Danh mục bài viết

Cập nhật 13/4/2017 - 4:50 - Lượt xem 315

Các bài suy niệm Thứ Năm Tuần Thánh

Lời Chúa: Xh 12, 1-8. 11-14; 1 Cr 11, 23-26; Ga 13, 1-15

2017

Mục lục

1. Nghịch lý cuộc tình  (Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)

2- Ngập tràn tình yêu thương  (Lm. Giuse Đỗ Đức Trí)

3- Dấu tình  (Trầm Thiên Thu)

4- Hãy yêu như Giê-su  (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)

5- Sống yêu thương và phục vụ (Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)

6- Tâm tư phút cuối (JB. Lê Hoàng Nam)

7- Nỗi buồn Giuđa  (Lm. Giuse Hoàng Kim Toan)

8- Yêu thương đến cùng (Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty, SDB)

9- Suy niệm Thứ Năm Tuần Thánh (Lm. Anthony Trung Thành)

10- Đức ái: hoa trái của Thánh Thể  (Tiến sĩ Trần Mỹ Duyệt)

11- Di chúc tình yêu phục vụ  (JM. Lam Thy, ĐVD)

2016

Mục lục

1. Người yêu thương họ đến cùng (Lm. Giuse Nguyễn Văn Thông) 

2. Lời Thầy năm xưa (Lm. Jos. DĐH, Gp. Xuân Lộc)

3. Đôi tay biểu tượng tình yêu  (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền) 

4. Lòng thương xót tỏa sáng  (Lm. Giuse Đỗ Đức Trí, Gp. Xuân Lộc)

5. Suy niệm thứ Năm Tuần Thánh (Lm. Giuse Trực) 

6. Phải rửa chân cho nhau (Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ.)

7. Đỉnh cao của mầu nhiệm cứu độ là Tình yêu (Jos. Vinc. Ngọc Biển)

8. Kỷ vật tình yêu (Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)

9. Dạ tiệc ân tình (Trầm Thiên Thu)

10. Tiệc ly – bữa tiệc cứu độ (Lm. Nguyễn Thành Long) 

11. Yêu đến cùng (Huệ Minh)

12. Ở lại trong tình thương của Thầy (Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng) 

13. Thứ Năm Tuần Thánh (Lm. Antôn, giáo xứ Giuse, Tulsa)

 

 

NGHỊCH LÝ CUỘC TÌNH 

Lm. DĐH.

Biết nhiều khổ nhiều, có yêu mới khổ vì yêu, làm phúc phải tội, chắc không phải là những lời “than thân trách phận” vu vơ, đôi khi vì tình đời trái ngang mà ta thốt lên: thật mấy ai học được “chữ ngờ” ! Có những sự lạ tưởng đang mơ, anh hàng xóm của tôi quá túng nghèo bỗng trở nên giầu khác thường, người xưa gọi với mỹ danh là: lên như diều gặp gió. Có những đôi vợ chồng trong héo ngoài tươi, chỉ vì không muốn ảnh hưởng đến việc học tập của con cái, do đó họ phải hy sinh, phải khổ đau nhiều mà con cái không hề hay biết.

Cha ông chúng ta nói rằng: trời đánh còn tránh bữa ăn, vậy đó, Đức Giêsu năm xưa đã đi ra ngoài quy luật, đang khi ăn Ngài đứng dậy cởi áo ngoài, thắt lưng cho gọn lại, lấy nước rửa chân cho các học trò. Đã vậy, tại sao Ngài không rửa đôi tay cho sạch mà lại rửa chân ? Nghịch lý mà ngay người trong cuộc không thể hiểu nổi hành động của Thầy mình: uống rượu mà không say, rửa chân nhưng sẽ sạch cả tâm hồn ; không để Thầy rửa, các con sẽ không được thông phần với Thầy. Nếu các con không đón nhận tình yêu thương của Thầy, các con sẽ không biết yêu như Thầy yêu. Thầy Giêsu ăn tiệc với các học trò, nhưng không say rượu mà say tình, Thầy Giêsu không rửa mắt, hay rửa mặt cho các đệ tử, nhưng nhất định rửa đôi chân nhằm giúp các môn sinh đứng vững trước sứ mạng tông đồ được giao phó.

Tham dự vào “Đại tam nhật vượt qua”, phụng vụ không giới thiệu về sự cao siêu huyền bí nơi tình yêu cha mẹ, tình yêu quê hương, mà lưu ý chúng ta đến tính bất ngờ giữa tình thầy trò Giêsu. Các môn đệ hoảng hốt giật mình vì tình thầy lạ kỳ đến độ dám quỳ gối rửa chân cho các đệ tử, ngay trong bữa ăn. Ngài không cùng các học trò bày mưu lập kế để thu phục đám đông, để phát triển hài hòa tình làng nghĩa xóm, đúng hơn Ngài kêu gọi mọi người cùng xây dựng một tình yêu bền vững. Trong khi xã hội chủ trương né tránh khổ đau, tìm kiếm hạnh phúc trần thế, minh chứng cho mọi người biết thế nào là công thành danh toại, Đức Giêsu lại diễn tả cường độ yêu đến cùng tận. “Chết cho người mình yêu”.

Nâng cao mức độ hiểu biết cho các học trò, tăng khả năng miễn nhiễm do dự cho tinh thần phục vụ của các học trò tưởng là cần thiết. Nhưng không, Ngài cho biết: Thầy là Thầy, là Chúa mà còn rửa chân cho các con, vậy các con hãy thường xuyên rửa chân cho nhau. Một nghịch lý khiến các môn đệ xưa kia và các môn đệ hôm nay không khỏi hãi sợ, càng làm lớn, càng phải hy sinh hãm mình nhiều, hiểu biết nhiều thì phải chia sẻ nhiều, phục vụ nhiều. Thầy Giêsu không rửa đôi tay cho các môn đệ, nhằm giúp các ông đưa của ăn thức uống vào miệng cho vệ sinh, mà lại rửa đôi chân cho các ông. Một hành động, khiến Phêrô phải kêu lên: vậy “xin Thầy không những rửa chân, mà hãy rửa cả tay, cả đầu con nữa”.

Nghịch lý mà người đời vẫn cho rằng: ăn lúc đói, nói lúc say, hoặc như các chị em phụ nữ thường kêu ca: rượu vào lời ra, Đức Giêsu chưa ăn, chưa uống đã say rồi ! Và phải một thời gian, các môn đệ mới hiểu Thầy của họ say tình, tửu lượng của Thầy cao đến độ khiến các môn đệ, cả những ai yêu mến Ngài, rồi cũng say tình như Ngài. Mâu thuẫn của Đức Giêsu đến độ gọi là “bất thường”, Ngài rửa chân cho các học trò, nhưng là nhắm đến sẽ sạch tấm lòng, giải tỏa được những “lăn tăn” cho các môn đệ việc bán Chúa phản Thầy. Thứ tình mà người đời cho rằng: tình là tình nhiều lúc có nhưng không, thứ tình nơi Đức Giêsu không chỉ là tình tha thứ, tình “có mãi và tràn đầy” trong những ai yêu mến Ngài. Thứ tình lạ kỳ đến độ ngày hôm nay vẫn có biết bao nam thanh nữ tú, không ngần ngại bỏ tất cả để được xả thân phục vụ “say như Thầy đã say. Amen.

 

 

 

 

NGẬP TRÀN TÌNH YÊU THƯƠNG

Lm. Giuse Đỗ Đức Trí

Ngày 14/2 hằng năm được gọi là ngày Valentine, ngày Tình yêu, bởi vì phát xuất từ một tình yêu hy sinh quên mình vì hạnh phúc của người khác, do một linh mục tên là Valentino. Bất chấp lệnh cấm kết hôn đối với những người đang độ tuổi quân dịch, linh mục Valentino đã âm thầm chứng hôn cho một đôi bạn trẻ yêu nhau. Sự việc đến tai hoàng đế, ông đã ra lệnh bắt và tử hình vị linh mục can đảm này. Từ đó, ngày tử đạo của ông được gọi là ngày Valentine để tôn vinh những con người dám hy sinh tính mạng vì tình yêu và hạnh phúc của người khác.
Nếu như ngày Valentine được cả thế giới tổ chức, như một ngày của tình yêu, thì có thể nói ngày Thứ Năm Tuần Thánh phải là ngày ngập tràn tình yêu cho tất cả nhân loại. Vì trong ngày này, không phải là một người hy sinh cho một đôi tình nhân, nhưng chính Đức Giêsu – Thiên Chúa làm người, đã hy sinh, hiến dâng cả mạng sống, máu thịt mình cho hạnh phúc và sự sống đời đời của cả nhân loại. Vì thế, cho đến muôn đời, ngày hôm nay mãi mãi được gọi là Thứ Năm Thánh.
Bầu khí của buổi chiều hôm nay có vẻ trầm trầm nhưng không buồn bã u ám, mà là vẻ thâm trầm, sâu lắng, nhưng hùng tráng của một bản trường ca tình yêu Đức Giêsu dành cho nhân loại. Bản trường ca tình yêu này kể lại với nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau. Tin Mừng Gioan cho thấy, Chúa Giêsu hoàn toàn ý thức và chủ động thể hiện tình yêu của Ngài với tất cả mọi người hiện diện hôm đó. Chúa Giêsu biết giờ của Người đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Cha. Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng. Có lẽ không còn có thể có từ ngữ nào trong nhân loại để diễn tả tình yêu của Chúa Giêsu trong giờ phút này. Thánh Gioan chỉ có thể diễn tả bằng cụm từ: Người yêu thương họ đến cùng.
Yêu đến cùng, là tình yêu của cha mẹ dành cho con, của người thầy dành cho các học trò. Vì không muốn xa rời, nhưng phải chia tay, vì vậy, tâm trạng của Chúa Giêsu lúc này thật khó tả. Chúa Giêsu đã làm tất cả những gì có thể làm trong những giờ phút còn lại, để thể hiện tình yêu thương tột cùng dành cho các môn đệ. Chúa Giêsu và các môn đệ cùng tham dự bữa tiệc Vượt qua là bữa tiệc thánh theo truyền thống đạo Do Thái, để tưởng niệm việc Thiên Chúa giải thoát dân Do Thái khỏi cảnh nô lệ Ai Cập. Trong bữa ăn này, Chúa Giêsu còn đi xa hơn và sâu hơn ý nghĩa của việc giải thoát, khi Ngài biến bánh và rượu trở nên thịt và máu của Ngài để làm của ăn cho nhân loại và để tẩy rửa tội lỗi và giải thoát nhân loại khỏi ách nô lệ của ma quỷ và tội lỗi.
Ngày cầm bánh và rượu, tạ ơn, bẻ ra, trao cho các môn đệ và nói: Đây là mình Thầy, anh em hãy cầm lấy mà ăn. Đây là máu Thầy, anh em hãy cầm lấy mà uống, máu đổ ra để muôn người được tha tội. Với việc lập Bí tích Thánh Thể, trao ban thịt máu mình làm của ăn của uống cho nhân loại, Chúa Giêsu đã chấp nhận sự hy sinh đến cùng, hy sinh đến độ trao ban tất cả con người, mạng sống, hơi thở, máu thịt cho những người mình yêu thương. Hơn nữa, biến mình thành của ăn của uống, Chúa Giêsu muốn được các môn đệ hằng ngày nhớ đến Ngài, ăn Ngài, để cho Ngài được đi vào trong thể xác và tâm hồn, nên một với mỗi người và làm nên chất dinh dưỡng nuôi sống cả xác hồn nhân loại. 
Biến bánh và rượu nên máu thịt của mình, đồng thời lại làm cho máu thịt vẫn giữ nguyên hình dàng bánh và rượu, Chúa Giêsu muốn thực hiện phép lạ kỳ diệu này, để được ở lại với nhân loại cho đến ngày tận thế. Để có thể hiện diện mãi với những kẻ mình yêu thương, Chúa Giêsu đã có một sáng kiến vượt sức tưởng tượng, đó là trao cho các môn đệ của mình quyền năng của chính Ngài khi nói với các ông: Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy. Với mệnh lệnh lênh này, Chúa Giêsu lập nên chức Linh Mục và trao ban cho các linh mục được quyền nhân danh Chúa tiếp tục cử hành màu nhiệm Thánh Thể và nối dài sự hy sinh và tình yêu đến cùng của Chúa mỗi ngày nơi bàn thờ. 
Chúa Giêsu trao cho các học trò một nhiệm vụ vô cùng cao trọng đó là tiếp tục nhân danh Ngài cử hành và sống màu nhiệm tình yêu tự hiến của Chúa cho đến ngày tận thế. Chúa thừa biết rằng, các môn đệ của Chúa là những người bất toàn, Chúa biết các ông hèn nhát, sẽ bỏ chạy khi gặp kháo khăn, sẽ phản bội khi gặp thử thách, nhưng Chúa vẫn hết mực tin tương nơi các ông. Cho đến ngày hôm nay, các giám mục, các linh mục vẫn mãi là những người trần mắt thịt, yếu đuối, tội lỗi sai lầm, nhưng Thiên Chúa vẫn muốn sử dụng những con người này, để cử hành màu nhiệm tình yêu của Thiên Chúa và cũng để nhân danh Thiên Chúa tiếp tục yêu thương nhân loại cho đến cùng theo gương của Chúa Giêsu.
Để cụ thể bài học yêu cho đến tận cùng, Chúa Giêsu đã làm một việc, mà các tông đồ không thể chấp nhận được. Simon Phêrô đã phản ứng quyết liệt: Thưa Thầy, không thể như thế được, Thầy không thể rửa chân cho con như thế được. Thánh Gioan kể lại: Chúa Giêsu chỗi dậy, rời khỏi bàn ăn, cởi áo ngoài ra, lấy khăn thắt lưng, đổ nước vào chậu và cúi xuống rửa chân cho các môn đệ. Từng động tác của Chúa Giêsu được tác giả Tin Mừng cảm nhận và ghi lại chi tiết. Ngài đã chỗi dậy, không chỉ rời khỏi bàn ăn, mà còn rời bỏ địa vì là Thầy, là chủ và là Chúa, để bước đến với những con người thấp hèn bé nhỏ. Ngài cởi áo choàng ra, lấy khăn thắt lưng: Đây là một sự cởi bỏ khỏi sự tự ái khỏi cái tôi, giũ bỏ cả địa vị cao trọng để lấy khăn thắt lưng, chấp nhận biến mình trở thành một người hầu, người phục vụ, kẻ nô lệ cho học trò của mình.
Sau khi bài học về phục được được dạy bằng việc làm cụ thể cho các môn đệ, Chúa Giêsu trở về với vị trí của một người thầy, Ngài mặc áo lại, trở về chỗ và giải thích cho các môn đệ: Anh em gọi Thầy là Thầy, là Chúa. Nếu Thầy là Chúa, là Thầy mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau… Anh em hãy làm như Thầy đã làm cho anh em. Trăm nghe không bằng một thấy; Lời nói mau qua, gương lành lôi kéo. Chúa Giêsu đã dạy cho các môn đệ bài học yêu thương phục vụ một cách hết sức cụ thể. Để có thể phục vụ anh em giống như Chúa, đòi mỗi người cũng phải dám từ bỏ địa vị hiện tại của mình là ông nọ bà kia, dù mình là ai…, để có thể cúi xuống rửa chân cho anh em. Rửa chân cho anh em, là dám chấp nhận gạt bỏ mọi sự tự ái, cái tôi, kể cả danh dự, để cúi xuống phục vụ, không so bì tính toán thiệt hơn và không vì một mục đích nào khác là yêu thương và muốn người mình yêu được hạnh phúc.
Ngày Thứ Năm Thánh hôm nay phải là ngày mỗi chúng ta, dù là linh mục hay giáo dân, cảm nhận được niềm vui và hạnh phúc vì được ngụp lặn trong biển trời yêu thương của Chúa Giêsu. Chỉ khi mỗi người thực sự cảm nhận, thục sự đụng chạm được tình yêu của Chúa, thì mới có thể hiểu được một tình yêu vĩ đại Chúa Giêsu dành cho mỗi chúng ta. Hiểu và cảm nhận được tình yêu của Chúa, chúng ta sẽ được sống trong hạnh phúc ngay hôm nay vì biết rằng mình là người được Chúa yêu thương bằng một tình yêu đến cùng. Cũng đừng ngại ngùng và tự hào vì mình là người yêu của Chúa, được Chúa yêu, vì  sự tự hào này sẽ giúp chúng ta sống xứng đáng với tình yêu của Chúa và sống giống với tình yêu của Chúa. Sống xứng đáng và sống giống tình yêu của Chúa, có nghĩa là chúng ta được mời gọi để yêu thương vợ, chồng, con cái và mọi người bằng tình yêu đến cùng giống như Chúa; Chấp nhận sự hy sinh, thiệt thòi, sức khỏe, thời giờ kể cả mạng sống, cho vợ chồng con cái và cho anh chị em chung quanh. Mỗi người cần vun đắp và làm cho gia đình trở thành nơi ngập tràn tình yêu thương và sự linh thánh như căn phòng tiệc ly của Chúa Giêsu và các môn đệ. 
Hãy nhận lấy mà ăn; Hãy cầm lấy mà uống, là lời thiết tha Chúa đang mời gọi mỗi người. Xin Cho chúng ta luôn tin tưởng đến đón nhận tình yêu thương tận hiến của Chúa nới Bí Tích cực trọng này để chúng ta có đủ sức mạnh yêu thương, hy sinh tận hiến cho nhau. Amen.

 

 

 

 

DẤU TÌNH

Trầm Thiên Thu

Thứ Năm Tuần Thánh (Maundy Thursday) còn gọi là Thứ Năm Giao Ước, Thứ Năm Tuyệt Đối, hoặc Thứ Năm của các Mầu Nhiệm. Theo La ngữ, chữ Mandatum (Anh ngữ là Maundy) có nghĩa là “điều răn” hoặc “mệnh lệnh”. Thứ Năm Tuần Thánh muốn nói tới mệnh lệnh mà Chúa Giêsu truyền cho các môn đệ trong Bữa Tiệc Ly: “Hãy yêu thương nhau” (Ga 13:34; Ga 15:12; Ga 15:17). Đó là DẤU TÌNH được Chúa Giêsu “khắc ghi” qua Bí tích Thánh Thể (chân thành yêu thương) và Rửa Chân (khiêm nhường phục vụ). Và Ngài gọi đó là Điều Răn Mới. Có thể gọi Thứ Năm Tuần Thánh là Ngày Tình Yêu Thánh của các Kitô hữu.

Tuần Thánh khởi đầu, đỉnh cao là Tam Nhật Vượt Qua – ba ngày cao điểm của Phụng Vụ, với các sắc màu khác nhau: khởi đầu là Thứ Năm Tuần Thánh mang sắc màu Vui, tiếp theo là Thứ Sáu Tuần Thánh mang sắc màu Thương, và đêm Thứ Bảy Tuần Thánh mang sắc màu Mừng.

Như chúng ta biết, Thứ Năm Tuần Thánh là ngày Vui, buổi sáng là Thánh Lễ Truyền Dầu, rồi buổi chiều là Thánh Lễ kỷ niệm Chúa Giêsu thiết lập Bí tích Thánh Thể và chức linh mục, cũng là ngày tưởng nhớ Bữa Tiệc Ly. Trong niềm vui có lẫn nỗi buồn, tạo cảm giác rất khó tả, đặc biệt là trong đó có sự quyến luyến của cuộc chia tay giữa Thầy và trò.

Còn nữa, Thứ Năm Tuần Thánh còn là ngày Chúa Giêsu dạy bài học yêu thương độc đáo, vì Ngài không chỉ dạy bằng lời nói mà dạy bằng HÀNH ĐỘNG cụ thể, chứng minh lời Ngài đã nói: “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20:28; Mc 10:45). Yêu thương và Phục vụ là hai “điểm nhấn” của ngày Thứ Năm Tuần Thánh. Ai yêu thương thì sẵn sàng phục vụ, ai phục vụ là chứng tỏ yêu thương. Mối tương tác tất yếu tuyệt vời!

Khi còn sinh thời, Thánh GH Gioan Phaolô II đã nhấn mạnh đến chức vụ phục vụcủa mình là “Tôi Tớ của Các Tôi Tớ của Chúa – Servus Servorum Dei”. Ngài không tự xưng bằng đại danh từ “chúng tôi” như các giáo hoàng trước mà dùng đại danh từ “tôi”. Ngài chọn làm một lễ tấn phong đơn giản chứ không rườm rà, và không đội mũ giáo hoàng khi đảm nhiệm. Là giáo hoàng nhưng ngài không muốn được phục vụ, thể hiện đức khiêm nhường. Khi nhậm chức giáo hoàng, các hồng y quỳ gối trước ngài để tuyên hứa và hôn nhẫn, nhưng ngài đứng dậy khi ĐHY Stefan Wyszyński (người Ba Lan) quỳ gối, ngăn hồng y này hôn nhẫn và ôm hồng y này. ĐGH Phanxicô cũng đã thể hiện rõ nét khiêm nhường, nghèo khó, và cũng không muốn ai phục vụ mình. Đó là các tấm gương sáng về nhân đức khiêm nhường và tinh thần phục vụ.

Ngày xưa, Đức Chúa phán với ông Mô-sê và ông A-ha-ron trên đất Ai-cập: “Tháng này, các ngươi phải kể là tháng đứng đầu các tháng, tháng thứ nhất trong năm. Hãy nói với toàn thể cộng đồng Ít-ra-en: Mồng mười tháng này, ai nấy phải bắt một con chiên cho gia đình mình, mỗi nhà một con. Nếu nhà ít người, không ăn hết một con thì chung với người hàng xóm gần nhà mình nhất, tuỳ theo số người. Các ngươi sẽ tuỳ theo sức mỗi người ăn được bao nhiêu mà chọn con chiên. Con chiên đó phải toàn vẹn, phải là con đực, không quá một tuổi. Các ngươi bắt chiên hay dê cũng được. Phải nhốt nó cho tới ngày mười bốn tháng này, rồi toàn thể đại hội cộng đồng Ít-ra-en đem sát tế vào lúc xế chiều, lấy máu bôi lên khung cửa những nhà có ăn thịt chiên. Còn thịt, sẽ ăn ngay đêm ấy, nướng lên, ăn với bánh không men và rau đắng”(Xh 12:1-8).

Dân nào cũng có những phong tục khác nhau theo văn hóa của mình. Với dân Chúa, cách ăn uống cũng khác, họ làm theo lời Chúa căn dặn: “Các ngươi phải ăn thế này: lưng thắt gọn, chân đi dép, tay cầm gậy. Các ngươi phải ăn vội vã, Đó là lễ Vượt Qua mừng Đức Chúa” (Xh 12:11).

Đối với dân tộc Việt Nam, chúng ta không có tục lệ như vậy, nhưng vẫn không thấy lạ. Chiên hay dê một tuổi là con vật còn nhỏ, còn toàn vẹn và vô tư như đứa trẻ, máu của con vật tinh tuyền được bôi lên cửa làm dấu hiệu để gia đình đó được thoát tai họa: “Đêm ấy Ta sẽ rảo khắp đất Ai-cập, sẽ sát hại các con đầu lòng trong đất Ai-cập, từ loài người cho đến loài thú vật, và sẽ trị tội chư thần Ai-cập: vì Ta là Đức Chúa. Còn vết máu trên nhà các ngươi sẽ là dấu hiệu cho biết có các ngươi ở đó. Thấy máu, Ta sẽ vượt qua, và các ngươi sẽ không bị tai ương tiêu diệt khi Ta giáng hoạ trên đất Ai-cập. Các ngươi phải lấy ngày đó làm ngày tưởng niệm, ngày đại lễ mừng Đức Chúa. Qua mọi thế hệ, các ngươi phải mừng ngày lễ này. Đó là luật quy định cho đến muôn đời” (Xh 12:12-14).

Đã được báo trước về cách tránh tai họa như vậy thì thật là đại phước. Ai không làm theo là cố chấp, ai làm theo là biết vâng phục và tất nhiên được hưởng lợi ích. Đối với Thiên Chúa, chúng ta chẳng là gì cả, nhưng chúng ta vẫn không ngừng được Ngài ban tặng biết bao hồng ân. Thánh Vịnh gia cũng đã có kinh nghiệm đó nên tự hỏi và tự quyết định: “Biết lấy chi đền đáp Chúa bây giờ vì mọi ơn lành Người đã ban cho? Con xin nâng chén mừng ơn cứu độ và kêu cầu thánh danh Chúa” (Tv 116:12-13). Vâng, chắc chắn không lễ vật nào xứng đáng bằng những gì đến từ Thiên Chúa.

Thánh Vịnh gia thành tâm khấn hứa: “Lời khấn nguyền với Chúa, con xin giữ trọn, trước toàn thể dân Người. Đối với Chúa thật là đắt giá cái chết của những ai trung hiếu với Người. Vâng lạy Chúa, thân này là tôi tớ, tôi tớ Ngài, con của nữ tỳ Ngài, xiềng xích trói buộc con, Ngài đã tháo cởi” (Tv 116:15-16). Để phù hợp với Cựu ước, Chúa Giêsu cũng đã nói: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15:13).

Cuộc sống có nhiều cách chết, chúng ta cũng phải “chết” cho nhau hằng ngày, vì mọi người đều là “người yêu” của nhau. Trong ngày trọng đại này, mỗi chúng ta hãy cùng với Thánh Vịnh gia chân thành thân thưa với Thiên Chúa: “Con sẽ dâng lễ tế tạ ơn và kêu cầu thánh danh Chúa. Lời khấn nguyền với Chúa, con xin giữ trọn, trước toàn thể dân Người” (Tv 116:17-18). Lòng biết ơn rất quan trọng nhưng người ta lại hay quên – có khi vô tình, có lúc cố ý. Và vẫn còn đó gương mười người được ơn chữa lành nhưng chỉ có một người biết ơn, mà người này lại là người ngoại! (x. Lc 17:11-19).

Cũng với tâm tình tri ân, Thánh Phaolô nói: “Thật vậy, điều tôi đã lãnh nhận từ nơi Chúa, tôi xin truyền lại cho anh em: trong đêm bị nộp, Chúa Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng tạ ơn, rồi bẻ ra và nói: ‘Anh em cầm lấy mà ăn, đây là Mình Thầy, hiến tế vì anh em; anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy’. Cũng thế, cuối bữa ăn, Người nâng chén và nói: ‘Đây là chén Máu Thầy, Máu đổ ra để lập Giao Ước Mới; mỗi khi uống, anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy’. Thật vậy, cho tới ngày Chúa đến, mỗi lần ăn Bánh và uống Chén này, là anh em loan truyền Chúa đã chịu chết” (1 Cr 11:23-26).

Thánh Phaolô trình bày lại khung cảnh Bữa Tiệc Ly năm xưa đầy ắp thâm tình. Cách riêng, bữa dạ tiệc này có hai loại “món” vô cùng đặc biệt: Yêu Thương và Phục Vụ. Hai món này rất ngon, chắc chắn ai cũng thích dùng, thế nhưng lại rất khó chế biến.

Có một điều xác định rất lạ. Chết là buồn đau, là chiến bại, là cùng đường, vậy mà lại cần loan truyền ư? Đây là loại nghịch-lý-thuận sẽ không thể hiểu nếu không có đức tin Kitô giáo. Chết không như người ta lầm tưởng, chết ngỡ như thua thiệt, là thất bại ê chề, nhưng chính cái chết lại là biên giới qua Bến Phục Sinh, là nhịp cầu tới Miền Sự Sống, là cửa ngõ vào Cõi Trường Sinh. Vô cùng kỳ diệu!

Trước khi vào Cõi Sinh (vùng sống) phải qua Cõi Tử (miền chết), nhưng trước khi qua Vùng Chết phải trải nghiệm Ải Đau Khổ. Đó là loại Tam Giác đặc biệt: Tam-Giác-Sống-Chết.

Trình thuật Ga 13:1-15 cho biết: Trước lễ Vượt Qua, Đức Giêsu biết giờ của Ngài đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Ngài vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Ngài yêu thương họ đến cùng. Với nhân tính, chắc hẳn Ngài cũng lưu luyến lắm, nhất là với các đệ tử đã chia ngọt sẻ bùi suốt ba năm ròng. Nhưng điều gì đến sẽ đến, cuộc vui nào cũng tàn, sum họp rồi chia ly, đó là lẽ thường ở đời thôi!

Tuy nhiên, ma quỷ đã gieo vào lòng tông đồ Giu-đa, con ông Si-môn Ít-ca-ri-ốt, ý định nộp Thầy Giêsu. Đức Giêsu biết rằng Chúa Cha đã giao phó mọi sự trong tay Ngài, Ngài bởi Thiên Chúa mà đến và sắp trở về cùng Thiên Chúa. Trong tiệc mừng Lễ Vượt Qua với các môn đệ, và cũng là Bữa Tiệc Ly, bữa ăn cuối cùng của Ngài trên thế gian và bữa cuối cùng đồng bàn với các môn đệ, Ngài đứng dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài ra và lấy khăn mà thắt lưng, rồi Ngài đổ nước vào chậu, bắt đầu rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau. Một hành động rất lạ, chắc hẳn các môn đệ cũng chỉ thấy lạ chứ không thể biết đó là “điềm báo” của một người sắp chết.

Chuyện kể hôm nay là câu chuyện mà ai cũng thuộc nằm lòng, mặc dù có thể không chính xác từng chữ. Khỏi kể lại thì ai cũng đã biết, bởi vì mới nghe kể câu đầu đã có thể biết rõ kết thúc. Thế nhưng câu chuyện này vẫn luôn thu hút bất kỳ ai. Từ Phòng Tiệc Ly tới Vường Dầu, từ Vườn Dầu tới Dinh Cai-pha và Phi-la-tô, và từ đó tới Đồi Sọ, ai cũng biết diễn biến thế nào, thế nhưng người ta cứ nghe mãi và đọc mãi cuốn truyện đó mà không chán. Một điều rất lạ!

Một cuốn truyện hoặc một bộ phim hay tới mức nào thì người ta cũng chỉ đọc hoặc xem một lần, nhiều lắm cũng chỉ hai lần là thấy nhàm chán. Vậy mà với bộ Phúc Âm (và Kinh Thánh), người ta càng đọc càng thấy thú vị, càng nhận thấy cái mới. Tương tự, đối với Thánh Lễ cũng vậy, dù không tham dự cũng biết trình tự như thế nào. Thế mà càng tham dự càng thu hút, chẳng ai chán vì đi lễ nhiều bao giờ. Đúng là phép lạ thật!

Và câu chuyện bi hùng được tiếp diễn…

Ngay khi Chúa Giêsu bưng chậu nước đến chỗ ông Phêrô, ông liền thưa: “Thưa Thầy! Thầy mà lại rửa chân cho con sao?”. Nhưng Ngài bảo: “Việc Thầy làm, bây giờ anh chưa hiểu, nhưng sau này anh sẽ hiểu”. Ông Phêrô cương quyết không để cho Thầy rửa chân cho mình, vì có đời nào lại có chuyện ngược đời như vậy được! Nhưng Ngài nghiêm giọng: “Nếu Thầy không rửa cho anh, anh sẽ chẳng được chung phần với Thầy”. Nghe vậy, ông Phêrô nói ngay: “Thế thì xin Thầy cứ rửa, không chỉ rửa chân mà rửa cả tay và đầu con nữa”. Đúng là người có bản tính “thẳng như ruột ngựa”, nghĩ sao nói vậy. Đức Giêsu bảo ông: “Ai đã tắm rồi thì không cần phải rửa nữa; toàn thân người ấy đã sạch. Về phần anh em, anh em đã sạch, nhưng không phải tất cả đâu!”. Thật vậy, Ngài biết ai sẽ nộp Ngài nên mới nói: “Không phải tất cả anh em đều sạch”.

Sau khi rửa chân cho các môn đệ xong, Đức Giêsu mặc áo vào rồi về chỗ, và Ngài nói: “Anh em có hiểu việc Thầy mới làm cho anh em không? Anh em gọi Thầy là Thầy, là Chúa, điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là Chúa. Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy mà còn rửa chân cho anh em thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em” (Ga 13:12-15). Những lời Chúa Giêsu nói nghe rất nhẹ nhàng nhưng lại có sức khiến chúng ta “nhức tai”, “buốt óc” và “nhói tim” lắm! Thật vậy, chữ Yêu Thương rất ngắn gọn, xem chừng rất đơn giản, nhưng để thực hành cho đúng ý Thầy Giêsu thì không hề đơn giản, vì vậy mà chúng ta phải cố gắng không ngừng, phải cố gắng qua từng nhịp thở vậy.

Tương tự, chữ Phục Vụ cũng ngắn gọn lắm, nhưng có hai vế: Phục vụ và được phục vụ. Không ai “ưa” vế thứ nhất, nhưng ai cũng thích vế thứ nhì. Bản tính con người đâu dễ “lèo lái”, do đó mà thực hiện “bổn phận phục vụ” mãi vẫn thấy “căng” lắm, thậm chí có người còn chỉ “chăm chú” làm ngược lại là “thích được người khác phục vụ”. Ôi, lạy Thiên Chúa!

Được biết, tại phòng thánh của nhà dòng, Mẹ Thánh Teresa Calcutta đã ghi lời nhắc nhở: “Xin các linh mục hãy dâng mỗi Thánh lễ như Thánh lễ đầu tiên và như Thánh lễ cuối cùng trong đời”. Đúng là ý tưởng của thánh nhân, thật là thâm thúy đầy tính tâm linh, nhưng đó cũng là lời nhắc nhở “đáng phải giật mình” lắm đấy, bất kể là ai – tức là cả giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân!

Thứ Năm Tuần Thánh là một ngày đặc biệt để xét mình về bài học Yêu Thương và Phục Vụ mà Chúa Giêsu đã dạy, bài học vô giá đó vẫn luôn nóng bỏng ngay trong thời đại ngày nay. Ai cũng phải thuộc lòng và thi hành triệt để bài học này của Thầy Giêsu. Yêu mến Chúa và lưu luyến Ngài thì phải thực hiện lệnh Ngài truyền, đó là điều hoàn toàn hợp lý, vì có vậy mới chứng tỏ tình yêu mà chúng ta dành cho Ngài!

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, xin đổi mới con nên giống Chúa mỗi ngày một hơn, xin khơi “lửa tình” để con say yêu Thánh Thể, nguồn sống dồi dào cho con vì biết nhờ Ngài, với Ngài và trong Ngài, đồng thời xin giúp con quyết tâm thực hiện bài học Yêu Thương và Phục Vụ đúng theo Tôn Ý Ngài. Con tin kính Ngài là Đấng cứu độ, hằng sinh và hiển trị với Chúa Cha, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời. Amen.

 

 

 

 

HÃY YÊU NHƯ GIÊ-SU 

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

Có ai đó nói rằng: “bạn cứ yêu đi, bạn sẽ biết phải làm gì?”. Tình yêu là sức mạnh để con người sống và hành động. Có tình yêu người ta mới sống hết mình. Có tình yêu người ta mới không quản ngại nắng mưa hay đường xá xa xôi, gập gềnh. Quả đúng như cha ông ta nói: “Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo – Mấy sông cũng lội – Mấy đèo cũng qua”.

Chuyện ngụ ngôn về tình yêu của loài bướm được kể lại rằng: Một ngày nọ, chú bướm đực đề nghị: “Chúng ta bắt đầu một trò chơi nhỏ nhé!”. Bướm cái đồng ý. Chú nói tiếp: “Ai là người đầu tiên ngồi trong bông hoa này vào sáng sớm mai sẽ là người yêu người kia nhiều hơn”. Bướm cái gật đầu.

Sáng hôm sau, bướm đực đến từ sớm, đợi bông hoa nở ra và chú có thể ngồi vào đó trước khi con cái tới. Cuối cùng, bông hoa cũng mở… và chú nhìn thấy một cảnh tượng vô cùng kinh khủng.
Người yêu của chú đã chết bên trong bông hoa. Cô ấy đã ở đó cả đêm, để sáng hôm sau khi nhìn thấy người yêu, cô sẽ bay đến và nói rằng cô yêu chú biết nhường nào!

Tình yêu làm cho cuộc đời thêm thi vị và hạnh phúc. Sống trong tình yêu ai cũng vui tươi, hân hoan. Khi yêu người ta mới thấy đời thật hạnh phúc. Khi tình yêu bị mất thì cuộc đời cũng chìm trong tăm tối cô đơn. Tình yêu không còn thì lòng người cũng tê tái buồn đau như Nguyễn Du đã từng viết: 

“Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”.

Hôm nay Thứ Năm Tuần Thánh, là dịp nhắc nhở chúng ta về tình yêu cao vời của Thầy Chí Thánh Giê-su. Một tình yêu dám chết cho người mình yêu. Một tình yêu không so đo tính toán nhưng chỉ biết yêu là cho đi, cho đi đến cùng. Ngài cho đi không chỉ sức lực, trí tuệ để phục vụ mà còn cho đi chính bản thân mình làm của ăn của uống cho con người. Ngài đã sống trọn vẹn tình yêu là “chết cho người mình yêu”.

Tình yêu ấy Ngài cũng mời gọi chúng ta hãy làm việc “Này” mà nhớ đến Ngài. Hãy lập lại tình yêu dâng hiến mà Ngài đã hiến thân vì nhân loại. Hãy lập lại tình yêu hy sinh mà Ngài đã cống hiến cho nhân trần. Hãy sống một cuộc đời như Chúa để tình yêu của Ngài mãi ở lại trên thế gian.

Năm nay với chủ đề “gia đình hãy là dấu chỉ lòng thương xót” như mời gọi cách riêng các gia đình hãy biết chăm sóc nhau. Vợ chồng hãy chăm sóc và phục vụ nhau theo gương Thầy chí Thánh Giê-su. Bởi vì khi kết hôn là chúng ta mong được chăm sóc và bảo vệ nhau suốt đời. Đây là tình yêu dâng hiến, tình yêu vị tha như Đức Giê-su đã tận hiến cho người mình yêu. 

Mới đây trên cộng đồng mạng loan truyền nhau thông điệp: “Phụ nữ ơi! Hãy ngừng hy sinh”. Họ lý giải cho lời hiệu triệu này là: “Từ ngàn năm dưới lũy tre làng, ‘con trâu đi trước, cái cày theo sau’, người ta đã mặc nhiên thừa nhận rằng, ngay từ khi cất tiếng khóc oe oe thì thân phận của người phụ nữ đã gắn chặt với hai từ ‘hy sinh'”.

“Nghĩ cho cùng, khi kêu gọi người phụ nữ hãy cứ tiếp tục ‘hy sinh’, đó chỉ là sự ích kỷ của đàn ông muốn đè nặng âu lo trên vai em gầy guộc mà thôi”, tác giả nhắn gửi. Thông điệp này ngay sau đó được cư dân mạng đã có những phản ứng trái chiều với nhau. Kẻ cỗ vũ người phàn nàn. Kẻ ủng hộ, người kết án . . .

Thực ra phụ nữ hay nam giới đều phải  hy sinh. Mỗi giới mỗi vẻ. Mỗi giới đều thể hiện sự hy sinh, lòng quảng đại của mình khác nhau. Hình ảnh người nữ thêu thùa, người chồng gánh nước bổ củi vẫn là những nét đẹp của gia đình. Hình ảnh người chồng cầy ruộng, người vợ cấy lúa vẫn là những bức tranh thập đẹp về sự hy sinh tần tảo của mái ấm gia đình. Trong thế giới văn mình hôm nay ta vẫn cần những hình ảnh vợ chồng cùng chia sẻ việc dọn nhà, bếp núc, giặt giũ . . . Đó là những việc không tê nhưng sẽ làm cho gia đình ấm áp hạnh phúc hơn. Thế nên, bình đẳng giới tính không có nghĩa là làm cho phụ nữ biến thành đàn ông, mà quan yếu mỗi người đều phải biết sống hết mình với giá trị của mình trong hai chữ hy sinh.

Khi Chúa Giê-su cúi xuống rửa chân cho các môn đệ dường như Ngài cũng nhắc phải có hai chữ hy sinh để có thể khiêm tốn cúi xuống chăm sóc nhau. Vợ chồng quan tâm chăm sóc nhau khi mạnh khỏe cũng như lúc ốm đau. Cả hai đều phải biết cúi xuống để thấy nhu cầu của nhau mà chia sẻ, mà quan tâm cho nhau. 

Khi Chúa Giê-su cầm bánh và nói: “Này là Mình Thầy, các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy”. Dường như Ngài cũng nhắc tới hai chữ hy sinh cần phải có trong đời sống lứa đôi. Vợ chồng phải biết bẻ cuộc đời mình như tấm bánh thơm ngon mang lại hạnh phúc cho nhau.  Vợ chồng phải hiến dâng cho nhau sự hy sinh, sự quan tâm, sự phục vụ để mang lại niềm vui hạnh phúc cho người mình yêu.

Ước gì các đôi vợ chồng hãy thể hiện sự quan tâm chăm sóc nhau bằng những nghĩa cử cao đẹp. Cách riêng trong năm “gia đình hãy là dấu chỉ lòng thương xót” sẽ khơi gợi lên lòng cảm mến yêu thương dành cho nhau không chỉ bằng lời nói mà bằng chính hành động cúi xuống rửa chân cho nhau để mang lại niềm vui và hạnh phúc cho nhau. Xin Chúa chúc lành cho các gia đình và thêm sức mạnh tình yêu để mỗi người biết hiến dâng cho người mình yêu được hạnh phúc hơn. Amen

 

 

 

 

SỐNG YÊU THƯƠNG VÀ PHỤC VỤ

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Hôm nay chúng ta tái diễn ngày Thứ Năm Tuần Thánh đầu tiên của lịch sử, ngày Chúa Giêsu Kitô qui tụ các môn đệ của mình để cử hành lễ Vượt Qua. Lúc ấy, Chúa đã khai mở Lễ Vượt Qua mới của Tân Ước, mà chính Người tự ý nộp mình chịu khổ hình để cứu độ chúng ta.

Trong Bữa Tiệc Ly Thánh, Chúa Kitô đã thiết lập Bí tích Thánh Thể. Lời thánh Phaolô nói về điều nầy được coi như là bài tường thuật cổ xưa nhất về bửa Tiệc Ly của Chúa, có ghi lại rằng Chúa Giêsu, “trong đêm Người bị phản bội, đã cầm lấy bánh và sau khi dâng lời chúc tụng, thì bẻ bánh ra và nói : “Ðây là Mình Ta, được trao ban cho chúng con; hãy làm việc nầy mà nhớ đến Ta”; Cũng vậy , vào cuối bửa ăn, Chúa cầm lấy chén rượu và nói: “Ðây là chén của giao ước mới trong Máu Ta; hãy làm việc nầy, mỗi lần anh em uống chén nầy, để nhớ đến Ta”. Thật vậy, mỗi lần anh em ăn bánh và uống chén nầy, anh em loan truyền việc Chúa chịu chết, cho đến khi Người lại đến” (x. 1 Cr 11, 23- 26). Ðó là những lời long trọng trong đó được thông truyền qua các thế kỷ chứng tích kỷ niệm việc thiết lập bí tích Thánh Thể. Mỗi năm, vào ngày thứ Năm Tuần Thánh, chúng ta nhớ lại điều nầy, và trong tinh thần, chúng ta hướng về Căn Phòng Tiệc Ly.

Cùng một lúc Chúa Giêsu đã thiết lập Bí tích Truyền chức linh mục, để qua các linh mục, Thánh lễ được tiếp tục. Kinh Tiền Tụng của Thánh Lễ làm phép Dầu hôm nay mạc khải cho chúng ta ý nghĩa ấy : “Chúa đã tuyển chọn một số người để họ tham gia thánh của của Người nhờ việc đặt tay. Chúa muốn họ nhân danh Người tái diễn hy lễ cứu độ…dọn cho con cái Cha bàn tiệc Vượt Qua, lấy Lời Cha nuôi dưỡng và dùng các bí tích bồi bổ dân thánh của Chúa”.

Với việc thiết lập bí tích Thánh Thể, Chúa Giêsu thông truyền cho các Tông đồ việc tham dự thừa tác vào chức linh mục của Người, chức tư tế của Giao Ước Mới và vĩnh cữu, nhờ đó đến phiên mình, các tông đồ được biến đổi thành những tác viên của mầu nhiệm tuyệt vời của đức tin, mầu nhiệm được kéo dài mãi cho đến tận cùng thế gian. Ðồng thời các ngài trở thành những kẻ phục vụ cho tất cả những ai sẽ thông phần vào hồng ân và mầu nhiệm to lớn như vậy.

Và chính ngày Thứ Năm này, Chúa đã ban truyền cho chúng ta giới luật yêu thương : “Các con hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương các con” (Ga 13,34). Nếu tình yêu xưa kia đã từng dựa trên sự đối trác, hoặc hoàn thành một tiêu chuẩn đã đặt định trước. Thì giờ đây tình yêu Kitô giáo được xây dựng trên nền tảng Tình Yêu là chính Chúa Kitô. Người đã yêu thương nhân loại đến cùng, đến cùng ở đây là cái chết, yêu đến thí mạng vì chúng ta : đây phải là thước đo tình yêu của người môn đệ đối với Thầy mình và là dấu hiệu để người ngoài nhận biết chúng ta là người Kitô hữu.

Yêu thương, không đơn giản là kết quả của những nỗ lực bản thân, nhưng một món quà từ Thiên Chúa. Hạnh phúc thay cho chúng ta có được Thiên Chúa là Tình Yêu, là nguồn suối tình yêu, Người đã tự hiến mình nơi Bí tích Thánh Thể để nuôi dưỡng chúng ta.

Cuối cùng, hôm nay chúng ta chiêm ngưỡng việc Chúa rửa chân cho các môn đề. Chúa Giêsu đã mặc lấy thái độ của một người đầy tớ, cúi mình và quì xuống, và rửa chân cho các Tông Đồ trong Căn phòng Tiệc Ly, và truyền cho họ làm như vậy với nhau (x. Ga 13,14). Chúng ta nhìn thấy lại việc Chúa Giêsu đang rửa chân, mà theo nền văn hóa Do thái là công việc riêng của những người tôi tớ và của người thấp hèn nhất trong gia đình. Thánh Phêrô mới đầu đã lên tiếng từ chối. Nhưng Chúa thuyết phục ông, và thánh Phêrô chịu để Chúa rửa chân cho mình, cùng với những môn đệ khác. Liền sau đó, sau khi đã mặc lại áo và ngồi vào bàn, Chúa Giêsu giải thích ý nghĩa của hành động Người vừa làm như sau : “Chúng con gọi Ta là Thầy và là Chúa; và điều nầy đúng lắm, bởi vì Ta là Thầy và là Chúa. Vậy, nếu Ta là Thầy và là Chúa, mà rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau” (Ga 13, 12- 14). Trong cử chỉ này của Thầy Chí Thánh, Chúa Giêsu đã dạy chúng ta một bài học quí giá về sự khiêm nhường. Đúng như dự đoán, vì là biểu tượng Cuộc Khổ Nạn, Chúa Giêsu đã hạ mình cho đến chết để cứu độ chúng ta.

Thần học gia Romano Guardini nói rằng : “thái độ của người nhỏ quì xuống trước người lớn, không phải là khiêm nhường. Đơn giản, đó chỉ là sự thật. Người khiêm nhường thực sự là người lớn mà lại hạ mình xuống trước một kẻ nhỏ”. Đây là lý do tại sao nói Chúa Giêsu Kitô là Đấng khiêm nhường thật trong lòng. Trước Chúa Kitô là Đấng khiêm nhường, mô hình truyền thống bị phá vỡ. Người đã đảo ngược các giá trị thuần túy của con người và mời gọi chúng ta đi theo Người để xây dựng một thế giới mới, dựa trên sự phục vụ.

Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng con biết sống yêu thương và phục vụ lẫn nhau như Chúa truyền dạy. Amen.

 

 

 

 

TÂM TƯ PHÚT CUỐI

JB. Lê Đình Nam

Trước giờ chịu khổ nạn của mình Chúa Giêsu đã luôn gần gủi và dành hết thời giờ với các môn đệ. Ngài muốn tâm sự những cảm xúc mà Ngài đang trải nghiệm với họ trước thử thách lớn lao ấy. Nhưng với các môn đệ thì khác, họ vẫn chẳng hiểu Chúa Giêsu đang nói gì.  Trước những buồn sầu và trăn trối của Thầy mình họ vẫn tỏ ra hờ hững, vô tâm.

Thật đáng thương cho Chúa Giêsu trong khung cảnh ấy! Khi mà cái chết cận kề, đến cả những môn đệ thân tín nhất vẫn chẳng thể hiểu và sẻ chia nỗi niềm tâm tư với mình. Dường như đối với họ, theo thầy Giêsu là sẽ đi đến con đường vinh quang của tiền tài vật chất, của tham vọng và quyền lực. Họ vẫn không hiểu đó là con đường cứu độ bằng cái chết trên thập giá của Thầy mình. Những lợi lộc, địa vị trong mơ tưởng đã che lấp tâm trí của họ, đến nỗi cả tâm trạng của Thầy mình lúc đó mà họ cũng không còn nắm bắt được.

Nhiều lần và nhiều cách, Chúa Giêsu đã nghẹn ngào bày tỏ nỗi lòng sâu kín của mình cho các môn đệ nhưng chẳng ai hiểu. Giờ chết đang cận kề, trong thân phận con người, Ngài trải nghiệm sự sợ hãi và lo lắng biết chừng nào. Ngài cũng cần được chia sẻ, cần được ủi ai giữa lúc cô đơn, lạc lõng thế này.

Ngài đã trải nghiệm cuộc sống như một con người thực sự để thấu hiểu con người. Ấy thế mà nỗi buồn của Ngài thì chẳng ai hiểu, cho đến cả những môn đệ thân cận của mình. Chẳng ai thèm lưu luyến, bứt rứt khi Thầy chỉ ở với họ còn có ít giờ nữa. Chẳng ai thèm quan tâm đến con đường thập giá Thầy mình sắp trải qua. Thầy Giêsu vẫn cứ cô đơn một mình!

Đôi khi trong cuộc sống hôm nay, Giêsu vẫn còn đó những nỗi niềm, ưu tư về ta nhưng ta đâu để ý đến Ngài. Ngài vẫn cô đơn nơi nhà Tạm vì ta quá bận rộn với đời sống thường nhật. Ngài vẫn lạc lõng giữa những ngôi Thánh đường to lớn vì ta chẳng thèm lui tới viếng thăm. Ngài vẫn hiện diện nơi những mảnh đời éo le trong cuộc sống nhưng chẳng ai trong ta đến động viên, giúp đỡ.

Dòng đời là thế, ta quá bận rộn với những toan tính thế sự. Ta quá mãi mê với những thú vui trần thế. Ta bỏ rơi Giêsu lẻ loi một mình cùng với những nổi niềm riêng. Ta chỉ biết đến Ngài mỗi khi ta cần điều gì đó. Ta chỉ chạy đến Ngài mỗi lúc cho muốn xin cái này cái kia. Những lúc như thế, nỗi cô đơn của Giêsu càng bị dày vò và day dứt hơn.

Hững hờ và vô tâm dần đưa ta xa Chúa. Ngài vẫn luôn hiểu ta nhưng ta chẳng bao giờ muốn hiểu Ngài. Tâm tư Giêsu vẫn luôn thổn thức vì ta. Trái lại có khi nào ta cố gắng dành chút thời giờ để gặp gỡ, sẻ chia và tâm sự với Ngài hay không?

Tâm điểm của Tuần Thánh đang cận kề, hãy nhanh chân chạy đến với Giêsu! Đừng để Ngài cô đơn một mình trước cái chết; đừng để nỗi niềm và thao thức của Ngài ngày một to lớn vì sự xa lánh của ta.

 

 

 

 

NỖI BUỒN GIUĐA 

Lm Giuse Hoàng Kim Toan

Một nhân vật xuất hiện trong sự kiện dẫn đến cuộc tử nạn của Chúa, chỉ trong chốc lát khi anh nộp Chúa bằng nụ hôn, rồi ra đi, gợi lên nhiều suy nghĩ.

Một câu hỏi của lương tâm.

Có người nói vì tham tiền, Giuđa bán Chúa với ba mươi đồng bạc. Có người thì bảo vì cần có một người đứng lên lật đổ chính quyền Roma, để đưa Chúa đến đường cùng phải ra tay. Tiền – quyền – hưởng thụ. Tất cả đều là những cám dỗ thường ngày của nhiều người, chứ không riêng gì đối với Giuđa. Giuđa là đại diện cho một con người bị lương tâm tra vấn khi dự định xấu bắt đầu được thực hiện, không thể dừng lại được nữa. Có những con người gây ra đau khổ, bất công, sự chết cho người vô tội mà vẫn nhởn nhơ, giương mặt kiêu căng thách thức, lương tâm đã chết từ lâu, vẫn còn lu loa đổ lỗi cho người vô tội. Họ còn ghê gớm hơn cả Giuđa vẫn đang đang sống trên cả pháp luật và kiêu hãnh với lương tâm chai lỳ của mình.

Giuđa và ruộng máu

Đồng tiền của Giuđa vất ra, các quan chức thượng tế, kinh sư đã tậu lấy một thửa ruộng, gọi là ruộng máu (Xem Mt 27, 3 – 10 ). Đồng tiền đã nhuốm máu người vô tội, ngày nay người ta không sử dụng đồng tiền này mua thửa đất để chôn cất người ngoại kiều; mà mua lấy đất, xây những biệt thự, dát vàng, mua lấy kim cương cho mình. Có lẽ thời đại xã hội đang sống đã đi vào một chỗ tệ hại rồi sao? Một bi kịch không phải của người công chính mà bi kịch của người đứng lỳ trong tội lỗi của mình. Lấy cái vỏ bọc hào nhoáng của biệt thự, siêu xe để che cái tội tệ nhân phẩm; lấy cái hưởng thụ xa hoa để lấp đi tiếng kêu oan, tiếng khóc của những người chịu áp bức, bị cưỡng chế, vu oan, tù tội…

Giuđa, người bị lợi dụng.

Sự thất vọng của Giuđa ra đi và vất tiền trả lại cho thượng tế và kinh sư, có lẽ anh nhận ra mình đã bị bọn quan chức kia lợi dụng? Cái đau khổ thất vọng của con người rơi vào một thảm trạng như Giuđa khám phá ra mình bị lợi dụng cho ý đồ đen tối của người khác, cũng có những hành động như vậy. Trong một cái đau khổ, không thể đứng ra tố cáo kẻ đã lợi dụng mình để đánh đập, chửi bới, vu oan, nộp người vô tội… là một sự thất vọng chán chường nhất vì chính mình. Giuđa rất thất vọng, thất vọng về mình đã bị lừa và cũng vì một phần lòng tham của mình, nghe theo sự dụ dỗ của kẻ sẵn sàng chi tiền cho mình làm điều ác không ngờ tới. Chỉ một nụ hôn thôi và được ba mươi đồng, chỉ cần một chút xíu tư lợi thôi, cũng sẵn sàng làm càn, bán mình cho người khác sử dụng vào việc làm hại, giết chết người khác.

Giuđa đi thắt cổ.

Thắt cổ, tự vẫn, một câu hỏi có đúng là như thế không, nơi mà người ta không biết chịu đánh đập dã man, xử lý mạnh tay dẫn đến cái chết của người tội nhân hay vô tội. Giuđa đi thắt cổ, là chính anh đi tự trừng phạt mình. Đó là một tòa án lương tâm khắc nghiệt nơi chính anh, không thể chấp nhận ngay cả chính mình phạm sai lầm cách thô thiển như thế. Có lẽ, anh cũng thất vọng với những tòa án, nơi mà anh không đủ can đảm chứng kiến, đóng đinh người vô tội. Anh không đủ can đảm nhìn đám đông gào thét, đòi đóng đinh người vô tội vào thập gía. Quá nhiều bất công, quá nhiều sự xấu bị đầu độc vào những con người bản chất là hiền lành. Vào thời điểm sự dữ dường như đang chiến thắng, những tội ác xảy ra từng ngày, không ai đứng ra xử cho công minh, chính trực, mà người ta phải tự xử lấy trong tức giận.

Giuđa và lòng thương xót của Chúa.  

Giuđa là một bi kịch. Trong kết thúc của bi kịch đó là tự vẫn. Nhưng tự vẫn chỉ là điều người ta thấy bên ngoài. Như Lời Chúa trong sách Samuel khi đi tuyển chọn Đavit: “Ðừng nhìn đến dáng vẻ của nó, hay tầm vóc cao lớn của nó, vì Ta không màng đến nó; không phải người phàm nhìn sao, Thiên Chúa cũng không nhìn thế, bởi người phàm chỉ trông thấy (điều lộ trước) mắt, còn Yavê trông thấy (điều ẩn đáy) lòng” (1 Sm 16, 6). Lòng thương xót của Chúa là cửa ngõ cuối cùng cho con người, ai cũng có thể vào ngưỡng cửa ấy, kể cả những kẻ cả cuộc đời làm điều xấu, gây những điều tai hại khác, họ cũng được vào ngưỡng cửa của lòng thương xót. Chỉ cần có một điều, sám hối tự nhận ra trách nhiệm của mình ngay trước khi cái chết ập đến, như kẻ trộm: “Phần ta, thực tế phải lẽ, ta chuốc lấy đáng tội đã làm; nhưng ông này, ông không hề làm điều gì trái!” 42 Và hắn nói: “Lạy Ðức Yêsu, xin nhớ tôi, khi Ngài đến trong Nước của Ngài!” (Lc 23, 41 – 42).

Ghen tỵ với kẻ tội lỗi ăn năn sám hối chăng?

Chúa có cách đền trả cho kẻ tội lỗi đã gây ra bất công, làm thiệt hại cho người khác trong thời gian sống của họ. Việc làm của Chúa cũng xuất phát từ cõi lòng ăn năn của người sám hối trước khi mất, có thể thấy như sự đền bù của ông GiaKêu: “ “Này nửa phần của cải tôi, thưa Ngài, tôi xin bố thí cho kẻ khó, và nếu tôi đã gian lận gì của ai, tôi xin đền lại gấp bốn” (Lc 19, 8). Hãy cầu nguyện cho người tội lỗi biết ăn năn, dù sớm hay muộn! Chúa có cách của Người.

Lạy Chúa. Chúng con cần cầu nguyện và dâng những hy sinh nhiều hơn nữa cho quê hương, đất nước của chúng con, khi thấy còn nhiều điều sự dữ tràn lan, xảy ra từng ngày. Cầu nguyện để Chúa thực hiện, thức tỉnh lương tâm, biến đổi sự xấu ra sự lành. Dâng những hy sinh để Chúa làm cho tình yêu chiến thắng thù hận, cho con người được sống dồi dào trong tình thương mến cùng với thiên nhiên hiền hòa.

 

 

 

 

YÊU THƯƠNG ĐẾN CÙNG

Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty 

Tông đồ Gio-an khảng định: giờ Đức Giê-su ra đi chịu chết chính là đỉnh điểm (kairos) của đời sống Con Người (xem Ga chương 12 câu 27-34). Đó là thời điểm và cách thức mà Giê-su – Cứu Chúa có thể diễn đạt tình yêu của Thiên Chúa cách trọn vẹn nhất; “Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng”. Tình yêu đó sẽ ôm ấp mọi con người, không loại trừ bất cứ ai, trong trường hợp cụ thể lúc đó kể cả Giu-đa lẫn Phê-rô, những kẻ đang rắp tâm phản bội hoặc yếu đuối bội phản Thầy. Tình yêu Thiên Chúa bao dung và rộng mở không biên giới; nhưng vấn đề chính ở đây là liệu người ta có sẵn lòng đón nhận tình yêu đó hay không. Vấn đề này về mặt lý thuyết xem ra rất đơn giản, nhưng trên thực tế lại không dễ dàng được chấp nhận. Câu chuyện Gio-an tường thuật là một minh họa rất rõ nét: trước khi lên đường đi chịu chết Đức Giê-su đã cúi xuống rửa chân cho các môn đệ Người. Điều gì đã xẩy ra vào buổi chiều hôm đó cũng có thể xảy ra cho bất kỳ ai, ở bất cứ đâu và vào bất cứ thời đại nào.

Trong tấn kịch này, vai diễn của Phê-rô có phần nổi trội hơn tất cả. Phản ứng của ông có thể là hoàn toàn tư riêng, nhưng chắc chắn nó cũng biểu lộ thái độ chung mà nhiều môn đệ khác cùng chia sẻ: “Thầy mà lại rửa chân cho con sao?… Không đời nào con chịu đâu!” Phản ứng này xem ra hoàn toàn hợp lý: làm sao người môn đệ có thể để ông thầy cúi xuống rửa chân cho mình? Nếu Đức Giê-su không nài ép, “nếu Thầy không rửa chân cho anh, anh sẽ chẳng được vào chung phần với Thầy”, thì có lẽ Phê-rô sẽ chẳng bao giờ chịu chấp nhận, và các môn đệ khác cũng không nốt.

Thế đấy! Tin và chấp nhận một Thiên Chúa khiêm hạ tới độ hủy mình ra như không, chỉ vì yêu thương tôi, một con người tội lỗi thấp hèn, là không dễ chút nào. Tôi dễ dàng chấp nhận một Thiên Chúa uy nghi cao cả đòi buộc tôi phải giữ phải tránh điều này điều nọ, một Thiên Chúa phán truyền mệnh lệnh, một Thiên Chúa thưởng phạt công minh…, nói chung một Thiên Chúa bề trên, kẻ cả; nhưng tôi lại thấy thật không thể chấp nhận nổi một Thiên Chúa đặt mình dưới cả tôi, cúi xuống trở nên thấp hèn hơn tôi, và sẵn sàng bị tước đoạt đi tất cả…, một Thiên Chúa kèo dưới… chỉ để yêu thương tôi. Tôi luôn có khuynh hướng tôn thờ, kính sợ Thiên Chúa, nhưng lại rất ái ngại đi sâu hơn nữa vào ‘lòng thương xót đến cùng’ của Người. Xét cho cùng thì tôi vẫn thấy ‘thái độ kính sợ Đức Chúa’ của Cựu Ước nói riêng, và của mọi tôn giáo nói chung, dễ chấp nhận hơn là tinh thần tự hủy của Tân Ước, như Đức Ki-tô Giê-su đã từng thể hiện trên thập giá. Thiết tưởng đây chính là ‘cớ vấp phạm’ lớn nhất của thập giá Đức Ki-tô mà Phao-lô đã đề cập tới, đặc biệt đối với những ai xưng mình là Ki-tô hữu (= người có đạo), là môn đệ (= linh mục tu sĩ) qua mọi thời.

Thế nhưng, đối với Đức Ki-tô, thì ‘cớ vấp phạm” ấy lại là một điều kiện tiên quyết (sine qua non), vì “nếu Thầy không rửa chân cho anh, anh sẽ chẳng được vào chung phần với Thầy”. Câu này là một khảng định chắc nịch chứ không chỉ là một lời mời gọi chung chung, một lời khuyên… không thi hành cũng được. Và ‘chung phần với Thầy’ chính là tham gia vào cái thứ tình yêu độc nhất vô nhị mà chỉ một mình Thiên Chúa trong Đức Ki-tô Giê-su thập giá mới có, tức là yêu thương đến cùng, là yêu tới độ hủy mình ra như không, đặt mình vào chỗ thấp nhất trong thiên hạ hầu có thể trao ban và phục vụ.

Thiết nghĩ ít ai trong chúng ta đã không vấp phạm về điều này ít là một lần trong đời. Lấy một thí dụ nhỏ, có mấy ai trong chúng ta nghĩ rằng: các việc bác ái mình làm nhiều khi thật nông cạn và chẳng Tin Mừng tí nào không? Bao lâu ta còn chưa chịu để cho Chúa ‘rửa chân’ cho, bấy lâu ta còn thi hành một thứ bác ái trịch thượng của bậc kẻ cả, phục vụ đấy mà trên thế thượng phong ban phát. Riêng với các linh mục cảm nghiệm này còn phải cụ thể và thường xuyên hơn nữa; chẳng hạn, có bao giờ linh mục ngồi vào tòa giải tội trong tư thế mình còn thấp hèn hơn cả các hối nhân tới xưng tội, hoặc tiến ra cử hành Thánh Lễ mà cảm thấy Chúa đang cúi xuống rửa chân cho mình…, hoặc khi rước mình và máu thánh Chúa mà nghiệm thấy quá bất xứng vì  được Chúa biến thành miếng ăn nuôi sống con người tội lỗi và bất toàn như mình chăng? Nhiều lần khi cho rước lễ tôi đã tận mắt chứng kiến việc Chúa đi vào các môi miệng, được trao vào các bàn tay mà đôi khi chính bản thân mình còn cảm thấy rờn rợn? Thế đấy, chính vì ‘để Thày rửa chân cho’ thường xuyên bị lãng quên mà bác ái phục vụ rất ít khi thực sự là quên mình, là cúi xuống; Thánh Lễ lúc đó sẽ nặng về tính thờ phượng kính tôn hơn là “Người yêu thương đến cùng”, ‘Alter Christus’ mang nặng nội dung chức thánh địa vị hơn là ‘mục tử tự hiến’, “vào chung phần với Thầy” được cắt nghĩa là vào hưởng vinh quang thiên quốc hơn là tham dự vào tình yêu thập giá tự hủy của Đức Ki-tô, và còn nhiều điều khác nữa…

Bài học ‘rửa chân’ thật mấu chốt và quan trọng biết bao! Thế nhưng thật đáng tiếc nó thường bị coi (kể cả bởi các chủ tế cử hành) chỉ như một biểu tượng cá biệt hơn là diễn tả hoàn hảo một mạc khải về tình yêu trao hiến phục vụ đích thực. Tệ hơn nữa nó còn bị thu hẹp thành một nghi thức phụng vụ được cử hành trong Thánh Lễ ngày Thứ Năm Tuần Thánh… và sau đó là kết thúc luôn, không còn được thực thi cách cụ thể trong cuộc sống đức tin của cuộc sống thường ngày.

Lạy Chúa Giê-su khiêm hạ vì yêu thương, xin cho con biết để cho chính con được Chúa rửa chân cho mỗi khi tiến ra cử hành Thánh Lễ, để con cũng được ‘chung phần’ với yêu đến cùng của Thập Giá. Vinh quang thập giá chính là vinh quang của tự hủy phải được tỏ rạng nơi mọi linh mục của Chúa, bây giờ và luôn mãi. Xin cho con, trước khi dám ‘cùng chết với Chúa’, biết khiêm tốn chấp nhận để Chúa chết và tự hủy ra như không vì con và cho con. A-men.

 

 

 

 

SUY NIỆM THỨ NĂM TUẦN THÁNH

Lm. Anthony Trung Thành

Chiều hôm nay là buổi chiều của Tình Yêu. Tình yêu của một vị Thiên Chúa đối với nhân loại. Đây là một tình yêu cao cả, một tình yêu tròn đầy. Tình yêu đó được thể hiện qua ba việc làm của Đức Giêsu: Rửa chân, lập phép Thánh Thể và chức linh mục. Cả ba việc làm này đều hết sức quan trọng và liên hệ mật thiết với nhau: Linh mục là Đức Kitô thứ hai, Thánh Thể là Mình Máu Thánh Đức Giêsu Kitô và rửa chân là sứ mạng của Đức Giêsu và cũng chính là sứ mạng của linh mục.

Vì linh mục (Đức Kitô thứ hai) là người cử hành thánh lễ, làm nên Thánh Thể và tiếp tục sứ mạng “rửa chân” như lời Đức Giêsu đã truyền. Chính vì thế, buổi chiều hôm nay chúng ta hãy nhớ cầu nguyện cách đặc biệt cho các linh mục. 

Trước hết, chúng cầu nguyện cho có nhiều linh mục: Theo Niên giám Thống kê của Giáo Hội năm 2015, có 5.304 giám mục, 415.656 linh mục. Trên toàn cầu, con số linh mục chịu chức đã tăng 0,83% trong các năm từ 2010 đến 2015. Tuy nhiên, hơn một nửa các cộng đồng của Giáo Hội Công Giáo trên thế giới không có linh mục trú sở. Giáo phận Xingú ở vùng Pará, Ba Tây, chẳng hạn, có 800 giáo xứ trong một khu vực truyền giáo xét về lãnh thổ lớn bằng nước Đức, nhưng chỉ có 27 linh mục, điều này có nghĩa hơn 2 phần 3 tín hữu chỉ được tham dự thánh lễ Chúa Nhật 2 hoặc 3 lần trong một năm. Chính vì thế, chúng ta cầu nguyện cho có thêm nhiều linh mục để đáp ứng nhu cầu của các tín hữu. (Nguồn: conggiao.info)

Đồng thời chúng ta cũng cầu nguyện cho các linh mục trở thành những linh mục như lòng Chúa mong muốn. Đó là cầu nguyện cho các linh mục chu toàn sứ mạng mà Chúa và Giáo Hội trao phó. Linh mục có ba sứ mạng chính: Sứ mạng Ngôn sứ, sứ mạng Tư tế và sứ mạng Mục tử.

Chúng ta cầu nguyện cho các linh mục chu toàn sứ mạng ngôn sứ: Trong ngày truyền chức, Đức Giám Mục nhắn nhủ các tiến chức rằng: “Con hãy tin điều con đọc, dạy điều con tin và sống điều con dạy.” Vì vậy, việc đọc, suy niệm, giảng dạy và sống Lời Chúa phải là bổn phận hàng đầu của linh mục. Linh mục phải rao giảng Lời Chúa với tinh thần trách nhiệm. Linh mục phải rao giảng Lời Chúa lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện. Thánh Phaolô đã nói: “Hãy rao giảng lời Chúa, hãy lên tiếng, lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện; hãy biện bác, ngăm đe, khuyên nhủ, với tất cả lòng nhẫn nại và chủ tâm dạy dỗ” (2Tm 4,2). Linh mục rao giảng Lời Chúa trong nhà thờ, rao giảng Lời Chúa nơi các lớp giáo lý, rao giảng Lời Chúa khắp mọi nơi khi cần thiết. Linh mục rao giảng Lời Chúa cho những người có đạo, rao giảng Lời Chúa cho những người lương dân, rao giảng Lời Chúa cho những người chống đối, rao giảng Lời Chúa cả những khi bị cấm cách, bắt bớ. Chính các Tông đồ ngày xưa đã làm như vậy: Trước thượng hồi đồng Do Thái cấm không cho các Tông đồ rao giảng về danh Đức Giêsu nữa, Thánh Phêrô và Thánh Gioan đã nói: “Phần chúng tôi, những gì tai đã nghe, mắt đã thấy, chúng tôi không thể không nói ra” (Cv 4,20). Vì sứ mạng ngôn sứ, nên nhiều linh mục vẫn can đảm nói thẳng nói thật để lên án những bất công trong xã hội, bênh vực cho công lý và sự thật cho dù phải chịu bách hại, bắt bớ, thậm chí có khi nguy hiểm đến tính mạng của mình.

Chúng ta cầu nguyện cho các linh mục chu toàn sứ mạng Tư tế: Tất cả các Kitô hữu là tư tế cộng đồng, còn các linh mục là tư tế thừa tác của Đức Kitô. Linh mục thi hành Chức Tư Tế qua việc cử hành các mầu nhiệm thánh. Đó là cử hành phụng vụ, nhất là phụng vụ các Bí tích. Các Bí tích là máng chuyển thông ơn Thiên Chúa. Ơn Thiên Chúa qua Bí tích bị khóa lại, chỉ có linh mục mới có thể mở ra được. Vì thế, Thánh Gioan Viannay khẳng định rằng: “Nếu không có linh mục, thì sự thương khó và sự chết của Chúa không giúp gì cho ta.” Ngài nói: “Nếu trong rương có đầy vàng mà không có ai mở ra, nào có ích gì? cũng vậy, nếu không có linh mục, sẽ không có Bí tích giải tội, không có Mình Thánh Chúa…ai là nguyên cớ để bánh trở nên Mình Thánh Chúa? Ai thanh tẩy tâm hồn ta? Ai dọn linh hồn người chết ra đi thanh thản…nếu không phải là linh mục.”

Linh mục cần thiết như thế đó. Linh mục cần cho linh mục. Linh mục cần cho mọi người. Nhờ linh mục, ơn thánh qua các Bí tích tuôn chảy đến với con người. Vì vậy, chúng ta cầu xin cho các linh mục thi hành tốt nhiệm vụ tư tế, để các Bí tích mang lại hiệu quả dồi dào cho mỗi người chúng ta. Đồng thời, mỗi chúng ta cũng cần sống đầy đủ ý nghĩa của các Bí tích, bằng cách: chuẩn bị xa, dọn mình gần và còn kéo dài ơn Bí tích sau khi lãnh nhận. 

Chúng ta cầu nguyện cho các linh mục chu toàn sứ mạng Mục tử: Linh mục luôn được gọi là Người của đoàn chiên. Được xức dầu Thánh Thần, như Đức Kitô là Đầu và là Mục tử, linh mục được sai đến với mọi người trong tư cách là mục tử tốt lành của đoàn chiên. Vì thế, noi gương Đức Kitô – Thủ lãnh các Mục tử, linh mục có trách nhiệm yêu thương gắn bó, lo lắng, tận tuỵ và hy sinh vì đoàn chiên. Linh mục đến là để chiên được sống và sống dồi dào. Đoàn chiên này bao gồm cả những tín hữu lẫn những người chưa gia nhập Hội Thánh. Vì vậy, linh mục luôn cần có Đức Ái mục vụ. Với Đức Ái mục vụ, linh mục diễn tả hành vi và phong cách của Đức Kitô Mục tử đến chỗ tận hiến mình để mưu ích cho đoàn chiên. Thái độ căn bản của người mục tử là luôn tin tưởng vào sứ mạng của mình: làm Vinh Danh Chúa và cứu rỗi các linh hồn. Sứ mạng này được thực hiện trong hy sinh thập giá và chắc chắn sẽ kết trái trong vinh quang phục sinh. Có tin tưởng vào sứ mạng, linh mục mới phấn khởi thi hành tác vụ tôi tớ và mới dám liều mạng sống mình vì Chúa và vì đoàn chiên. (x. Chỉ nam linh mục, Gp. Thái Bình).

Mặc dầu linh mục được lãnh nhận những sứ mạng cao cả như vậy, nhưng linh mục cũng là những con người vớ những yếu đuối của con người. Nói theo kiểu Thánh Phaolô, những sứ mạng cao cả ấy lại chứa đựng trong một chiếc bình sành dễ vỡ là thân xác linh mục (x. 2Cr 4,7). Chính vì vậy, ngoài việc cố gắng nổ lực của bản thân, linh mục cần lời cầu nguyện và sự giúp đỡ của mọi thành phần dân Chúa. Cầu nguyện cho các linh mục chu toàn sứ mạng của mình. Cầu nguyện cho các linh mục thực sự là những linh mục thánh thiện. Chân phước linh mục Antone Chevrier (Pháp) đã nói:

– Xin hãy giúp tôi xây dựng một ngôi thánh đường. Chỉ có ngôi thánh đường này mới cứu được thế giới.

Người ta ngạc nhiên bèn hỏi: – Thưa Cha, ngôi thánh đường nào vậy ?

Ngài nói tiếp:

– Tôi muốn làm hết sức để xây một ngôi thánh đường mà nền móng là những linh mục thánh thiện, các cột đỡ cũng là những linh mục thánh thiện, nhà tạm cũng là những linh mục thánh thiện, tòa giảng cũng là những linh mục thánh thiện và bàn thờ cũng là những linh mục thánh thiện.

Chỉ có ngôi thánh đường này mới cần thiết cho mọi người, ở mọi nơi và trong mọi lúc!

Lạy Chúa Giêsu, chúng con cảm tạ Chúa đã thiết lập chức linh mục để ở lại với chúng con. Xin cho các linh mục biết chu toàn các sứ mạng của mình, trở thành những linh mục thánh thiện, hầu mưu ích cho dân Chúa. Amen.

 

 

 

 

ĐỨC ÁI: HOA TRÁI CỦA THÁNH THỂ

Tiến Sĩ Trần Mỹ Duyệt

Ðức ái, Thánh Thể và Thiên Chức Linh Mục. Ðây là 3 chủ đề lớn nhất trong Ngày Thứ Năm Tuần Thánh, ngày kỷ niệm những việc mà Chúa Giêsu đã làm trong căn phòng Tiệc Ly, trước khi Ngài chịu khổ nạn.

Nhưng giữa Ðức Ái, Thánh Thể và Chức Linh Mục, Ðức Ái được cho là quan trọng và cần thiết hơn. Ðiều này có thể được chứng minh bằng lời mà Chúa Giêsu đã nói với Phêrô: “Nếu Thầy không rửa chân cho con, con sẽ không được dự phần với Thầy” (Gioan 13:8).

Không được dự phần với Chúa đối với Phêrô lúc bấy giờ là không được lãnh nhận Mình và Máu Thánh Chúa. Không tham dự Lễ Vượt Qua với Chúa.

Không được dự phần với Chúa, cũng có nghĩa là không được thông phần thiên chức linh mục mà Chúa sắp sửa thiết lập.

Không được dự phần với Chúa, là không được đón nhận Ơn Cứu Chuộc mà Ngài sắp sửa thực hiện qua cuộc khổ nạn và cái chết của Ngài.

Và vì thế, không được dự phần với Chúa, là không được thông phần sự sống đời đời với Ngài.

Tóm lại, việc Phêrô không được dự phần với Chúa là việc hệ trọng. Nó có tính cách quyết liệt, và mang ý nghĩa đời đời. Có lẽ vì hiểu được tầm quan trọng và sự cần thiết của hành động dự phần ấy, ông đã vội vàng thưa với Chúa: “Vậy xin Thầy hãy rửa không những chân con, mà cả tay và đầu nữa” (Gioan 13: 9).

Như vậy, rửa chân đối với Phêrô là một thái độ khiêm tốn đón nhận tình yêu Thiên Chúa dành cho ông. Ðể cho Chúa Giêsu rửa chân, tức là để Ngài gột rửa linh hồn ông, khiến ông xứng đáng với Thánh Thể của Ngài. Xứng đáng với thiên chức linh mục mà Ngài sắp sửa mời gọi ông tham dự. Và xứng đáng trong việc chia sẻ cuộc khổ nạn, và sự Phục Sinh của Ngài.

Đối với Phêrô cũng như tất cả mọi Kitô hữu sau này, rửa chân còn là một dấu chỉ thực hành của đức ái mà Chúa Giêsu mong muốn mỗi người cần phải học nơi Ngài: “Vì Thầy đã làm gương cho các con để các con cũng bắt chước mà làm như Thầy đã làm cho các con” (Gioan 13: 15).

Ðức ái và Thánh Thể:

Ngày Thứ Năm Tuần Thánh, suy ngắm về mầu nhiệm Thánh Thể và tưởng niệm sự hy sinh cao cả của Chúa khi ban mình làm của ăn, của uống nuôi dưỡng nhân loại trên hành trình đức tin và trong đời sống tâm linh. Câu hỏi được đặt ra, liệu chúng ta phải sống với sức sống Thánh Thể như thế nào? Ðời sống đạo của chúng ta có lột tả được ý nghĩa “rửa chân” mà Chúa Giêsu đã thực hiện và dậy chúng ta không? Chúng ta có để Chúa rửa chân như Phêrô đã để Ngài rửa chân, nhất là chúng ta có rửa chân cho nhau không? Nếu chúng ta đến với Chúa Giêsu Thánh Thể bằng tâm hồn khiêm tốn, và đón nhận Ngài vào cuộc đời mình, chúng ta cũng phải sống với mầu nhiệm Thánh Thể bằng việc rửa chân cho nhau là đón tiếp, giúp đỡ, và tha thứ cho nhau như Chúa đã yêu thương và tha thứ cho chính mình.

Chúa Giêsu đã nói với Phêrô: “Nếu Thầy không rửa chân cho con, con sẽ không được dự phần với Thầy” (Gioan 13:8). Ông đã thưa lại với Chúa: “Vậy xin Thầy hãy rửa không những chân con, mà cả tay và đầu nữa” (Gioan 13:9). Và đó là sống Mầu Nhiệm Thánh Thể qua việc thực tha đức ái trong cuộc sống hằng ngày của người Kitô hữu.

Thánh Thể là một biểu hiện tuyệt vời Tình Yêu Thiên Chúa dành cho con người. Chúa Giêsu biết những gì Ngài sẽ phải làm và những gì sẽ sẩy ra cho Ngài như lời Thánh Ký ghi nhận. Ngài đã thiết lập phép Thánh Thể để duy trì tình yêu của Ngài đối với con cái loài người, và cũng để nuôi dưỡng tình yêu con người bằng chính sức sống đến từ Thịt và Máu Ngài: “Thịt Ta thật là của ăn. Máu Ta thật là của uống” (Gioan 6:55).

Đức ái và chức Linh mục:

Ngày Thứ Năm Tuần Thánh cũng là một dịp để cùng ôn lại Bí Tích Truyền Chức Thánh mà Chúa Giêsu đã thiết lập, không ngoài việc duy trì và bảo tồn Thánh Thể. Bởi vì không có linh mục, thì không có Thánh Thể. Cũng có thể nói, Bí Tích Truyền Chức Thánh là một thể hiện tuyệt vời tình yêu Thánh Thể đối với nhân loại. 

Hành động rửa chân mà Chúa Giêsu đã làm trước khi thiết lập Thiên Chức Linh Mục, mang một ý nghĩa hết sức đặc biệt nói lên mục đích cao cả của Bí Tích. Không ai xứng đáng với chức linh mục, nhưng linh mục lại chính là người phục vụ, người phải quí gối xuống để rửa chân cho anh chị em mình. Với Phêrô cũng như tất cả các linh mục sau này, rửa chân còn là một dấu chỉ tích cực của đức ái mà Chúa Giêsu mong muốn các linh mục phải thực hành mỗi ngày khi nhân danh Chúa để đem Ngài đến cho mọi người: “Thầy đã làm gương cho các con để các con cũng bắt chước mà làm như Thầy đã làm cho các con” (Gioan 13: 15).

Ðối với Chúa vì yêu thương nhân loại, Ngài đã xuống thế, chịu khổ nhục và chịu chết. Ngài đã để lại Thánh Thể và Thiên Chức Linh Mục. Ðối với các linh mục, như Chúa Giêsu đã nói với Phêrô, là nếu không thông hiệp với Ðức Ái tức là Tình Yêu của Ngài, và riêng ông, nếu không sống đức ái ấy, thì “không được dự phần với Ngài”.  Có thể nói, bí tích truyền chức gắn bó với bí tích Thánh Thể qua Ðức Ái trọn hảo.

Đức ái, hoa trái của Thánh Thể:

Thật vậy, nếu Thánh Thể là của ăn, của uống nuôi sống linh hồn các tín hữu trong cuộc sống tâm linh, thì cuộc sống ấy để làm gì? Và sinh hoạt như thế nào? Trong tự nhiên, khi một người lớn lên, khỏe mạnh thì phải biết dùng lý trí và hành động của mình để làm đẹp và tăng thêm ý nghĩa của cuộc sống. Sống có ý nghĩa. Sống cho xứng đáng con người.  

Cũng giống như cuộc sống thể lý hay cuộc sống tâm lý, cuộc sống tâm linh phải đem lại hoa trái và giá trị thật cho người Kitô hữu. Những giá trị phát xuất do tình yêu tức là đức ái chân thật. Những hành động chăm sóc, lo lắng cho các người bệnh tật già yếu, nuôi nấng và săn sóc các em cô nhi, quả phụ, hoặc những kẻ đầu đường xó chợ, chính là những cử chỉ rửa chân mà Chúa Giêsu đã nói đến trong ngày Thứ Năm Tuần Thánh.

Thứ Năm Tuần Thánh khi suy niệm về Bí Tích Thánh Thể, về Bí Tích Truyền Chức, chúng ta không thể quên sự nối kết mật thiết và hình thức diễn tả cách đầy đủ của hai bí tích này, đó là Đức Ái. Hành động rửa chân rất khiêm nhường, rất thực tế và rất sống động mà Chúa Giêsu đã làm và cũng đã truyền lại cho chúng ta là những kẻ tin theo Ngài. Không để Chúa rửa chân cho, và không rửa chân cho nhau, chúng ta cũng không thể hiểu được thế nào là Chúa Giêsu trong Thánh Thể, và cũng chẳng hiểu được sự cao cả, thánh thiện của bí tích truyền chức.

Trong bài giảng hôm đó liên quan đến đức bác ái, vị linh mục đã kể một câu chuyện nhân chuyến hành hương Ðất Thánh. Hôm đó có một người hành khất đến xin giúp đỡ. Trong đoàn hành hương lúc bấy giờ có một bà giầu có vàng bạc đeo quanh cổ, quanh tay nhưng bà không giúp đỡ gì mà còn tỏ ra như khinh bỉ người nghèo đó. Thấy vậy, ngài làm như cần tiền và muốn có sự giúp đỡ của bà. Và lạ lùng thay, thái độ bà trở nên rất niềm nở, quảng đại. Bà rút trong túi xách tay 200 đồng, biếu cha để cha tiêu xài hay muốn mua gì tùy ý. Kết luận câu chuyện, linh mục giảng thuyết đã làm mọi người suy nghĩ qua câu nói: “Rõ thật là dại. Chúa xin thì không cho, mà cha xin lại cho.” Người giầu có này vì thiếu bác ái, bà đã không nhìn ra Chúa, đã không hiểu được giá trị của chức linh mục, và chắc chắn đức tin của bà đối với Chúa Giêsu Thánh Thể cũng rất yếu ớt.

 

 

 

 

DI CHÚC TÌNH YÊU PHỤC VỤ

JM. Lam Thy

Kể từ ngày đăng quang Giáo hoàng (13/3/2013), ĐTC Phan-xi-cô quyết định không cử hành Thánh lễ Tiệc ly trong khung cảnh uy nghi của Vương cung thánh đường Thánh Gio-an La-tê-ra-nô, nhưng đã chọn một nơi khiêm tốn, kề bên những khổ đau của con người: * Ngày 28/3/2013, khi vừa được bầu làm Giáo hoàng, ĐTC đã gây bất ngờ khi cử hành Thánh lễ Tiệc ly tại Trung tâm giam giữ trẻ vị thành niên Casal del Marmo ở ngoại ô phía bắc Rô-ma và rửa chân cho các tù nhân trẻ tại đây, cả nam và nữ. * Ngày 18/4/2014, lần thứ hai trong tư cách Giáo hoàng, ĐTC đã chọn cử hành Thánh lễ Tiệc ly tại một trung tâm chăm sóc người già và khuyết tật ở Rô-ma: Trung tâm “Mẹ Maria Chúa Quan Phòng”, do tổ chức Don Carlo Gnocchi điều hành. * Ngày 02/4/2015, ĐTC đã đến nhà tù Rebbibia ở mạn đông Rô-ma để cử hành Thánh lễ Tiệc ly và rửa chân cho các tù nhân. * Ngày 25/3/2016 ĐTC cử hành Thánh lễ Tiệc ly tại Trung tâm đón tiếp người tị nạn Castelnuovo di Porto cách Rô-ma 30 km về phía Bắc.

Trong bài giảng Thánh lễ Tiệc Ly tại Castelnuovo di Porto (ngày 25/3/2016), ĐTC nhấn mạnh: “Di sản mà Chúa Giê-su để lại cho chúng ta là: hãy là người tôi tớ phục vụ nhau. Bây giờ tôi sẽ thực hiện cử chỉ này, nhưng tất cả chúng ta hãy nghĩ đến người khác: làm sao để phục vụ họ tốt hơn, đó là điều Chúa Giê-su muốn chúng ta thực hiện.” ĐTC nói thêm: “Chúng ta vừa nghe trong bài đọc điều Chúa Giê-su đã làm trong bữa Tiệc Ly, cử chỉ ly biệt này là một lời di chúc. Lời di chúc đó là: “Thiên Chúa trở thành người tôi tớ. Vậy anh em phải trở nên tôi tớ phục vụ lẫn nhau, phục vụ trong yêu thương. Cử chỉ này càng mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc vì chỉ có người nô lệ, người tôi tớ mới làm công việc rửa chân, và Chúa Giê-su trong Bữa Tiệc Ly, khi lập bí tích Thánh Thể, đã dùng cử chỉ rửa chân này để nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta phải là người tôi tớ phục vụ lẫn nhau.” (nguồn: Vatican.net)

Bài Tin Mừng trong Thánh lễ chiều Thứ Năm Tuần Thánh (Ga 13, 1-15) trình thuật về “Bữa ăn cuối cùng của Đức Giê-su và các môn đệ”. Như vậy là Đức Giê-su đã không ăn lễ Vượt Qua theo nghi thức Do-thái, mà là muốn nhân dịp này, Người từ biệt các môn đệ để bước vào cuộc Vượt Qua của chính mình (vượt qua sự chết, chiến thắng tội lỗi, phục sinh vinh hiển). Bữa tiệc lễ Vượt Qua đã trở thành bữa Tiệc Ly và những lời huấn dụ cuối cùng của Đức Giê-su chính là những di ngôn (ĐTC Phanxicô gọi là “lời di chúc” – xc “Bài giảng” -nt-). Giáo hội đã coi những lời di chúc đó là lời “trối trăng” (“Lạy Chúa, trong bữa tiệc ly trọng đại, trước ngày tự hiến thân chịu khổ hình, Ðức Giê-su đã trối cho Hội Thánh một hy lễ mới muôn đời tồn tại làm bằng chứng tình thương của Người.” – Lời nguyện nhập lễ Thánh lễ Tiệc Ly). Bản di chúc đó để lại di sản cho các môn đệ. Di sản cao quý ấy chính là 2 việc làm mang ý nghĩa vô cùng sâu sắc:

1- Rửa chân cho các môn đệ: “Người đứng dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài ra, và lấy khăn mà thắt lưng. Rồi Đức Giê-su đổ nước vào chậu, bắt đầu rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau.” (Ga 13, 4-5). Sau đó, Người đã giải thích rõ ràng việc làm này: “Anh em có hiểu việc Thầy mới làm cho anh em không? Anh em gọi Thầy là “Thầy”, là “Chúa”, điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là Chúa. Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em. Thật, Thầy bảo thật anh em: tôi tớ không lớn hơn chủ nhà, kẻ được sai đi không lớn hơn người sai đi. Anh em đã biết những điều đó, nếu anh em thực hành, thì thật phúc cho anh em!” (Ga 12, 12-17).

Trong cuộc sống, vấn đề rửa chân chỉ có thể xảy ra khi người chủ hoặc vua chúa quan quyền bắt nô lệ, tôi tớ phục vụ, hoặc những con cháu tỏ lòng hiếu thảo rửa chân cho cha mẹ, ông bà khi các ngài già yếu bệnh tật. Ở đây Đức Giê-su là Thầy, là Chúa, mà lại quỳ xuông rửa chân cho các môn đệ, không những chỉ dạy cho người môn đệ hiểu được cách sống khiêm tốn phục vụ, mà còn có tác dụng giáo dục về đức Mến (là nhân đức cao trọng nhất trong 3 nhân đức đối thần: Tin, Cậy, Mến – “Hiện nay Đức Tin , Đức Cậy Đức Mến cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là Đức Mến” – 1Cr 13, 13). Con người sống trên đời khi yêu quý bản thân tất nhiên sẽ mong muốn thân thể mình phải sạch sẽ. Cả thân thể sạch sẽ mà để đôi chân dơ dáy thì có coi được không? Vì thế, ai cũng rất siêng năng rửa chân cho bản thân mình. Thiên Chúa lại dạy: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi, ngươi phải yêu người thân cận như chính mình.” (Mt 22, 37). Như vậy, để yêu được tha nhân như yêu chính mình (“ái nhân như ái thân”), thì “anh em cũng phải rửa chân cho nhau” là điều đương nhiên rồi.

2- Lập Bí tích Thánh Thể: “Trong đêm bị nộp, Chúa Giê-su cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng tạ ơn, rồi bẻ ra và nói: “Anh em cầm lấy mà ăn, đây là Mình Thầy, hiến tế vì anh em; anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy.” Cũng thế, cuối bữa ăn, Người nâng chén và nói: “Đây là chén Máu Thầy, Máu đổ ra để lập Giao Ước Mới; mỗi khi uống, anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy.” (1Cr 11, 23-25). Trước đây, trên núi Si-nai, Thiên Chúa đã lập Giao Ước và ban bia đá 10 Điều Răn (Mến Chúa yêu người) cho Dân Người thông qua ngôn sứ Mô-sê (Xh 24, 12-18); thì giờ đây, Đức Giê-su Thiên Chúa lại lập một Giao Ước Mới ban chính Thịt Máu mình làm hy tế Thập giá cứu độ nhân loại, đồng thời làm của dưỡng nuôi linh hồn đàn chiên tín hữu đến muôn đời muôn kiếp. Rõ ràng Thiên Chúa, thông qua Con Một Người, lại một lần nữa lập Giao Ước Tinh Yêu với toàn thể nhân loại (nói chung) và cách riêng với những người tin (tín hữu).

Xét cho cùng, cả 2 việc Đức Ki-tô thực hiện trong đêm bị nộp đều nói lên Tình Yêu vô bờ bến của Thiên Chúa, Người luôn luôn mong mỏi con cái của Người sống trọn vẹn trong Tình Yêu cao vời khôn ví đó. Mà nếu con cái của Người biết vâng nghe Lời Người, thực hành đúng những điều Người truyền dạy, thì đó chính là sống quây quần đùm bọc lấy nhau, yêu thương gắn kết với nhau nên một. Hoá cho nên chính trong bữa tiệc “Ly biệt”, Chúa Giê-su lại muốn các môn đệ, tín hữu “Đoàn tụ” (tất cả đoàn tụ yêu thương nhau, như các chi thể hiệp nhất nên một thân thể Ki-tô ở dưới thế, để rồi sẽ được đoàn tụ với nhau trong Nước Trời mai sau). Lời Đức Giê-su cầu nguyện cùng Chúa Cha (“Con không chỉ cầu nguyện cho những người này, nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào con, để tất cả nên một, như Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta.” – Ga 17, 20-21), cho thấy “những người này” là các Tông đồ và “những ai … tin vào Con” chính là những Ki-tô hữu. Nói khác hơn, đó là những người tin vào Con Thiên Chúa nhờ lời rao giảng của các Tông đồ, đã được chính Đức Ki-tô Thiên Chúa cầu nguyện cho vậy.

Chung quy, những lời dậy và việc làm của Đức Giê-su trong bữa Tiệc Ly đã nói lên đầy đủ ý nghĩa cốt tuỷ của Ki-tô Giáo, đó là tinh thần “Phục Vụ Trong Yêu Thương”. Thiên Chúa đã yêu thương nhân loại đến nỗi ban chính Con Một xuống thế làm người để phục vụ cho hạnh phúc của nhân loại. Vâng, “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20, 28). Quả thực “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì người mình yêu.” (Ga 15, 13). Từ những việc làm thực tế, những vật thể hữu hình (nước rửa chân, khăn lau, miếng bánh, ly rượu), Đức Giê-su đã dạy các tín hữu hãy noi gương Người mà phục vụ lẫn nhau trong Chân Lý Tình Yêu.

Để có thể kết hợp với Đức Ki-tô, ngõ hầu trở nên đồng hình đồng dạng với Người (Pl 3, 9-10), người Ki-tô hữu cần phải biết “Ơn riêng Thiên Chúa đã ban, mỗi người trong anh em phải dùng mà phục vụ kẻ khác” (1Pr 4, 10); “đừng lợi dụng tự do để sống theo tính xác thịt, nhưng hãy lấy đức mến mà phục vụ lẫn nhau” (Gl 5, 13). Một cách cụ thể là hãy đem Lời Chân Lý (Bánh Hằng Sống) đến cho mọi người, đồng thời cũng đừng quên đem cơm bánh vật chất đến cho những kẻ khó nghèo bệnh tật. Vâng, “Trước một thế giới đang yêu cầu các Ki-tô hữu đưa ra một chứng tá mới mẻ về tình yêu và lòng trung thành với Chúa, mọi Ki-tô hữu đều cảm thấy phải cấp bách ganh đua với nhau trong đời sống bác ái, trong việc phục vụ và làm các việc lành (x. Hr 6,10). Lời nhắc nhở này đặc biệt thúc bách trong mùa thánh chuẩn bị mừng lễ Phục Sinh.” (Sđ Mùa Chay 2012, phần kết luận).

Mong rằng tất cả đàn chiên trong ràn chiên Giáo Hội, hãy theo chân vị Giáo-Hoàng-của-người-nghèo là ĐTC Phan-xi-cô, mà đến với những người nghèo khó vật chất (thiếu cơm ăn áo mặc) kể cả những kẻ đói ăn tinh thần (thiếu vắng hoặc chưa biết đến Lời Chúa), để thực hiện những chứng tá bác ái “trong việc phục vụ và làm các việc lành”. Ôi! “Lạy Chúa, trong bữa tiệc ly trọng đại, trước ngày tự hiến thân chịu khổ hình, Ðức Giê-su đã trối cho Hội Thánh một hy lễ mới muôn đời tồn tại làm bằng chứng tình thương của Người. Chiều nay, chúng con đến tham dự yến tiệc cực thánh, như lời Người truyền dạy, xin Chúa cho tất cả chúng con được tràn đầy tình yêu và sức sống viên mãn của Người. Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời. Amen.” (Lời nguyện nhập lễ Thánh lễ Tiệc Ly).

 

 

 

 

NGƯỜI YÊU THƯƠNG HỌ ĐẾN CÙNG

Lm. Giuse Nguyễn Văn Thông

Cũng theo vị tông đồ này thì việc Chúa lập phép Thánh Thể và rửa chân cho các môn đệ là để thể hiện tình yêu thương những kẻ thuộc về mình và là tình yêu thương đến cùng. Chính vì thế, Bí tích Thánh Thể còn được gọi là Bí tích Tình Yêu và rửa chân là tình yêu đến cùng. Nếu Bí tích Thánh Thể là sự hiệp thông trọn vẹn giữa Chúa Giêsu và các môn đệ, thì việc rửa chân cũng làm cho họ được chung phần với Thầy. Nếu Bí tích Thánh Thể là sự trao ban chính mình, thì việc rửa chân lại là sự từ hạ và từ bỏ tuyệt đối. Tất cả đều là sự cho đi, tự hiến vô điều kiện, vô vị lợi và đến cùng. Tất cả đều diễn tả đặc tính của một tình yêu đích thực.

Với Thánh lễ chiều nay, chúng ta bước vào Tam Nhật Vượt Qua. Chúng ta hãy xin ơn Chúa để biết mở lòng đón nhận tình yêu Chúa đang muốn ban tặng chúng ta, để nhờ đó mà được hiệp thông sự sống với Người.

 

 

 

LỜI THẦY NĂM XƯA

Lm. Jos. DĐH

Không ai đủ khả năng để tổng hợp những “lời hay ý đẹp”, áp dụng vào cuộc sống của mình, chia sẻ cho đời. Chung quanh ta nhiều tài năng phong phú, có giá trị như bị lãng quên, phải chăng vì lý do chưa phù hợp với hoàn cảnh. Có khá nhiều cơ hội vụt qua, nhanh đến độ bất ngờ, để lại hối tiếc mà thôi. Tình yêu cao quý nhất là thủy chung, tình người trân trọng hơn cả vẫn là chữ tín, và chỉ khi hiểu nhau, tình thầy trò, hay tình huynh đệ mới thực sự không phai mờ.

Tục ngữ có câu : dốt đến đâu, học lâu cũng biết. Đức Giêsu đến thực thi đức yêu thương, Ngài không chọn tìm học trò khôn ngoan hay khờ dại. Mà những ai thuộc về Đức Giêsu đều được gắn liền với đức ái mục tử. Ngài lưu ý các học trò về tinh thần khim tốn, sống yêu thương, giúp nhau rửa sạch vết nhơ tội lỗi. Trong bữa tiệc cuối cùng, Chúa Giêsu không dùng những lời ngọt ngào yêu thương, nhưng Ngài vô cùng cương quyết : “nếu Thầy không rửa chân cho anh em, anh em sẽ không được dự phần với Thầy”.

Bữa tiệc chia tay hôm đó, Thầy Giêsu không tuyên dương hay có ý khiển trách người học trò phản bội hay chối Chúa, Thầy đã làm gương sáng cho các học trò về hành động yêu thương. “Ta là Thầy là Chúa mà còn rửa chân cho anh em, vậy anh em hãy rửa chân cho nhau”. Lời Thầy Giêsu làm lệch hướng các học trò về quyền bính, và cụ thể hóa bằng hành động cúi mình rửa chân : “anh em có hiểu biết việc Thầy vừa làm cho các con chăng ?”

Lời Thầy Giêsu không khỏi làm các học trò ưu tư, ăn uống thì cần rửa tay, mà ở đây Thầy lại chủ động rửa chân cho các ông. Lời Thầy nhẹ nhàng nhưng sâu rộng, tay và đầu sạch rồi, nhưng chân cần phải sạch để bước theo Thầy vững vàng hơn. Lời Thầy không thể mơ hồ đến độ cứ rửa đôi chân sạch bụi đời là đủ, nhưng hãy theo gương Thầy sống yêu thương phục vụ đến cùng. Lời Thầy đầy ắp yêu thương và không thiếu cương quyết : “việc Thầy làm bây giờ anh em không hiểu, nhưng sau sẽ hiểu”.

Trọng Thầy mới làm được thầy, dù khó chấp nhận việc Thầy mình làm, nhưng kẻ bộc trực như Phêrô còn phải khuất phục. Rõ ràng bài học vâng phục, bác ái, không thể là hành động tùy tiện chọn lựa của người tông đồ. Thương mến ai, người ta cho kiến thức, địa vị, tài sản; giao lưu tiệc tùng, người ta thích kẻ đồng bàn với mình phải là hiểu nhau, là bè bạn thân thích cùng khả năng. Chúa rửa chân cho các học trò không phân biệt, như một lời nhắn gởi Chúa sẽ còn cùng các học trò đi khắp nơi rửa chân cho những người đau khổ, bệnh tật, cả những tâm hồn tội lỗi nữa.

Buổi hội họp sau hết với các học trò không phải là tìm phương án đối phó với những kẻ chống đối, mà là mở ra một hướng đi mới cho các học trò cùng hành động yêu thương. Mơ ước của Chúa Giêsu là các môn đệ phải thấm nhuần bài học anh em hãy yêu thương nhau, để rồi người người, nhà nhà biết tiếp tục lời Thầy : hãy yêu như Thầy yêu. Lời Thầy năm xưa sẽ còn là lời nhắc nhớ, hãy lấy tình bác ái để cư xử với nhau, lấy tinh thần người làm lớn phục vụ rửa chân cho nhau nên tinh sạch. Người môn đệ theo Chúa mãi mãi là hành động đẹp, khi mỗi người biết yêu thương nhau. Amen.

 

 

 

 

ĐÔI TAY BIỂU TƯỢNG TÌNH YÊU

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

Đã nhiều lần chúng ta nhìn thấy bức tranh vẽ hay điêu khắc đôi bàn tay gầy guộc chắp vào nhau hướng lên trời. Nhiều người chỉ biết rằng đây là biểu tượng của cầu nguyện. Thực ra, đôi bàn tay này do một người em đã vẽ bàn tay người anh. Một bàn tay vất vả hy sinh lao động để nuôi em ăn học.
Chuyện kể rằng có một gia đình nghèo gồm 18 người con. Hai người con lớn trong nhà đều chung ước mơ trở thành họa sĩ. Nhà nghèo nên họ quyết định chỉ một người đi học. Họ sẽ tung một đồng xu. Người thua sẽ làm thợ mỏ, dùng toàn bộ thu nhập để chu cấp cho người thắng đi học. Sau này thành tài người thắng sẽ giúp ngược lại.
Đồng xu được tung lên, người em thắng cuộc và được đi học. Người anh trong suốt 4 năm, làm lụng để nuôi người anh em của mình ăn học. Sau 4 năm thành họa sĩ nổi danh, người em muốn thực hiện lời cam kết ngày nào nên trong bữa ăn sum họp, người em đứng dậy để cảm ơn người anh trai đã hy sinh 4 năm giúp mình hoàn thành được ước mơ. Người em nói:
– Anh Albert, bây giờ đã đến lượt anh. Anh hãy theo đuổi ước mơ của mình. Em sẽ lo toàn bộ chi phí và chăm sóc gia đình. Albert mỉm cười, rồi bật khóc:
– Không, anh không thể vẽ được nữa. Đã quá muộn rồi. Bây giờ, sau 4 năm làm việc trong hầm mỏ, không còn ngón tay nào của anh là lành lặn. Thậm chí bây giờ anh còn bị thấp khớp ở tay phải nặng tới mức không thể nâng nổi một chiếc ly, nói gì đến việc cầm cọ vẽ. Cảm ơn em, nhưng bây giờ đã quá muộn rồi…
Trước tình yêu quá cao vời của anh, người em đã thực hiện một tác phẩm cẩn thận nhất trong đời: vẽ lại đôi bàn tay của anh trai mình, với lòng bàn tay hướng vào nhau và những ngón tay gầy guộc hướng lên trời. Ông chỉ gọi bức tranh của mình đơn giản là “Đôi tay”, nhưng cả thế giới đều đặt tên cho kiệt tác đó là “Đôi tay cầu nguyện”.
Xem ra đôi bàn tay còn có ý nghĩa là trao ban, là hy sinh cho người mình yêu. Đôi bàn tay ấy đã nâng ước mơ cho người em thành tài trong cuộc đời.
Hôm nay thứ năm tuần thánh cũng mời gọi chúng ta chiêm ngắm một tình yêu tự hiến qua hình ảnh tấm bánh bẻ ra để trao ban. Chúa Giê-su đã lưu dấu mãi tình yêu tự hiến cho người mình yêu.  Ngài muốn chúng ta mỗi khi ăn tấm bánh ấy phải loan truyền tình yêu tự hiến của Ngài đến muôn đời. Một tình yêu cho đi mà không mong đền đáp. Một tình yêu hiến dâng quên đi cả tính mạng của mình. Một tình yêu chịu nghiền nát thành của ăn cho người mình yêu.
Trong bữa tiệc cuối cùng với các môn đệ, Chúa  đã chọn tấm bánh như một biểu trưng, một dấu chỉ cho cả cuộc đời mình. Tấm bánh được làm nên là vì sự sống, vì niềm vui của người khác mà không bao giờ là cho chính bản thân mình. Có thể đó là tấm bánh đơn sơ, dân dã đem lại niềm vui cho trẻ thơ mỗi khi mẹ đi chợ về. Có thể đó là tấm bánh nhỏ bé nhưng vô cùng cần thiết, đem lại sức sống cho người đang đói lả. Bánh có thể được đặt trang trọng trên những bàn tiệc thịnh soạn. Bánh có thể được nâng niu trên đôi tay gầy gò, run rẩy của người hành khất bên vỉa hè. Như thế, Bánh không kén chọn người ăn, và dù là cao cấp hay bình dân, bánh được làm ra là để cho đi chính mình, trao tặng chính mình, để trở nên niềm vui và sức sống cho người khác. Chúa Giêsu đã trở nên tấm bánh thật vừa với tầm tay của tất cả hạng người.
Thật đơn sơ nhưng cũng vô cùng sâu xa, vì tấm bánh nói lên tình yêu tự hiến. Khi xưng mình là bánh, Chúa Giêsu muốn bày tỏ một tình yêu tha thiết, sẵn sàng chịu nghiền nát, chịu tan biến, chịu chết cho nhân loại. Chúa  chịu nhỏ đi để con người được lớn lên. Chúa  chịu hủy hoại cho ta được lành lặn các thương tích. Chúa chịu chết cho ta được sống.
Hơn ba mươi năm đi khắp nẻo đường đời và trên đỉnh cao thập tự giá, Ngài đã sống như một tấm bánh. Tấm Bánh được bẻ ra và trao tặng như một cử chỉ yêu thương. Ngài trở nên Tấm Bánh như một lời mời gọi: “Anh em cầm lấy mà ăn”. Ngài trở nên tấm bánh để từ đây, Thiên Chúa có thể ở lại mãi với con người. 
Hôm nay chúng ta kỷ niệm ngày Chúa lập bí tích Thánh Thể. Bí tích của tình yêu tự hiến. Qua tấm bánh đơn sơ nhưng nói lên tình yêu hiến dâng của Thầy Chí Thánh Giê-su chấp nhận tan biến cho người mình yêu.
Xin cho chúng ta nhận ra tình yêu vô biên của Chúa để sống ngàn đời tri ân. Xin cho cuộc đời chúng ta cũng biết tự hủy chính mình như tấm bánh đem lại niềm vui và hạnh phúc cho người mình yêu. Amen. 

 

 

 

 

LÒNG THƯƠNG XÓT TỎA SÁNG

Lm. Giuse Đỗ Đức Trí 

Trong cái nắng chói chang của sa mạc, người lữ hành vẫn tìm được những ốc đảo có cây cối xum xuê bởi có nguồn nước. Trong cánh đồng khô hạn, thỉnh thoảng người nông dân vẫn bắt gặp những bụi cây ngọn cỏ xanh tươi. Trong một xã hội đầy rẫy sự ác và bất công, người ta vẫn có thể thấy được những tấm lòng bao dung, nhân ái. Cũng vậy, đọc các bài đọc của ngày thứ Năm Tuần Thánh, chúng ta có cảm tưởng như bóng tối của sự dữ, sự ác đang bao trùm, nhưng trong khung cảnh tối tăm đó, lòng thương xót của Thiên Chúa vẫn luôn tỏa sáng.

Câu chuyện xuất hành xảy ra vào thời điểm con cái Israel bị lưu đày tại Aicập. Tương lai của họ như mờ mịt bởi sự đàn áp của các Pharaon. Trong cảnh cùng cực đó, Thiên Chúa là người cha, đã nghe thấu tiếng than khóc của dân con Ngài. Thiên Chúa đã đem đến cho họ một tương lai tươi sáng qua cuộc xuất hành. Ngài đã dùng cánh tay hùng mạnh để bênh vực dân Ngài đã chọn. Để đánh dấu cuộc giải thoát vĩ đại này, Thiên Chúa đã chỉ thị cho Israel phải cử hành một nghi lễ sát tế con chiên vượt qua, lấy máu bôi lên khung cửa. Dấu máu này cho thấy họ thuộc về dân của Thiên Chúa và ai bôi máu chiên lên cửa thì sẽ được giải thoát. Trong đêm đó, Thiên Chúa sẽ đi ngang qua đất Aicập, nhà nào có dấu máu chiên, Thiên Chúa sẽ vượt qua và chúc phúc cho họ, nhà nào không có dấu máu chiên thì sẽ bị tru diệt.

Cuộc xuất hành cùng với nghi lễ ăn tiệc chiên vượt qua đã trở thành niềm tin ăn sâu vào đời sống của người Do Thái. Tất cả mọi người Do Thái đều nhìn biến cố này như một biến cố Thiên Chúa tỏ lòng xót thương đối với họ. Con chiên vượt qua và máu chiên là đấu chỉ cứu dân khỏi chết, đã trở thành biểu tượng rất thiêng liêng mà dân Israel đều ghi nhớ khi tham dự lễ vượt qua hàng năm.

Cũng trong truyền thống đạo đức này, Chúa Giêsu cùng với các môn đệ bước vào bữa tiệc vượt qua. Nếu nghe câu truyện, chúng ta có cảm giác như bóng tối của sự dữ, sự ác đang bao trùm cả không gian qua con người của Giuda, một kẻ đang bị ma quỷ sử dụng. Trong bầu khí rất cảm động và linh thiêng của bữa tiệc ly, Chúa Giêsu biết trước những gì sắp xảy ra cho mình, nên Ngài đã dành tất cả thời gian còn lại trên trần gian để bộc lộ tình thương của Ngài dành cho các môn đệ và cho nhân loại. Từng cử chỉ, từng hành động của Chúa Giêsu là từng cử chỉ, hành động của tình yêu và lòng thương xót đến cùng, là hành động yêu thương của một người thầy dành cho học trò, của một người cha dành cho các con trước lúc ra đi.

Trong bữa ăn đó, Chúa Giêsu đã thực hiện một việc rất lạ lùng. Ngài cầm bánh và chén trao cho các tông đồ và nói với các ông : Đây là mình Thầy, sẽ bị nộp vì các con, các con hãy cầm lấy mà ăn. Đây là máu Thầy, máu Giao Ước Mới, đổ ra để tha tội, các con hãy cầm lấy mà uống và hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy. Hành động này vượt quá sức tưởng tượng của các tông đồ, có lẽ ngay lúc ấy, các ông cũng chưa thể hiểu hết những việc Chúa làm. Qua việc biến bánh và rượu trở nên thịt máu Ngài, Chúa Giêsu muốn được ở lại và ở mãi bên những người mà Ngài yêu thương. Ngài muốn chúng ta đón nhận Ngài như là của ăn, để Ngài có thể đi vào trong tâm hồn từng người, làm nên chất dinh dưỡng nuôi sống con người.

Do tình yêu và lòng thương của một người thầy, người cha thúc đẩy, Chúa Giêsu không còn nghĩ gì đến bản thân mình, Ngài muốn thể hiện đến tận cùng lẽ yêu thương. Không chỉ trở nên của ăn để ở lại mãi với nhân loại, Chúa Giêsu còn trao cho các tông đồ quyền : Hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy. Với lệnh truyền này, Chúa Giêsu đã thiết lập nên chức Linh Mục, trao cho các tông đồ quyền nhân danh Ngài để tiếp tục nối dài tình yêu thương và sự hiện diện của Ngài với nhân loại. Trao cho các tông đồ quyền thể hiện lòng thương xót và sự hy sinh của mình, Chúa Giêsu đã chấp nhận trở nên hoàn toàn lệ thuộc vào các ông. Từ đây, khi các ông làm như Chúa đã làm, thì Chúa hiện diện trong việc làm của các ông. Mặc dù Chúa biết rất rõ, các tông đồ là những kẻ yếu đuối và đầy giới hạn, nhưng Chúa vẫn chọn các ông là những linh mục đầu tiên, để qua sự giới hạn bất toàn của các tông đồ và của các linh mục ngày nay, lòng thương xót của Chúa lại tiếp tục được trao ban cho thế giới.

Các tông đồ chưa hết bất ngờ bởi việc bẻ bánh Chúa Giêsu vừa thực hiện thì lại đến bất ngờ khác. Thánh Gioan thuật lại : Ngài yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian và Người yêu thương họ đến cùng. Yêu đến tột cùng là không còn giới hạn, không còn tiếc gì và cũng không còn giữ lại điều gì cho riêng mình. Tình thương này không chỉ dành cho những người ưu tuyển, nhưng dành cho tất cả mọi người, kể cả Giuđa, kẻ đang bị ma quỷ điều khiển. Chúa Giêsu đã chỗi dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài ra, lấy khăn thắt lưng, đổ nước vào chậu và cúi xuống rửa chân cho các tông đồ. Với hành động này, Chúa Giêsu để cho lòng thương xót vượt trên tất cả, phủ lấp tất cả. Ngài không còn nghĩ gì đến địa vị của một người Thầy. Ngài đã cúi xuống để rửa chân cho các tông đồ, trong đó có Giuđa, kẻ đang nuôi trong lòng sự phản bội mà Chúa Giêsu đã biết.

Simon Phêrô và các tông đồ hết sức ngỡ ngàng đến độ không chấp nhận : Thưa Thầy, không thể như thế, Thầy không thể rửa chân cho con. Đối với người Do Thái, việc rửa chân là việc của nô lệ làm cho chủ, người tự do và con cái không phải làm việc này. Vậy mà, Chúa Giêsu đã xóa hẳn vị thế của mình là một người Thầy, để cúi xuống rửa chân cho các học trò. Điều này vượt quá lý lẽ thông thường của con người, nhưng với lý lẽ của tình yêu và lòng thương xót, thì việc làm này lại là việc làm có lý lẽ riêng của nó.

Khi rửa chân cho các môn đệ xong, Đức Giêsu mặc áo vào, trở về chỗ và nói : Anh em gọi Thầy là thầy, là Chúa, điều đó là phải. Vậy nếu Thầy là thầy, là Chúa mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Bài học từ việc cúi xuống rửa chân đến đây đã rõ. Chúa Giêsu muốn dạy các ông bài học về sự phục vụ. Vì trở thành môn đệ của Chúa, thành những người nối dài tình yêu và lòng thương xót của Chúa, không phải để các tông đồ tìm kiếm một địa vị quyền lợi theo kiểu thế gian, nhưng là phải chấp nhận cởi bỏ con người của mình. Cởi bỏ con người tức là cởi bỏ địa vị, quyền lực, tham vọng, cởi bỏ cả cái tôi kiêu căng và thói tự ái, để có thể cúi xuống phục vụ anh em.

Sự phục vụ mà Chúa Giêsu mong muốn chúng ta làm không phải chỉ là sự phân phát bố thí, nhưng phải làm tất cả những việc đó bằng trái tim yêu thương và bằng sự trân trọng, tôn trọng anh em. Phục vụ tất cả mọi người không trừ ai, kể cả những người đang thù ghét và tìm cách hại mình, như Giuđa đang nuôi trong mình sự phản bội. Anh em cũng phải rửa chân cho nhau, Anh em hãy làm như Thầy đã làmkhông chỉ là một lời mời, mà là một đòi buộc đối với người môn đệ của Chúa. Chúa muốn những ai theo Chúa cũng phải dám cúi xuống để rửa chân phục vụ anh em mình. Chỉ khi dám cúi xuống mới có thể phục vụ đúng theo gương của Thầy Giêsu, chỉ khi cúi xuống chúng ta mới có thể nhìn thấy những nhu cầu của anh chị em để có thể cảm thông và chia sẻ.

Thưa quý OBACE, cử hành lễ Tiệc Ly hôm nay, chúng ta chiêm ngắm và cảm nhận một tình yêu trao ban đến tận cùng của Chúa Giêsu. Ngài đã ban tặng máu thịt làm của ăn của uống nuôi nhân loại. Ngài còn trao ban cả tự do và trọn con người của mình cho các tông đồ, khi lập Bí tích Truyền Chức. Ngài trao cho các ông quyền làm cho Ngài được hiện diện cách bí tích nơi trần gian cho đến ngày tận thế. Trước tình yêu trao ban lớn lao như thế, chúng ta được mời gọi đáp lại bằng việc đón rước Ngài một cách quảng đại, để cho Ngài đi vào tâm hồn và cuộc đời, để cho Ngài chiếm hữu và làm chủ đời ta.

Chúng ta cũng cầu nguyện cho các linh mục, các ngài chỉ là người phàm, mang đầy yếu đuối, nhưng lại được chọn để chia sẻ vào quyền năng của Thiên Chúa. Các linh mục được mời gọi để nhân danh Chúa, yêu thương và tiếp tục hiến tế cuộc đời mình cho anh em, theo gương Thầy Giêsu. Các linh mục đang từng ngày thánh hiến bản thân, nhưng vẫn không giũ hết khỏi mình sự lấm lem do yếu đuối. Chúng ta thông cảm, nâng đỡ và cầu nguyện cho các ngài.

Xin cho chúng ta thấm nhuần bài học phục vụ Chúa đã nêu gương, để trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta cũng biết dẹp khỏi mình sự kiêu căng xét đoán, sự dửng dưng vô cảm, để biết cúi xuống phục vụ anh chị em. Xin cho chúng ta có một đôi mắt thật sáng để có thể nhìn thấy những nhu cầu và những đau khổ của anh em, để có thể có cái nhìn cảm thông. Xin cho chúng ta có một đôi tay giang rộng để có thể ôm ấp mọi người, để xoa dịu những đau khổ của kiếp người. Xin cho chúng ta có một đôi chân dẻo dai để có thể bước đến với anh em, xóa bỏ mọi ngăn cách nghi kỵ, hờn dỗi, để có thể đem tình yêu thương của Chúa đến cho họ. Amen.

 

 

 

 

SUY NIỆM THỨ NĂM TUẦN THÁNH

Lm. Giuse Trực

Chiều hôm nay có thể gọi một cách văn hoa là “chiều ly biệt”. Nhưng tôi thích gọi là “buổi chiều xé nát con tim”. Quả thật buổi chiều hôm nay làm cho con tim của Chúa phải nhiều lần chết nghẹt vì xúc động. Tất cả chỉ vì Ngài quá yêu thương: “Đức Giêsu biết giờ của người đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thượng họ đến cùng” (Ga 12, 1).

Trước tiên là sự kiện Chúa Giêsu lập bí tích Thánh Thể. Đây là sáng kiến độc nhất vô nhị trong toàn thể vũ trụ này. Chỉ một mình Thiên Chúa với tình yêu thương mới có thể nghĩ ra cách thức để được ở lại với con người. Đây là một tình yêu hiến mình.

Kế đến là việc Chúa Giêsu lập bí tích Truyền chức thánh để thông ban chức linh mục cho một số người Chúa tuyển chọn, với mục đích có người là hình ảnh của Chúa ở trần gian này, và thực hiện hành động ban phát lương thực là chính Mình Máu Ngài để nuôi sống những con người yêu thương, muốn sống gắn bó với Ngài. Đây là một tình yêu trao ban.

Cuối cùng là hành động quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ như một người đầy tớ phục vụ cho chủ mình. Chúa muốn để lại cho các môn đệ và mỗi người chúng ta bài học về tình yêu phục vụ.

Lạy Chúa, đứng trước tình yê hiến mình, tình yêu trao ban và tình yêu phục vụ, con được mời gọi đáp trả lại tình yêu của Chúa để trở nên giống Chúa trong việc hy sinh hiến mình, trong việc trao ban tình yêu và phục vụ tha nhân. Con hy sinh cho gia đình con. Con trao ban hết tình yêu của con cho những người mà con gặp gỡ, nhất là những người thân trong gia đình. Con phục vụ hết thảy mọi người trong môi trường con đang sống. Lạy Chúa xin cho con biết lấy tình yêu đáp đền tình yêu. Cũng xin cho con biết lấy tình yêu xóa bỏ hận thù và khơi thông tình thương mến.

 

 

 

 

PHẢI RỬA CHÂN CHO NHAU

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu

SUY NIỆM

Người biết mình sắp qua đời thường để lại di chúc cho con cái.
Di chúc nói lên ước nguyện, lời nhắn nhủ hay lệnh truyền của người sắp ra đi.
Có thể nói Thầy Giêsu khi biết cuộc Khổ Nạn gần đến
cũng đã để lại một di chúc kép cho các môn đệ dấu yêu :
Ngài đã rửa chân cho các môn đệ và nhất là Ngài đã lập bí tích Thánh Thể.
Thứ Năm Tuần Thánh là ngày chúng ta đặc biệt nhớ đến di chúc ấy.
Sống di chúc của Chúa Giêsu là cách biểu lộ tình yêu đối với Ngài.

Có nhiều điểm giống nhau nơi việc Rửa chân và lập Bí tích Thánh Thể.
Cả hai đều là những cử chỉ Thầy Giêsu làm lúc cận kề cái chết.
Cả hai đều được làm trong bầu khí một bữa ăn tối gần lễ Vượt Qua.
Vào lúc cuối đời, sau bao năm tận tụy với sứ mạng phục vụ,
Thầy Giêsu muốn gói ghém trong hai cử chỉ đơn giản ấy lễ hiến dâng đời mình.
Cả hai đều tượng trưng cho cái chết tự hạ trên thập giá.
Rửa chân đòi Thầy phải cúi xuống rất sâu, phải trở thành tôi tớ phục vụ.
Rửa chân là điều mà tôi tớ không hẳn phải làm cho chủ,
thì bây giờ Thầy làm cho trò.
Cái chết trên thập giá là sự phục vụ cao nhất được diễn tả qua việc rửa chân.
Bí tích Thánh Thể còn diễn tả cách tuyệt vời hơn cái chết hy sinh ấy.
Trong bí tích này, tấm bánh trở nên Mình Thầy bị bẻ ra và trao đi.
Rượu trở nên Máu Thầy, Máu sẽ bị đổ ra cho muôn người trên thế giới.

Trong cả hai biến cố Rửa chân và Bí tích Thánh Thể,
Thầy Giêsu đều mời các môn đệ tham dự cách tích cực.
Tham dự vào cái chết của Thầy bằng cách để cho Thầy rửa chân,
hay tham dự bằng cách ăn uống Mình và Máu Ngài.
Hai biến cố trên không phải là chuyện chỉ xảy ra một lần bởi Thầy Giêsu.
Thầy mời các môn đệ cũng làm như Thầy, và lặp đi lặp lại những cử chỉ đó.
“Anh em cũng phải rửa chân cho nhau” (Ga 13, 14).
“Anh em hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy (Lc 22, 19).
Cúi xuống phục vụ tha nhân và lãnh nhận Bí Tích Thánh Thể
sẽ giúp chúng ta tham dự vào cái chết và sự Phục sinh của Chúa Giêsu.

Muốn ở lại trong tình thương của Thầy Giêsu,
cần giữ lệnh Thầy truyền (Ga 15, 10).
Mà “đây là lệnh truyền của Thầy, anh em hãy yêu thương nhau
như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15, 12).
Hơn nữa, Thầy Giêsu còn cho ta một cách khác để ở lại trong Thầy :
“Ai ăn Thịt và uống Máu tôi, thì ở lại trong tôi,
và tôi ở lại trong người ấy” (Ga 6, 56).

Thứ Năm Tuần Thánh là ngày lễ của Tình Yêu theo đúng nghĩa nhất.
Yêu là cúi xuống phục vụ, yêu là bẻ đời mình cho tha nhân như Thầy Giêsu.
Ước gì chúng ta được ở lại trong tình yêu của Giêsu nhờ biết yêu.

LỜI NGUYỆN

Lạy Thầy Giêsu,
khi Thầy rửa chân cho các môn đệ
chúng con hiểu rằng Thầy đã làm một cuộc cách mạng lớn.
Thày dạy chúng con một bài học rất ấn tượng
khi Thầy bưng chậu nước, bất ngờ đến với các môn đệ trong bữa ăn,
khi Thầy cúi xuống, dùng bàn tay của mình để rửa chân rồi lau chân cho họ.
Chắc Thầy đã nhìn thật sâu vào mắt của từng môn đệ và gọi tên từng người.
Giây phút được rửa chân là giây phút ngỡ ngàng và linh thánh.

Lạy Thầy Giêsu,
thế giới chúng con đang sống rất thấm bài học của Thầy.
Chúng con vẫn xâu xé nhau chỉ vì chức tước và những đặc quyền, đặc lợi.
Ai cũng sợ phải xóa mình, quên mình.
Ai cũng muốn vun vén cho cái tôi bất chấp lương tri và lẽ phải.
Khi nhìn Thầy rửa chân, chúng con hiểu mình phải thay đổi cách cư xử.
Không phải là ban bố như một ân nhân, nhưng khiêm hạ như một tôi tớ.
Từ khi Thầy cúi xuống rửa chân cho anh Giuđa, kẻ sắp nộp Thầy,
chúng con thấy chẳng ai là không xứng đáng cho chúng con phục vụ.

Lạy Thầy Giêsu,
Thầy để lại cho chúng con một di chúc bằng hành động.
Thầy đã nêu gương cho chúng con noi theo,
để rửa chân chẳng còn là chuyện nhục nhã, nhưng là mối phúc.
Xin cho chúng con thấy Thầy vẫn cúi xuống trên đời từng người chúng con,
để nhờ đó chúng con có thể cúi xuống trên đời những ai khổ đau bất hạnh.

 

 

 

 

ĐỈNH CAO CỦA MẦU NHIỆM CỨU ĐỘ LÀ TÌNH YÊU

Jos. Vinc. Ngọc Biển

Trong cuộc sống, nơi các gia đình, nhất là văn phong của Việt Nam, chúng ta rất coi trọng bữa ăn. Nơi bữa ăn, niềm vui, nỗi buồn, thành công hay thất bại, thường hay được giải quyết. Có những bữa ăn để chia tay; có những bữa ăn để lên đường. Chia tay hoặc lên đường thường hay để lại nhiều kỷ niệm nơi người đi và kẻ ở!

Hôm nay, Đức Giêsu quy tụ các Tông đồ là những người thân tín với Ngài trong suốt chặng đường rong ruổi loan báo Tin Mừng. Ngài quy tụ họ, để trao lại cho họ một tặng phẩm thần linh là Bí tích Thánh Thể và truyền cho các ông hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Ngài. Qua đó, như một sự hiện hữu sau khi chết, để khi còn sống, Đức Giêsu ở cùng với các ông thế nào, thì ít ngày nữa thôi, Ngài cũng hiện diện và ở lại với các ông cách vô hình nhưng trọn vẹn nơi Bí tích cao trọng là chính Thánh Thể Ngài. Mặt khác, qua bữa tiệc này, phần cuối cùng của bữa tiệc, Đức Giêsu hành động và  trăng trối những lời tâm huyết để xây dựng cộng đoàn Giáo Hội đó là: “Luật yêu thương”. 

  1. Một tặng phẩm cao quý được trao tặng

Nếu trong cuộc sống, hai người yêu nhau, họ thường có những lời lẽ chân tình, ấm áp để thể hiện tình yêu của mình cho người mình yêu. Khi đi xa, người ta hay trao tặng cho nhau những kỷ vật trân quý, để dù xa mặt chứ lòng thì không. Qua món quà đó, với người đón nhận thì tặng vật đó không chỉ đơn thuần là một kỷ niệm, nhưng nó còn là sự hiện hữu của chính người tặng quà.

Cũng vậy, khi Đức Giêsu biết “giờ” của mình sắp trở về với Thiên Chúa Cha, nên Ngài đã yêu thương họ đến cùng khi trao ban chính thân mình làm của nuôi sống môn sinh.

Chiều hôm nay, chúng ta kỷ niệm việc Đức Giêsu lập Bí tích Thánh Thể. Đây là Bí tích cao trọng nhất trong 7 Bí tích. Cao trọng bởi vì qua Bí tích này, Đức Giêsu hiến dâng thân mình làm của  ăn của uống để nuôi sống nhân loại và ở cùng chúng ta mọi ngày cho đến tận thế. Ngài yêu thương và yêu hết mình. Yêu đến nỗi bằng lòng chịu chết để miễn sao người mình yêu được hạnh phúc.

Thật vậy, Ngài đã trao ban chính Thân Mình làm bảo vật, để mỗi khi các Tông đồ cũng như những người tin, cử hành và tưởng nhớ, thì Ngài hiện diện cách trực tiếp nơi mầu nhiệm cử hành. Khi đó, Đức Giêsu trở nên đồng hình đồng dạng với người đón nhận, để từ đây, trong ta có Chúa và trong Chúa có ta. Ôi, còn gì cao quý và hạnh phúc cho bằng ta được thông phần vào bản tính Thiên Chúa với Đấng là Thiên Chúa nhưng lại chia sẻ thân phận con người với chúng ta!

Lời cầu nguyện của Đức Giêsu với Chúa Cha làm toát lên đặc tính kỳ diệu này:“ … như, lạy Cha, Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta. Như vậy, thế gian sẽ tin rằng Cha đã sai con” (Ga 17,21). Giáo Hội tiếp diễn ý nghĩa hiệp thông với mọi thành phần khi đã liên kết với Đức Giêsu, qua Kinh Tiền Tụng Thánh Thể: “Chúng con nài xin Chúa cho chúng con khi thông phần Mình và Máu Đức Kitô, được quy tụ nên một nhờ Chúa Thánh Thần”. 

Qua Bí tích này, mỗi người được hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa thông qua bản thể Đức Giêsu trong Bí tích Thánh Thể, đồng thời cũng được liên kết chặt chẽ với nhau trong cùng một thân thể.

 

2. Một dấu tích sống động được tiếp diễn

Sau khi Chúa Giêsu thiết lập Bí tích Thánh Thể, ngài đã thiết lập Bí tích Truyền Chức liền sau đó như một sự liên hệ, liền mạch và mật thiết với nhau. Đúng thế, không thể có Thánh Thể nếu không có người cử hành Thánh Thể. Vì thế, Đức Giêsu đã trao ban thừa tác vụ đặc biệt cho các Tông đồ, để sau này, các ông sẽ đảm trách những việc làm như Đức Giêsu vừa làm cho đến ngày tận thế.

Thoạt mới nghe, chúng ta dễ tưởng lầm là Bí tích này chỉ có liên hệ hay dành riêng cho các linh mục? Nhưng không! Bí tích này liên hệ chặt chẽ với cộng đoàn, bởi vì Bí tích này thuộc về nhóm Bí tích xây dựng cộng đoàn.

Thật thế, chức vụ linh mục không phải cho bản thân mình, vì các ngài không thể tha tội cho mình, các ngài cũng không thể ban phát các Bí tích cho mình. Vì thế, linh mục là của mọi người, cho mọi người và vì mọi người.

Nếu Đức Giêsu trước kia đã đến để cho con chiên được sống dồi dào, thì ngày nay các linh mục cũng được trao ban trách vụ như thế. Ôi huyền nhiệm và cao quý vô lường! Qua Bí tích Truyền Chức, Đức Giêsu hiện diện cách trực tiếp khi các linh mục cử hành phụng vụ trong vai trò đại diện cho Đức Giêsu là Đầu của thân thể. Và, như thế, mỗi người chúng ta luôn được các ngài chăm sóc, nên không bị rơi vào tình cảnh bơ vơ, mồ côi vì không người chăn dắt. Các ngài sẽ thay mặt Chúa, thi hành việc của Chúa trong vai trò lãnh đạo, phục vụ và thánh hóa vì tình yêu.

 

3. Một lời trăng trối tâm huyết muôn đời nhớ mãi

Cũng chiều hôm nay, mỗi chúng ta quây quần nơi đây, để nghe đọc lại di ngôn và lệnh truyền của Đức Giêsu về tình yêu. Lệnh truyền này mang tính khẩn trọng, người môn đệ phải có thái độ mau mắn thi hành. Vì thế, đòi hỏi một sự bất khả từ, bởi lẽ đây là điểm sáng, là cốt lõi, là bản chất thiết yếu của người mang danh Đức Kitô trong mình.

Thật vậy, Đức Giêsu không chỉ trao ban chính Thân Mình để nuôi sống nhân loại, mà Ngài còn dạy cho các Tông đồ bài học về tình yêu, để đưa các ông vào qũy đạo của chính Ngài là “yêu và yêu đến cùng”. 

Ngài nói: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13, 34). Yêu như Thầy là yêu như thế nào? Thưa yêu như Thầy chính là trở thành người tôi tớ phục vụ, là chấp nhận chết cho người khác được sống. Không những dạy các ông bằng lời, mà Ngài còn làm gương cho các ông noi theo. Vì thế, ngay lập tức, Ngài đứng lên, cởi áo choàng, thắt lưng, lấy nước rửa chân cho từng Tông đồ trước sự ngỡ ngàng của các ông. Ngỡ ngàng là phải, vì hành vi rửa chân là việc làm của người nô lệ dành cho ông chủ. Nhưng hôm nay, Đức Giêsu đã làm đảo lộn vai trò và vị trí khi tự làm những việc dành cho người hầu hạ, và các Tông đồ trở nên những ông chủ.

Sau khi đã rửa chân cho các ông, Đức Giêsu nói tiếp: “Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em” (Ga 13, 14-15). Qua hành động rửa chân cho các Tông đồ, Đức Giêsu để lại cho các ông bài học về đức khiêm nhường và phục vụ. Tuy nhiên, để thực hiện được hai nhân đức này thì cần phải có tình yêu làm động lực.

Tình yêu thương được hiện lên như một ngọn hải đăng giữa biển khơi tăm tối, giúp cho mọi người nhận ra đường để đi và đi đến nơi an toàn. Vì thế Đức Giêsu đã dạy cho các ông biết trước viễn cảnh trong tương lai khi nói: “… mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy: là anh em có lòng yêu thương nhau” (Ga 13, 35).

 

4. Sống linh đạo Thánh Thể và thực hiện lời trăng trối của Đức Giêsu 

Thánh Phaolô nói: “Thật vậy, cho tới ngày Chúa đến, mỗi lần ăn Bánh và uống Chén này, là anh em loan truyền Chúa đã chịu chết”  (1 Cr 11, 26).

Là người kitô hữu, chúng ta tin Chúa, yêu Chúa và đều mong muốn được ơn cứu độ, thì không có lẽ gì chúng ta không sống linh đạo Bí tích này.

Nếu muôn ngàn hạt lúa kết thành tấm bánh, bao trái nho ép thành chén rượu, tượng trưng cho sự hiệp nhất của con cái Chúa, thì mỗi người chúng ta cũng phải hiệp nhất với nhau như vậy.

Muốn được như thế, tinh thần sống mầu nhiệm tự hủy của hạt lúa, trái nho luôn mời gọi và thôi thúc chúng ta thi hành.

Trong đời sống gia đình, người chồng phải là người chồng mẫu mực, sẵn sàng hy sinh gánh vác vì tình yêu với vợ và các con. Người vợ hãy hết lòng lo cho con cái, chăm lo cho chồng và con tử tế. Con cái biết ngoan ngoãn nghe lời cha mẹ… Làm được như thế, ấy là chúng ta đang thực hiện di ngôn của Đức Giêsu trong tinh thần hy sinh và phục vụ.

Nếu không yêu thương nhau, thì chẳng khác chi hạt lúa mì trơ trọi một mình, không sinh hoa trái. Nhưng yêu thương những người lân cận với mình thôi thì chưa đủ, mà phải yêu thương hết mọi người như Đức Giêsu đã yêu. Ngài đã không loại trừ Giuđa là kẻ rồi đây sẽ bán mình; không bỏ lại Phêrô là người sẽ thề sống thề chết không biết mình; không lên án và trách móc những người hại mình, mà: “Lạy Chúa, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23, 34)

Mong sao sứ điệp Lời Chúa hôm nay luôn ở bên tai, qua hành động và trong trái tim của chúng ta, để chúng ta yêu và yêu không giới hạn như Đức Giêsu. 

Lạy Chúa Giêsu, chúng con xin tạ ơn Chúa đã để lại cho chúng con Bí tích kỳ diệu là chính Thánh Thể Chúa làm của ăn của uống cho mỗi chúng con. Xin cho chúng con biết yêu mến, tin tưởng và mau mắn loan truyền cho tới khi Chúa đến trong vinh quang. Xin cũng cho mọi suy nghĩ và hành động của chúng con được tình yêu làm căn cốt và thúc đẩy, để như Chúa, chúng con yêu rồi mới làm. Amen. 

 

 

 

 

 

KỶ VẬT TÌNH YÊU

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Phụng vụ chiều Thứ Năm Tuần Thánh, Giáo hội cử hành Bí tích Thánh Thể do Chúa Giêsu thiết lập vào sau bữa tối cuối cùng với các Tông Đồ trong nhà Tiệc Ly, trước đêm hấp hối trong Vườn Cây Dầu, để muôn đời tưởng nhớ tới sự hiện diện thực sự của Người giữa chúng ta. Đây là Thánh lễ sau hết được cử hành trước Đêm Vọng Phục Sinh Thứ Bẩy Tuần Thánh. Vì là Lễ sau hết nên lúc hát Kinh Vinh Danh, các chuông nhà thờ reo lên, và sẽ chỉ reo lại vào đúng lúc hát Kinh Vinh Danh trong Đêm Vọng Phục Sinh. Sau Thánh lễ chiều nay, các khăn bàn thờ đều được lột sạch, các chân nến và thánh giá được cất đi, người ta không còn trưng hoa nữa để loan báo ngày đại tang của Giáo hội và cũng ngụ ý nói rằng, Giáo hội không cử hành lễ nào nữa cho đến ngày Chúa Kitô sống lại.

Cử hành Cuộc Khổ Nạn và Phục Sinh của Đức Kitô là mục đích của Tam Nhật Vượt Qua. “Chúng ta phải hãnh diện về thập giá Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Nơi Người, ta được giải thoát, được sống và được sống lại ; chính Người giải thoát và cứu độ ta” ( Ca nhập lễ ).

Trước ngày Lễ Vượt Qua, Chúa Giêsu biết đã đến giờ Mình phải bỏ thế gian mà về cùng Chúa Cha, Người vốn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn đang ở thế gian, thì đã yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1-2)Chúa Giêsu đã yêu thương các môn đệ, thì Người đã yêu họ đến cùng một cách kinh ngạc. Thật không có hành động nào khác để diễn tả yêu thương cho bằng tình yêu. Cũng như các môn đệ, Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta đến nỗi không có ngòi bút nào trên trần gian này có thể diễn tả hoặc viết ra hết được tình yêu thương ấy, trong những ngày cuối đời của “kiếp người” lầm than và cay đắng. Vì yêu, Chúa Giêsu đã lập Bí tích Thánh Thể, lấy chính Thịt Máu Mình làm của ăn của uống nuôi dưỡng chúng ta. Để tiếp tục yêu thương và tha thứ, Chúa thiết lập thiên chức Linh mục đời đời. Và cũng chính hôm nay, Chúa truyền dạy chúng ta phải yêu thương nhau như Chúa đã yêu. Tất cả chẳng phải là Kỷ Vật Tình Yêu Thiên Chúa để lại cho chúng ta đó hay sao?

Các con hãy lãnh nhận mà ăn, này là Mình Ta… Các con hãy cầm lấy mà uốngchén này là Tân ước trong Máu Ta” (1 Cr 11, 24-25). Thật không thể hiểu nổi, Thiên Chúa yêu nhân loại biết là chừng nào. Người đã yêu bằng một Tình Yêu trao ban, hy sinh và tận hiến. Khi lập Phép Thánh Thể, Chúa hiến chính thân mình làm lượng thực nuôi dưỡng chúng ta, ở với chúng ta mọi ngày cho đến tận thế. Không những thế, Chúa còn cho chúng ta tham dự vào sự sống của chính Chúa khi rước Mình và Máu Thánh Ngài, để được sống đời đời.

Chưa hết, thiết lập Bí tích Thánh Thể xong, Chúa Giêsu cũng lập luôn Bí tích Truyền Chức Thánh. Chúa nói với các Tông Đồ hiện diện : “Các con hãy làm việc này để nhớ đến Thầy” (Lc 22, 19 ;1 Cr 11, 24). Với lời trên, cho thấy Thiên Chúa yêu thương và tín nhiệm con người, trao cho con người tiếp tục việc làm yêu thương ấy. Mặc dù phàm nhân bất xứng, Chúa vẫn ủy thác cho sứ mạng thay mặt Chúa hiện tại hóa Hy tế Thập giá trên bàn thờ mỗi ngày, tất cả chỉ vì yêu.

Sau khi rửa chân cho các môn đệ, một lần nữa, Người mời gọi chúng ta : “Thầy đã làm gương cho các con, để các con cũng bắt chước mà làm như Thầy đã làm cho các con” (Ga 13,15). Bằng cách này, Người thiết lập một sự liên kết thân mật giữa Bí tích Thánh Thể, Bí tích của quà tặng hy sinh và huấn lệnh yêu thương.

Hôm nay, kỷ niệm ngày Chúa Giêsu thiết lập thiên chức Linh mục, chúng ta có nhiều dịp nhắc đi nhắc lại một câu rất sâu sắc nhưng cũng cần phải tìm hiểu thêm : Không có Thánh Thể thì không có chức Linh mục – không có chức Linh mục thì cũng không có Bí tích Thánh Thể (chỉ một lần rồi thôi). Hai điều đó liên kết chặt chẽ với nhau nhờ đức bác ái. Không thể tham dự Thánh Thể nếu không có Tư Tế, nhưng cũng không thể tham dự Thánh Thể nếu không có đức bác ái và sự tha thứ. Trong Bí tích Thánh Thể, tất cả chúng ta đều tham dự vào một Mình Thánh, một Máu Thánh. Trở nên một, chúng ta không còn tách biệt được nữa.

Ai tham dự bàn tiệc của Chúa thì người đó không thể tách rời khỏi bổn phận yêu thương anh em. Mỗi lần chúng ta tham dự Bàn tiệc Thánh Thể, chúng ta thưa “Amen” trước Mình và Máu Thánh Chúa, như thế chúng ta cam kết thực hiện điều Ðức Kitô đã làm, là “rửa chân” cho anh chị em, trở nên một hình ảnh thực sự và tỏ tường của Ðấng “đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ”(Phil 2,7).

Tình yêu là kỷ vật cao quý nhất mà Ðức Kitô để lại cho những ai được Người kêu gọi bước theo. Chính tình yêu của Người, được chia sẻ bởi các môn đệ, là điều được ban tặng cho tất cả nhân loại trong buổi chiều nay.

Thánh Thể là Kỷ Vật tuyệt đỉnh của tình yêu, một ơn cao cả, nhưng cũng là một trách nhiệm lớn lao cho những ai tiếp nhận. Ðứng trước Phêrô, người đã từ chối không chịu để được rửa chân, Ðức Giêsu đã nhấn mạnh đến nhu cầu phải nên thanh sạch để có thể dự phần vào bàn tiệc Thánh Thể.

Nghi thức rửa chân nói lên sự khiêm tốn của mình đối với người khác, nhìn nhận rằng mình là người có tội, nếu có điều gì là do tôi chứ không phải do anh em, tha nhân thật sự là anh em của tôi. Bác ái không phải là chối từ việc người khác không có lỗi, nếu lỗi là có lỗi với Chúa. “Rửa chân cho nhau” chứ không phải rửa chân cho người trên hay cho người dưới, tất cả đều là tha thứ, yêu thương và giúp đỡ nhau.

Chúng ta cầu xin Chúa cho Thánh lễ cử hành chiều hôm nay, đưa chúng ta vào trong mầu nhiệm của Bí tích Thánh Thể, mầu nhiệm của thiên chức Linh mục, và giới răn trọng nhất là bác ái yêu thương. Chúng ta cố gắng ghi nhớ những điều này để đưa vào trong cuộc sống hàng ngày của mỗi người. Amen.

 

 

 

 

DẠ TIỆC ÂN TÌNH

Trầm Thiên Thu

Lễ Vượt Qua hay lễ Quá Hải (Anh ngữ là Passover) là lễ quan trọng nhất của người Do Thái, kéo dài một tuần. Chiều ngày 14 tháng Ni-xan (khoảng tháng Ba, tháng Tư dương lịch), người ta sát tế chiên (cừu) tại đền thờ, rồi tư tế lấy máu chiên mà đổ dưới chân bàn thờ. Khi đêm xuống, người ta sẽ ăn tiệc Chiên Vượt Qua theo gia đình hay theo nhóm, rồi lấy chút máu chiên bôi lên cửa nhà.

Lễ Vượt Qua được cử hành như một cuộc tưởng niệm nhằm giúp mỗi người sống lại kinh nghiệm của cha ông họ được giải phóng khỏi ách nô lệ Ai Cập xưa kia. Trong bữa tiệc, người ta ăn thịt chiên với bánh không men và rau đắng (Xh 12:14), ngoài ra, họ cũng uống với nhau bn chén rượu đã được vị chủ tọa bữa tiệc chúc lành để kỉ niệm bn li ha của Thiên Chúa với dân Do Thái: [1] Ta sẽ đem các ngươi ra từ ách của Ai Cập; [2] Ta sẽ giải thoát các ngươi khỏi cảnh làm tôi mọi chúng; [3] Ta sẽ giương cánh tay mà chuộc lấy các ngươi; [4] Ta sẽ lấy các ngươi làm dân Ta, và Ta sẽ là Thiên Chúa các ngươi. Cuối bữa tiệc này, mọi người cùng hát Thánh Vịnh.

Bữa Tiệc Ly là Dạ Tiệc Vượt Qua, Chúa Giêsu dùng bữa với các môn đệ. Trong bữa tiệc này, Ngài làm hai điều quan trọng và kỳ lạ: thiết lập Bí Tích Thánh Thể và Ngài đích thân rửa chân cho các môn đệ. Cả hai hành động đó là dấu chỉ của yêu thương, của lòng thương xót.

Vậy yêu thương là thế nào? Yêu thương là CHO hay NHẬN? Có ai cân-đo-đong-đếm được tình yêu đâu mà sao biết kẻ yêu ít, người yêu nhiều?

Xưa nay, từ cổ chí kim, chưa có một định nghĩa nào về tình yêu trọn vẹn nhất khiến người ta thỏa mãn. Chữ Yêu rất đơn giản mà cũng rất nhiêu khê. Chỉ có một tình yêu đích thực nhưng được nhìn với nhiều lăng kính, mỗi người yêu mỗi cách và mức độ cũng rất khác nhau. Nói chung, yêu là CHO nhiều hơn NHẬN, yêu đến quên mình, đó mới là Tình Yêu chân chính, thế nên người ta mới nói “yêu là chết trong lòng”. Yêu là khổ, không khổ không là yêu, khổ đến “chết” mới là yêu! Không chỉ “chết trong lòng” mà chết thật, vì có những người đã dám liều chết vì quá yêu!

Việt Nam có chuyện tình Đồi Thông Hai Mộ và chuyện tình Lan và Điệp, còn Tây phương có chuyện tình Romeo và Juliet. Những chuyện tình thật lãng mạn và đẹp nhưng cũng đầy chất bi thương!

Yêu là khổ, không yêu thì lỗ, nên người ta cương quyết “thà chịu khổ hơn chịu lỗ”. Những người đó “ngon” thật và can đảm thật! Người ta còn gọi đó là “thú đau thương”. Đau thương mà lại “thú vị”, yêu như điên, đó mới là yêu thật lòng, vị tha chứ không vị kỷ. Chúa Giêsu đã xác định: “Không có tình thương nào cao c hơn tình thương ca người đã hy sinh tính mng vì bn hu ca mình” (Ga 15:13). Sau những ngày tháng hoang đàng, Thánh Giám mục Tiến sĩ Augustinô đã hối tiếc: “Con yêu Chúa quá mun màng”, và rồi thánh nhân nói thêm: “Mc đ yêu Chúa là yêu vô hn”. Một mức độ kỳ lạ: giới hạn của yêu thương là yêu-không-giới-hạn!

Yêu thương liên quan hai động thái cần thiết: Vâng Phục và Phục Vụ.

VÂNG PHC VÌ YÊU THƯƠNG

Trình thuật Xh 12:1-8, 11-14 cho biết các chi tiết: Đc Chúa phán vi ông Môsê và ông Aharon trên đt Ai Cp: “Tháng này, các ngươi phi k là tháng đng đu các tháng, tháng th nht trong năm. Hãy nói vi toàn th cng đng Ít-ra-en: Mng mười tháng này, ai ny phi bt mt con chiên cho gia đình mình, mi nhà mt con. Nếu nhà ít người, không ăn hết mt con, thì chung vi người hàng xóm gn nhà mình nht, tuỳ theo s người. Các ngươi s tuỳ theo sc mi người ăn được bao nhiêu mà chn con chiên. Con chiên đó phi toàn vn, phi là con đc, không quá mt tui. Các ngươi bt chiên hay dê cũng được. Phi nht nó cho ti ngày mười bn tháng này, ri toàn th đi hi cng đng Ít-ra-en đem sát tế vào lúc xế chiu, ly máu bôi lên khung ca nhng nhà có ăn tht chiên. Còn tht, s ăn ngay đêm y, nướng lên, ăn vi bánh không men và rau đng”. Luật cũ chú trọng cách sống tự nhiên của con người, và cách hành lễ cũng “thực tế” hơn ngày nay, nhưng đó là thể hiện sự vâng lời – vâng lời Chúa nghĩa là yêu mến Chúa.

Học ăn, học nói, học gói, học mở. Đầu tiên là phải học ăn. Cách ăn cũng có luật: lưng thắt gọn, chân đi dép, tay cầm gậy. Cách ăn “lạ” nhất là “phải ăn vội vã”, vì đó là lễ Vượt Qua mừng Đức Chúa. Đêm ấy Thiên Chúa rảo khắp đất Ai Cập, sát hại các con đầu lòng trong đất Ai Cập, từ loài người cho đến loài thú vật, và sẽ trị tội chư thần Ai Cập. Nghe vậy chúng ta cảm thấy Chúa “dữ tợn” quá. Nhưng không, luật cũ là luật tự nhiên, những gì là “đầu tiên” được dành ưu tiên cho Thiên Chúa, gọi là “của lễ đầu mùa”, kể cả con đầu lòng. Ngày nay, một số dân tộc vẫn có cách mừng thu hoạch như lễ mừng lúa mới, lễ mừng thu hoạch,…

Vết máu bôi trên nhà là dấu hiệu vâng phục, tức là “giữ luật”, và là “dấu hiệu tình yêu”. Những người trong nhà đó sẽ không bị tai ương tiêu diệt khi Thiên Chúa giáng hoạ trên đất Ai Cập. Ngày đó được chọn làm ngày tưởng niệm, ngày đại lễ mừng Đức Chúa. Đó là luật quy định cho đến muôn đời. Luật đó là hồng ân Chúa ban. Ngài ban đủ thứ ân sủng để con người đủ sức “vượt qua” biển đời. Thiên Chúa YÊU nhiều nên CHO nhiều, còn chúng ta NHẬN quá nhiều mà yêu chẳng bao nhiêu, thế nên:

Ly chi đáp đn Chúa đây

Vì bao ân hu chính Ngài đã ban? (Tv 116:12)

Dù thật lòng muốn đền đáp ơn Chúa nhưng chẳng có gì để dâng, nếu có thì cũng chẳng có gì xứng đáng. Thân phận bụi tro mọn hèn cả dám thân thưa:

Con nâng chén hng ân cu đ

Mà xưng tng danh Chúa mãi thôi (Tv 116:13)

Thời quân chủ, thần dân không được ngước nhìn Long Nhan, ai nhìn sẽ bị tội khi quân và phải chết. Thần dân muốn tâu trình điều gì phải quay hướng khác và không được tâu trực tiếp mà chỉ được tâu với cái “bệ rồng” Vua ngồi: “Muôn tâu b h. Thế nhưng, đối với Thiên Chúa là Vua các vua và Chúa các chúa, thân sâu bọ chúng ta lại được diện kiến Tôn Nhan thì quả là vô cùng diễm phúc: “Trước Thánh Nhan tht là quý giá, cái chết ca nhng ai hiếu nghĩa vi Ngài” (Tv 116:15). Chúng ta chỉ là tôi tớ Ngài, con của nữ tỳ Ngài, thế mà lại được diễm phúc thì phải ghi lòng tạc dạ thâm ân này: “Con s dâng hiến l t ơn mà xưng tng danh Chúa” (Tv 116:17), đồng thời phải chân thành tự thề hứa: “Li khn nguyn vi Chúa, con xin gi trn, trước toàn th Dân Ngài” (Tv 116:18).

PHC V VÌ YÊU THƯƠNG

Biết thì phải chia sẻ cho người khác, trừ khi người ta không muốn được chia sẻ. Chia sẻ là một dạng yêu thương: cho, tặng, biếu. Chính Thánh Phaolô đã xác nhận: “Điu tôi đã lãnh nhn t nơi Chúa, tôi xin truyn li cho anh em” (1 Cr 11:23). Rồi ngài kể lại việc Chúa Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng tạ ơn, rồi bẻ ra và nói: “Anh em cm ly mà ăn, đây là Mình Thy, hiến tế vì anh em; anh em hãy làm nhưThy va làm đ tưởng nh đến Thy”, và cui ba thì Chúa Giêsu nói: “Đây là chén Máu Thy, Máu đ ra đ lp Giao Ước Mi; mi khi ung, anh em hãy làm nhưThy va làm đ tưởng nh đến Thy” (1 Cr 11:24-25). Thánh Phaolô giải thích: “Tnay cho ti ngày Chúa đến, mi ln ăn Bánh và ung Chén này, là anh em loan truyn Chúa đã chu chết” (1 Cr 11:26), do đó mà chúng ta hằng ngày tuyên tín trong mỗi Thánh lễ: “Ly Chúa, chúng con loan truyn Chúa chu chết, và tuyên xưng Chúa sng li, cho ti khi Chúa đến”, hoặc “Ly Chúa, mi ln ăn Bánh và ung Chén này, chúng con loan truyn Chúa chu chết cho ti khi Chúa đến”.

Ngay trước Lễ Vượt Qua, Đức Giêsu biết “giờ của Ngài” đã đến, đó là giờ Ngài phải bỏ thế gian mà về với Thiên Chúa Cha. Ngài yêu thương mọi người đến giọt Nước và giọt Máu cuối cùng, Ngài không muốn xa chúng ta, nhưng Ngài phải tuân phục Thánh Ý của Chúa Cha.

Đức Giêsu biết rõ Giuđa nghĩ gì, tính toán ra sao, và sắp làm gì. Nhưng Thánh Ý Chúa Cha nhiệm mầu. Thế nhưng, có người lập luận rằng “quỷ sứ không được cứu độ”. Giuđa bị gọi là quỷ sứ, Phêrô bị gọi là satan, mà quỷ sứ và satan có khác nhau? Sao satan được cứu độ mà quỷ sứ lại không được? Có gì lấn cấn? Thật ra chẳng ai dám phán xét, cũng chằng ai xứng đáng mà có quyền kết án ông Giuđa. Đừng chỉ “săm soi” một vài khía cạnh nào đó rồi quyết đoán. Tại sao Tội Nguyên Tổ lại được Giáo hội gọi là Tội Hồng Phúc? Thật là mầu nhiệm, vì Lòng Chúa Thương Xót lớn hơn mọi tội lỗi của cả nhân loại kia mà!

Chúa Giêsu bởi Thiên Chúa mà đến, và Ngài sắp phải trở về cùng Thiên Chúa. Do đó, trong một bữa ăn, Ngài đứng dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài ra, và lấy khăn mà thắt lưng. Rồi Ngài đổ nước vào chậu, bắt đầu rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau. Chắc hẳn môn đệ nào cũng ngạc nhiên vô cùng khi thấy Sư phụ hành động “kỳ cục nhất thế gian”.

Thế nên, khi Ngài đến chỗ ông Simôn Phêrô, ông liền thưa: “Thưa Thy! Thy mà li ra chân cho con sao?” (Ga 13:6). Không hề có bề trên nào dám làm chuyện “ngược đời” và “động trời” như vậy. Nghe Phêrô nói, Đức Giêsu trả lời: “Vic Thy làm, bây gi anh chưa hiu, nhưng sau này anh s hiu” (Ga 13:7). Ông Phêrô chưa thể hiểu nên lại thưa: “Thy mà ra chân cho con, không đi nào con chu đâu!” (Ga 13:8a). Đức Giêsu đáp: “Nếu Thy không ra cho anh, anh s chng được chung phn vi Thy” (Ga 13:8b). Nghe Thầy nói “không được chung phần” thì ông Phêrô liền thưa: “Vy, thưa Thy, xin c ra, không nhng chân, mà c tay và đu con na” (Ga 13:9). Nhưng Đức Giêsu bảo ông: “Ai đã tm ri, thì không cn phi ra na; toàn thân ngườy đã sch. V phn anh em, anh em đã sch, nhưng không phi tt c đâu!” (Ga 13:10). Ông Phêrô cụt hứng, chẳng khác như bị tạt nước lạnh. Rõ ràng Ý CHÚA HOÀN TOÀN KHÁC HẲN Ý LOÀI NGƯỜI. Ngài rất thâm ý nên mới nói: “Không phi tt c anh em đu sch”.

Rửa chân cho các môn đệ xong, Ngài mặc áo vào, về chỗ và nói: “Anh em có hiu vic Thy mi làm cho anh em không?” (Ga 13:11). Hỏi vậy thôi, chứ Ngài biết tỏng là chẳng ai hiểu, vì ông nào cũng “mắt chữ O và miệng chữ A”, cứ như trời trồng hết thảy. Thấy thế, Chúa Giêsu nói luôn: “Anh em gi Thy là Thy, là Chúa, điu đó phi lm, vì qu tht, Thy là Thy, là Chúa. Vy, nếu Thy là Chúa, là Thy, mà còn ra chân cho anh em, thì anh em cũng phi ra chân cho nhau. Thy đã nêu gương cho anh em, đ anh em cũng làm như Thy đã làm cho anh em” (Ga 13:13-15).

Thầy mà còn rửa chân cho đệ tử, chủ mà rửa chân cho đầy tớ, thế thì chắc chắn đệ tử hoặc đầy tớ cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho đệ tử, để đệ tử cũng làm như Thầy đã làm cho đệ tử. Đó là Luật Yêu của Chúa. Luật nhẹ nhàng mà KHÔNG DỄ thực hiện, lời giản dị mà thâm thúy. Và đó cũng là điều chúng ta phải suy nghĩ, nhất là trong Tam Nhật Thánh này, vì chính Chúa Giêsu đã làm gương cho chúng ta noi theo.

Chữ Yêu bắt đầu bằng mẫu tự Y có hình “ngã ba”, nghĩa là có 3 hướng: Hướng lên Chúa, hướng tới tha nhân, và hướng về chính mình. Yêu Chúa hết linh hồn và hết trí khôn, yêu người như chính mình, yêu mình ít thôi – không được yêu mình thái quá (tự ái là yêu mình thái quá, là ích kỷ). Yêu có những hệ lụy quan yếu. Yêu là điều luôn có mối liên kết quan trọng: Cần thiết –> thiết tha –> tha thứ. Đó là quy-trình-yêu-thương, là vòng-tròn-thương-xót. Và một hệ lụy khác lại phát sinh: YÊU thì phải KÍNH, KÍNH thì phải NỂ, NỂ thì phải TRỌNG, TRỌNG thì phải VỌNG (mong), MONG thì thấy NHỚ, NHỚ nghĩa là YÊU. Đó là vòng-tròn-yêu bắt đầu và kết thúc bằng động từ YÊU. Chúa nhớ chúng ta và chúng ta cũng phải nhớ Chúa, mà NHỚ NGÀI thì PHẢI THI HÀNH THÁNH Ý NGÀI. Hoàn toàn hợp lý!

Cũng như khi nói về gia đình, chúng ta áp dụng danh từ kép “hiếu đễ”. Và thật kỳ lạ với chuỗi hợp lý này: HIẾU thì phải ĐỄ (nhường), NHƯỜNG thì phải NHỊN. Nhờ đó mà “trong ấm, ngoài êm”, tạo nên “tổ ấm”, tạo nên hạnh phúc gia đình. Xã hội cũng vậy. Cộng đoàn cũng thế. Nói chung, tất cả chỉ cần tóm gọn trong một chữ YÊU. Biết yêu thì biết thương, biết thương thì biết xót, đó chính là biết sống lòng thương xót của Thiên Chúa.

Ly Thy Giêsu chí thánh, nhân t và giàu lòng thương xót, xin đi mi trái tim chúng con nên ging Chúa đ càng ngày càng thêm nhiu “máu yêu” hơn, nh đó mà chúng con có th va yêu mến Ngài va yêu thương tha nhân, đng thi dám sng và hành đng như Ngài trong mi hoàn cnh. Ngài là Đng hng sinh và hin tr muôn đi. Amen.

 

 

 

 

 

TIỆC LY – BỮA TIỆC CỨU ĐỘ

Lm. Giuse Nguyễn Thành Long

Có lẽ trong đời mình, nhiều người trong chúng ta đã từng tổ chức các bữa tiệc khác nhau: tiệc cưới, tiệc giỗ, tiệc tân gia, tiệc sinh nhật, tiệc thôi nôi, tiệc đầy tháng, v.v… Còn đối với Chúa Giêsu, trong suốt cuộc đời dương thế của mình, Ngài chỉ “tổ chức” duy nhất một bữa tiệc, cũng là “tiệc chia tay” với các môn đệ dấu yêu trước khi Ngài đi vào cuộc thương khó, tử nạn. Bữa tiệc duy nhất này vẫn thường được gọi bằng cái tên rất dễ thương: Tiệc Ly. Tuy nhiên, đây không phải là bữa tiệc ly – tiệc chia tay thông thường, mà là bữa tiệc đặc biệt nhất, quan trọng nhất, và cũng gây nhiều cảm hứng nhất cho các nhà điêu khắc, hội họa trong lịch sử nhân loại. Vậy Tiệc Ly là bữa tiệc gì mà đặc biệt như thế?

 

1. Tiệc Ly, trước hết, là bữa tiệc Vượt Qua. Chúa Giêsu đã khẳng định điều này: “Thầy những khát khao mong mỏi ăn lễ Vượt Qua này với anh em, trước khi chịu khổ hình” (Lc 26,15). Chúng ta biết Lễ Vượt Qua của người Do Thái bắt đầu vào tối Thứ Sáu. Nhưng Chúa Giêsu đã ăn tiệc Vượt Qua vào tối Thứ Năm, nghĩa là Ngài ăn lễ trước một ngày. Vì đêm Thứ Sáu và ngày Thứ Bảy, Chúa Giêsu đã chết và đang ở trong mộ đá. Và vì là tiệc Vượt Qua, nên Chúa Giêsu đã đích thân lên chương trình kỹ lưỡng: từ việc mượn phòng tiệc, sắp đặt các chỗ ngồi, chuẩn bị đồ ăn thức uống, rồi sai các môn đi chuẩn bị trước. Nhưng đây cũng là lễ Vượt Qua được “làm mới”. Mới ở chỗ: nếu trong lễ Vượt Qua thời Cựu Ước, máu chiên của cuộc vượt qua được bôi lên cửa nhà những người Do Thái, làm cho tai họa “bỏ qua” nhà họ và các con trai đầu lòng của họ thoát chết, thì trong bữa Tiệc Ly – lễ Vượt Qua mới, chính Chúa Giêsu đã trở thành Chiên Vượt Qua của Thiên Chúa. Máu của Ngài – máu của Chiên Thiên Chúa sẽ giải thoát nhân loại khỏi ách nô lệ tội lỗi và sự chết để được trường sinh trong Vương Quốc của Ngài.

2. Tiệc Ly, thứ đến, còn là bữa Tiệc Thánh. Là bữa Tiệc Thánh vì tất cả những gì liên hệ đều thánh. Người chủ sự bữa tiệc hôm đó không phải là một người phàm, dù đó là người gia trưởng trong các gia đình Do Thái hoặc là Môisê hay Aaron đi nữa; chủ tiệc là Con Thiên Chúa, Đấng “ba lần thánh”. Cả đến đồ ăn thức uống của bữa tiệc đó, tức là bánh và rượu, cũng đã trở thành “của ăn của uống cực thánh” – Mình và Máu châu báu của Chúa. Điều đặc biệt hơn nữa: bữa Tiệc Thánh này sẽ được tiếp nối và kéo dài cho đến tận thế, và những người làm công việc tiếp nối này cũng được “thánh hiến” qua Bí tích Truyền Chức mà Ngài sẽ thiết lập ngay sau đó. Tất cả những gì “liên hệ” tới lễ Tiệc Ly này đều trở thành “thánh”: Thánh lễ, chén thánh, đĩa thánh, khăn thánh, Bánh Thánh, Máu Thánh…

3. Sau nữa, Tiệc Ly còn là bữa tiệc yêu thương phục vụ. Thánh Gioan đã viết: “Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1). Ngài “yêu thương tất cả những kẻ thuộc về mình”, yêu thương cả Giuđa là kẻ nhẫn tâm phản bội Ngài; yêu thương cả Phêrô là kẻ vô tâm chối bỏ Ngài. Nhưng không phải là yêu thương một cách chung chung mà là yêu thương từng người, cũng không phải là yêu thương một cách hời hợt như ta thường thấy giữa thầy trò, mà là “yêu thương đến cùng”, yêu thương đến độ hiến mạng sống mình, biến thịt máu mình làm của ăn của uống nuôi sống linh hồn. Cử chỉ rửa chân là cử chỉ nói lên sự yêu thương phục vụ đúng nghĩa của nó: yêu thương thì không nề hà, yêu thương thì không tính toán, yêu thương thì không phân biệt đẳng cấp thứ bậc, chủ tớ…; yêu thương thì sẵn sàng quên mình đi để phục vụ.

Có khi nào chúng ta thấy trong một bữa tiệc mà Đức Giám Mục, hay Đức Giáo Hoàng đi lại phục vụ chén bát, phân phát đồ ăn thức uống, châm đá, hoặc bưng nước cho giáo dân rửa tay chưa? Có lẽ là chưa! Trong bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu đã làm công việc phục vụ đó, nhưng không chỉ “bưng nước”, mà Ngài còn đích thân cúi xuống rửa chân cho từng người một. Ngài là vị Thiên Chúa mà dân Israel không dám gọi bằng tên, càng không dám tới gần. Nhưng nay Ngài đến thật gần với con người, và không những thế Ngài còn cúi xuống thật thấp trong cung cách là một người tôi tớ, người rốt hết, chứ không phải là một người chủ.. Đây là một cử chỉ nói lên cung cách phục vụ khiêm nhường thẳm sâu nhất của Ngài. Và Ngài cũng mời gọi các môn đệ của Ngài hãy yêu thương phụ vụ như Ngài đã nêu gương: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương” (Ga 15,12); “Anh em cũng hãy rửa chân cho nhau”, nghĩa là “hãy phục vụ nhau như thế”!

Nếu người ta cám ơn thánh Luca vì ngài là vị thánh sử duy nhất đã ghi lại lời Chúa Giêsu dạy về dụ ngôn người cha nhân hậu (x. Lc 15,11-31), thì ta cũng phải biết ơn thánh Gioan vì ngài cũng là vị thánh sử duy nhất ghi lại biến cố vô cùng ý nghĩa xảy ra trước giờ phút Chúa chịu tử nạn, đó là biến cố Ngài rửa chân cho các môn đệ (x. Ga 13,1-20).

Vì những yếu tố trên, Tiệc Ly trở thành bữa tiệc vô tiền khoáng hậu, bữa tiệc cứu độ.

Trong mỗi Thánh Lễ, trước khi rước lễ, linh mục đều nâng bánh rượu và xướng rằng: “Đây Chiên Thiên Chúa Đây Đấng xóa tội trần gian. Phúc cho những ai được mời đến dự tiệc Chiên Thiên Chúa”. Là Kitô hữu, chúng ta thật diễm phúc vô cùng, vinh dự vô cùng vì hằng ngày chúng ta được Chúa mời tham dự bữa tiệc đặc biệt này. Hãy dâng lời tạ ơn Chúa luôn. Và một trong những cách thế tạ ơn tốt nhất, thiết nghĩ, đó chính là nỗ lực để “thực thi tình yêu và lòng thương xót” đối với anh chị em đồng loại như Chúa đã nêu gương.

Tất nhiên, Chúa sẽ không hỏi chúng ta đã rửa chân được cho bao nhiêu người, nhưng Chúa sẽ hỏi đôi bàn tay chúng ta đã giúp đỡ sẻ chia cho được những ai! Chúa sẽ không hỏi chúng ta đã hôn được bao nhiêu bàn chân, nhưng Chúa sẽ hỏi môi miệng chúng ta đã làm cho bao nhiêu người được an vui hạnh phúc. Chúa không muốn chúng ta trở thành những người thợ làm thuê (rửa chân – hôn chân thuê), những robot, người máy của thời hiện đại, nhưng muốn chúng ta thực sự trở thành những con trai con gái của một vị Thiên Chúa yêu thương, yêu thương đến cùng bằng nỗ lực thực hành giới luật yêu thương mà Chúa đã dạy (x. Tình Chúa – Tình Người, Lm. Giuse Dương Hữu Tình).

Cụ thể đó là ta đã cúi xuống để có thể lắng nghe và cảm thông với những đau khổ và nhọc nhằn của anh chị em đồng loại hay chưa? Ta đã cúi xuống để phục vụ cha mẹ già trong gia đình, gia tộc mình, bằng sự yêu thương kính trọng hay chưa? Ta đã cúi xuống để yêu thương và phục vụ chồng của mình, vợ của mình, con cái của mình bằng sự hy sinh trao hiến chưa? Ta đã quan tâm đến hàng xóm láng giềng, là những người sống bên cạnh chúng ta nhiều hơn chưa?

Dĩ nhiên để có thể yêu thương theo cung cách của Chúa yêu là không dễ chút nào. Cần phải có ơn Chúa trợ giúp. Bí tích Thánh Thể chính là nguồn trợ lực vô cùng cần thiết.

Vậy xin cho mỗi người chúng ta biết năng tham dự Thánh lễ và tiếp nhận Thánh Thể Chúa mỗi ngày, nhờ đó ta có thêm sức mạnh để thực thi giới luật yêu thương đối với anh em mình như Chúa dạy, và để nhờ đó mà ta có được sự sống đời đời mai sau. Amen.

 

 

 

 

YÊU ĐẾN CÙNG

Huệ Minh

Đâu đó, ta thấy người ta nói về tình yêu. Người ta vẫn nghiên cứu, phân tích tình yêu dưới nhiều góc độ, tốn rất nhiều giấy mực, để lý giải tình yêu… nhưng có lẽ rất ít người hiểu cho đúng tình yêu là gì.

Thi sĩ Xuân Diệu, một người được xem là nhà thơ của tình yêu, có những cảm nhận rất tinh tế về tình yêu và tâm lý con người, nhưng cũng thú nhận là không thể giải nghĩa được tình yêu. Ông viết như thế này:

“Làm sao giải nghĩa được tình yêu

Có nghĩa gì đâu, một buổi chiều

Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt…”

Và khi con người không lý giải được tình yêu thì có lẽ phải viện tới Trời. Vì thế, Hàn Mặc Tử, một nhà thơ công giáo trứ danh, khuyên chúng ta – trong bài “Ðà Lạt trăng mờ” – như sau:

“Ai hãy làm thinh chớ nói nhiều,

Ðể nghe dưới đáy, nước hồ reo

Ðể nghe tơ liễu run trong gió

Và để xem Trời giải nghĩa yêu.”

“Và để xem Trời giải nghĩa yêu!” Ðúng vậy, Thiên Chúa là Tình Yêu. Tình Yêu là phẩm chất của Thiên Chúa nên chỉ có Thiên Chúa mới biết thế nào là yêu và chỉ có Ngài mới có đủ thẩm quyền để “giải nghĩa yêu”.

Về tình yêu, Chúa Giêsu “giải nghĩa yêu” khi Ngài thỏ thẻ với ông Nicôđêmô biết: “Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một Người để tất cả những ai tin vào Con của Người thì không phải hư mất nhưng được sống đời đời” (Ga 3,16).

Chúa Giêsu cũng đã “giải nghĩa yêu” rất thẳng thắn và chân thành : “Không có tình yêu nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu mình.” (Ga 15, 13)

Thật vậy, ý nghĩa của tình yêu giờ đây đã được sáng tỏ: yêu thương là trao ban, là hy sinh, là cống hiến, là cho đi… Chính Thiên Chúa Cha yêu thương thế gian nên đã trao ban Người Con Một cho thế gian; Chúa Giêsu đã yêu thương thế gian nên Ngài đã hy sinh tính mạng cho thế gian.

Xem ra Chúa Giê-su không hề giải nghĩa yêu bằng những lời hoa mĩ. Ngài thể hiện lòng yêu thương qua cuộc sống. Tin Mừng hôm nay cho biết rằng: “Ngài vốn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng… Người đứng dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài ra, và lấy khăn thắt lưng. Rồi Ðức Giêsu đổ nước vào chậu, bắt đầu rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau.” (Ga 13, 1.4-5).

Chúa Giêsu đã yêu là “Yêu đến cùng”. Yêu theo cách của Chúa Giêsu là trao ban tất cả, tận hiến tất cả,đến cả mạng sống mình.

Đó là một tình yêu vô vị lợi, không chút tính toán , không mảy may vụ lợi, không ngần ngại quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ . Chúa Giêsu đã yêu thương con người đến cùng, nên đã cầm lấy bánh, tạ ơn, bẻ ra và trao cho các môn đệ : “Này là Mình Thầy” : Đó là tình yêu tự hiến, hy sinh chính mình để cho nhân loại được sống. Chúa Giêsu yêu thương đến cùng nên đã chấp nhận chịu chết đau thương trên thập giá : Đó là tình yêu cao cả, từ bỏ ý riêng hoàn toàn để thực hiện ý Chúa Cha. “Xin cất chén này xa Con, nhưng đừng vì ý Con, mà hoàn toàn tuân theo thánh ý Cha”. Như thế, yêu đến cùng là một tình yêu đích thực và đã làm nên những điều kỳ diệu.

          “Yêu đến cùng” là sống trọn vẹn, là “chơi xả láng”.

Đó chính là từ ngữ mà Thánh Gioan Tông Đồ diễn tả về cách sống của Chúa Giêsu đối với các môn đệ của Mình và cho cả chúng ta. Tình yêu ấy muốn trao ban tất cả những gì là tốt đẹp, là thiện hảo nhất cho người mình yêu mến.

Chúa Giêsu đã nêu gương trước cho chúng ta, Chúa Giêsu đã không giữ lại cho mình cái gì, dù là cả sinh mạng. Ngài hiến thân để trở thành của lễ toàn hảo dâng lên Chúa Cha hầu mong cứu chuộc con người khỏi thần chết và sự dữ. Tình yêu ấy kêu mời chúng ta hãy biết thể hiện tình yêu cách trọn vẹn, không tính toán đối với anh em mình.

  • “Yêu đến cùng” là quỳ gối xuống, trở thành kẻ tôi đòi, chấp nhận thân phận của một người phục vụ để cho mong cho anh em được lớn lên. “Không còn vẻ hình hài, dáng dấp oai phong” nhưng trở nên “Con chiên gánh tội trần gian”.

Học với chữ “yêu” của Chúa Giêsu. Yêu này đòi hỏi mỗi người chúng ta sống quảng đại, sẵn sàng chia sẻ, chịu thua lỗ, để anh em mình “được lời”. Sống chữ “yêu” của Chúa, chúng ta hãy tập cho mình thái độ “cúi mình, uốn cong lưng xuống” để phục vụ và sống vì, sống cho anh em.

  • “Yêu đến cùng” là chết để cho anh em mình sống. Chúa đã từng dạy và nêu gương cho tất cả chúng ta về một tình yêu tận hiến hoàn toàn. Ngài đã trở nên chiếc bánh cho mọi người ăn, trở nên máu cho mọi người uống. “Ngài hiến thân vì và cho tất cả chúng ta” bằng chính cái chết của mình. Và “Không có tình yêu nào cao quí cho bằng người dám hiến thân vì người mình yêu”.

Tình yêu của Chúa đã đi đến tuyệt đỉnh, để như hạt lúa bị chôn vùi, thối đi, để con người chúng ta có được mùa gặt bội thu.

Yêu đến cùng là quảng đại dấn thân và có khi phải thiệt thân vì Tin Mừng. Vì yêu nên chấp nhận sống cảnh âm thầm, vô danh như những tu sĩ sống đời chiêm niệm. Yêu đến cùng là sẵn sàng chấp nhận phần thiệt thòi để người khác được nhiều phần lợi hơn như các thánh tử đạo đã chấp nhận thiệt cả thân mình.

Yêu đến cùng đòi hỏi quảng đại hy sinh theo gương Chúa Giêsu : chủ nhân  trở thành tôi tớ bằng cách tự nguyện phục vụ, Thiên Chúa trở thành “kẻ tội đồ” để mang lại sự sống cho kẻ tin.

Yêu đến cùng không chỉ có tấm lòng nhưng là thể hiện tấm lòng bằng hành động cụ thể, nghĩa là không chỉ làm những việc từ thiện, mà làm việc bác ái với tấm lòng yêu thương chân thành và quảng đại.

Nhìn lên tình yêu Giêsu, ta hãy học và bắt chước thái độ “Yêu đến cùng” của Chúa, là chúng ta biết khiêm tốn phục vụ trong những điều nhỏ bé nhất một cách vô vị lợi.

 

 

 

 

Ở LẠI TRONG TÌNH THƯƠNG CỦA THẦY

Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

Có lần Chúa Giêsu nói: “Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy.  Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy” (Ga 15, 9-10). Khi mời gọi chúng ta hãy ở lại trong tình thương của Người, Chúa Giêsu, qua cuộc sống trần thế, đã chứng tỏ lòng yêu thương chúng ta bằng chính tình yêu mà Chúa Cha đã dành cho Người.

Tình yêu mạnh mẽ ấy đã khiến Chúa vui hiến thân làm giá cứu chuộc loài người. Tình yêu ấy thúc đẩy Chúa để lại cho trần thế Kho Báu muôn đời cần thiết cho loài người: bí tích Thánh Thể.

Khai mạc Tam nhật Thánh, chúng ta cử hành và tưởng niệm việc Chúa hiến mình đến muôn đời để ở lại với chúng ta nơi bí tích Thánh Thể, là chúng ta cử hành và nhắc nhở nhau về một tình yêu vô song. Đó là một tình yêu dữ dội, một tình yêu trào tràn, một tình yêu ngút ngàn. Đó là một tình yêu muôn đời không thể tìm thấy bất cứ nơi đâu, ngoài Thiên Chúa.

Bản chất của tình thương yêu nơi cung lòng Thiên Chúa là thế: một khi đã thông truyền, nó sẽ thông truyền trọn vẹn, không kém bớt, không tiêu hao, không sứt mẻ, không giảm suy. Nó là một công thức luôn luôn: “thế nào… thế ấy”. Được yêu thế nào, sẽ yêu thế ấy.

Tình yêu thương của Chúa Cha truyền sang Chúa Con là tình yêu của Đấng Toàn Năng thể hiện mình. Người là Thiên Chúa cuồn cuộn trong sự thủy chung, giàu có trong sự trao ban, trào tràn trong sự hiến dâng, bền bỉ trong sự giải cứu, sẵn sàng trong sự đón nhận, lớn lao trong sự tha thứ, cao cả trong sự chở che, mạnh mẽ trong sự phục hồi…

Đến lượt Chúa Con, sau khi nhận lãnh tình yêu của Chúa Cha, lại tiếp tục truyền sang chúng ta. Người yêu chúng ta bằng một tình yêu tròn đầy từ muôn đời cho đến muôn đời, luân chảy từ Chúa Cha đến chúng ta; một tình yêu không bao giờ có thể sánh ví, một tình yêu núi không thể đo, biển không thể dò.

Bởi vậy, Chúa Giêsu khẳng định về tình yêu của Người: “Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy” (Gioan 15,9).

Bởi tình yêu của Thiên Chúa là môi sinh che chở chúng ta đẹp đến vậy, cho nên tình yêu ấy trở thành nguồn hạnh phúc vô cùng cho những ai biết ở lại trong nó.

Chúa Giêsu biết chúng ta cần tình yêu ấy, Chúa Giêsu biết chúng ta trông ngóng tình yêu ấy, Chúa Giêsu biết chúng ta không thể thiếu tình yêu ấy, vì thế, ngay sau lời dạy “hãy ở trong tình yêu của Thầy”, Chúa dạy ta cách thức để giữ mãi tình yêu ấy: “Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy, anh em sẽ ở lại trong tình thương của Thầy, như Thầy đã giữ các điều răn của Cha Thầy và ở lại trong tình thương của Người”(Ga 15, 11).

Lắng nghe Chúa Giêsu dạy, Ta phấn đấu mỗi ngày một nhiều hơn để sống giới răn của Chúa, sống hoàn hảo nhất Lời Chúa dạy. Bởi chỉ có phương thế ấy, ta mới có thể trọn vẹn chiếm lấy tình thương yêu của Thiên Chúa.

Ta hãy đến lãnh nhận Mình và Máu Thánh của Chúa. Khi thông hiệp với Chúa rồi, ta giữ lấy tình yêu của Chúa mà sống trong đời, để mọi nơi, mọi lúc, ta chứng tỏ cho đời, nơi cuộc sống của mình là chính tình yêu vô cùng của Thiên Chúa từ bi đại lượng.

Hãy nỗ lực bằng khả năng trao ban tình thương mà bản thân đã được Chúa dành cho mình, để ta luôn có Chúa Giêsu nơi tâm hồn mình. Và vì có Chúa Giêsu, ta cũng sẽ trọn vẹn sống trong Thiên Chúa.

Hãy hoàn hảo hóa giới răn của Chúa nơi đời sống bản thân mình, để ta nên một trong Chúa Cha và Chúa Con nhờ tình yêu chan chứa của Chúa Cha và Chúa con.

Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng con sống giới răn Chúa, để chúng con luôn biết giữ mãi tình yêu của Chúa nơi tâm hồn và nơi cuộc đời chúng con. MỘt khi giữ trọn tình yêu Chúa, chúng con hy vọng, mãi muôn đời chúng con sẽ ở lại trong tình yêu của Chúa, như Chúa ở lại trong tình yêu của Chúa Cha. Amen.

 

 

 

THỨ NĂM TUẦN THÁNH

Lm. Antôn

Ông bà anh chị em thân mến. Chiều hôm nay, cùng với mọi người trong Giáo hội, chúng ta bước vào Tam Nhật Thánh, cử hành mầu nhiệm Vượt Qua của Chúa Giê-su, Đấng cứu độ trần gian. Trong ba ngày thánh này, chúng ta nghe những lời Chúa trăn trối, và suy niệm những hành động cuối cùng trong cuộc đời của Chúa Giê-su, biểu lộ tình yêu thương cao cả của Chúa với chúng ta, dạy chúng ta làm gì và sống như thế nào.

Chiều hôm kỷ niệm ngày lễ Vượt Qua và khi mặt trời vừa lặn, Chúa Giêsu cùng với các môn đệ cử hành bữa tiệc theo đúng truyền thống. Và trong bữa tiệc, Chúa Giêsu đã bộc lộ niềm xúc động vì đây là lần cuối cùng Chúa mừng lễ Vượt Qua chung với các môn đệ.   Người biết rằng sau bữa ăn này, Người sẽ phải vâng thánh ý Chúa Cha hoàn thành sứ mệnh đã được giao phó. Và cũng trong bữa ăn này, Chúa đã để lại một lời trăn trối chất chứa tình yêu thương, phát xuất từ trái tim: “Các con  hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con.”  Sau đó, Chúa Giêsu đã làm một cử chỉ đột ngột, Ngài chỗi dậy khỏi bàn, lấy khăn thắt lưng, đổ nước vào chậu, rồi rửa chân cho các môn đệ. Sau khi rửa chân cho các môn đệ, Chúa ngồi vào bàn tiếp tục dạy dỗ các môn đệ về yêu thương phục vụ, và nói rõ cho các môn đệ biết mục đích việc Chúa rửa chân cho họ, “Các con gọi Ta là Thầy và là Chúa thì phải lắm, vì đúng thật Thầy như vậy.  Vậy nếu Ta là Chúa và là Thầy mà còn rửa chân cho các con, thì các con cũng phải rửa chân cho nhau.”  Trong giây phút nữa đây, chúng ta sẽ cử hành việc rửa chân này.

Có người nói rằng: “Con thành thật thưa với cha, con đã từ chối không nhận lời mời được rửa chân nhiều lần rồi.”  Tôi biết quí ông rất ngại nhận lời vì nhìn thấy cha xứ quì gối trước mặt, rửa và lau chân cho mình. Đối với tôi, thật sự, đây không phải là việc quá khiêm nhường, nhưng là một việc rất đặc biệt và quí trọng.  Nhưng việc này đối với Chúa ngày xưa thì khác, vì đây là một việc dơ bẩn.  Như chúng ta biết, ngày xưa dân chúng không mang giày và vớ như ngày nay, họ mang một thứ như dép suốt ngày, trong nhà cũng như đi ngoài đường nhiều phân của thú vật, như ở Việt Nam chúng ta ngày xưa. Chúng ta có thể hình dung, tưởng tượng dép của họ dơ dáy và hôi hám như thế nào. Cho nên khi vào nhà nào thì có người đầy tớ rửa và lau chân sạch sẽ trước khi ngồi dự tiệc ăn. Giả sử nếu tôi thật sự muốn khiêm nhường, thì tôi sẽ âm thầm đến nơi ở của những người vô gia cư và rửa chân cho họ, không có sự hiện diện của báo chí phỏng vấn, loan tin đi, và không có những người quay phim trực tiếp truyền hình ra ngoài cho mọi người biết.

Có một người được mời rửa chân nói rằng: “Con không biết phải nghĩ như thế nào?”  Ông bà anh chị em thân mến.  Thật sự, trong cuộc đời của Chúa Giê-su, Ngài làm nhiều việc giảng dạy, làm nhiều phép lạ, làm nhiều sự chữa lành, và giúp đỡ nhiều người, nhưng trong đêm cuối cùng trước khi chịu chết, Chúa muốn nói và làm những việc ngoại lệ để in sâu vào tâm và trí các môn đệ, và biểu lộ cho họ biết Ngài là ai.  Vì vậy, Chúa nói với các ông hãy suy nghĩ những việc Ngài vừa làm.  Chúng ta hãy nghe lời Chúa nói với các tông đồ: “Các con có hiểu biết việc Thầy vừa làm cho các con chăng?..Thầy đã làm gương cho các con để các con cũng bắt chước mà làm như Thầy đã làm cho các con.”  Chúng ta nghe Chúa nói trước đó rằng: “Ai trong các con muốn làm lớn, thì hãy tự làm đầy tớ anh em. Và ai muốn thành người cầm đầu trong các con, thì hãy tự làm nô lệ cho mọi người. Vì chính Con Người cũng không đến để được phục vụ, nhưng để phục vụ và ban mạng sống mình làm giá cứu chuộc cho nhiều người.”  (Mc. 10.44)  Và Chúa còn ban cho chúng ta một tấm gương qua giới răn yêu thương, Ngài nói: “Các con hãy yêu mến nhau, như Thầy đã yêu mến các con.” (Ga. 15.12)

Ông bà anh chị em thân mến.  Con người nhân loại chúng ta khi chết thì thường để lại cho con cháu tiền bạc và vật chất. Trước khi chết, Chúa Giêsu không để lại cho nhân loại kho tàng châu báu ngọc ngà, hay danh vọng vật chất, nhưng Người đã để lại cho nhân loại những món quà cao quí tinh thần, đó là Bí Tích Thánh Thể, Chức linh mục và lời trăn trối: tình yêu hy sinh phục vụ, để chúng ta sống trong ân sủng của Người, được ơn cứu độ, và sống lại với Người. Đây là một gia tài vĩ đại vô giá, không thể dùng tiền của để mua được. Ngoài ra, chúng ta cũng nhận biết những lời trăn trối hay những việc làm của một người, nhất là của cha mẹ hay ông bà trước khi qua đời, rất quan trọng và rất trân quí. Chúng ta, là con cái, cháu chắt, cố gắng hết sức giữ và sống những lời, cũng như thực hành những việc của người đã khuất trối lại. Nếu chúng ta tin và yêu Chúa, thì chúng ta phải biết lắng nghe và thực hành lời Chúa truyền dạy, và biết trân quí những món quà Chúa đã để lại cho chúng ta.

Chiều hôm nay, chúng ta cử hành lại viêc Chúa Giêsu đã làm và truyền dạy chúng ta, là những người tin và yêu Người. Chúng ta kính nhớ và tôn thờ tình yêu thương bao la của Chúa, và cầu xin, qua việc cử hành và tôn thờ mầu nhiệm Thánh Thể, chúng ta được nối kết một cách mật thiết với Chúa, và giúp chúng ta sống đức tin, sống tình đoàn kết thương yêu hy sinh phục vụ, bác ái và quảng đại để làm sáng danh Chúa và xây dựng giáo xứ.  


Sinh hoạt khác

Tin Giáo Hội

Mục Tổng Hợp

» Xem tất cả Video

Liên kết website

Bài viết được quan tâm