Danh mục bài viết

Cập nhật 3/2/2019 - 14:32 - Lượt xem 1815

Thứ Hai tuần 4 Thường Niên

"Hỡi thần ô uế, hãy ra khỏi người này".

 

Tin Mừng: Mc 5, 1-20

Khi ấy, Chúa Giêsu và các môn đệ sang bờ biển bên kia, đến địa hạt Giêrasa. Chúa Giêsu vừa ở thuyền lên, thì một người bị quỷ ô uế ám từ các mồ mả ra gặp Người. Người đó vẫn ở trong các mồ mả mà không ai có thể trói nổi, dù dùng cả đến dây xích, vì nhiều lần người ta đã trói anh ta, gông cùm xiềng xích lại, nhưng anh ta đã bẻ gãy xiềng xích, phá gông cùm, và không ai có thể trị nổi anh ta. Suốt ngày đêm anh ta ở trong mồ mả và trong núi, kêu la và lấy đá rạch mình mẩy. Thấy Chúa Giêsu ở đàng xa, anh ta chạy đến sụp lạy Người và kêu lớn tiếng rằng: "Hỡi ông Giêsu, Con Thiên Chúa Tối Cao, ông với tôi có liên hệ gì đâu? Vì danh Thiên Chúa, tôi van ông, xin chớ hành hạ tôi". Nhưng Chúa Giêsu bảo nó rằng: "Hỡi thần ô uế, hãy ra khỏi người này". Và Người hỏi nó: "Tên ngươi là gì?" Nó thưa: "Tên tôi là cơ binh, vì chúng tôi đông lắm". Và nó nài xin Người đừng trục xuất nó ra khỏi miền ấy.

Gần đó, có một đàn heo đông đảo đang ăn trên núi, những thần ô uế liền xin Chúa Giêsu rằng: "Hãy cho chúng tôi đến nhập vào đàn heo". Và Chúa Giêsu liền cho phép. Các thần ô uế liền xuất ra và nhập vào đàn heo, rồi cả đàn chừng hai ngàn con lao mình xuống biển và chết đuối. Những kẻ chăn heo chạy trốn và loan tin đó trong thành phố và các trại. Người ta liền đến xem việc gì vừa xảy ra. Họ tới bên Chúa Giêsu, nhìn thấy kẻ trước kia bị quỷ ám ngồi đó, mặc quần áo và trí khôn tỉnh táo, và họ kinh hoảng. Những người đã được chứng kiến thuật lại cho họ nghe mọi sự đã xảy ra như thế nào đối với người bị quỷ ám và đàn heo. Họ liền xin Chúa Giêsu rời khỏi ranh giới họ. Khi Người xuống thuyền, kẻ trước kia bị quỷ ám xin theo Người. Nhưng người không cho mà rằng: "Con hãy về nhà với thân quyến, và loan truyền cho họ biết những gì Thiên Chúa đã làm cho con và đã thương con". Người đó liền đi và bắt đầu tuyên xưng trong miền thập tỉnh, tất cả những gì Chúa Giêsu đã làm cho anh ta, và mọi người đều thán phục.

 

Suy Niệm:

1. Tên tôi là đạo binh (Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ)

Trừ quỷ là việc Đức Giêsu vẫn hay làm. 
Bài Tin Mừng hôm nay kể chuyện Ngài trừ quỷ ở vùng đất dân Ngoại. 
Tài kể chuyện của Máccô được thể hiện rõ nét qua bài Tin Mừng này. 
Hiếm khi có câu chuyện sống động và ly kỳ đến thế! 
Đức Giêsu và các môn đệ vượt biển để đến vùng đất Ghêrasa. 
Vừa ra khỏi thuyền thì gặp ngay người bị ám bởi thần ô uế. 
Anh sống ở nơi mồ mả, nơi thường được coi là chỗ ở của quỷ ma. 
Anh mạnh ghê gớm đến nỗi không xiềng xích nào có thể kiềm chế được. 
Sống cô độc, đe dọa người khác, tự hành hạ và làm hại chính bản thân, 
đó là thân phận bi đát mà anh không sao thoát khỏi (cc. 3-5). 
Rõ ràng anh hoàn toàn bị quỷ dữ chiếm đoạt, chẳng còn chút tự do. 
Nhưng lạ thay, chính anh lại chạy đến với Đức Giêsu để gặp Ngài. 
Quỷ dữ nơi anh biết rõ Đức Giêsu là ai, là Con Thiên Chúa Tối Cao. 
Nhưng cái biết đó lại khiến nó phải run sợ xin Ngài đừng hành hạ (c. 7). 
Quỷ dữ biết danh tánh của Đức Giêsu, nhưng không chế ngự được Ngài. 
Bây giờ Ngài bắt nó phải khai danh tánh của nó, trước khi Ngài hành động. 
Hóa ra đây không phải là một quỷ, mà là một lũ quỷ đông đảo (c. 9). 
Đạo binh quỷ này khẩn khoản xin Đức Giêsu một ơn, 
đó là chỉ đuổi chúng ra khỏi người này, chứ đừng đuổi ra khỏi vùng này, 
vì chúng hy vọng sẽ tìm được một con mồi khác (c. 10). 
Đạo binh thần ô uế xin được nhập vào đàn heo vốn bị coi là ô uế. 
Sự đồng ý của Đức Giêsu khiến toàn bộ những gì ô uế bị hủy diệt. 
Ngài đã thanh tẩy chẳng những anh bị quỷ ám, mà cả vùng anh ở nữa. 
Khi người bị quỷ ám được tự do, anh ấy trở nên khác xưa. 
Anh ngồi đó, ăn mặc hẳn hoi, trí khôn tỉnh táo (c. 15). 
Người dân trong vùng khiếp sợ nên xin Đức Giêsu đi khỏi đất của họ. 
Chỉ có anh vừa được trừ quỷ là xin ở với Ngài như môn đệ (c. 18). 
Nhưng ơn gọi làm môn đệ phải đến từ Thầy Giêsu. 
Ngài khuyên anh nên về nhà, ở lại vùng đất của mình, 
để loan báo mọi điều Chúa đã làm cho anh và thương xót anh (c. 19). 
Anh đã vâng lời và trở nên người loan báo về Đức Giêsu nơi dân Ngoại. 
Đối với anh, Đức Giêsu chính là Chúa. 
Thế giới chúng ta sống thì văn minh hơn, khoa học hơn, hạnh phúc hơn, 
nhưng vẫn không thiếu cảnh những người sống như bị ám, như bị ma nhập. 
Có những người sống trong cô độc và trở nên nguy hiểm cho tha nhân. 
Có những kẻ tự giết mình từng ngày trước khi tự tử. 
Tru tréo và lấy đá rạch mình không phải là chuyện hiếm (c. 5). 
Ăn mặc hẳn hoi và trí khôn tỉnh táo 
là niềm mơ ước của biết bao gia đình có người thân bị bệnh. 
Bệnh tâm thần là căn bệnh mà ít nhiều chúng ta đều dễ mắc. 
Lắm khi con người thấy bó tay, không tự mình giải thoát mình được. 
Xin Chúa Giêsu tiếp tục trừ quỷ cho chúng ta, cho vùng đất chúng ta sống. 
Xin Ngài tiếp tục tẩy trừ sự ô uế đang thao túng ở lòng con người. 

Lạy Chúa Giêsu, 
ai trong chúng con cũng thích tự do, 
nhưng mặt khác chúng con thấy mình dễ bị nô lệ. 
Có nhiều xiềng xích do chính chúng con tạo ra. 
Xin giúp chúng con được tự do thực sự : 
tự do trước những đòi hỏi của thân xác, 
tự do trước đam mê của trái tim, 
tự do trước những thành kiến của trí tuệ. 
Xin giải phóng chúng con khỏi cái tôi ích kỷ, 
để dễ nhận ra những đòi hỏi tế nhị của Chúa, 
để nhạy cảm trước nhu cầu bé nhỏ của anh em. 
Lạy Chúa Giêsu, 
xin cho chúng con được tự do như Chúa. 
Chúa tự do trước những ràng buộc hẹp hòi, 
khi Chúa đồng bàn với người tội lỗi 
và chữa bệnh ngày Sabát. 
Chúa tự do trước những thế lực đang ngăm đe, 
khi Chúa không ngần ngại nói sự thật. 
Chúa tự do trước khổ đau, nhục nhã và cái chết, 
vì Chúa yêu mến Cha và nhân loại đến cùng. 
Xin cho chúng con đôi cánh của tình yêu hiến dâng, 
để chúng con được tự do bay cao. Amen. 

 

2. Số phận của Chúa Giêsu (trích Mỗi ngày một tin vui)

Người Do thái thời Chúa Giêsu có một cái nhìn rất miệt thị đối với dân ngoại, họ xem dân ngoại là những kẻ sống dưới ách nô lệ của ma quỷ, do đó cũng cư trú trong những vùng nhơ bẩn chẳng kém gì bãi tha ma. Nhưng đối với Chúa Giêsu, ranh giới giữa Do thái và dân ngoại không còn nữa. Ngài không chỉ đến với dân Do thái, mà cả với dân ngoại nữa. Chính cho dân ngoại mà Chúa Giêsu cũng mang ơn cứu độ đến, và ơn cứu độ ấy được thánh Marcô mô tả bằng những hình ảnh rất sống động: Chúa Giêsu trục xuất cả một đạo binh ma quỉ ra khỏi người bị quỉ ám, nguyên một bầy heo lao mình xuống biển. Tin Mừng được loan báo cho dân ngoại qua miệng người vừa được chữa lành.

Thế nhưng, sự thành công của Chúa Giêsu dưới cái nhìn của Marcô thật là yếu ớt. Dường như tất cả những người mà Ngài tìm đến đều có thái độ dè dặt đối với Ngài. Chỉ có ma quỉ là kẻ duy nhất biết rõ Ngài là ai nhưng chẳng bao giờ có thể hoán cải được nữa. Các luật sĩ và biệt phái thì càng lúc càng tỏ ra chai lỳ, bà con thân thuộc thì chỉ nhìn về Ngài với những tính toán vụ lợi, đám đông dân chúng thì không nhận ra được ý nghĩa đích thực của sứ mệnh thiên sai của Ngài, còn dân ngoại thì nài nỉ Ngài quay trở lại quê hương Ngài để họ khỏi phải mang họa vào thân, và khi Chúa Giêsu chiến thắng được ma quỉ, thì đó cũng là lúc loài người tẩy chay Ngài. Trong một tình thế bi đát như vậy, cái chết trên Thập giá là chuyện tất yếu đối với Chúa Giêsu. Trong cái nhìn của Marcô, mỗi cuộc gặp gỡ của Chúa Giêsu với người đương thời của Ngài là một tiên báo về cuộc tử nạn của Ngài, Ngài là một con người triền miên bị khước từ.

Suy nghĩ về số phận của Chúa Giêsu, chúng ta cũng được mời gọi nhìn lại thân phận của người Kitô hữu chúng ta trong trần thế. Là môn đệ Chúa Giêsu, là chấp nhận lội ngược dòng. Không thể đi theo Chúa Giêsu mà lại sống theo triết lý: người ta sao, tôi vậy. Làm chứng cho Ðấng đã từng bị khước từ, người Kitô hữu bị khước từ đã đành, mà ngay cả khi phục vụ một cách vô vụ lợi, họ cũng không hẳn được người đời thương mến. Nói như thánh Phaolô: bổ khuyết những gì còn thiếu trong cuộc Tử nạn của Chúa Giêsu, đó là số phận của người Kitô hữu trong trần thế này.

Nguyện xin Chúa ban thêm can đảm và sức mạnh, để chúng ta kiên trì trong mọi khổ đau vì Danh Ngài.

 

3. Sứ vụ của Đấng Thiên sai - (Tu sĩ: Jos. Vinc. Ngọc Biển, S.S.P.)

Có những cái nhìn và lối suy nghĩ đã đi vào truyền kiếp. Nếu cái nhìn tích cực thì lối suy nghĩ cũng tích cực, nếu không thì ngược lại!

Người Dothái thời Đức Giêsu cũng vậy! Họ đã nhìn ai với cái nhìn khinh bỉ thì muôn đời, con người đó không có điểm nào tốt được!

Thật vậy, vào thời Đức Giêsu, dưới con mắt của người Dothái, dân ngoại là dân đáng bị miệt thị, là dân luôn sống trong tội lỗi và dưới ách thống trị của ma quỷ.

Tuy nhiên, khi Đức Giêsu đến, Ngài không còn phân biệt lằn ranh giữa Dothái hay dân ngoại, nhưng sứ vụ của Ngài là đem ơn cứu độ đến với muôn dân.

Tin Mừng hôm nay trình thuật việc Đức Giêsu đến vùng Ghêrasa và làm phép lạ xua đuổi ma quỷ ra khỏi người bị chúng ám.

Qua phép lạ này, dưới con mắt người đời, đây là một sự thành công, vì người bị quỷ ám có một sức mạnh phi thường, không ai đụng tới hắn được, bởi lẽ anh ta bị cả một cơ binh quỷ nhập vào. Một cơ binh chính là tên gọi của một đạo quân Lamã thời ấy và có khoảng 6.826 người lính. Như vậy, số quỷ nhập vào người này cũng đông vô số kể như vậy. Khi ma quỷ nhập vào người thanh niên này, anh ta mạnh khỏe phi thường.

Phép lạ này cho thấy, Đức Giêsu có quyền năng trên ma quỷ, Ngài đến để giải thoát con người khỏi bị ràng buộc bởi sự dữ. Đem lại cho họ cuộc sống tự do.

Nhưng cái giá mà Ngài phải chịu, chính là sự loại trừ của những Luật Sĩ và Pharisêu dành cho Ngài.

Suy nghĩ về sứ vụ và thân phận ngôn sứ của Đức Giêsu, một lần nữa chúng ta ý thức hơn về sứ mạng cũng như số phận của mỗi người chúng ta trên hành trình sống đạo và loan báo Tin Mừng. Số phận của Thầy cũng là của trò.

Như vậy, muốn trở nên môn đệ đích thực của Thầy Giêsu, hẳn chúng ta phải lội ngược dòng. Đi ngược quy luật tự nhiên để hiểu được giá trị của những nghịch cảnh khi chúng ta bị người đời phản đối, khước từ, cho dù những việc làm của chúng ta là những hy sinh vô vị lợi!

Lạy Chúa Giêsu, cuộc đời của Chúa đã không ngừng thi ân giáng phúc, nhưng Chúa đã không được người đời coi trọng, mà luôn bị khinh khi! Xin Chúa cho chúng con hiểu được sự thật này để chỉ tìm vinh danh Chúa và mong sao cho Nước Chúa được hiển trị muôn nơi, còn chuyện khen chê, xin cho chúng con không coi trọng nó mà ảnh hưởng đến sứ vụ được trao. Amen.

 

4. Chúa đuổi quỉ ô uế

Phép lạ nầy xảy ra ở miền đất Ghêrasa, miền đất dân ngoại Người Do thái không bao giờ nuôi heo vì cho đó là vật ô uế chỉ có dân ngoại nuôi heo mà thôi; thần ô uế đây là ma quỉ ở miền người ta nuôi heo là vật ô uế

Sứ mạng Chúa Giêsu không đóng khung trong miền đất Do thái; ngài đến cứu vớt tất cả mọi người Và sau khi phục sinh, Chú sai các Tông Đồ đi rao giảng cho muôn dân; các người Kitô hữu đầu tiên ở Giêrusalem bị bắt bớ và đã chạy sang tận bên kia bờ Địa Trung Hải và đã giảng đạo ở đó

Ma quỉ là hình ảnh sự dữ đang có mặt khắp mọi nơi và mọi thời Nhưng ma quỉ là loài khôn ngoan, nó thiên hình vạn trạng; ngày xưa nó làm hại người ta bằng cách ám vào người ta, làm cho con người ra khùng điên; ngày nay nó có thể đội lốt khác nhưng luôn với mục đích là làm hại con người Ngày xưa nó làm thiệt hại phần xác để cho người ta sợ nó, ngày nay nó lại dùng mưu chước khác, không làm cho người ta sợ mà làm cho người ta mê nó Nó có hai đồng minh luôn sẵn sàng cộng tác với nó là thế gian và xác thịt Những đam mê xác thịt của chúng ta luôn sẵn sàng làm nội gián cho nó một cách vô tình

Nơi nào có hận thù chia rẽ, nơi đó có ma quỉ; nơi nào có ăn chơi trác táng, nơi đó có ma quỉ Ma quỉ ngày nay khôn khéo, không làm cho ta sợ, trái lại nó thường tỏ ra dưới những hình thức rất hấp dẫn, thế nó mới cám dỗ được ta

Ghêrasa là miền dân ngoại, ánh sáng Chúa chưa soi dọi đến mỗi người chúng ta là cả một thế giới, trong đó cũng có nhiều vùng, nhiều miền ánh sang Chúa cũng chưa soi dọi đến Còn nhiều nơi trong ta mà thần ô uế còn ngự trị Chúng ta cần mời Chúa đến tiêu diệt thần ô uế và cần phải nổ lực tích cực cộng tác với ánh sáng Chúa Kitô Những tính mê nết xấu, những xu hướng xấu của xác thịt là những vùng dân ngoại của thần ô uế

Thế giới hôm nay cũng còn nhiều vùng nhiều miền dân ngoại chưa biết đến ánh sáng Chúa Kitô Hằng ngày chúng ta xin cho nước Cha trị đến nhưng không chỉ xin mà thôi mà chúng ta còn phải cộng tác với Chúa Kitô, với Giáo Hội, để Phúc âm hóa những miền dân ngoại ấy

Cộng tác bằng đời sống Phúc Âm của chúng ta Thế giới nầy đang đầy dẫy hận thù và chiến tranh, ma quỉ đang lộng hành hơn bao giờ hết Người Kitô hữu phải nhận lấy phần trách nhiệm Phúc âm hóa của mình

 

5. Đối tượng yêu của Chúa : con người

Cuốn phim khoa học giả tưởng có tựa đề ngộ nghĩnh là “Dì ghẻ của tôi là một người từ hành tinh khác”, đã kể lại một cuộc phiêu lưu kỳ thú của một thiếu nữ đến từ một hành tinh rất xa trong vũ trụ.

Thiếu nữ này được trao cho một sứ mệnh, là phải đến trái đất, để tìm cho ra một tín hiệu mới, có thể cứu nguy cho hành tinh của cô.

Điểm nhắm của cô là một nhà khoa học trẻ, goá vợ, hiện sống với một cô con gái duy nhất, đang ở tuổi dậy thì.

Lần đầu tiên lọt vào thế giới của chúng ta, cô thiếu nữ đến từ hành tinh khác kia, đã phải học hỏi tất cả những gì trong sinh hoạt của những người đang sống trên trái đất này, từ ngôn ngữ, phong tục, cho đến cách ăn mặc và giao tế..

Nhưng bài học quí giá nhất đối với người thiếu nữ này, bài học đã quyết định cả tương lai đời cô, đó là bài học TÌNH YÊU.

Bên cạnh nhà Bác Học trẻ tuổi và cô con gái của ông ta đang ở tuổi yêu, người thiếu nữ kia, không những đã hiểu được thế nào là cuộc sống của con người trên trái đất này, mà cô còn cảm nhận được, thế nào là tình người, và thế nào là tình yêu.

Thế là từ một thân xác được chế tạo như một cái máy, được nuôi dưỡng bằng những chất hoá học, người thiếu nữ đến từ một hành tinh xa xăm kia, đã lột xác, để trở thành một con người, biết cười, biết khóc, biết buồn, biết vui, biết yêu, biết ghét. Cuối cùng thiếu nữ kia đã trở thành người dì ghẻ của cô con gái nhà Bác Học trẻ tuổi, và cô đã chọn trái đất này làm quê hương mình.

Câu truyện khoa học giạ ttưởng trên đây đã nói lên với chúng ta rằng, tình yêu có một sức thu hút rất mãnh liệt, mãnh liệt cho đến nỗi, người ta sẵn sàng trút bỏ lại đàng sau tất cả, để đi theo tiếng gọi của tình yêu.

Đoạn Tin Mừng hôm nay cũng cho chúng ta thấy cảnh Chúa Giêsu lên đường để thể hiện lòng yêu thương của Ngài đối với một người bị quỉ ám, ở Ghêrasa. Đọc Phúc Âm Thánh Marcô, chúng ta được biết việc Chúa đuổi quỉ ám nhập vào người ở Ghêrasa xảy ra sau khi Chúa Giêsu và các môn đệ của Ngài, phải trải qua một trận cuồng phong ở trên biển hồ Galilêa.

Thánh Sử cho biết, đang khi Chúa Giêsu ngồi dựa vào thuyền ở phía đàng lái mà ngủ, thì xảy ra trận cuồng phong. Chi tiết này cho thấy, Chúa đang mệt mỏi. Không mệt mỏi làm sao được, khi mà suốt ngày bận rộn với việc giảng dạy và chữa lành các bệnh tật cho “ đoàn lũ đông đảo đến từ Galilêa, Giuđêa, Giêrusalem, Idumêa và vùng bên kia sông Giocđăng” (Mc.3, 7), đến nỗi Ngài “ không có thì giờ mà ăn uống nữa” (Mc. 3, 20 ).

Thế mà chiều đến, Chúa còn sai các môn đệ của Ngài xuống thuyền để đi đến Ghêrasa. Ngài đã phải gạt bỏ sự mệt nhọc của một ngày giảng dạy và chữa bệnh cho dân chúng qua một bên, để sớm đến với một nạn nhân đáng thương của Satan.

Thánh Sử Marco cho biết, vì bị quỉ ám, nên nạn nhân bị gia đình, bà con, bạn bè và xã hội ruồng bỏ. Anh phải lấy tha ma làm nhà, và sống chung với những người chết. Không những thế, anh còn bị Satan hành hạ bằng cách bắt anh  phải lấy đá bén nhọn rạch người mình ra, vì thế anh kêu la rất thảm thiết.

Con người đáng thương ấy, không còn được ai đoái hoài đến nữa. Thế nhưng anh đâu có ngờ rằng, anh vẫn là đối tượng của lòng yêu thương của Chúa Giêsu. Chính anh đã cuốn hút Chúa, cuốn hút mạnh cho đến nỗi khi trời đã về chiều, và vừa trải qua một ngày làm việc vất vả, mệt nhọc, vậy mà Chúa vẫn còn tìm đường đến với anh.

Cuộc ra đi này của Chúa đã bị Satan cản ngăn bằng một trận cuồng phong dữ dội. Thế nhưng tình yêu đã thắng, và Chúa Giêsu đã đến với nạn hân đáng thương kia kịp thời.

Dưới cái nhìn Cứu Thế, thì chúng ta cũng đang là những nạn nhân của Satan trên trần gian này. Chúa Giêsu cũng vì yêu thương chúng ta, nên Ngài đã bỏ vinh quang của một Thiên Chúa để xuống trần, nhận lấy thân phận của con người, đón nhận tất cả những sóng gió trong cuộc sống của một con người, và cuối cùng đã chịu chết vì chúng ta.

Thì ra con người chúng ta vẫn luôn là đối tượng yêu của Chúa. Ngài yêu con người đến độ si mê và vì thế Ngài cũng đã chọn trái đất này làm quê hương để được ở với loài người.

Ngài yêu chúng ta như thế đó. Còn chúng ta, chúng ta đã yêu ngài như thế nào, và chúng ta có biết chia sẻ tình yêu của Ngài cho những người khác không ?

 

6. Người quỉ ám xứ Ghêrasa

Trên ngôi mộ của Chateaubriand, văn hào Pháp, người ta không thấy ghi tên tuổi ngày tháng hay bất cứ tư tưởng hoặc tác phẩm nổi tiếng nào của ông, ngoại trừ một cây Thánh giá. Trong lá thư viết cho thị trưởng thành phố nơi ông sinh trưởng. Chateaubriand đã để lại lời trối như sau : "Cây Thánh giá dưới chân ngôi mộ sẽ nói cho mọi người biết rằng kẻ đang an nghỉ nơi đây là một môn đệ của Chúa Kitô. Đó là tất cả những gì tôi muốn người ta nhớ về tôi"

Quả thực, Thánh giá là đồng phục của các kitô hữu. Người ta nhận ra một gia đình Công giáo qua bóng Thánh giá trước nhà, ngoài ngõ; người ta nhận ra một môn đệ Chúa Kitô qua Thánh giá người ấy mang trong mình hoặc biểu tượng và tuyên xưng bằng cả cuộc sống.

Thánh giá là con đường tất yếu của người kitô hữu. Có lẽ đó là sứ điệp mà Giáo hội muốn nhắc lại cho chúng ta qua bài Tin mừng hôm nay. Thánh Marcô xem ra muốn cho chúng ta thấy con đường Chúa Giêsu đã chọn lựa, đó là con đường của khước từ dẫn đến cô đơn và cuối cùng là cái chết trên thậpï giá. Chúa Giêsu đã không chờ đợi dân chúng đến với Ngài, nhưng chính Ngài dấn bước ra đi tìm đến với mọi người, nhất là những người bất hạnh, cùng khổ. Ngài đã không giam mình trong hàng rào của gia đình, của đô thị, của quốc gia, nhưng đã vượt biên giới để tìm đến với dân ngoại.

Thế nhưng, xem ra Chúa Giêsu đã không thu được thành công mỹ mãn nào, hầu hết mọi người đều dành cho Ngài một sự lắng nghe hờ hững. Chỉ có ma quỉ mới biết được Ngài là ai, nhưng biết không phải để hoán cải, mà là để chống đối Ngài. Các luật sĩ càng lúc càng tỏ ra cứng lòng tin đối với con người và sứ điệp của Chúa Giêsu. Còn bà con thân thuộc của Ngài thì lại chỉ chờ đợi nơi Ngài những ân huệ hoàn toàn có tính cách trần thế. Đám đông dân ngoại, như Tin mừng hôm nay nêu bật, sau khi chứng kiến phép lạ Ngài xua đuổi ma quỉ, lại yêu cầu Ngài đi khỏi làng mạc đô thị của họ. Chính khi Chúa Giêsu chiến thắng ma quỉ, thì đó là lúc con người lại khước từ Ngài.

Qua bài tường thuật về phép lạ Chúa khử trừ ma quỉ để rồi chính Ngài lại bị con người khước từ, thánh Marcô muốn cho thấy con đường Chúa Giêsu đang dấn buớc vào là con đường của khước từ, của cô đơn dẫn đến cái chết Thập giá, nhưng đó cũng chính là con đường cứu rỗi nhân loại. Trên Thập giá, Thiên Chúa đã mạc khải tất cả tình yêu của Ngài cho nhân loại. Qua Thập giá, Thiên Chúa muốn nói với con người rằng Ngài yêu thương con người đến độ có thể chết cho họ và vì họ.

Là môn đệ Chúa Kitô, người Kitô hữu không có con đường nào khác hơn là con đường Ngài đã đi qua. Mãi mãi sự dửng dưng, sự bách hại, nỗi cô đơn vẫn là phần số của người kitô hữu. Mãi mãi người kitô hữu luôn được mời gọi để làm những chọn lựa ngược lại cách sống của đại đa số. Mãi mãi cuộc sống của người kitô hữu vẫn là một chèo chống ngược dòng.

Sống như thế, vì người kitô hữu xác tín rằng chân lý không phải là những gì đám đông nghĩ, đám đông làm, đám đông chạy theo. Đối với họ, chỉ có một chân lý là Chúa Kitô, chỉ có một con đường là con đường Chúa Kitô đã đi qua, và họ cũng tin rằng họ đang tham dự cuộc khổ nạn của Chúa Kitô và cùng với Ngài mang lại ơn cứu rỗi cho toàn nhân loại và xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn.

 

7. Ơn cứu độ phổ quát

Phép lạ Chúa Giêsu chữa lành người bị quỷ ám tại Ghêrasa là cuộc gặp gỡ đầu tiên của Ngài với thế giới dân ngoại. Ngay tức khắc, sức mạnh của sự dữ đã ngăn chặn Chúa lại: “Chuyện tôi can gì đến ông".

Khi thốt ra lời trên đây, ma quỷ như muốn chia vùng ảnh hưởng. Người Do Thái thời Chúa Giêsu có cái nhìn rất miệt thị đối với dân ngoại; họ xem dân ngoại như heo, như chó, và sống dưới ách nô lệ của ma quỷ. Nhưng với Chúa Giêsu, ranh giới giữa Do Thái và dân ngoại không còn nữa; Ngài không chỉ đến cho người Do Thái, mà còn đem ơn cứu độ cho cả dân ngoại nữa. Ơn cứu độ ấy được thánh Marcô mô tả bằng hình ảnh rất sống động: Chúa Giêsu trục xuất một đạo binh ma quỷ ra khỏi người bị quỷ ám.

Chúa Giêsu đem ơn cứu độ đến cho mọi người, đây là ý tưởng mà thánh Marcô không ngừng nêu bật trong các trình thuật của Ngài. Không như các kinh sư đương thời ngồi chờ đợi người ta đến với mình, Chúa Giêsu đã ra đi gặp gỡ con người, nhất là những người khốn khổ và bị khinh miệt nhất. Ngài không đóng khung trong gia đình, nơi thị trấn hay dân tộc của Ngài, nhưng vượt qua mọi ranh giới và cấm kỵ để đến với mọi người.

Thế nhưng, sự thành công của Chúa Giêsu thật mong manh. Dường như tất cả những người mà Ngài tìm đến đều có thái độ dè dặt: chỉ có ma quỷ mới biết rõ Ngài là ai, nhưng chúng không thể hoán cải được nữa; các luật sĩ và biệt phái ngày càng tỏ ra chai lì; bà con thân thuộc của Ngài thì chỉ nhìn về Ngài bằng những tính toán vụ lợi; dân chúng thì không nhận ra ý nghĩa đích thực của sứ mệnh cứu thế của Ngài; còn dân ngoại thì xin Ngài rời xa họ để họ khỏi mang họa vào thân. Chính khi Chúa Giêsu chiến thắng ma quỷ, thì đó cũng là lúc Ngài bị tẩy chay, và trong tình thế như thế, cái chết trên thập giá đối với Chúa Giêsu là chuyện đương nhiên.

Suy niệm về số phận của Chúa Giêsu, chúng ta được mời gọi nhìn lại thân phận của mình nơi trần thế. Làm môn đệ Chúa Giêsu là chấp nhận đi ngược dòng. Không thể theo Chúa Giêsu mà sống theo triết lý: “Người ta sao, tôi vậy”. Làm chứng cho Đấng luôn bị khước từ, người Kitô hữu chúng ta chẳng những bị khước từ, mà ngay cả khi phục vụ cách vô vị lợi cũng không hẳn được người đời thương mến. Nói như thánh Phaolô: bổ khuyết những gì còn thiếu trong cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu là thân phận của người Kitô hữu giữa trần thế.

Nguyện xin Chúa ban thêm can đảm và sức mạnh để chúng ta kiên trì trong mọi đau khổ vì Danh Ngài.

 

8. Chúa Giêsu chế ngự ma quỷ

Đức Giê-su và các môn đệ sang tới bờ bên kia Biển Hồ, vùng đất của dân Ghê-ra-sa. Người vừa ra khỏi thuyền, thì từ đám mồ mả, có một kẻ bị thần ô uế ám liền ra đón Người. Anh này thường sống trong đám mồ mả và không ai có thể trói anh ta lai được, dầu phải dùng đến cả xiềng xích. (Mc. 5, 1 -3)

Trình thuật về phép lạ Chúa chữa người bị quỷ ám và đàn heo biến mất đặt ra những vấn đề khó xử và có nhiều điều khác thường tưởng chừng như mê tín dị đoan.

Hình như đây là những sự kiện biệt lập được ghép lại với nhau. Chúa Giêsu lúc đó đang ở vùng Ghêrasa nằm phía đông Biển Hồ Ghen-nê-xa-rét là vùng đất dân ngoại, nơi nuôi heo là thú vật ô uế đối với người Do thái. Khi Chúa chữa cho một người bị quỷ ám ở đây thì có một sự cố xảy ra trong một trại nuôi heo lớn. Có lẽ là hai sự kiện này xảy ra vào cùng kỳ, nên được tác giả lợi dụng ghép lại với nhau để sự kiện này giải thích cho sự kiện kia và rút ra một bài học luân lý. Đó cũng là một lối kết cấu câu chuyện có tính cách bình dân vậy.

Nhưng sự ghép nối này trở nên có ý nghĩa. Thánh sử Mác-cô dùng nó để minh họa cho điều ngài muốn chứng minh : Chúa Giêsu tỏ bày quyền năng của Người đối với thần ô uế ở vùng đất thuộc dân ngoại. Sức mạnh của Người là sức mạnh vô địch. Chẳng những Người trừ thần ô uế, mà còn tiêu diệt chúng để giải thoát con người khỏi tình trạng tha hóa thiêng liêng và tâm tình sợ hãi.

Một quyền năng vô địch

Để chứng tỏ Chúa Giêsu có một sức mạnh vô song, trước tiên Mác-cô nhấn mạnh đến tính cách trầm trọng của cơn bệnh mà người bị quỷ ám đã phải chịu. Rõ ràng là bệnh tật, sự ác càng trầm trọng thì người chữa trị càng phải cao tay. Nếu "bị gông cùm và bị xiềng xích", nhưng người bị quỷ ám ấy “đã bẻ gẫy xiềng xích và đập tan gông cùm", thì phải nói gì về quyền lực của Đấng đã bắt quỷ phải xưng tên mình ra - điều đó theo ý kiến các vị trừ tà thời ấy - là dấu chứng tỏ một sự chế ngự hoàn toàn.

Một xứ sở được thanh tẩy

Còn về chuyện bầy heo cả chừng hai ngàn con nhảy xô xuống biển và chết ngộp dưới đó, thì đó là dấu chỉ rằng một người được ơn giải thoát có ảnh hưởng tới người xung quanh. Vì đối với người Do thái, heo là con vật biểu tượng của sự ô uế. Sự chết chìm bi thảm của cả bầy heo cũng ngụ ý sự chấm dứt quyền lực của sự ác vốn ngự trị trên miền đất này và càng làm sáng tỏ ảnh hưởng phấn khởi của ơn giải thoát do Chúa Kitô mang lại vậy.

 

9. Uy quyền trên quỉ dữ

Sau khi dẹp yên bão tố ở biển hồ Tiberia, Chúa Giêsu cùng các môn đệ trực chỉ sang miền Gêsara, là một thành phố dân ngoại thuộc miền thập tỉnh Gêsara nằm về hướng tây nâm biển hồ có núi đồi mấp mô chạy dài tới biển Địa trung hải.

Chúa vừa bước chân lên đất liền, thì gặp ngay một người bị quỉ ám thân mình trần trụi (Lc 8,27), sống chui rúc ở các mồ mả, tiến ra (c.2). Hắn khỏe vô địch, xiềng xích sắt gông cùm hắn bẻ gẫy như củi  khô (c.3-4). Hắn lấy đá rạch nát mình mẩy và thu trếu nghe dễ sợ mà không ai trị nổi. Cũng vì vậy mà ít ai dám qua lại vùng này. Thế mà hôm nay Chúa Giêsu đến đó. Ngay từ đàng xa đã thấy Chúa, người bị ám xông tới như gặp một con mồi. Nhưng đến nơi hắn lại quì sụp xuống van xin “Xin đừng làm khổ tôi” (c.27) “và Chúa truyền cho thần ô uế ra khỏi người ấy” (Lc 8,29). Ở lại trong một người vẫn còn sướng hơn về hỏa ngục. Nói khác đi, con được một thân chủ là hỏa ngục còn rộng hơn được một chút. Ma quỉ biết rằng Chúa đến tiêu diệt uy lực của chúng, uy quyền mà chúng có  từ khi Adong, Evà pahm tội. Nay Chúa đến, chúng dần dần mất chủ quyền mà trở về nơi khóc lóc khổ sở...

Khi Chúa phán hỏi: “Tên ngươi là gì ?” (c.9) thì người đó nói “Tên tôi là cơ binh” (c.9). Cơ binh là một đạo quân La mã thời ấy có khoảng 6826 người lính. Điều này muốn nói lên rằng thần dữ ở trong người xấu số rất là đông đảo, và cũng nói lên rằng ngoài satan, còn vô số quỉ thần khác nữa. Cho nên, khi nhập vào nạn nhân là chúng làm chủ trí khôn tình cảm, lý chí, nạn nhân sẽ không làm chủ mình được nữa.

Bài Phúc âm cho thấy kẻ bị ám có sức mạnh phi thường dù gông cùm xích sắt cũng vô ích, đá sỏi rạch nát mình mà không đau đớn. Một người thường không thể làm như thế. Khi được lệnh xuất ra chúng còn xin được nhập vào bầy heo đang ăn ở sườn núi (c.11), rồi chạy xồng xộc xuống biển chết ngộp lối hai ngàn con (c.13). Đấy còn là sức mạnh của ma quỉ. Chúng ta còn thấy được sức mạnh đó không. Ma quỉ thường thổi phồng trong tội trọng của điều răn thứ V, VI, VII, VIII...

Có người hỏi rằng  cho phép ma quỉ nhập vào đàn heo để chúng lao xuống biển chết hết cả hàng ngàn con như thế có lỗi đức công bằng với ông chủ không ?

1. Thoạt nghe câu hỏi có vẻ có lý. Nhưng chúng ta nên biết rằng luật Maisen cấm ngặt không được nuôi heo và cấm ăn thịt heo nữa. Nuôi heo là quốc cấm thời xưa, là chà đạp lề luật (Lev 11,7). Ai ăn thịt heo còn bị coi là bội giáo bỏ đạo Do thái (2 Mc 6,18). Chúa muón nhắc nhở họ khoản luật này để họ nhớ ra có một vì Thiên Chúa mà họ phải tôn thờ nhưng hiện họ đang quên.

2. Mặt khác, Chúa làm chủ muôn loài cả những con vật đó cũng là tạo vật của Chúa, Chúa ban cho, Chúa cất đi là quyền của Ngài, chứ không có thể nói đến chuyện công bằng đối với Ngài được (cf. Giob 1,210.

3. Một chi tiết chúng ta thấy ở đây là phản ứng của dân chúng ở Gêsara. Khi thấy cả một bầy heo như thế bị mất đi (c. 14,15,16) dân thành này đã mời “Chúa đi chỗ khác” (c.17) kẻo Chúa ở lại họ hết làm ăn gì được. Thật ra những người dân ở đây cũng kính trọng Chúa, ít là họ đã để Chúa đến với họ chứ không xua đuổi Chúa từ đầu như  thành xứ Samari (Lc 9,53). Có điều ở đây Chúa quí trọng chú ý đến của cải vật chất hơn một linh hồn và được Chúa cứu gỡ khỏi đống tội. Họ quí bầy heo của mình hơn là xin Chúa xa khỏi làng mạc của họ. Không có Ngài họ cảm thấy dễ thở hơn. Có khi đời chúng ta cũng có những phản ứng như thế.

4/. Bài Phúc âm cho hay (c.18) nạn nhân sau khi bình phục đã xin được theo Chúa. Nhưng Chúa không chấp nhận (c.19). Chúa muốn anh về sống làm nhân chứng nhãn tiền cho uy quyền   Thiên Chúa toàn năng và từ bi. Ít ra đời sống chúng ta cũng là một tiếng sóng vỗ kêu lên tình yêu của Thiên Chúa như biển cả.

 


Sinh hoạt khác

Tin Giáo Hội

Mục Tổng Hợp

» Xem tất cả Video

Liên kết website

Bài viết được quan tâm