verbum, Sacrosanctum Concilium, và các văn kiện khác hay không. Tôi nhận được câu trả lời là không có ai. Khi tìm hiểu lý do, họ chỉ nói rằng đó là một tài liệu kém quan trọng và khi dạy qua về Sắc lệnh này (Inter Mirifica) thì cũng không có cuộc thảo luận nào có ý nghĩa quanh đề tài này.
Tôi nhận thấy rằng tuy một số nhà thần học có cảm hứng đưa Sắc lệnh Inter Mirifica vào để hướng dẫn các cuộc suy tư phê bình và thảo luận về Huấn thị Mục vụ Communio et Progressio—một loại hiến chương của Hội Thánh về truyền thông—nhưng số người coi tài liệu truyền thông của Hội Thánh là quan trọng vẫn còn là số ít. Tôi không muốn đánh giá thấp Communio et Progressio, tuy nhiên, nếu tính chất của tài liệu này được chúng ta giới thiệu như là văn kiện cuối cùng, và vì thế là một văn kiện cơ bản trong bộ sưu tập về Công Đồng Vaticanô II, thì hẳn là việc thảo luận về truyền thông đã được chú trọng nhiều hơn trong các thảo luận thần học trong thời kỳ đào luyện.
Dù tôi có đạt được mục tiêu hay không trong kết luận của mình, thì ‘chủ nghĩa cô lập’ trong giảng dạy truyền thông bắt nguồn từ kịch bản kể trên. Có thể chứng thực kịch bản này bằng cách nghiên cứu toàn bộ chương trình đào tạo các chủng viện và thừa tác vụ giáo dân để quyết định dạy những môn truyền thông nào và dạy như thế nào.
Não trạng ‘chia ngăn’ tuy cũng dành cho truyền thông mục vụ một mức độ quan trọng nào đó, song không xếp nó vào chương trình học chính khoá. Nó được coi như một môn tùy chọn, được khuyến khích đối với một ít người còn với số đông thì không. Thậm chí những chủng sinh cảm thấy có tiếng gọi hay ý thức phát triển truyền thông mục vụ có thể bị coi là những người thiếu thực tế. Rất ít được khuyến khích hay nâng đỡ, những người này đôi khi còn phải gánh những hậu quả tiêu cực. Một số đã vượt qua được tình trạng này và có những đóng góp đáng kể trong thừa tác vụ truyền thông của Hội Thánh. Một số chủng sinh sau này làm việc trong các văn phòng truyền thông của địa phận, văn phòng quan hệ công cộng, giảng dạy trong các trường đại học và cao đẳng, tham gia trong các trung tâm truyền thông, hay tham gia thừa tác vụ truyền thông mục vụ như trong các chương trình phát thanh, sản xuất video, giáo dục đa phương tiện, ấn loát, và những ứng dụng sáng tạo về truyền thông trong công việc phục vụ của mình và của người khác, một số khác dần dần rời bỏ lãnh vực đào tạo truyền thông để theo đuổi các hoạt động truyền thông có liên quan gián tiếp tới Hội Thánh.
Não trạng chia ngăn tuy có khá hơn não trạng cô lập, song chúng ta vẫn tiếp tục duy trì thái độ không kết hợp giữa truyền thông mục vụ và đào tạo thừa tác vụ.
 Não trạng cộng tác được thể hiện khi có một vài phân khoa hay ban quản trị nhận thức rằng chúng ta đang sống trong thời đại truyền thông mới. Mặc dù cơ cở hạ tầng không yểm trợ phương pháp mới hay kế hoạch mới, một vài người vẫn đã tìm cách thay đổi mô hình. Họ cố gắng xác định một phương thức mới để nâng cao ý thức của phân khoa và sinh viên, hướng tới một cách thức khác để chuẩn bị con người cho lãnh vực thừa tác vụ. Cách tiếp cận cộng tác bắt đầu tạo ra ý thức và sự phối hợp hành động mở đường cho não trạng tích hợp liên khoa.
 Não trạng tích hợp liên khoa phản ánh phương pháp tiếp cận truyền thông như quả tim của Hội Thánh. Não trạng này quan niệm kỹ năng và kế hoạch truyền thông không phải là một điều xa xỉ mà là một nhu cầu khi chúng ta chuẩn bị cho những người nam và nữ truyền thông Tin Mừng một cách hiệu quả. Mỗi thành viên của khoa cảm thấy mình là một mảnh trong trò chơi xếp hình. Trong quá trình hội nhập, họ khám phá ra những cách thức để mọi người trong quá trình đào tạo đi đúng đường trở thành những ‘chuyên gia truyền thông có chất lượng’. Họ nhận ra rằng chỉ có ý thức phân tích thần học, linh đạo và Kinh Thánh mà thôi thì không đủ để đào tạo được một thừa tác viên có thể giải phóng sức mạnh tiềm ẩn của Tin Mừng và làm cho sức mạnh đó biến đổi, cũng như áp dụng các phương pháp khác nhau để mở mang Nước Chúa trong thời đại của chúng ta dưới ánh sáng của Tông huấn Evangelii Nuntiandi. Như thế, não trạng tích hợp liên khoa được lồng vào trong chương trình học và tạo được môi trường (truyền thông). Kết quả cuối cùng sẽ rất mạnh và thôi thúc các thừa tác viên Lời Chúa tự điều chỉnh cho phù hợp với bản chất và môi trường truyền thông trong thời đại mới mà họ phục vụ.
Khi trình bày về đề tài này, tôi thường xuyên được hỏi: “Cần dùng những tiêu chí nào để đánh giá xem những phương pháp mà chúng ta áp dụng trong lĩnh vực thừa tác vụ của chúng ta có hiệu quả hay không?” Tôi đã suy nghĩ nhiều về câu hỏi này trong nhiều năm. Tôi biết mọi người đang tìm kiếm một cái gì cụ thể. Cuối cùng tôi minh họa kết quả đầu tư mục vụ của mình như như được thấy trong Hình #1 dưới đây.
Cốt lõi truyền thông hiệu quả bắt nguồn trong sự hiện diện chiêm niệm. Hiện diện chiêm niệm theo nghĩa của tôi là liên tục tìm kiếm và quan hệ thâm sâu với Thiên Chúa.
Tôi dùng biểu tượng Ba Ngôi của Rublev làm tâm điểm chiêm niệm. Trong hình này chúng ta khám phá ra sự tự truyền thông của Thiên Chúa, sự ‘hiệp thông giữa các ngôi vị’, sự tương tác (đối thoại) giữa Ba Ngôi và sự mời gọi chúng ta tham dự vào tiến trình đối thoại đang diễn ra, tham gia vào mối quan hệ và vào quá trình mặc khải. Chỉ khi nào các thừa tác viên chúng ta tham dự sâu xa vào cuộc đối thoại này tự chỗ sâu thẳm của đời sống chúng ta và giãi toả nó ra trong thừa tác vụ của mình, chúng ta mới hiểu được truyền thông là con tim của Hội Thánh. Chỉ khi nào chúng ta có được nền tảng sâu xa này chúng ta mới có thể tiếp tục dấn bước trong quá trình truyền thông mục vụ với những hình thức đa dạng.
 
Hình #1

 
Sự hiện diện chiêm niệm đích thực dọn đường cho sự truyền thông hiệu quả trong nhiều bình diện cuộc sống. Nó là nền tảng để chúng ta có thể với cả con người mình lắng nghe sự ‘thinh lặng’ và ‘mặc khải’ của Thiên Chúa đang kêu gọi chúng ta hiệp thông sâu xa với Thiên Chúa và người khác. Một sự hiện diện chiêm niệm giúp chúng ta trải nghiệm được cảm giác phong phú của sự kết hợp có sức thống nhất đời sống chúng ta và làm cho chúng ta nên một toàn thể. Van Kaam diễn tả rằng kết hợp là một chuyển động chứ không phải là một sự vật. Nó là một hoạt động chứ không phải một trạng thái. Hoạt động này chỉ có thể tiến hành khi có cái gì đó để tích hợp, “nói cách khác,” theo Van Kaam, “tích hợp (integration) là một chuyển động năng động, sinh động, nó chỉ có thể diễn ra trong tình trạng sai biệt (differentiation) liên tục trong cuộc sống của chúng ta.” Chuyển động sai biệt là sự khám phá và tích hợp các thế giới ý nghĩa mới. Chúng ta khám phá ra con người hiện hữu theo nhiều cách khác nhau đối với Thiên Chúa, đối với con người và thế giới. Do đó, những gì chúng ta nói hay làm với tư cách thừa tác viên để thực hiện chiều kích thừa tác vụ đòi hỏi phải cắm rễ sâu trong sự tìm kiếm và quan hệ với Thiên Chúa. Một chuyển động tích hợp và sai biệt làm phong phú cuộc tìm kiếm của chúng ta.
Chính từ nền tảng này mà chúng ta có thể đi vào đàm thoại thực sự. Đàm thoại là một thực hành truyền thông mạnh mẽ biến đổi những người tham gia. Đàm thoại cho chúng ta thấy cách thức ý tưởng được chia sẻ, những ý tưởng tích lũy được chia sẻ qua thời gian là cội nguồn cho hành động tập thể; hứa hẹn của nó là tạo ra những cuộc đàm thoại có ý nghĩa và mở rộng khả năng sáng tạo và duy trì quan hệ hợp tác trong các lĩnh vực thừa tác vụ của chúng ta. Đàm thoại là cánh cửa mở ra cho sự biến đổi, là sự mời gọi một quá trình tự phản tỉnh và học hỏi trong tổ chức. Khi chúng ta tiến hành tăng cường chất lượng khả năng đàm thoại, chúng ta bắt đầu khám phá ra những khía cạnh mới về các mối quan hệ của chúng ta. Chúng ta học lắng nghe bằng những cách thức mới. Thiếu sự lắng nghe, đàm thoại không thể diễn ra được. Chúng ta được khai sáng, được giải phóng. Chúng ta được đặt vào vị trí mở rộng và sẵn sàng tiếp nhận công việc của Thánh Thần trong nỗ lực ‘hiểu các dấu chỉ của thời gian’ và đáp ứng một cách chân thành. Chúng ta có thể nói lên với tất cả con người mình rằng “không phải ý con, nhưng ý Cha được thể hiện!”
Nghe có thể là một hành vi sáng tạo mạnh mẽ nhất mà chúng ta thể hiện; chúng ta lắng nghe và tạo ra một thực tại dựa vào điều chúng ta nghe trong mỗi lúc. Nghe đưa chúng ta tới một thái độ suy nghĩ và nhận định nghiêm túc. Nó làm cho chúng ta có thể giữ một thái độ tìm hiểu, mở ra cánh cửa cho sự hiểu biết mới. Phản tỉnh là mở cánh cửa đủ lâu để những nhận định mới xuất hiện. Hơn nữa, phản tỉnh là dùng thời gian để quan sát lâu hơn một biến cố và tự hỏi về các mối liên hệ giữa các biến cố đó, và suy ra những câu hỏi sẽ đưa bạn tới mức độ kế tiếp. Để có sự phản chiếu hoàn toàn, mặt nước phải tĩnh lặng. Càng phát triển được sự tĩnh lặng trong tâm trí chúng ta càng có khả năng đưa ra những câu hỏi phù hợp và nghe được sự phản hồi cho chúng ta. Tìm hiểu và phản tỉnh hợp lại giúp chúng ta đào sâu những vấn đề quan trọng liên quan tới chúng ta, để thấy được kiểu mẫu diễn tiến.
Nhìn được mô tả là gốc rễ đàm thoại. Để thay đổi – quay trở lại – để nhìn từ một góc cạnh mới. Như thế đàm thoại là sự quay lại; không phải là đứng ở cùng một vị trí, mà là mở tâm trí ra để đón nhận ý tưởng và khả năng mới. Chúng ta nhận thấy có những gợi ý cho sự đàm thoại hiệu quả nếu cả hai bên đàm thoại đều có sự biến đổi. Là nhà truyền thông chúng ta không đứng cô lập với quá trình truyền thông đang diễn ra. Chúng ta thay đổi trong chính quá trình truyền thông của mình.
Đàm thoại là một trải nghiệm giải phóng. Khi mở mắt – mở lòng ra – để nhìn theo quan điểm mới, chúng ta bắt đầu trải nghiệm một sự tươi mát mới, một tinh thần mới, một ý nghĩa sáng tạo trong cách thức chúng ta liên hệ với Thiên Chúa, với người khác và với thế giới. Sáng tạo là chia sẻ thực tại ‘được sinh ra’ mỗi ngày trong đời chúng ta.
Chúng ta khám phá ra rằng hành vi sáng tạo chính là “đưa ra” cái chúng ta trải nghiệm. Chuyển động là kêu gọi người khác đến, xem, nghe thực tiễn được sáng tạo. Tự bản chất của nó, sáng tạo kêu mời sự cộng tác. Nó mở những cánh cửa để nhìn những cái có thể thay thế, những cái xem ra bất khả thi, sự thật và vẻ đẹp, theo những cách thức mà trước đây chưa từng làm.
Cộng tác hữu hiệu tạo ra cộng đồng hiệp thông. Tất cả các bước chúng ta đã thảo luận từ đầu đến giờ là những hòn đá tảng xây dựng truyền thông hiệu quả.
Bây giờ chúng ta xem Hình #1 để nhận ra quan điểm tích hợp năng động cần có để đánh giá xem cách thức chúng ta truyền thông trong lĩnh vực thừa tác vụ có hiệu quả hay không. Trong khi mỗi một yếu tố có khi không hoạt động cùng lúc trong một cá nhân, chúng vẫn hoạt động trong toàn thể cộng đồng đức tin. Nếu chúng ta cố gắng thiết lập một cộng đồng đức tin thực sự mở lòng ra cho công việc của Thánh Thần, chúng ta sẽ xem thấy được những yếu tố này hoạt động trong đời sống và trong thừa tác vụ của chúng ta.
Tôi khuyến khích các bạn xem lại cẩn thận chương trình đào tạo của mình. Các bạn có thấy những yếu tố này được dệt chung trong cùng một tấm thảm để trở thành một thừa tác vụ hiệu quả hay không? Các bạn tiếp tục tiến bước và nuôi dưỡng kỹ năng như thế nào trong một thế giới truyền thông đang thay đổi xung quanh các bạn? Các bạn cần những gì để điều chỉnh một cách phù hợp trong cuộc đời của mình và trong những chương trình đào tạo hiện nay?
Trong môi trường hoạt động mục vụ ngày mai, tu sĩ và các lãnh đạo Hội Thánh phải tỏ ra là những chuyên gia truyền thông. Họ là những người hiểu rằng truyền thông là con tim của Hội Thánh. Họ không những cố gắng làm chủ kỹ năng truyền thông cá nhân và giữa người với người để Lời tác động vào cuộc sống những người họ phục vụ, mà còn nắm bắt được ý nghĩa và tác động của xã hội truyền thông đang tiến hóa nhanh chóng và đang biến đổi cách thức người ta cảm nhận về chính mình và cách thức người ta quan hệ với Chúa.
 
Một bối cảnh mới
 
Tôi đã cố gắng phân tích tác động của thực tế sau Công Đồng Vaticanô II mà chúng ta đối mặt trong chương trình đào tạo chủng viện và đào tạo tôn giáo. Tôi đã trình bày những gì mình tìm thấy được cho tới nay như là những tiêu chí và hướng dẫn cho việc tập trung vào truyền thông hiệu quả trong lĩnh vực thừa tác vụ. Một lần nữa, nếu truyền thông là con tim của Hội Thánh, thì những người trong lĩnh vực thừa tác vụ phải hứng khởi tích hợp các kỹ năng truyền thông làm linh hoạt mối quan hệ cá nhân và liên cá nhân trong Hội Thánh và văn hóa của chúng ta.
Nhận thức rằng chúng ta đang sống trong một thế giới được chăm bón bằng văn hóa truyền thông đang bùng nổ, các thừa tác viên không chỉ phải đối mặt với việc vun trồng hiểu biết về kỹ thuật số và đa phương tiện, mà còn phải biết bằng cách nào và khi nào thì áp dụng một kỹ thuật truyền thông cụ thể nào đó trong lĩnh vực thừa tác vụ. Đây không phải là một bài nói chuyện chuyên đề về truyền thông. Thời gian và không gian giới hạn buộc tôi phải tập trung cuộc đàm thoại của chúng ta vào việc triển khai máy vi tính, Internet và ‘không gian điều khiển’ (cyberspace). Làm sao chúng ta có thể giải quyết câu hỏi đặt ra trong Tông huấn Evaneli Nuntiandi trong không gian điều khiển? Nó có đáng để chúng ta bỏ ra thời giờ và sức lực để tìm hiểu áp dụng không gian điều khiển một cách chủ động trong các lãnh vực rao giảng Tin Mừng, huấn giáo và thừa tác vụ hay không?
Có một khoảng cách giữa các thế hệ trong mối quan tâm về ý nghĩa và vị trí của máy vi tính, Internet và không gian điều khiển trong đời sống chúng ta. Hãy dành một ít phút xem hình #2. Chúng ta học được gì từ hình này trong việc đào tạo và thừa tác vụ? Bạn đang đứng ở chỗ nào?
Hình#2
 
Ý tưởng đầu tiên làm người ta ngạc nhiên nằm ở hai đầu dải xếp loại tuổi. Chúng ta thấy rằng Thế Hệ E* (tuổi từ 2-22) và Thế Hệ Lão làng (tuổi trên 61) cho rằng máy tính cá nhân và Internet là một sự đầu tư đáng thời gian bỏ ra. Trong nhiều nền văn hóa, chăm sóc Thế Hệ E là điều cơ bản đối với việc dạy dỗ và học tập trong những năm đầu đời. Câu hỏi là liệu chúng ta có nên tiếp tục khám phá và duy trì những công cụ truyền thông này trong đời hay không là một câu hỏi không phù hợp. Chúng đã ăn sâu vào sự hiểu biết của chúng ta như là cách thức trở thành người trong văn hóa thông tin hiện đại. Còn những người ở vào tuổi Lão Làng (hay tuổi Hoàng Kim) đang khám phá ra rằng giờ đây họ không còn phải sống biết lập với gia đình và bạn bè. Họ chỉ cách xa những người tha thiết muốn giao lưu bằng đường Internet một nano giây**. Nghiên cứu chỉ ra rằng tuổi Hoảng Kim này gia tăng dân số nhanh nhất trên không gian điều khiển vì lý do ‘giao lưu truyền thông và tình cảm’. Vậy tại sao Hội Thánh lại không đến với thành phần này?
Hãy tập trung chú ý đoạn giữa của dải xếp loại tuổi. Các bạn thấy ý tưởng gì? Những người từ 30-40 không nồng nhiệt lắm với thực trạng bùng nổ (tin học) này. Tại sao? Trước hết có lẽ họ không thấy sự hứng thú, không có thời gian và nghị lực để lướt trên không gian điều khiển. Có một số người, do nhu cầu công việc hay vì con cái mà họ cảm thấy quan tâm và cần thiết tìm hiểu và ứng dụng kỹ năng này vào cuộc sống. Những người từ 41 tới 60 có khuynh hướng phớt lờ thực tiễn mới này, hay cảm thấy máy vi tính, mạng Internet chỉ là sự phấn khích thời thượng rồi sẽ qua đi. Họ nói rằng “phong trào này sẽ biến mất sau vài năm như những xu hướng kỹ thuật khác.” Vì lý do này chúng ta định danh nhóm này là ‘lạnh’.
 
Tôi thấy rằng trong các nền văn hóa khác, Hình #2 có thể được thể hiện theo những cách khác. Lúc này tôi chỉ muốn chúng ta cân nhắc thực tiễn này dưới ánh sáng các chương trình đào tạo và thừa tác vụ của chúng ta. Những người vào chủng viện của chúng ta đang đứng ở chỗ nào? Những người đi qua được ngưỡng cửa thừa tác viên đang ở chỗ nào? Những người đang phục vụ với tư cách lãnh đạo Hội Thánh đang ở chỗ nào? Những người họ đang phục vụ được xếp loại chỗ nào? Trả lời cho những câu hỏi này rất quan trọng để có thể trở nên những nhà truyền thông hữu hiệu thời nay. Cách thức chúng ta phân tích tình huống và quan tâm tới những khả năng và cơ hội cho thực hành thừa tác vụ hiệu quả là một thách đố trong thế kỷ 21.
Vâng, công nghệ truyền thông mới có một ảnh hưởng mới. Tuy vậy câu hỏi đặt ra không phải là một công nghệ truyền thông nào đó tốt, có hiệu quả hay hữu ích, mà là tại sao nó hữu ích và tại sao nó tốt hơn – hay ít nhất bổ sung cho – tình trạng hiện nay. Đưa công nghệ truyền thông vào công tác thừa tác vụ của chúng ta không phải là một ý tưởng có tính theo thời mà là điều kiện tiên quyết. Cách thức loài người truyền thông, thành lập các mạng lưới cộng đồng, thông tin, đào tạo và biến đổi văn hóa một phần dựa vào phương tiện truyền thông mới.
Chúng ta không cần có mọi sự ngay lập tức, nhưng chúng ta cần bắt đầu dựa vào sự nhận định và cơ sở hạ tầng có sẵn để hỗ trợ hay lên kế hoạch cho tương lai. Những yếu tố nào tạo ra được một chương trình học hỗ trợ các thừa tác viên trong truyền thông? Như đã nói ở đầu chương này, đó không phải là tập trung sự chú ý của chúng ta vào yếu tố này hay yếu tố kia mà là vào tất cả các yếu tố. Chúng ta cần áp dụng nhiều tiêu chí để định ra truyền thông hiệu quả cho lĩnh vực đào tạo.
Khi chấp nhận thách thức truyền thông trong thế kỷ 21, tôi xin trình bày những thành phần cần phải đưa vào chương trình đào tạo thừa tác vụ. Những thành phần này không thể bỏ qua được. Nó có thể được đưa vào như môn tùy chọn và/hay là thành phần của phương pháp luận và môn học chính khoá. Tôi muốn chúng ta chú ý vào cả hai chiều hướng. Thiết kế một cách tiếp cận truyền thông mục vụ hoàn chỉnh trong đào tạo là yếu tố cần thiết cho sự hiểu biết hoàn chỉnh và có ý nghĩa về môi trường truyền thông mà các thừa tác viên và các lãnh đạo trong Hội Thánh cần khám phá.
 


* Về tên gọi và đặc trưng của các thế hệ, xin xem định nghĩa trong từ điển Wikipedia trên mạng. (Người dịch).
** nano giây = một phần tỷ giây.

 


Sinh hoạt khác

Tin Giáo Hội

Mục Tổng Hợp

» Xem tất cả Video

Liên kết website

Bài viết được quan tâm