Danh mục bài viết

Cập nhật 12/5/2012 - 10:48 - Lượt xem 7349

Công tác dàn dựng một Chương trình hoạt động đại chúng

Công tác dàn dựng một chương trình

 

CÔNG TÁC BIÊN TẬP VÀ DÀN DỰNG

CHƯƠNG TRÌNH HOẠT ĐỘNG ĐẠI CHÚNG

 A – NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN TRAO ĐỔI

I – TẠM THỜI PHÂN BIỆT NHIỆM VỤ CÁC CHỨC DANH

-          Chỉ đạo nghệ thuật : Người quyết định phương hướng, tư tưởng, nội dung của chương trình, chịu trách nhiệm về tư tưởng, nội dung của chương trình đối với cấp trên.

-          Biên tập : Người thể hiện phương hướng, tư tưởng thàng nội dung chương trình cụ thể hoặc kịch bản.

-          Dàn dựng : Người thực hiện, biến phương hướng thành hiệu quả của chương trình, người quyết định màu sắc riêng cho từng tiết mục. Nét độc đáo riêng của chương trình.

 II – NHỮNG YẾU TỐ CHI PHỐI CHƯƠNG TRÌNH HOẠT ĐỘNG ĐẠI CHÚNG

-          Mục đích – yêu cầu :

           Địa điểm – không gian : Hội trường, ngoài trời, sân vận động...

-          Thời gian : Sáng, chiều, tối

-          Thời lượng : Độ dài của chương trình

-          Khán giả :

-          Diễn viên :

-          Kịch bản :

-          Biên đạo – Đạo diễn :

-          Người dẫn chương trình :

-          Kinh phí :

-          Quảng cáo – thông tin :

-          Công tác tổ chức, hậu cần :

-          Kỹ thuật : ánh sáng, âm thanh, trang trí

 III – NGUYÊN NHÂN THẤT BẠI CỦA CÁC CHƯƠNG TRÌNH HOẠT ĐỘNG ĐẠI CHÚNG

 

      1 . Chương trình không có chủ đề hoặc có mà không theo chủ đề đã đề ra nên nội dung tản mạn, đưa đến hiệu quả chương trình tản mạn.

     2 . Tiết mục không hay, không mới lạ, không bất ngờ, không tạo thắc mắc. Nói chung là các tiết mục không hấp dẫn, đưa đến chương trình không hấp dẫn.

     3 . Chương trình không liên tục hoặc không có những “ lắng đọng” cần thiết.

     4 . Chương trình không có điểm nhấn ( điểm vàng)

     5 .  Không có các kỹ thuật hỗ trợ ( phông màn, trang trí, ánh sáng, âm thanh...) hoặc sử dụng các kỹ thuật hỗ trợ không hợp lý.

 

IV – CHƯƠNG TRÌNH HOẠT ĐỘNG ĐẠI CHÚNG : MỤC ĐÍCH – YÊU CẦU

Các chương trình hoạt động đại chúng là một công cụ rất sắc bén trong việc giáo dục văn hoá tư tưởng. Vì thế, dù do một yêu cầu nào : chào mừng một ngày lễ, phục vụ cho một ngày hội, gây quỹ từ thiện, thậm chí để vui chơi giải trí, các chương trình hoạt động đại chúng đều có một mục đích là nói lên một điều gì đó ( chủ đề – tư tưởng chủ đề) nhằm thông tin giáo dục.

Thật là “nguy hiểm” khi dàn dựng một chương trình hoạt động đại chúng mà không hề có ý thức rằng chúng ta sẽ nói lên điều gì. Bởi vì ngoài những tốn kém về tiền bạc và sức lực chúng ta có thể sẽ cung cấp cho quần chúng những thông tin vô bổ, những tác phẩm nghệ thuật yếu kém làm hạ thấp thẩm mỹ của quần chúng. Trong khi lẽ ra nhờ hiệu quả tác động sâu lắng của nghệ thuật (“Có những chỗ sâu lắng nhất trong tâm hồn con người mà chỉ nghệ thuật mới len tới được”) chúng ta có thể nói lên những điều hết sức cần thiết cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, hoặc ít ra là giáo dục để con người sống tốt đẹp hơn.

 

B – CÔNG TÁC BIÊN TẬPCHƯƠNG TRÌNH HOẠT ĐỘNG ĐẠI CHÚNG

  I – ĐỊNH HƯỚNG NỘI DUNG

XÁC ĐỊNH CHỦ ĐỀ VÀ TƯ TƯỞNG CHỦ ĐỀ CỦA CHƯƠNG TRÌNH

-          Đề tài: phạm vi cuộc sống mà tác giả muốn khai thác.

 -          Chủ đề: vấn đề chính, vấn đề chủ yếu trong đề tài mà tác giả muốn đề cập, muốn trình bày, muốn thông tin, giáo dục...

-          Tư tưởng chủ đề: là tư tưởng, bài học, kinh nghiệm được rút ra từ chủ đề; là quan điểm, cách nhìn, cách đánh giá, cách giải quyết ... chủ đề. Là sự khẳng định hoặc phủ định của tác giả đối với chủ đề. Đó là sự khẳng định cái đúng, cái tốt, cái cần phải theo hoặc phủ định những cái xấu vì những hậu quả của nó, từ đó hướng dẫn quần chúng hành động theo điều đúng đắn đó.

Chủ đề của chương trình và tên chương trình : tên của chương trình đôi khi cũng chính là chủ đề của chương trình nhưng đối với những chương trình mang tính chất giải trí người ta thường đặt cho những cái tên nghe hay, lạ cho hấp dẫn, gợi sự tò mò, chú ý mà thôi (Trên đỉnh phù vân, Phù vân lưu lạc ...)

 

II – NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH – CHỌN TIẾT MỤC

Với chủ đề trên và để khẳng định điều muốn nói (tư tưởng chủ đề) tác giả sẽ trình bày trong kịch bản những vấn đề gì, những sự kiện gì, những nội dung gì, để từ đó ta sẽ quyết định chọn những tiết mục nào ( có sẵn hoặc phải sáng tác).

Thí dụ : Chủ đề “ Đời đời ghi nhớ”

Tư tưởng chủ đề : “ Chúng ta đời đời ghi nhớ những người đã hy sinh cho Tổ Quốc”

Sắp xếp trình tự các nội dung ( tiết mục) từ mở đầu đến kết thúc sao cho toàn bộ chương trình đạt hiệu quả cao nhất theo các yếu tố thông tin nhiều nhất, hiệu quả giáo dục cao nhất, tác động, dễ hiểu và hấp dẫn nhất.

 III – BỐ CỤC CHƯƠNG TRÌNH :

 Trong kịch bản, điều khó nhất là tìm được một đường dây xuyên suốt, một “ cái cớ” để từ đó tất cả những gì đã qua sống lại hoặc những sự việc lần lượt được thông tin, giải thích. Khi đã có “cái cớ” đường dây xuyên suốt này thì kịch bản sẽ có sức sống, độc đáo riêng của nó.

Tuỳ theo hiệu quả chương trình mà ta có thể bố cục kịch bản theo :

-          Thứ tự thời gian.

-          Tương phản.

-          Phân bố các tiết mục để các thể loại đan xen với nhau.

-          Quá trình phát triển từng vấn đề để bộc lộ chủ đề.

-          Các tiết mục hỗ trợ lẫn nhau : tiết mục này chuẩn bị cho tiết mục khác, nâng tiết mục trọng tâm.

 

IV – VIẾT THUYẾT MINH ( LỜI DẪN) :

Đây cũng là nhiệm vụ của người giới thiệu chương trình (nếu người đó có khả năng), cũng có thể đạo diễn sẽ chỉ đạo trực tiếp công việc này với người giới thiệu chương trình, tuy nhiên đây cũng chính là trách nhiệm của người biên tập chương trình.

Trước khi viết thuyết minh cần thực hiện những yêu cầu sau :

Trao đổi, tham khảo với đạo diễn là người đã trực tiếp thể hiện từng tiết mục và cả chương trình. Cụ thể là trao đổi :

          - Đạo diễn xác định chủ đề, tư tưởng chủ đề của chương trình là gì ?

          - Vì sao chọn tiết mục này, ý nghĩa của nó đối với toàn chương trình là gì ?

          - Đã có những tâm đắc gì khi dàn dựng chương trình và những xử lý gì độc đáo ?

          - Những tiết mục nào là trọng tâm, cách bố cục chương trình ?

Chính nhờ sự trao đổi này mà đạo diễn có thể gợi mở nhiều vấn đề cho người viết thuyết minh, ngược lại lời thuyết minh sẽ bổ sung thêm cho đạo diễn những điều chưa nói được trong chương trình hoặc ít ra cũng tránh được hiện tượng “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược” vì hơn ai hết đạo diễn là người đã tư duy nhiều nhất, làm việc nhiều nhất với chương trình.

Nắm được yêu cầu của ban tổ chức, tính chất của chương trình và tâm lý, lứa tuổi, yêu cầu của khán giả.

Dựa vào những yêu cầu trên, lời thuyết minh thường chỉ viết sau khi chương trình đã dàn dựng xong, theo các mục đích sau :

1 - Làm rõ chủ đề, ý nghĩa của từng nội dung (tiết mục) để nêu bật tư tưởng chủ đề của toàn chương trình: Vì mỗi tiết mục là một phần, một ý của chủ đề, vì thế khi viết thuyết minh hãy xét xem tiết mục này nói lên yêu cầu gì của tư tưởng chủ đề.

2 - Định hướng cảm xúc, thẩm mỹ của tác giả đối với tác phẩm: Giúp cho khán giả nhận ra nét hay, đẹp ... hoặc để điều chỉnh những quan điểm sai lệch đối với tác phẩm.

3 - Giới thiệu – thông tin

Mục đích, sự kiện, lý do để có chương trình này.

Tác phẩm: hoàn cảnh ra đời, ý nghĩa của tác phẩm đối với hoàn cảnh lúc bấy giờ và trong hiện tại. (được khán giả yêu thích như thế nào, đã có những tác dụng ra sao, đã đạt được những giải thưởng gì ?)

Tác giả : cuộc đời và quá trình sáng tác, khuynh hướng nghệ thuật, các giai đoạn quan trọng trong cuộc đời ảnh hưởng đến các khuynh hướng nghệ thuật của tác giả, cảm xúc khi viết tác phẩm này...

Diễn viên : cuộc đời và quá trình hoạt động nghệ thuật, khuynh hướng nghệ thuật.... đã đạt được những thành tích gì trong nghệ thuật, được khán giả đánh giá như thế nào ? mối liên hệ giữa diễn viên, tác giả, tác phẩm...

Nhóm ca khúc, kịch, múa...: cuộc đời, khuynh hướng hoạt động nghệ thuật, sở thích ... của từng thành viên. Tôn chỉ, mục tiêu, khuynh hướng nghệ thuật của nhóm. Đã đạt được những thành tích gì trong nghệ thuật, được khán giả đánh giá như thế nào ?...

4 - Làm thư giãn chương trình : kể chuyện vui, phỏng vấn vui diễn viên, tác giả, đạo diễn, khán giả ... dĩ nhiên phải có liên quan đến chủ đề của chương trình, đến những tiết mục đã qua hoặc sắp đến.

 

 C – CÔNG TÁC DÀN DỰNGCHƯƠNG TRÌNH HOẠT ĐỘNG ĐẠI CHÚNG

 I - CHỨC NĂNG ĐẠO DIỄN

1.      Người có khả năng (tài năng) lý giải kịch bản một cách riêng biệt, độc đáo.

2.      Là Tấm gương phản chiếu những đặc điểm của các thành viên tham gia sáng tạo : hạn chế nhược điểm, phát huy ưu điểm, liên kết, phối hợp các thành viên tham gia ( diễn viên – nhạc sĩ – họa sĩ – chuyên viên ánh sáng...).

3.      Người tổ chức hành động  toàn bộ chương trình.

Người ta thường nhìn thấy đạo diễn ở chức năng thứ 3 qua cách xử lý âm nhạc, ánh sáng, biểu diễn ... nhưng thật ra tài năng của đạo diễn lại được bộc lộ ở 2 chức năng trên : Đạo diễn đã phải tư duy căng thẳng để tìm ra nét riêng biệt, độc đáo cho chương trình và tìm ra những phương cách để xử lý thật hiệu quả, độc đáo, hấp dẫn. Đạo diễn đã phải quyết định chọn diễn viên này mà không chọn diễn viên khác, chọn biên đạo múa, nhạc sĩ, hoạ sĩ... này mà không chọn những người khác vì hiệu quả của chương trình trong tương lai.

Với những chức năng trên, công việc cụ thể của người đạo diễn trong khi dàn dựng một công trình nghệ thuật quần chúng là:

 

 II - NÂNG CAO KỊCH BẢN

1.      Xác định lại chủ đề và khẳng định tư tưởng chủ đề ( có thể khác với sự xác định của tác giả kịch bản)

 2.      Bổ sung, thay đổi tiết mục ( nội dung) cho phù hợp với chủ đề và tư tưởng chủ đề.

3.      Thay đổi loại hình nghệ thuật : cho hấp dẫn hơn, tác động sâu sắc hơn, chuyển tải nội dung nhiều hơn (từ ca chuyển thành ca múa hay kịch hoặc ngược lại)

4.      Bố cục chương trình: dù việc xếp thứ tự tiết mục sẽ chính xác hơn sau khi dàn dựng xong chương trình, nhưng việc bố cục trước chương trình sẽ giúp đạo diễn quyết định tuyến dàn dựng, xử lý cách mở đầu và kết thúc một tiết mục sao cho có liên quan, hỗ trợ với tiết mục kế tiếp.

 

 III - XỬ LÝ “MÀU SẮC” CHO TỪNG TIẾT MỤC – NHẤN NHỮNG TIẾT MỤC (NỘI DUNG) TRỌNG TÂM – TẠO NÉT ĐỘC ĐÁO CHO CHƯƠNG TRÌNH.

 1.      Xử lý “màu sắc” cho từng tiết mục: Mỗi tiết mục là một vấn đề chúng ta định nói, vì thế đạo diễn phải làm sao nêu rõ được nội dung này, về mặt hình thức phải tìm cách xử lý sao cho phù hợp với nội dung, hiệu quả mà không giống những tiết mục khác. Ngoài những nguyên nhân thường gặp như: thiếu kinh phí, chương trình dàn dựng tốt nhưng lại thất bại bởi công tác tổ chức, hậu cần yếu hay thiếu thông tin quảng cáo để không có khán giả đến xem hoặc từ những yếu tố khách quan là ta không dự phòng trước như : trời mưa, cúp điện...

2.      Nhấn những tiết mục (nội dung) trọng tâm: mỗi chương trình đều có những tiết mục (vấn đề, nội dung) trọng tâm mà người ta thường gọi là “cái đinh” trong chương trình cho hợp lý, không để gần nhau và dùng các tiết mục khác hỗ trợ cho nó hoặc sử dụng các phương tiện kỹ thuật để làm nổi bật nó.

3.      Nét độc đáo của chương trình: Về nội dung, tư tưởng chủ đề cần mới, phù hợp hoàn cảnh, thời đại, các vấn đề gợi lên được sự suy nghĩ cần thiết cho khán giả.

Về hình thức, các tiết mục cần mới, lạ, độc đáo, hấp dẫn hoặc các tiết mục có liên quan hỗ trợ lẫn nhau. Thậm chí có những tiết mục xem như tương phản nhưng lại cần thiết, bổ sung cho nhau (sôi động – lặng lẽ; hùng tráng – bi thương)

 

IV - XỬ LÝ CÁC PHƯƠNG TIỆN HỖ TRỢ

Trang trí, ánh sáng, âm thanh ... chỉ là những phương tiện hỗ trợ, nếu nó không gắn với chủ đề và tư tưởng chủ đề sẽ không tạo được hiệu quả thậm chí có thể tạo ra hiệu quả ngược. Vì thế, căn cứ vào mục đích mà đạo diễn xử lý các phương tiện hỗ trợ một cách có liều lượng (ít – nhiều – tổng lực) để nói lên điều định nói (TTCĐ)

Để xử lý chính xác và hiệu quả, đạo diễn phải hiểu biết các tính năng của những phương tiện hỗ trợ và đưa ra những yêu cầu cụ thể:

-          Trang trí: tạo biểu tượng, điểm diễn, thế cao thấp, màu sắc ...

-          Ánh sáng: xử lý sáng một vùng, sáng toàn bộ sân khấu, sáng luồng, follow ...

-          Âm thanh: to – nhỏ, echo, các loại tiếng động ...

 

V - XỬ LÝ “MỐI NỐI” CÁC TIẾT MỤC

Để cho chương trình luôn liên tục, đạo diễn phải lưu ý xử lý mối nối giữa các tiết mục với nhau. Tùy theo tính chất của từng tiết mục mà đạo diễn chọn cách xử lý :

-          Nối bằng thuyết minh, người dẫn chuyện: một hoặc hai thuyết minh, thay giọng nam – nữ, đổi nơi xuất hiện của thuyết minh ...

-          Nối bằng tiết mục: dựng hẳn một tiết mục (nhỏ, gọn) để giới thiệu những tiết mục trọng tâm.

-          Nối bằng tiết mục đã qua: hình tượng kết của tiết mục trước lại khởi đầu cho tiết mục sau.

 

VI - MỘT SỐ KINH NGHIỆM TRONG CÔNG TÁC DÀN DỰNG

1.      Nhu cầu nhìn: dù là một chương trình ca nhạc, người xem vẫn có nhu cầu nhìn rất cao, do đó đạo diễn cần chú ý đến phong cách biểu diễn, trang phục của diễn viên, đội hình biểu diễn, trang trí sân khấu, ánh sáng...

2.      Không khí: “Tinh thần của nội dung” (Tiết mục – chương trình). Bằng các phương tiện hỗ trợ và cách xử lý, đạo diễn phải gợi cho được không khí mà nội dung sẽ thể hiện.

-          Một buổi chiều lặng lẽ ở biên giới cho tiết mục “Chiều biên giới”.

-          Tình đồng đội, tinh thần vui nhộn, văn nghệ cho tiết mục “Cây đàn guitar của đại đội 3”.

-          Không khí chiến tranh sôi động, khốc liệt trong một tiểu phẩm.

3.      Tiết tấu: “nhịp đập của trái tim”. Đó là sự sôi động, dồn dập hay thư thả, lắng đọng, dịu dàng của từng tiết mục.

4.      Liều lượng: mức độ xử lý.

Thiếu liều lượng : không hiệu quả

Đúng liều lượng : hiệu quả

Quá liều lượng : gây khó chịu

5.      Người dẫn chương trình: được xem như là một diễn viên đặc biệt, bởi tiết mục (lời thuyết minh) của họ sẽ giúp khán giả thấy được cái hay của từng tiết mục cũng như hiểu được tư tưởng chủ đề của toàn chương trình.

Người dẫn chương trình cũng được xem như một nhạc trưởng, người đạo diễn thứ hai, bởi họ sẽ là người lấp những chỗ trống, sơ hở của chương trình, thậm chí sẽ “cứu nguy” khi có những tình huống bất ngờ xảy ra trên sân khấu mà người đạo diễn không thể nào xuất hiện để giải quyết được.

Vì thế, chọn được một người dẫn chương trình giỏi cũng là một yếu tố thành công cho chương trình.

 


Tin cùng chuyên mục

Bài viết mới nhất

Liên kết web

Bài viết được quan tâm