Danh mục bài viết

Cập nhật 17/5/2019 - 4:0 - Lượt xem 2671

Thứ Bảy tuần 4 Phục Sinh

"Ai thấy Thầy là xem thấy Cha".

 

Tin Mừng: Ga 14, 7-14

Khi ấy, Đức Giêsu nói với các môn đệ rằng: “Nếu anh em biết Thầy, anh em cũng biết Cha Thầy. Ngay từ bây giờ, anh em biết Người và đã thấy Người.” Ông Philípphê nói: “Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện.” Đức Giêsu trả lời: “Thầy ở với anh em bấy lâu, thế mà anh Philípphê, anh chưa biết Thầy ư? Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha. Sao anh lại nói: “Xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha”? Anh không tin rằng Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy sao? Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra. Nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của mình. Anh em hãy tin Thầy: Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy; bằng không thì hãy tin vì công việc Thầy làm. Thật, Thầy bảo thật anh em, ai tin vào Thầy, thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa, bởi vì Thầy đến cùng Chúa Cha. Và bất cứ điều gì anh em nhân danh Thầy mà xin, thì Thầy sẽ làm, để Chúa Cha được tôn vinh nơi người Con. Nếu anh em nhân danh Thầy mà xin Thầy điều gì, thì chính Thầy sẽ làm điều đó.”

 

Suy niệm:

1. Làm những việc lớn hơn nữa - Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ.

Sau khi ông Tôma hỏi Thầy Giêsu về đường (Ga 14, 5), 
thì ông Philípphê lại xin Thầy cho các môn đệ thấy Chúa Cha (c. 8). 
Không rõ Philípphê muốn thấy Thiên Chúa theo kiểu nào, 
bởi lẽ theo niềm tin chung của người Do thái 
không ai thấy Thiên Chúa chí thánh mà sau đó còn sống được (x. Xh 33, 20). 
Dù sao khát vọng được thấy Thiên Chúa là ước mơ chính đáng. 
Thiên Chúa đã thỏa mãn ước mơ mà Ngài đã đặt vào lòng con người. 
Nơi Đức Giêsu, là Ngôi Lời nhập thể và là Con Thiên Chúa, 
chúng ta có thể thấy được Thiên Chúa bằng mắt phàm. 
“Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha” (c. 9). 
Nhìn ngắm khuôn mặt Thiên Chúa nơi Đức Giêsu 
chúng ta chẳng những không phải chết, nhưng được sống. 
Theo quan niệm của người Do thái, 
sứ giả là đại diện trọn vẹn cho người sai mình. 
Đức Giêsu đã là sứ giả cho Cha một cách tuyệt vời. 
Ngài là một với Thiên Chúa, Đấng sai Ngài : 
“Thầy ở trong Chúa Cha, và Chúa Cha ở trong Thầy” (c. 11). 
Các lời Ngài nói, Ngài không tự mình nói. 
Các việc Ngài làm, Ngài không tự mình làm. 
“Nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy, 
chính Người làm những việc của mình” (c. 10). 
Nhìn những việc Đức Giêsu làm, chúng ta nhận ra đó là việc của Cha. 
Cha làm việc của Cha qua Con của mình là Đức Giêsu. 
“Ai tin vào Thầy, người đó sẽ làm được những việc Thầy làm. 
Người đó còn làm được những việc lớn lao hơn nữa, 
bởi vì Thầy đến cùng Chúa Cha” (c. 12). 
Chúng ta vẫn ở trong mùa Phục sinh, mùa của sự sống chiến thắng. 
Đức Giêsu đã về với Chúa Cha và được vào trong vinh quang. 
Khi tin vào Ngài, khi gắn bó với một Đấng phục sinh quyền năng như thế, 
chúng ta có thể làm được những điều như Ngài đã làm: 
trừ quỷ, chữa bệnh, hoàn sinh kẻ chết (Mc, 16, 17-18; Cv 9, 34.40). 
Và như Đức Giêsu, điều vĩ đại mà chúng ta có thể làm cho thế giới hôm nay 
là yêu thương, yêu như Thầy đã yêu, yêu đến hiến mạng. 
Hãy mạnh dạn nhân danh Đức Giêsu mà xin, 
vì biết thế nào Ngài cũng làm cho người gắn bó với Ngài. 
Tất cả để Cha được tôn vinh nơi Con (c. 14). 

Lạy Chúa Giêsu, 
xin cho con biết con, 
xin cho con biết Chúa. 
Xin cho con chỉ khao khát một mình Chúa, 
quên đi chính bản thân, 
yêu mến Chúa và làm mọi sự vì Chúa. 
Xin cho con biết tự hạ, 
biết tán dương Chúa và chỉ nghĩ đến Chúa. 
Ước gì con biết hãm mình và sống trong Chúa. 
Ước gì con biết nhận từ Chúa 
tất cả những gì xảy đến cho con 
và biết chọn theo chân Chúa luôn. 
Xin đừng để điều gì quyến rũ con, ngoài Chúa. 
Xin Chúa hãy nhìn con, để con yêu mến Chúa. 
Xin Chúa hãy gọi con, để con được thấy Chúa. 
Và để con hưởng nhan Chúa đời đời. Amen. (Thánh Âu-Tinh) 

 

2. Cầu Nguyện Nhân Danh Chúa

Thường tình chúng ta không tiếc lời ca ngợi kẻ xa lạ vì đã làm được những việc đáng kể, nói ra nhiều câu chí lý, có một hành động đáng phục. Trong khi đó chúng ta lại rất hà tiện lời khen đối với người sống gần bên cạnh, trong chính tập thể chúng ta, dù người đó không những đã làm, đã nói, đã sống, mà còn hơn cả những người được ca ngợi, nhưng lại sống xa chúng ta. Ðây có thể phần nào là hoàn cảnh sống của các môn đệ, nhất là của Philipphê. Họ đã sống gần Chúa Giêsu, Thầy của mình, bao nhiêu năm qua, nhưng dường như họ vẫn chưa hiểu Chúa và mối tương quan của Ngài với Thiên Chúa Cha. Chính vì thế, mà trong câu nói của Chúa Giêsu cho các môn đệ có mang chút ít sự chua xót và trách móc: "Thầy đã ở với các con lâu rồi mà các con không biết Thầy sao? Hỡi Philipphê, ai xem thấy Thầy thì cũng xem thấy Cha. Hãy tin rằng Thầy ở trong Cha và Cha ở trong Thầy. Ít nhất, các con hãy tin điều đó vì thấy các việc Thầy đã làm".

Thật thế, không thiếu những dấu chỉ cho chúng ta biết mối quan hệ thâm sâu và đặc biệt giữa Chúa Giêsu và Thiên Chúa Cha. Ðặc biệt trong đoạn Phúc Âm vừa đọc trên, chúng ta có thể ghi nhận một dấu chỉ đặc biệt, đó là Chúa Giêsu qua Chúa Thánh Thần mà Ngài sẽ ban xuống, sẽ ban cho các môn đệ làm những việc cả thể hơn nữa. Họ sẽ hành động nhân danh Chúa, sẽ khai sinh một cộng đoàn mới, một Giáo Hội của Chúa. Nhưng chắc chắn các môn đệ sẽ gặp khó khăn và phương thế để vượt qua những khó khăn là cầu nguyện, cầu nguyện nhân danh Chúa. Hai lần trong cùng một đoạn văn vừa đọc, Chúa Giêsu đã yêu cầu các môn đệ của Ngài hãy cầu nguyện, cầu nguyện hết lòng tin tưởng, cầu nguyện nhân danh Chúa. Chúng ta có xác tín về những gì Chúa Giêsu giãi bày cho chúng ta hay không?

Lạy Chúa, trong ánh sáng phục sinh của Chúa, chúng con được mạc khải cho biết thực thể đúng thực của Chúa, là Ðấng sống hiệp nhất với Thiên Chúa Cha, nhưng đồng thời không bỏ quên chúng con. Chúa muốn chúng con hướng về Chúa. Xin đừng để chúng con đi tìm một vì Thiên Chúa khác, mà quên chính Chúa, là Ðấng luôn luôn hiện giữa chúng con mọi nơi mọi lúc.

 

3. Nếu các con biết Thầy

“Lạy Thầy, xin tỏ cho chúng con biết Chúa Cha, thế là đủ cho chúng con” (c.8). Có lẽ trong mỗi giây phút hăng say bồng bột của tuổi trẻ Philip đã xin với Chúa như vậy. Thật ra đấy cũng là ước mơ của nhiều người Do thái, vì xưa kia Maisen đã được đặc ân này trên núi Sinai (Xac 24,9-11), Elia đã được ở núi Horeb (1V 19,10-14), hoặc như Isai trong đền thờ (Is 6).

Nhưng như Chúa đã xác nhận không ai thấy được Thiên Chúa Cha trừ ra Đức Kitô mà thôi (Gio 1,18. 6,46). Thiên Chúa không còn hiện ra trong sấm chớp hay bằng thị kiến như xưa nữa. Kể từ nay Thiên Chúa Cha tỏ ra trong con người đức Kitô, Đấng không bao lâu nữa sẽ được ánh vinh quang bao phủ. Thứ vinh quang mà Isai chiêm ngắm trong đền thờ xưa chỉ là hình bóng của đức Kitô (Is 6. Gio 12,41). Chúa Kitô đã từng quả quyết “Cha Ta và Ta là một” ( Gio 10,30). “Ai thấy Ta là thấy Cha Ta” (c.9). Vì thế từ đây không phải là đền thánh Gierusalem của người Do thái, hay đền thờ của người Samaria ở Garisim (Gio 4,20) nữa, chỉ còn một nơi duy nhất, một chỗ gặp gỡ duy nhất là chính bản thân đức Kitô, Con Thiên Chúa (Gio 4,21-24. 2,13-22). Từ đây ai đón nhận Ngài là đón nhận Cha Ngài.

Có lẽ câu Philip “Xin tỏ cho chúng con thấy Thiên Chúa Cha” (c.8) phần nào minh chứng ông chưa hiểu mấy về chính Chúa Kitô. Chúa Cha và Chúa Con không thể tách lìa nhau. Con đâm rễ sâu trong Cha và Cha ẩn mình trong Con, Thiên Chúa Cha ở nơi Con và làm việc qua Con. Chúa Giêsu đã quả quyết “Cha ở trong Ta và Ta ở trong Cha” (10,38). Các lời nói việc làm của đức Kitô là của Thiên Chúa Cha (5,17-26.30.36.7,16-17. 8,26-29.10,25). Vì thế Chúa Kitô nói nếu không tin vào lời Ngài thí ít ra là hãy tin vào việc làm của Ngài là các phép lạ (10,25.37.38).

Qua bản văn trên chúng ta thấy Chúa Giêsu muốn minh chứng Ngài là một người thực sự giống chúng ta mọi đàng, ngoại trừ tội lỗi. Nhưng một đàng Ngài lại khác chúng ta một trời một vực vì Ngài là Thiên Chúa đồng bản tính, đồng việc làm với Thiên Chúa Cha. Chúa Giêsu muốn mạc khải cho chúng ta về Thiên Chúa Cha qua chính bản thân, lời nói và việc làm của Ngài. Có lẽ lời Chúa trách cứ  “Philip à, Thầy đã ở giữa các con biết bao lâu rồi thế mà con chưa biếr Thầy” (c.9). Lời nói này cũng bao hàm như câu của Gioan tiền hô “Trong thế gian có một người mà thế gian không biết” (Gio 1,10).

Nhưng lời ấy vẫn là lời tiên tri vang dội cho mỗi thời đại. Cũng như xưa kia Chúa Giêsu đã sống giữa dân Ngài 33 năm ròng. Ngài đã gặp gỡ, chuyện vãn, nhìn ngắm quê hương Ngài, Ngài đã dạy dỗ và làm phép lạ. Nhưng họ mỉa mai Ngài là con bác thợ mộc (Mc 6,3), là bị mát, cần phải dẫn về quê, là thông đồng với Beelgiêbuth...

Hình như giữa Ngài và chúng ta như có một bức tường lãnh đạm chống đối nào đó, mỗi người trong chúng ta đều mang trong mình một thứ chống đối Thiên Chúa. Chúng ta như cố vùng vẫy thoát ly khỏi tay Ngài. Dù được Ngài mời gọi, nhưng chúng ta vẫn cứ viện những lý do riêng để từ chối Ngài như những người kia từ chối tiệc cưới con vua vậy (Mt 22,1-14). Sau 20 thế kỷ ai trong chúng ta tránh được lời trách của Chúa “Thày đã ở giữa các con biết bao lâu... “. Đã từ lâu các con chưa nhận ra Ta đói khát, cô đơn, hất hủi, khinh miệt. Sau hai ngàn năm sự có mặt của Chúa như thể là sự có mặt trong bóng tối. Và có lẽ không sẽ có mặt như thế mãi đến tận thế. Thiên Chúa ở giữa sự im lặng.

Thiên Chúa sinh ra trong cảnh im lìm của đêm thâu. Ngài sống 30 năm trầm lặng. Ngài phục sinh trong đêm khuya. Ngài sống lai, hiện ra rồi đấy nhưng Madalêna tưởng đâu là bác làm vườn  (Gio 20,15), hai môn đệ Emmaus tưởng Ngài là khách bộ hành (Lc 24,13), các môn đệ tưởng là ma (Lc 24,36).

Người của Chúa nhận ra tiếng Chúa “Chiên Ta biết Ta” (Gio 10,14). Ai nhẫn nại làm quen với công việc của Chúa sẽ dễ nhận ra Ngài khắp nơi. Chúa ở gần chúng ta lắm ! sách Khải huyền nói “Đây Ta đứng ngoài cửa lòng và Ta gõ. Nếu ai nghe tiếng Ta và mở cửa, Ta sẽ vào dùng bữa với nó, nó với Ta” (3,20). Như vậy nếu chúng ta chưa gặp được Ngài thì lỗi ấy tại ai ?

 

4. Kinh nghiệm chứng từ

Câu hỏi của Phi-lip gặp lại sự táo bạo của Môsê và Êlia, những người xin được thấy gương mặt Thiên Chúa. Họ đã được đáp trả ít nhiều qua kinh nghiệm kỳ diệu về lửa cháy và gió thoảng, qua đó họ nghe được tiếng Chúa ; nhưng câu trả lời đích thực chỉ có thể đưa ra khi Thiên Chúa mặc lấy xác phàm trong Chúa Giêsu; và qua việc Biến Hình, Chúa Cha đã cho họ thấy người Con rạng rỡ vinh quang và được bao bọc trong tình âu yếm phụ tử, trước các Tông đồ choáng váng vì ánh sáng chói chang.  

Ánh sáng mà giờ đây Chúa Giêsu tỏ ra cho các người đồng bàn tiệc ly, với tư cách là hình ảnh của vị Cha vô hình, ấy là ánh sáng của lòng tận tụy và yêu thương. Đây không phải là Chúa Giêsu hay làm phép lạ, nhưng là Đấng đón nhận trong mình tình yêu của Chúa Cha, một tình yêu đốt cháy Ngài đến độ Ngài phải chết đi vì tình yêu đó.

Trên thực tế, điều chúng ta thiếu, ấy là biết được Chúa Giêsu qua một cảm nghiệm nội tâm. Nhờ một số kiến thức, nhờ việc nghiên cứu lâu ngày các văn bản thánh, chúng ta nhận được một Chúa Giêsu ở bên ngoài, một Chúa Giêsu cụ thể và chính xác. Đây là bước đầu; nhưng phải đưa vào nội tâm đối tượng này, cũng như bất cứ đối tượng nào của lý trí hầu trở nên một đối tượng của cảm nghiệm, một nguồn cội cho một sự nhập cuộc cá nhân. Đôi với nhiều người, điều này dẫn đến một sự gắn bó bên ngoài, một cảm giác muốn được tiếp xúc, một sự phấn khởi nhất thời; cần phải đi xa hơn nữa. Sự hiệp nhất cần phải được thực hiện tự thâm sâu con người thiêng liêng của mình nhờ tác động của Thần Khí, sức mạnh duy nhất có thể làm cho chúng ta đi vào mầu nhiệm cứu độ, là Chúa Kitô. Chúa Giêsu đã nói với ông Nicôđêmô: Tái sinh trong Thần Khí, nhờ Thần Khí mà đạt đến thế giới Thiên Chúa, thiết lập một sự hiệp thông tư tưởng và yêu thương với Chúa Cha trong Chúa Kitô: những công thức này vẫn chỉ là công thức nếu không thông qua kinh nguyện cá nhân và kinh nghiệm chứng từ.

Nhắc đến chứng từ không phải là điều vô ích. Chúa Giêsu bày tỏ Chúa Cha bằng cách dùng hành động để làm chứng về tình yêu của Ngài đối với Người và đối với nhân loại Chúng ta làm chứng về tình yêu nào? Hành động của chúng ta nói lên điều gì? Bằng chứng cho khả năng nhân loại hay sức sống thiêng liêng của mình? Làm chứng cho tình yêu điều này đôi khi có nghĩa là tử đạo, như Chúa Kitô; tiếng Hy lạp chỉ dùng một từ duy nhất: martus.

 

5. Hiệp nhất với Chúa

Có một phản ứng khá thông thường, đó là chúng ta thường không tiếc lời khen ngợi kẻ xa lạ vì đã làm được những việc đáng kể, hoặc có một hạnh kiểm tốt, nhưng chúng lại hà tiện khen ngợi người sống bên cạnh mình, dù rằng người đó đã làm hoặc có hạnh kiểm tốt hơn những người mà ta ca ngợi, nhưng sống xa chúng ta.

Đó cũng phần nào là phản ứng của các môn đệ, nhất là của Thánh Phliphê. Mặc dù đã sống với Chúa ba năm, nhưng họ vẫn chưa hiểu Chúa và mối liên hệ giữa ngài và Chúa Cha. Chính vì thế Chúa đã nói như trách móc:  Thầy đã ở với các con bấy lâu, thế mà các con chưa biết Thầy ư ? Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha

Sự hiệp nhất giữa Chúa Giêsu và Chúa Cha trở thành lý tưởng cần phải đạt đến đối với những môn đệ Chúa, những kẻ được Ngài sai đi tiếp tục sứ mệnh của Ngài.  Như  Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con. Người môn đệ được mời gọi thể hiện sự hiệp nhất với Chúa trong cuộc sống chứng tá, cũng như Ngài luôn thể hiện sự hiệp nhất với Cha Ngài khi chu toàn sứ mệnh đã lãnh nhận từ Cha. Chắc chắn người môn đệ sẽ gặp khó khăn, .nhưng một khi sống hiệp nhất với Chúa, họ sẽ nhận được sức mạnh thần linh và trở thành hữu hiệu hơn trong lời cầu nguyện.  Bất cứ điều gì các con nhân danh Thầy mà xin, thì Thầy sẽ làm, để Chúa Cha được tôn vinh nơi người Con.

Nguyện xin Chúa Kitô Phục sinh luôn gìn giữ chúng ta trong mối hiệp thông với Ngài, và đừng để chúng ta đi tìm một Thiên Chúa khác mà quên đi Đấng đang hiện diện giữa chúng ta. 

 

6. Nhìn thấy Chúa trong cuộc sống

Một vị vua nọ có lần nẩy ra ý nghĩ táo bạo: ông cho triệu mời các lãnh đạo tôn giáo đến và ra lệnh trong một tuần phải làm thế nào cho ông thấy được Thiên Chúa nếu không sẽ bị chém đầu. Thật là một đòi hỏi nan giải và hóc búa: làm thế nào cò thể thỏa mãn được một ước muốn càn gở như thế. Biết được nổi lo âu của các nhà lãnh đạo, một kẻ chăn chiên đến xin được làm công việc đó. Buổi sáng nọ, kẻ chăn chiên dẫn nhà vua đến đồng cỏ nơi anh thường chăn súc vật. Họ đi bộ, chứ không dùng xe, khi tới nơi, mặt trời đã gần đỉnh ngọ. Kẻ chăn chiên đưa tay chỉ mặt trời và xin nhà vua nhìn. Vua nổi giận bảo anh muốn làm mù đôi mắt của ông hay sao. Bấy giờ kẻ chăn chiên mới quì xuống trước mắt vua và thưa: “Tâu bệ hạ, chỉ một vật do bàn tay Thiên Chúa tạo dựng mà ánh quang của nó rực rỡ đến nỗi bệ hạ chẳng dám nhìn thì làm sao bệ hạ cóù thể nhìn thấy Thiên Chúa được”. Chính lúc ấy, nhà vua đã nhìn thấy Thiên Chúa không phải bằng đôi mắt, nhưng bằng niềm tin.

Trong Tin mừng hôm nay, Philip, một trong nhóm mười hai đã xin Chúa Giêsu tỏ cho thấy Thiên Chúa Cha. Chắc hẳn khi nói điều đó Philip đã liên tưởng đến hình ảnh một Thiên Chúa quyền năng đã tỏ vinh quang Ngài trên núi Sinai một Thiên Chúa mà Môsê chỉ được thấy phía sau lưng Ngài. Tâm trạng của Philip cũng là tâm trạng của rất nhiều người trong chúng ta, đó là một niềm tin đòi hỏi sự lạ. Bởi thế, không ít người sẵn sàng hao tổn tiền bạc và thời giờ để tìm đến những nơi xảy ra sự lạ đối với họ, một lần hành hương có ý nghĩa và giá trị cho cả cuộc lời

Đáp lại yêu cấu của Philip, Chúa Giêsu đã đưa ra một Khẳng định và một câu hỏi: trước hết Ngài nêu lên một chân lý: “Ai thấy Thầy là thấy Cha Thầy”, đó là một thực tại đã quá thiên nhiên; câu hỏi tiếp sau đó như một nhắc nhở cho Philip: Hãy nhìn lại cuộc sống thân tình giữa Thầy và các môn đệ. Những lời Thầy nói, những việc Thầy làm, không phải là của Thầy mà là của ThiênChúa Cha ở trong Thầy. Sự thân tình quen thuộc đã khiến cho các môn đệ không nhận ra Ngài là Thiên Chúa. Lời nhắc nhở của Chúa Giêsu đối với Philip cũng là lời nhắc nhở chúng ta: đừng để những nét quen thuộc bên ngoài che mất thực tại bên trong. Tìm kiếm Thiên Chúa là điều tốt, nhưng thật đáng trách khi đứng trước mặt Ngài mà chẳng nhận ra Ngài. Chúng ta nôn nao tìm dấu lạ, nhưng dấu lạ xảy ra trước mắt mà chẳng nhìn thấy: hàng ngày qua lời truyền phép, Chúa Giêsu hiện diện trên bàn thờ nhưng đã mấy khi chúng ta tỏ thái độ cung kính tin nhận Ngài? Trong cuộc sống biết bao lời cầu xin được dâng lên Thiên Chúa nhưng đã mấy lần chúng ta phản tỉnh để nhận ra ơn lành Ngài ban.

Ước gì chúng ta giữ mãi thái độ tìm kiếm một sự tìm kiếm không ở đâu xa, nhưng trong chính cuộc sống quen thuộc hàng ngày. Đập vỡ chiếc vỏ quen thuộc bằng cách ngạc nhiên đặt câu hỏi chắc chắn chúng ta sẽ nhận ra khuôn mặt của Thiên Chúa.

 

7. Ai thấy Thầy là thấy Cha

Đoạn Tin mừng chúng ta vừa nghe là một phần trong lời trối trăn dặn dò các môn đệ trước khi Chúa Giêsu đi chịu nạn chịu chết.

Với giọng điệu tâm tình trong vòng thân mật, chỉ có Chúa Giêsu và các môn đệ, Chúa đã tỏ cho họ thấy chính Ngài là hiện thân, là sự mạc khải về Chúa Cha qua đời sống cũng như việc làm của Ngài.

Nhìn vào con thì biết cha, vì con giống cha. Khi Philiphê và các môn đệ ao ước được thấy Chúa Cha, Chúa Giêsu đã trả lời: Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha, vì Thầy ở trong Cha và Cha ở trong Thầyï. Ở trong có nghĩa là nên một. Qua câu trả lời của Chúa Giêsu, chắc các môn đệ cũng chưa hiểu gì rõ lắm; phải chờ cho đến Lễ Ngũ Tuần họ mới hiểu hết lời Chúa nói hôm nay.

Phần chúng ta hôm nay, thấy Chúa Giêsu nghĩa là gì? Lời giảng dạy và cách sống của Chúa Giêsu trong Tin mừng, đã vẽ nên khuôn mặt của Chúa Giêsu khá rõ nét cho những ai siêng năng suy gẫm lời Chúa. Khuôn mặt của Chúa Giêsu được Tin mừng vẽ nên là khuôn mặt nhân từ hiền hậu, phản ảnh lòng nhân từ của Chúa Cha. Đó cũng là khuôn mặt của một kẻ sống nội tâm cách sâu xa vì tâm hồn Ngài luôn kết hiệp với Chúa Cha như Ba Ngôi hằng kết hiệp với nhau. Đó cũng là khuôn mặt của một kẻ mà tâm hồn đầy yêu thương, sẵn sàng đến với những kẻ khốn cùng hay tội lỗi. 

Chúa đồng hóa mình với Chúa Cha: lời nói của Ngài là lời nói của Chúa Cha, việc làm của ngài là việc làm của Chúa Cha: Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình mà nói ra. (Nhưng) Chúa Cha, Đấng ở trong Thầy chính Người làm việc của mình. Như thế, Chúa Giêsu và Chúa Cha là một: Ai thấy Thầy là thấy Cha.

Khi đã cho các môn đệ biết là họ đương hân hạnh được chung sống với một vì Thiên Chúa, Chúa Giêsu thúc giục họ hãy xin. Chúa làm như là ngài đang nóng lòng để cho, chỉ chờ chúng ta xin nữa mà thôi. Vì tình yêu bao giờ cũng sẵn sàng trao ban ; Thường thì khi người ta thương yêu, người ta trở nên rộng lượng. Thiên Chúa là Tình Yêu, nên luôn luôn sẵn sàng trao ban. Vì thế mà có lần Chúa Giêsu đã thúc giục chúng ta: Ai xin thì sẽ cho, ai tìm thì sẽ thấy, ai gõ cửa thì sẽ mở cho.

Chúa sẵn sàng ban nhưng đòi hỏi lòng tin của chúng ta: Điều kiện để được Chúa ban cho là lòng tin. Chúa Giêsu bảo chúng ta nhân danh Chúa mà xin, nhưng nhân danh Chúa nghĩa là gì ? Tình yêu sẵn sàng ban phát. Chúa Cha yêu Chúa Con. Vì vậy nếu chúng ta tin vào Chúa Con và nhân danh Người mà xin thì sẽ được. Khi Chúa con ban ơn cho ai thì Người làm vinh danh Chúa Cha. Mâỗi lần Chúa Con ban cho ai điều gì là Chúa con tôn vinh Chúa Cha.

Trước tình yêu sẵn sàng ban phát như thế, người kitô hữu có quyền sống trong tin tưởng, nếu chúng ta cố gắng sống xứng đáng là con của Thiên Chúa. Và chúng ta là con của Thiên Chúa khi ta kết hiệp với Chúa Giêsu Kitô.

 


Sinh hoạt khác

Tin Giáo Hội

Mục Tổng Hợp

» Xem tất cả Video

Liên kết website

Bài viết được quan tâm