Danh mục bài viết

Cập nhật 26/3/2018 - 9:32 - Lượt xem 758

Các bài Suy niệm Thứ Năm Tuần Thánh

Lời Chúa: Xh 12, 1-8. 11-14; 1 Cr 11, 23-26; Ga 13, 1-15

 

 

1. Phải rửa chân cho nhau - Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ.

Người biết mình sắp qua đời thường để lại di chúc cho con cái. 
Di chúc nói lên ước nguyện, lời nhắn nhủ hay lệnh truyền của người sắp ra đi. 
Có thể nói Thầy Giêsu khi biết cuộc Khổ Nạn gần đến 
cũng đã để lại một di chúc kép cho các môn đệ dấu yêu: 
Ngài đã rửa chân cho các môn đệ và nhất là Ngài đã lập bí tích Thánh Thể. 
Thứ Năm Tuần Thánh là ngày chúng ta đặc biệt nhớ đến di chúc ấy. 
Sống di chúc của Chúa Giêsu là cách biểu lộ tình yêu đối với Ngài. 
Có nhiều điểm giống nhau nơi việc Rửa chân và lập Bí tích Thánh Thể. 
Cả hai đều là những cử chỉ Thầy Giêsu làm lúc cận kề cái chết. 
Cả hai đều được làm trong bầu khí một bữa ăn tối gần lễ Vượt Qua. 
Vào lúc cuối đời, sau bao năm tận tụy với sứ mạng phục vụ, 
Thầy Giêsu muốn gói ghém trong hai cử chỉ đơn giản ấy lễ hiến dâng đời mình. 
Cả hai đều tượng trưng cho cái chết tự hạ trên thập giá. 
Rửa chân đòi Thầy phải cúi xuống rất sâu, phải trở thành tôi tớ phục vụ. 
Rửa chân là điều mà tôi tớ không hẳn phải làm cho chủ, 
thì bây giờ Thầy làm cho trò. 
Cái chết trên thập giá là sự phục vụ cao nhất được diễn tả qua việc rửa chân. 
Bí tích Thánh Thể còn diễn tả cách tuyệt vời hơn cái chết hy sinh ấy. 
Trong bí tích này, tấm bánh trở nên Mình Thầy bị bẻ ra và trao đi. 
Rượu trở nên Máu Thầy, Máu sẽ bị đổ ra cho muôn người trên thế giới. 
Trong cả hai biến cố Rửa chân và bí tích Thánh Thể, 
Thầy Giêsu đều mời các môn đệ tham dự cách tích cực. 
Tham dự vào cái chết của Thầy bằng cách để cho Thầy rửa chân, 
hay tham dự bằng cách ăn uống Mình và Máu Ngài. 
Hai biến cố trên không phải là chuyện chỉ xảy ra một lần bởi Thầy Giêsu. 
Thầy mời các môn đệ cũng làm như Thầy, và lặp đi lặp lại những cử chỉ đó. 
“Anh em cũng phải rửa chân cho nhau” (Ga 13, 14). 
“Anh em hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy (Lc 22, 19). 
Cúi xuống phục vụ tha nhân và lãnh nhận Bí Tích Thánh Thể 
sẽ giúp chúng ta tham dự vào cái chết và sự Phục sinh của Chúa Giêsu. 
Muốn ở lại trong tình thương của Thầy Giêsu, 
cần giữ lệnh Thầy truyền (Ga 15, 10). 
Mà “đây là lệnh truyền của Thầy, anh em hãy yêu thương nhau 
như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15, 12). 
Hơn nữa, Thầy Giêsu còn cho ta một cách khác để ở lại trong Thầy : 
“Ai ăn Thịt và uống Máu tôi, thì ở lại trong tôi, 
và tôi ở lại trong người ấy” (Ga 6, 56). 
Thứ Năm Tuần Thánh là ngày lễ của Tình Yêu theo đúng nghĩa nhất. 
Yêu là cúi xuống phục vụ, yêu là bẻ đời mình cho tha nhân như Thầy Giêsu. 
Ước gì chúng ta được ở lại trong tình yêu của Giêsu nhờ biết yêu. 

Lạy Thầy Giêsu, 
khi Thầy rửa chân cho các môn đệ 
chúng con hiểu rằng Thầy đã làm một cuộc cách mạng lớn. 
Thầy dạy chúng con một bài học rất ấn tượng 
khi Thầy bưng chậu nước, bất ngờ đến với các môn đệ trong bữa ăn, 
khi Thầy cúi xuống, dùng bàn tay của mình để rửa chân rồi lau chân cho họ. 
Chắc Thầy đã nhìn thật sâu vào mắt của từng môn đệ và gọi tên từng người. 
Giây phút được rửa chân là giây phút ngỡ ngàng và linh thánh. 
Lạy Thầy Giêsu, 
thế giới chúng con đang sống rất thấm bài học của Thầy. 
Chúng con vẫn xâu xé nhau chỉ vì chức tước và những đặc quyền, đặc lợi. 
Ai cũng sợ phải xóa mình, quên mình. 
Ai cũng muốn vun vén cho cái tôi bất chấp lương tri và lẽ phải. 
Khi nhìn Thầy rửa chân, chúng con hiểu mình phải thay đổi cách cư xử. 
Không phải là ban bố như một ân nhân, nhưng khiêm hạ như một tôi tớ. 
Từ khi Thầy cúi xuống rửa chân cho anh Giuđa, kẻ sắp nộp Thầy, 
chúng con thấy chẳng ai là không xứng đáng cho chúng con phục vụ. 
Lạy Thầy Giêsu, 
Thầy để lại cho chúng con một di chúc bằng hành động. 
Thầy đã nêu gương cho chúng con noi theo, 
để rửa chân chẳng còn là chuyện nhục nhã, nhưng là mối phúc. 
Xin cho chúng con thấy Thầy vẫn cúi xuống trên đời từng người chúng con, 
để nhờ đó chúng con có thể cúi xuống trên đời những ai khổ đau bất hạnh. Amen. 

 

2. Đỉnh cao của mầu nhiệm cứu độ là tình yêu  - Tu sĩ: Jos. Vinc. Ngọc Biển, S.S.P.

Trong cuộc sống, nơi các gia đình, nhất là văn phong của Việt Nam, chúng ta rất coi trọng bữa ăn. Nơi bữa ăn, niềm vui, nỗi buồn, thành công hay thất bại, thường hay được chia sẻ. Có những bữa ăn để chia tay; có những bữa ăn để lên đường. Chia tay hoặc lên đường thường hay để lại nhiều kỷ niệm nơi người đi và kẻ ở!

Hôm nay, Đức Giêsu quy tụ các Tông đồ là những người thân tín với Ngài trong suốt chặng đường rong ruổi loan báo Tin Mừng. Ngài quy tụ họ, để trao lại cho họ một tặng phẩm thần linh là Bí tích Thánh Thể và truyền cho các ông hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Ngài. Qua đó, như một sự hiện hữu sau khi chết, để khi còn sống, Đức Giêsu ở cùng với các ông thế nào, thì ít ngày nữa thôi, Ngài cũng hiện diện và ở lại với các ông cách vô hình nhưng trọn vẹn nơi Bí tích cao trọng là chính Thánh Thể Ngài. Mặt khác, qua bữa tiệc này, phần cuối cùng của bữa tiệc, Đức Giêsu hành động và trăng trối những lời tâm huyết để xây dựng cộng đoàn Giáo Hội đó là: “Luật yêu thương”.

1/ Một tặng phẩm cao quý được trao tặng

Nếu trong cuộc sống, hai người yêu nhau, họ thường có những lời lẽ chân tình, ấm áp để thể hiện tình yêu của mình cho người mình yêu. Khi đi xa, người ta hay trao tặng cho nhau những kỷ vật trân quý, để dù xa mặt chứ lòng thì không. Qua món quà đó, với người đón nhận thì tặng vật đó không chỉ đơn thuần là một kỷ niệm, nhưng nó còn là sự hiện hữu của chính người tặng quà.

Cũng vậy, khi Đức Giêsu biết “giờ” của mình sắp trở về với Thiên Chúa Cha, nên Ngài đã yêu thương họ đến cùng khi trao ban chính thân mình làm của nuôi sống môn sinh.

Chiều hôm nay, chúng ta kỷ niệm việc Đức Giêsu lập Bí tích Thánh Thể. Đây là Bí tích cao trọng nhất trong 7 Bí tích. Cao trọng bởi vì qua Bí tích này, Đức Giêsu hiến dâng thân mình làm của ăn của uống để nuôi sống nhân loại và ở cùng chúng ta mọi ngày cho đến tận thế. Ngài yêu thương và yêu hết mình. Yêu đến nỗi bằng lòng chịu chết để miễn sao người mình yêu được hạnh phúc.

Thật vậy, Ngài đã trao ban chính Thân Mình làm bảo vật, để mỗi khi các Tông đồ cũng như những người tin, cử hành và tưởng nhớ, thì Ngài hiện diện cách trực tiếp nơi mầu nhiệm cử hành. Khi đó, Đức Giêsu trở nên đồng hình đồng dạng với người đón nhận, để từ đây, trong ta có Chúa và trong Chúa có ta. Ôi, còn gì cao quý và hạnh phúc cho bằng ta được thông phần vào bản tính Thiên Chúa với Đấng là Thiên Chúa nhưng lại chia sẻ thân phận con người với chúng ta!

Lời cầu nguyện của Đức Giêsu với Chúa Cha làm toát lên đặc tính kỳ diệu này:“ ... như, lạy Cha, Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta. Như vậy, thế gian sẽ tin rằng Cha đã sai con” (Ga 17,21). Giáo Hội tiếp diễn ý nghĩa hiệp thông với mọi thành phần khi đã liên kết với Đức Giêsu, qua Kinh Tiền Tụng Thánh Thể: “Chúng con nài xin Chúa cho chúng con khi thông phần Mình và Máu Đức Kitô, được quy tụ nên một nhờ Chúa Thánh Thần”. 

Qua Bí tích này, mỗi người được hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa thông qua bản thể Đức Giêsu trong Bí tích Thánh Thể, đồng thời cũng được liên kết chặt chẽ với nhau trong cùng một thân thể.

2/ Một dấu tích sống động được tiếp diễn

Sau khi Chúa Giêsu thiết lập Bí tích Thánh Thể, ngài đã thiết lập Bí tích Truyền Chức liền sau đó như một sự liên hệ, liền mạch và mật thiết với nhau. Đúng thế, không thể có Thánh Thể nếu không có người cử hành Thánh Thể. Vì thế, Đức Giêsu đã trao ban thừa tác vụ đặc biệt cho các Tông đồ, để sau này, các ông sẽ đảm trách những việc làm như Đức Giêsu vừa làm cho đến ngày tận thế.

Thoạt mới nghe, chúng ta dễ tưởng lầm là Bí tích này chỉ có liên hệ hay dành riêng cho các linh mục? Nhưng không! Bí tích này liên hệ chặt chẽ với cộng đoàn, bởi vì Bí tích này thuộc về nhóm Bí tích xây dựng cộng đoàn.

Thật thế, chức vụ linh mục không phải cho bản thân mình, vì các ngài không thể tha tội cho mình, các ngài cũng không thể ban phát các Bí tích cho mình. Vì thế, linh mục là của mọi người, cho mọi người và vì mọi người.

Nếu Đức Giêsu trước kia đã đến để cho con chiên được sống dồi dào, thì ngày nay các linh mục cũng được trao ban trách vụ như thế. Ôi huyền nhiệm và cao quý vô lường! Qua Bí tích Truyền Chức, Đức Giêsu hiện diện cách trực tiếp khi các linh mục cử hành phụng vụ trong vai trò đại diện cho Đức Giêsu là Đầu của thân thể. Và, như thế, mỗi người chúng ta luôn được các ngài chăm sóc, nên không bị rơi vào tình cảnh bơ vơ, mồ côi vì không người chăn dắt. Các ngài sẽ thay mặt Chúa, thi hành việc của Chúa trong vai trò lãnh đạo, phục vụ và thánh hóa vì tình yêu.

3/ Một lời trăng trối tâm huyết muôn đời nhớ mãi

Cũng chiều hôm nay, mỗi chúng ta quây quần nơi đây, để nghe đọc lại di ngôn và lệnh truyền của Đức Giêsu về tình yêu. Lệnh truyền này mang tính cấp bách và quan trọng. Vì thế, đòi hỏi người môn đệ một sự bất khả từ, bởi lẽ, đây là điểm sáng, là cốt lõi, là bản chất thiết yếu của người mang danh Đức Kitô trong mình.

Thật vậy, Đức Giêsu không chỉ trao ban chính Thân Mình để nuôi sống nhân loại, mà Ngài còn dạy cho các Tông đồ bài học về tình yêu, để đưa các ông vào qũy đạo của chính Ngài là “yêu và yêu đến cùng”.

Ngài nói: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13, 34). Yêu như Thầy là yêu như thế nào? Thưa yêu như Thầy chính là trở thành người tôi tớ phục vụ, là chấp nhận chết cho người khác được sống. Không những dạy các ông bằng lời, mà Ngài còn làm gương cho các ông noi theo. Vì thế, ngay lập tức, Ngài đứng lên, cởi áo choàng, thắt lưng, lấy nước rửa chân cho từng Tông đồ trước sự ngỡ ngàng của các ông. Ngỡ ngàng là phải, vì hành vi rửa chân là việc làm của người nô lệ dành cho ông chủ. Nhưng hôm nay, Đức Giêsu đã làm đảo lộn vai trò và vị trí khi tự làm những việc dành cho người hầu hạ, và các Tông đồ trở nên những ông chủ.

Sau khi đã rửa chân cho các ông, Đức Giêsu nói tiếp: “Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em” (Ga 13, 14-15). Qua hành động rửa chân cho các Tông đồ, Đức Giêsu để lại cho các ông bài học về đức khiêm nhường và phục vụ. Tuy nhiên, để thực hiện được hai nhân đức này thì cần phải có tình yêu làm động lực.

Tình yêu thương được hiện lên như một ngọn hải đăng giữa biển khơi tăm tối, giúp cho mọi người nhận ra đường để đi và đi đến nơi an toàn. Vì thế Đức Giêsu đã dạy cho các ông biết trước viễn cảnh trong tương lai khi nói: “... mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy: là anh em có lòng yêu thương nhau" (Ga 13, 35).

4/ Sống linh đạo Thánh Thể và thực hiện lời trăn trối của Đức Giêsu

Thánh Phaolô nói: “Thật vậy, cho tới ngày Chúa đến, mỗi lần ăn Bánh và uống Chén này, là anh em loan truyền Chúa đã chịu chết”  (1 Cr 11, 26).

Là người kitô hữu, chúng ta tin Chúa, yêu Chúa và đều mong muốn được ơn cứu độ, thì không có lẽ gì chúng ta không sống linh đạo Bí tích này.

Nếu muôn ngàn hạt lúa kết thành tấm bánh, bao trái nho ép thành chén rượu, tượng trưng cho sự hiệp nhất của con cái Chúa, thì mỗi người chúng ta cũng phải hiệp nhất với nhau như vậy.

Muốn được như thế, tinh thần sống mầu nhiệm tự hủy của hạt lúa, trái nho luôn mời gọi và thôi thúc chúng ta thi hành.

Trong đời sống gia đình, người chồng phải là người chồng mẫu mực, sẵn sàng hy sinh gánh vác vì tình yêu với vợ và các con. Người vợ hãy hết lòng lo cho con cái, chăm lo cho chồng và con tử tế. Con cái biết ngoan ngoãn nghe lời cha mẹ... Làm được như thế, ấy là chúng ta đang thực hiện di ngôn của Đức Giêsu trong tinh thần hy sinh và phục vụ.

Nếu không yêu thương nhau, thì chẳng khác chi hạt lúa mì trơ trọi một mình, không sinh hoa trái. Nhưng yêu thương những người lân cận với mình thôi thì chưa đủ, mà phải yêu thương hết mọi người như Đức Giêsu đã yêu. Ngài đã không loại trừ Giuđa là kẻ rồi đây sẽ bán mình; không bỏ lại Phêrô là người sẽ thề sống thề chết không biết mình; không lên án và trách móc những người hại mình, mà: “Lạy Chúa, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23, 34)

Mong sao sứ điệp Lời Chúa hôm nay luôn ở bên tai, qua hành động và trong trái tim của chúng ta, để chúng ta yêu và yêu không giới hạn như Đức Giêsu. 

Lạy Chúa Giêsu, chúng con xin tạ ơn Chúa đã để lại cho chúng con Bí tích kỳ diệu là chính Thánh Thể Chúa làm của ăn của uống cho mỗi chúng con. Xin cho chúng con biết yêu mến, tin tưởng và mau mắn loan truyền cho tới khi Chúa đến trong vinh quang. Xin cũng cho mọi suy nghĩ và hành động của chúng con được tình yêu làm căn cốt và thúc đẩy, để như Chúa, chúng con yêu rồi mới làm. Amen.

 

3. Hãy rửa chân cho nhau

Chiều tiệc ly được thánh Gioan ghi lại tỉ mỉ và gợi hình. Chúa Giêsu làm bảy cử điệu rõ ràng: đứng dậy, cởi áo, lấy khăn, thắt lưng, đổ nước, rửa chân và lau lọt. Khi cởi áo choàng ngoài Chúa Giêsu đã làm cử chỉ của một người nô lệ hay ít ra của một người thợ bắt tay vào việc. Thời đó, phận sự của nô lệ, đặc biệt các nô lệ không phải là người Do thái có nhiệm vụ rửa chân cho khách tới nhà (1Sm 25,41).

Đây là một việc làm hoàn toàn tự nguyện của Chúa. Ngay cử chỉ Chúa cởi áo và tự lấy mặc lại (c.12) làm chúng ta liên tưởng đến những lời Chúa đã nói (Gio 10,17-18) để nói đến cái chết hoàn toàn tự nguyện và sự sống lại uy quyền của riêng Ngài. Khi Chúa Giêsu vừa làm xong công việc của một nô lệ, thì Chúa muốn nhấn mạnh đến sự bất tương xứng tự nhiên giữa công việc ấy đối với một vì Thiên Chúa (c.14), là họ thực sự là những môn đệ phục vụ hoàn toàn cho nước Trời, phục vụ cho đến chết, như lời Chúa nói “Tôi tớ không lớn hơn chủ, kẻ được sai không lớn hơn kẻ sai mình” (Mt 10,14 Lc 6,40. Gio 15,20). Đấy chúng ta thấy một vì Thiên Chúa thực hiện câu “Ta đến để phục vụ...” (Mt 20,28). Rất có thể có một ông vua trần thế làm công việc khiêm tốn ấy cho bầy tôi trước khi từ giã rút lui khỏi ngai vàng của mình.

Nhưng khó và rất khó mà tin được có một nhà vua làm như thế khi sắp trở lại kinh đô chiến thắng huy hoàng của mình. Còn Chúa đã làm gương trước khi về trời với Thiên Chúa Cha, Ngài đã cúi gồng mình rửa chân cho từng môn đệ kể cả Giuda Iscario. Có vậy chúng ta mới hiểu được câu “Vốn dĩ là một Thiên Chúa song chẳng coi mình bằng Thiên Chúa. Người tự ha ïvâng lời cho đến chết và chết trên thập giá” (Ph 2,6).

Chúng ta hiểu thế nào về một vì Thiên Chúa chỉ vì tình yêu nhân loại đã bỏ vinh quang trời cao đến giữa loài người, thân phận khổ lụy bèo mây. Ngài đã bằng lòng nhận những đau khổ lầm than nơi thân xác mình để làm gánh nhẹ nhàng cho mọi người. Ngài đã lấy tinh thần là phần bất tử một hủy diệt sự chết đã giết chết loài người.

Ngài bị  điều đi như con chiên và bị giết như con cừu. Ngài đã cứu chúng ta ra khỏi tà đạo như cứu khỏi Ai cập, khỏi tay Pharaon. Ngài đã làm cho thần chết phải bẽ bàng và khiến cho ma quỉ phải tru trếu khóc lóc, như Maisen làm cho Pharaon. Chính Chúa đã đón muôn khổ lụy trong muôn người. Ngài là Đấng bị giết trong con người Abel, bị trói chân tay trong con người Isaac,bị lưu lạc trong con người của Gicop, bị bắn trong con người của Giuse, bị bỏ trôi sông như Maisen, bị bách hại nơi con người David và bị nhục nhã trong các vì tiên tri. Chính Chúa là Đấng nhập thể trong cung lòng trinh nữ Maria, bị treo trên cây gỗ, bị chôn vùi dưới đất, chính Ngài từ trong nấm mồ kẻ chết sống lại và lên trời cao thẳm.

Vâng, đấy là giá trị của phục vụ. Phục vụ trong tình yêu vô vị lợi, không điều kiện, không ơn huệ. Chúa Giêsu là Chúa, là thầy nhưng cũng là tôi tớ. Đã yêu những kẻ thuộc về mình cho đến cùng, đến thí mạng sống, Ngài thanh tẩy vết nhơ của họ. Ngài phục vụ tất cả, kể cả Phêrô và Giuda. Nhờ ánh sáng gương lành của Chúa, Giáo hội khám phá ra ơn kêu gọi của mình là phục vụ anh em không trừ ai trong tình yêu với tư cách là một tôi tớ khiêm cung.

 

4. Bí tích Thánh Thể

Tại một ngôi làng nhỏ bên Tây Đức, trước năm 1940 là nơi gặp gỡ của các danh họa Aâu Châu, nhưng kể từ thế chiến thứ hai, nó trở thành nhà tù giam giữ những phạm nhân của Đức Quốc xã, có mặt một Phó tế được phong chức linh mục tại đây. Sau khi chết, ngài để lại chúc thư "Tình yêu và đền bù". Thế rồi 15 năm sau, nhà tù đó biến thành Dòng kín Carmel, các nữ tu đến đó để sống cho lý tưởng tình yêu và đền bù.

Tình yêu chính là ý nghĩa của Bí tích Thánh Thể. Trong bữa tiệc ly, Chúa Giêsu đã quì gối rửa chân cho các Tông đồ và cũng trong Bữa Tiệc ly Ngài đã thiết lập Bích tích Thánh Thể cũng như loan báo về cái chết của Ngài. Phêrô đại diện các Tông đồ đã có lý khi khước từ Chúa Giêsu rửa chân cho ông vì đây là công việc của tôi tớ trong nhà. Theo tục lệ người Do Thái, trước khi vào bàn ăn tôi tớ trong nhà phải đi rửa chân cho khách. Chúa Giêsu đã muốn thực hiện cử chỉ ấy để thực thi chính điều Ngài đã nói : Con người không đến để được hầu hạ, nhưng để hầu hạ và hiến mạng sống làm giá chuộc nhiều người.

Cử chỉ yêu thương mà Chúa Giêsu đã làm cho các Tông đồ là một quyết tâm sống trọn ý nghĩa yêu thương của Ngài, cũng như người tôi tớ không sống cho mình mà cho người khác. Nhưng Ngài chưa lấy làm đủ, Ngài còn biểu lộ tình yêu qua hình ảnh một miếng bánh trao ban để ở mãi với con người. Bị bẻ ra và tiêu tan, Chúa Giêsu đã sống đến cùng những đòi hỏi của yêu thương. Thánh Gioan đã tóm gọn cuộc sống Chúa Giêsu qua câu : "Ngài đã yêu các kẻ thuộc về Ngài và đã yêu đến cùng", nghĩa là sẵn sàng sống chết cho người mình yêu. Tình yêu đến cùng ấy, Chúa Giêsu đã thể hiện qua cái chết trên Thập giá, và Ngài còn muốn tái diễn hàng ngày dưới hình dạng Bánh và Rượu trong bí tích Thánh Thể. Cũng như tôi tớ chỉ sống và chết cho người khác, chiếc bánh chỉ hiện hữu để được ăn, được hao mòn, được tiêu tán. Dưới hình thức lương thực, Chúa Giêsu muốn thể hiện tình yêu của Ngài đối với chúng ta; tiếp nhận Ngài qua Bí tích thánh thể, chúng ta sống bằng chính sự sống của Ngài, ăn uống Ngài, chúng ta cũng được mời gọi nên giống Ngài và san sẻ sự sống của Ngài cho người khác.

Sống và chết cho người khác, nên một với Ngài là thực hiện sứ mệnh của Ngài tức là phục vụ và phục vụ cho đến cùng. Sứ mệnh phục vụ ấy Chúa Giêsu truyền lại cho chúng ta qua Bí tích Truyền chức. Linh mục là người được ủy thác để lặp lại lời của Chúa Giêsu. "Các con hãy làm việc này, mà nhớ đến Ta". Làm việc này không những là cử hành Bí tích Thánh Thể để Chúa Giêsu luôn ở mãi giữa nhân loại, mà con chu toàn sứ mệnh phục vụ của Ngài. Không chỉ riêng linh mục, nhưng tất cả những ai nhờ phép rửa được tháp nhập vào sự sống Đức Kitô, nghĩa là mọi kitô hữu trong lời nói và hành động cũng yêu thương và chết để nhớ đến Ngài. Mỗi cử chỉ và hành vi bác ái đều là một nghĩa cử tưởng nhớ đến Chúa Giêsu, đều là một tiếp tục, hay đúng hơn là một hiến lễ được dâng trên bàn thờ.

Tưởng nhớ việc Chúa lập Bí tích Thánh Thể và truyền chức linh mục trong ngày thứ năm tuần thánh, chúng ta nhớ đến cách đặc biệt các linh mục. Xin chúa ban cho các ngài luôn trung thành với sứ mệnh phục vụ. Xin cho tình yêu Chúa luôn ngự trị trong tâm hồn chúng ta để chúng ta cũng sống yêu thương và phục vụ.

 

 

5. Tình yêu hiệp nhất và tận hiến

Trước lễ Vượt Qua, Đức Giê-su biết giờ của Người đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng.

Ma quỷ đã gieo vào lòng Giu-đa, con ông Si-môn Ít-ca-ri-ốt, ý định nộp Đức Giê-su. Đức Giê-su biết rằng : Chúa Cha đã giao phó mọi sự trong tay Người, Người bởi Thiên Chúa mà đến, và sắp trở về cùng Thiên Chúa, nên trong một bữa ăn, Người đứng dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài ra, và lấy khăn mà thắt lưng. Rồi Đức Giê-su đổ nước vào chậu, bắt đầu rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau.

Vậy, Người đến chỗ ông Si-môn Phê-rô, ông liền thưa với Người : "Thưa Thầy ! Thầy mà lại rửa chân cho con sao ?" Đức Giê-su trả lời : "Việc Thầy làm, bây giờ anh chưa hiểu, nhưng sau này anh sẽ hiểu." Ông Phê-rô lại thưa : "Thầy mà rửa chân cho con, không đời nào con chịu đâu !" Đức Giê-su đáp : "Nếu Thầy không rửa cho anh, anh sẽ chẳng được chung phần với Thầy."   Ông Si-môn Phê-rô liền thưa : "Vậy, thưa Thầy, xin cứ rửa, không những chân, mà cả tay và đầu con nữa." Đức Giê-su bảo ông : "Ai đã tắm rồi, thì không cần phải rửa nữa ; toàn thân người ấy đã sạch. Về phần anh em, anh em đã sạch, nhưng không phải tất cả đâu !" Thật vậy, Người biết ai sẽ nộp Người, nên mới nói : "Không phải tất cả anh em đều sạch."

Khi rửa chân cho các môn đệ xong, Đức Giê-su mặc áo vào, về chỗ và nói : "Anh em có hiểu việc Thầy mới làm cho anh em không ? Anh em gọi Thầy là 'Thầy', là 'Chúa', điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là Chúa. Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em.

Một điều hết sức tự nhiên trong lời từ giã phải nói về sự ra đi của mình. Chúa Giê-su đã làm như thế đối với các môn đệ của mình, nhưng Ngài đưa ra thêm một mệnh lệnh.

Bằng một cử chỉ sống động bày tỏ tâm tình vẫn có nơi Ngài, Ngài bưng một chậu nước cúi mình rửa chân cho các môn đệ. Cảm nghiệm tâm tình của Chúa qua cử chỉ này, thánh Gio-an đã nhận định : "Ngài vẫn thương yêu những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian và thương yêu họ đến cùng." Sau đó Ngài bảo họ phải đối xử với nhau như Ngài đã đối xử với họ.

Ngài dùng chữ điều răn mới trong lời Ngài nói với họ như một lời từ giã. Đó là điều răn mà lãnh tụ Mô-sê tóm tắt trong luật pháp, nhưng đã được Chúa Giê-su làm mới lại bằng cách ban cho nó một tiêu chuẩn mới, một động lực mới : "Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy yêu anh em." Ngài sắp bước vào chuyến đi mà không ai có thể theo được, Ngài phải lên đường một mình, trước khi ra đi, Ngài truyền cho họ một mệnh lệnh là phải yêu mến nhau như Ngài đã yêu mến họ. Điều này có ý nghĩa gì cho chúng ta, và cho liên hệ giữa chúng ta với người khác ? Chúa Giê-su đã yêu môn đệ Ngài như thế nào ?

Chúa yêu các môn đệ bằng một tình yêu vô vị lợi, chỉ ban phát :

Đời sống của Ngài là đời sống ban phát. Ngài ban phát ra những gì Cha đã ban cho Ngài. Ngài đã ban cho họ sự bình an của Ngài nhờ đó Ngài được nâng đỡ trong cơn hoạn nạn. Ngài đã ban cho họ sự vui mừng mà Ngài đã tạo nên được giữa những khốn khổ đau buồn của mình. Ngài đã ban cho họ chìa khóa Nước Trời mà các quyền lực của hỏa ngục không thể nào thắng được. Ngài đã ban cho họ vinh quang mà chính Ngài đã có trước khi các thế giới được tạo nên, để tất cả mọi người trong họ được kết hợp làm một với Cha Ngài. Ngài đã ban cho tất cả những gì mình có – đã không giữ lại một chút gì dầu là chính mạng sống của mình.

Trong tình yêu thương cao quý nhất của loài người vẫn còn yếu tố ích kỷ. Có thể trong vô thức chúng ta thường nhớ đến hạnh phúc mình sẽ nhận, hoặc sự cô đơn mình phải chịu nếu mối tình bất thành hay bị từ chối. Chúng ta thường nghĩ : tình yêu này đem lại điều gì cho tôi ? Mặt trái của tình yêu là chúng ta đi tìm hạnh phúc cho mình. Nhưng Chúa Giê-su không nghĩ đến chính mình Ngài. Ước muốn duy nhất của Chúa là tự phó mình và những gì Ngài có cho những người Ngài yêu thương.

Chúa Giê-su yêu thương môn đệ bằng tình yêu hy sinh :

Chẳng có đòi hỏi nào là quá đáng đối với tình yêu. Chúa Giê-su đã yêu thương các môn đệ đến tận cùng, nên Ngài không đặt một giới hạn nào cho tình yêu thương. Nếu yêu thương có nghĩa là phải mang thập giá thì Chúa Giê-su sẵn sàng lên thập giá. Không còn lời nào rõ ràng hơn : "Này là mình Ta hiến nộp vì các con, này là máu Ta đổ ra vì các con …" Lắm lúc ta suy nghĩ cách sai lầm rằng tình yêu thương nhằm đem hạnh phúc đến cho mình. Dĩ nhiên, cuối cùng, tình yêu sẽ đem lại hạnh phúc, nhưng trước mắt, có thể tình yêu thương đem lại đau đớn, đòi hỏi thập giá.

Chúa Giê-su yêu môn đệ bằng tình yêu thông cảm, hiểu biết:

Chúa Giê-su biết rõ mọi nhược điểm của các môn đệ, nhưng Ngài vẫn yêu thương họ. Những người thật sự yêu thương chúng ta là những người biết rõ những điều tệ hại nhất nơi chúng ta mà vẫn yêu thương. Chẳng bao giờ chúng ta biết rõ ai nếu chưa sống với họ. Thỉnh thoảng mới gặp, chúng ta thấy họ trong tình trạng tốt nhất, hoàn toàn nhất ; nhưng khi sống chung, chúng ta mới biết được tính tình và nhược điểm của họ. Người khác cũng kinh nghiệm về ta như vậy. Chúa Giê-su đã sống với các môn đệ qua nhiều ngày nhiều tháng, Ngài biết tất cả những gì cần biết về họ, nhưng Ngài vẫn yêu thương họ. Nhiều khi chúng ta bảo rằng tình yêu mù quáng. Sự thật không phải thế, vì tình yêu mù quáng có thể kết thúc trong tan vỡ và trống rỗng. Tình yêu chân thật là tình yêu với đôi mắt mở to, là yêu con người không theo tưởng tượng, nhưng yêu người ấy vì chính người ấy vậy. Không yêu một phần của người đó mà yêu con người toàn diện. Tấm lòng bao la của Chúa Giê-su đủ để yêu thương chính con người thật của chúng ta.

Chúa yêu môn đệ bằng tình yêu tha thứ.

Người môn đệ đầu đàn chối bỏ Chúa. Tất cả đều lìa bỏ Ngài trong giờ phút Ngài cần họ hơn cả. Trong những ngày Chúa sống với họ, thật sự họ không hiểu Ngài. Họ mù quáng và không nhạy bén, học chậm và thiếu hiểu biết. Nhưng Chúa Giê-su không chấp ; không có sự thất bại nào mà Ngài không tha thứ được. Tình yêu không biết tha thứ thì không thể làm gì được ngoại trừ  co rút dần và chết. Chúng ta là những tạo vật nghèo khốn, mang một thân phận khiến chúng ta làm tổn thương những người yêu mến chúng ta hơn cả. Vì thế tình yêu trường tồn phải được xây dựng trên sự tha thứ vì không có sự tha thứ thì tình yêu sẽ chết.

Ngài đã chết vì kẻ khác, việc ấy chứng tỏ tình yêu của Ngài. Tình yêu hy sinh biểu lộ trong những kẻ theo Ngài sẽ làm chứng cho thế gian biết thế nào là môn đệ thật.

 

 

6. Rửa chân cho môn đệ (Ga 13,1-15)

1. Chọn đoạn văn rửa chân để đọc trong thánh lễ thứ năm Tuần Thánh thoạt tiên xem ra hơi lạ, vì ta không thấy có liên lạc nào rõ ràng giữa cử chỉ của đấng Cứu thế với mầu nhiệm Tử nạn - Phục sinh của Ngài mà cử hành Thánh Thể đang hiện tại hóa. Vậy phải cố gắng tìm ra ý nghĩa sau xa của bản văn bằng cách đặt nó trong tương quan với công việc cứu rỗi chúng ta.

Các tác giả đồng ý chia phúc âm Gioan làm hai phần chính: phần I gồm 12 chương đầu nói lên việc Chúa Giêsu tỏ mình cho thế gian. Phần II từ chương 13 đến chương 20 gồm những mạc khải đặc biệt Chúa Giêsu dành riêng cho các môn đệ trong bối cảnh “giờ” của Ngài (Ga 13,1), nghĩa là trong bối cảnh tử nạn và Vinh hiển của Ngài.

Được đặt ở đầu phần II của phúc âm, đoạn rửa chân có một ý nghĩa cao hơn ý nghĩa một bài học luân lý. Để hiểu hành động này trước tiên phải nhớ rằng nó liên quan mật thiết với cuộc khổ nạn của Chúa, và cũng đừng quên hậu cảnh Thánh Thể và phục sinh của nó.

Nếu Gioan đã thấy không cần nói đến việc thành lập phép thánh thể trong các trình thuật các biến cố của buổi Tiệc ly cuối cùng, chính là vì việc biên soạn các chương 13-17 đã được thành hình trong khung cảnh các cuộc cử hành lễ vượt qua (Phục sinh) hàng năm.

2. Các câu 1-3 không những chỉ là lời dẫn nhập của đoạn văn rửa chân, mà cả hai phần của Phúc âm Gioan nữa (ch. 13-20). Lời văn có vẻ trịnh trọng và bi thảm: cuộc đời Đức Kitô đã đạt đến cao điểm, đã đến giờ mà Ngài, nhờ cái chết, qua khỏi thế gian này để về cùng Cha Ngài và trong cái chết này, Ngài phải đương đầu với Satan, thủ lãnh thế gian (14,30).

“Trước lễ Vượt qua”, những chữ đầu tiên này rất quan trọng. Dầu người ta có giải quyết thế nào về vấn đề niên hiệu các ngày sau cùng, của cuộc đời Chúa Giêsu dưới thế này (đối với phúc âm nhất lãm, bữa tiệc ly xem ra trùng hợp với ngày lễ vượt qua của người Do thái, trong khi đó đối với Gioan, bữa tiệc ly xảy ra truóc đó một ngày), hình như chắc Gioan muốn trình bày cho chúng ta nội dung của chương 13-17 trong bối cảnh lễ vượt qua Do thái. Do đó trình thuật này sẽ được sáng tỏ hơn nếu đặt nó trong tương quan với biến cố vượt qua. Sự giải thoát của chúng ta, sự vượt qua từ cái chết đến sự sống, được đảm bảo nhờ chính cuộc vượt qua mà Đức Kitô đã thực hiện bằng viêc tự hạ mang lấy thập giá: việc tự hạ này được tiên báo trong cử chỉ khiêm tốn phục vụ thay thế các tông đồ.

Lời dẫn nhập của trình thuật này cũng cho thấy hành động cuối cùng của đời Đức Kitô là việc biểu lộ sâu xa nhất tình yêu của Ngài: “Đã yêu mến những kẻ thuộc về Ngài còn trong thế gian, thì Ngài đã yêu mến họ đến cùng” (eis telos). Từ ngữ hy lạp eis telos có thể hiểu theo hai cách: “Cuối cùng, nghĩa là sau hết xét theo thời gian” và “tột cùng”, nghĩa là tuyệt đỉnh xét theo hoàn hảo”. Có lẽ ở đây có thể hiểu cả hai nghĩa. Tuy nhiên các tiếng đó nhấn mạnh sự hoàn hảo, sự sung mãn hơn. Trong khi dùng các chữ này, tác giả phúc âm muốn nói Chúa Giêsu đã yêu “các kẻ của Ngài” đến mức độ tột cùng, khi chấp nhận chết cho họ. “Không có lòng mến nào lớn hơn là thí mạng sống vì bạn hữu” (15,13).

Việc Rửa Chân được đặt trong cao điểm của tình yêu của Thày đối với trò. Từ đó, theo gương Chúa Giêsu không chỉ hệ tại phục vụ anh em một việc nào đó, nhưng ở việc yêu thương hoàn hảo bằng cách thường xuyên hiến thân mình hoàn toàn phục vụ tha nhân, đến độ hy sinh ngay cả mạng sống.

Điểm lưu ý cuối cùng về phần dẫn nhập: Gioan nhấn mạnh đến việc Chúa Giêsu bước vào mầu nhiệm vượt qua, chấp nhận “giờ của Ngài” một cách ý thức. Ngoài ra, Đấng sửa soạn rửa chân cho các môn đệ và đang đối diện với cái chết, dưới cái nhìn của tác giả phúc âm, là Vị Chúa vinh hiển, là Con độc nhất mà Chúa Cha đã trao tất cả vào trong tay (c.3). Câu sau cùng này, khá trùng hợp với 17,2 và với lời báo Đức Kitô phục sinh trong Mt 28,18, cho thấy Gioan biên soạn trình thuật dưới ánh sáng biến cố vượt qua hầu loan truyền cho các Kitô hữu ý nghĩa cao quí và sâu sắc hàm chứa trong việc Rửa chân, ý nghĩa mà các tông đồ chưa lĩnh hội khi được rửa chân.

Thường thường người ta rửa chân khi bước vào nhà (x. Ga 19,21; Lc 7,44; 1Tm 5,10), trước lúc chuẩn bị ăn uống. Ở đây việc rửa chân diễn ra trong lúc ăn. Như thế đây không phải là dấu hiệu phục vụ khách giúp khách rủa sạch bụi đường. Thời gian Chúa Giêsu chọn để rửa chân đã là một việc khác thường.

Trong gia đình, việc rửa chân cho chủ nhà không phải là việc của gia nhân Do thái, mà là của gia nhân ngoại quốc (Strack - Bill II, 557). Nhưng đừng quá phóng đại việc này, vì vợ vẫn rửa chân cho chồng và con gái rửa chân cho cha.

Trong bối cảnh bữa tiệc ly, ngoài thời gian khác thường, còn một cử chỉ nghịch lý nữa, là Chúa Giêsu, với tư cách là một rabbi (c.13-14; một tôn sư), đã hạ mình rửa chân cho môn đệ. Thường các môn đệ giúp thày nhiều việc; đối với người Do thái, các công việc đó quan trọng đối với việc huấn luyện môn đệ hơn là các lời giảng dạy của ông thày. Ở đây, Đức Kitô đảo ngược vai trò, vì Ngài muốn nhấn mạnh đến tính cách mầu nhiệm của việc rửa chân.

Càng ngạc nhiên hơn, khi tác giả phúc âm trình bày người rửa chân trong ánh sáng vinh hiển của vị “Chúa” (c.7.13-14) có uy quyền trên tất cả (c.3), đang chuẩn bị về cùng Cha (c.1.3) để được mặc lấy quyền năng TC (17,24).

Khi hành động như thế, Chúa Giêsu biết chắc các môn đệ sẽ kinh ngạc. Ta có thể tin rằng Ngài muốn gây ra chuyện đó để lợi dụng cơ hội mà thông đạt cho họ một mạc khải quan trọng về sứ mạng của Ngài và về những yêu sách của đời Kitô hữu.

Chính vì muốn lưu ý hướng sâu xa của Chúa mà Gioan trình bày trình thuật rửa chân theo phương pháp tam phần của các giáo sĩ Do thái. Văn chương các giáo sĩ thường dùng phương thức sư phạm này là đưa ra một cử chỉ bí nhiệm - để gợi lên một vấn nạn - và sau cùng là lợi dụng cơ hội để thông truyền một giáo huấn (x. D.Daube, the New Testament and Rabbinic Judaism, London, 1956,tr. 175-183). Tuy đoản văn rửa chân có nhiều phức tạp, nhưng nó theo phương pháp này: mô tả cử chỉ bí nhiệm (c.4-5) - vấn nạn (c.6) - giải thích (12-15)

Như thế việc rửa chân cũng được xếp vào loại “dấu chỉ”. Hành động của Chúa Giêsu nói lên một mầu nhiệm, một ý nghĩa còn ẩn giấu mà các tín hữu phải tìm hiểu trong đức tin. Việc dùng hai động từ để cùng chỉ việc cởi bỏ (theinai) và mặc lại (laibein) áo xống (13,4.12) cũng như việc thí mạng và lấy lại mạng sống (10,11.15.17-18) đã cho thấy chủ ý nói trên.

Mối tương quan của trình thuật (c.4-5) với “giờ” Tử nạn và Vinh hiển (c.1-3) cũng cho thấy việc rửa chân là “dấu chỉ” của con đường tự hạ mà Chúa Giêsu đã chọn để trở về cùng Cha Ngài. Cuối cùng, mẩu đối thoại giữa Chúa Giêsu và Phêrô nói lên ý nghĩa của dấu chỉ này.

4. “Nếu Ta không rửa ngươi, tất ngươi không có phần nào với Ta” “Có phần với Ta” nghĩa là sống chung với ai (2Cr 6,15). Nếu Phêrô đứng đầu từ chối, ông sẽ cắt đứt liên hệ với thày mình. Để giải thích sự nghiêm khắc này, thánh Cyrille và Basile nói đến tội bất tuân. Nhưng đa số các tác giả muốn cắt nghĩa theo khía cạnh huyền nhiệm, thần bí: cần thiết phải được Chúa Giêsu tinh luyện mới được cứu rỗi (Origene, Ambroise, Audustin,Gregoire, Thomas, Maldonat, Calmet). Tuy nhiên, vấp phải một khó khăn khác. Ý tưởng “tinh luyện” xem ra xa lạ đối hành động của Chúa và không hề được nhắc đến trong phần giải thích. Với lại những người chủ trương cắt nghĩa theo khía cạnh huyền nhiệm, đã nêu ra nhiều lối giải thích bất đồng khó hòa hợp được. Vậy nên theo thánh Gioan Kim Khẩu cắt nghĩa đây là một bài học khiêm nhường. Nếu hành động Chúa Giêsu là một dấu chỉ khiêm nhượng, thì ít nhất đây là biểu tượng, là biểu thức sống động của việc Ngôi Lời tự hạ. Chắc chúng ta còn nhớ một đoản văn hay trong thư gởi tín hữu Philip: “Hãy có nơi anh em những tâm tư như đã có nơi Đức Chúa Giêsu Kitô. Ngài, phận là phận của một vị TC... song Ngài đã hủy mìn ra không, lĩnh lấy thân phận tôi đòi. Phêrô từ chối là vì ông thấy khó chịu khi để Chúa Giêsu phải tự hạ quỳ trước mặt ông; ông đã phán tương tự khi Chúa Giêsu loan báo tử nạn (Mt 16,22; Mc 8,33) và đã bị Chúa Giêsu quở trách nặng lời: “Xéo đi sau Ta, hỡi satan. Ý tưởng của ngươi không phải là ý tưởng TC...” (Mt 16,23; Mc 8,33). Lúc Phêrô chống lại sự tự hạ của Chúa Giêsu, cách nào đó ông muốn làm cho chương trình cúu rỗi bị thất bại. Như thế ông làm sao thuộc về Chúa Giêsu ? Muốn thuộc về Ngài, phải chấp nhận để Ngài cứu chúng ta bằng việc tự hạ của Ngài, phải để Ngài làm.

Chúa Giêsu không chấp nhận phản ứng bộc phát của Phêrô, một phản ứng chứng tỏ ông không hiểu gì. Không được phán đoán lối hành động của Chúa từ bên ngoài, theo quan niệm loài người, Phêrô bị giam hãm trong quan niệm cũ về Đấng Messia nên không thể chấp nhận Đấng Messia tự hạ phục dịch như người nô lệ. Tuy nhiên trong ý tưởng của Chúa Giêsu, hành động này chứa đựng ý nghĩa cao xa mà Phêrô chưa lĩnh hội được: đó là việc phục dịch nô lệ ấy tiên trưng cái chết của Ngài. Chắc chắn Ngài đã loan báo cho họ biết Ngài sẽ phải chết. Và trong trường hợp đó, Ngài đã quở trách Phêrô vì đã phản đối (Mt 16,22; Mc 8,33). Phêrô đã không hiểu gì nên liền sau đó, nghĩa là sau khi rửa chân, Chúa Giêsu đã dạy cho ông một bài học. Đây là ý nghĩa đầu tiên của thành ngữ “nhưng sau này” (13,7). Tuy nhiên, cũng có thể có nghĩa là ngày hôm sau: hôm sau họ sẽ phải hiểu rõ ràng hơn, khi thấy Đấng Messia bị treo trên thập giá và đổ máu ra cho đến giọt cuối cùng.

Phêrô cũng chưa lĩnh hội được cách sâu xa mạc khải của Đức Kitô sau khi chứng kiến cảnh biến hình của Chúa, ông không thể chấp nhận việc Đấng Messia chết (Mt 16,21-23); bây giờ cái chết sắp đến, ông lại không thể chịu được việc Chúa tự hạ như một tên nô lệ. Thật ra, Phêrô đâu có chống lại chính việc rửa chân: “Vậy thì, xin rửa cả đầu và cả tay nữa”, song là chống lại quyết định của Chúa Giêsu muốn rửa cho ông, chống lại việc tự nguyện hạ mình như thế: “Thưa Ngài, Ngài mà lại rửa chân cho tôi sao ?”. Phêrô vẫn chưa hiểu rằng Chúa Giêsu, qua cử chỉ đó, tự đặt mình trong viễn cảnh đã chi phối đời Ngài mà cái chết của Ngài sẽ làm cho hoàn hảo (19,30). Ông cũng chưa biết một môn đệ đi theo Chúa Giêsu phải có thái độ phục vụ tha nhân và phục vụ hết mình (10,38-45; 9,30-35; Mt 20,21-28; Lc 22,24-30; 44-48; Ph 2,5-8), cũng không hiểu ý nghĩa đời Kitô hữu là giúp tha nhân. Tuy nhiên, ai không hiểu được vậy, sẽ không có chỗ trong nước trời hiện tại, cũng như trong Nước Trời vinh quang mai sau. Như thế, nếu lời quở trách của Chúa Giêsu không phải là lời quở trách lỗi của Phêrô, thì ít nhất cũng là lời khuyến cáo, hối thúc Phêrô mau mắn hiểu ý nghĩa đời sống của Đức Kitô và ý nghĩa đời sống Kitô hữu. Theo chương trình cứu rỗi của Chúa Cha, Chúa Giêsu phải chết ô nhục trong việc hoàn toàn từ bỏ chính mình. Đó là điều mà tất cả Kitô hữu đến lượt mình phải thực thi.

5. Khi cho Phêrô biết hiệu quả trầm trọng của việc ông từ chối, Chúa Giêsu cho thấy ý nghĩa thiêng liêng sâu xa của việc Ngài làm. Tuy nhiên Phêrô không nhận ra rằng: ngoài việc rửa chân, Chúa Giêsu còn muốn nói đến việc tẩy rửa thiêng liêng, điều kiện để trở thành bạn hữu và được dự phần vào của cải thần linh. Như người đàn bà Samaritanô đối với nước hằng sống (4,15), như dân Do thái đối với bánh sự sống (6,34), Phêrô đang ở trên bình diện vật chất, nghĩ rằng thày mình chỉ đòi chấp nhận sự tẩy rửa thân xác như điều kiện thành bạn hữu của Ngài. Nếu theo gương bà Samaritanô và dân Do thái; Phêrô hối hả nhận: Thầy có thể rửa luôn cả tay chân và đầu nữa; ông sẵn sàng chấp nhận tất cả...

Câu Chúa Giêsu trả lời hoàn toàn nói đến việc thanh luyện và tẩy rửa thiêng liêng; điều này chứng tỏ Ngài đứng trên bình diện thiêng liêng dù Ngài đang nói về các thực tại vật chất, như Ngài đã làm lúc nói về Đền thờ thân xác Ngài (2,19-21) về nước hằng sống (4,10-15), bánh hằng sống (6,27-34); vì các hình ảnh vật chất đối với Ngài là biểu tượng của những thực tại thiêng liêng.

Khi Phêrô đòi được rửa cả chân tay và đầu nữa, Chúa Giêsu hiểu lời ông theo một ý nghĩa thiêng liêng. Dưới mắt Chúa Giêsu, Phêrô vừa xin Ngài tẩy rửa cách thiêng liêng, tẩy cả con người; và Chúa cho thấy việc tẩy rửa hoàn toàn như thế là vô ích. Đã tắm rồi thì người phương đông vì đi chân không nên không cần tắm nữa, chỉ cần rửa chân vì dính bụi. Đối với các môn đệ thì cũng vậy: “Các ngươi đã sạch bời Lời Ta đã nói với các ngươi” (15,3). Lời thần linh, đã được tất cả đón nhận trừ Giuda, có giá trị tẩy sạch trong nước hằng sống của Thánh Thần (3,5) đến nỗi họ không cần tẩy rửa thiêng liêng toàn diện nữa. Chỉ cần Chúa Giêsu hoàn tất trong họ việc thanh tẩy bằng cái chết trên thập giá được biểu tượng qua việc rửa chân.

6. Chúa Giêsu đã rửa chân để làm gương, để dạy một bài học sống động. Chúa Giêsu là thày, là Chúa, dùng phương thế này để ghi khắc trong tâm hồn các môn đệ rằng Ngài đến để phục vụ chứ không phải để được phục vụ (Mt 20,28; Ph 2,6-11). Ngài đã sống một đời yêu thương (13,1), một tình yêu (agapê) luôn trao ban và trao ban chính mình.

Bằng dấu hiệu rửa chân lạ thường, Chúa Giêsu đã cho thấy Ngài hoàn toàn phục vụ con người, và phục vụ bằng chính cái chết trên thập giá. Cũng như Ngài đã cởi áo và mặc áo lại để phục vụ họ, Ngài sẽ thí mạng sống và lấy lại mạng sống (10,18) vì lợi ích của họ. Qua cử chỉ rửa chân Đức Kitô mạc khải cho chúng ta nhân cách sâu xa của Ngài: Ngài là Đấng hiện hữu cho kẻ khác, là Đấng phục vụ hoàn toàn cho anh em đồng loại.

“Ta nêu gương cho các ngươi, ngõ hầu như Ta đã làm cho các ngươi. Các ngươi cũng làm như vậy” (c.15), “Phúc cho các ngươi, nếu các ngươi làm như vậy” (c.17). Theo gương Chúa Giêsu không phải là làm lại một cách vật chất cử chỉ khiêm nhượng mà Ngài đã làm. Nhưng đúng hơn là luôn qui hướng đến việc hiến mạng sống mình, ý hướng được cụ thể hóa qua việc rửa chân.

Làm như Ngài đã làm chính là đi vào trong chuyển động của đời sống và sứ mạng Ngài, là xem cuộc hiện hữu mình như là việc phục vụ tha nhân, là hiểu rằng Kitô hữu “hiện hữu” cho người khác, bằng cách chấp nhận tôi tớ đến độ chia xẻ cuộc Tử nạn của Chúa Giêsu.

Luật phục vụ này có giá trị cho mọi kitô hữu, nhưng tác giả phúc âm muốn cho chúng ta thấy luật phục vụ đó đặc biệt là lẽ sống của các tông đồ, của những người có nhiệm vụ hay quyền bính trong dân Chúa. Vì thế tác giả phúc âm đã đưa trình thuật của mình câu nói chung cho cả truyền thống phúc âm: “Quả thật, Ta bảo các ngươi, tôi tớ không lớn hơn chủ, kẻ được sai không lớn hơn người sai phái” (c.16; Mt 10,24; Lc 6,40).

KẾT LUẬN

Nếu Đức Kitô Tử nạn và Phục sinh đã giải thoát chúng ta khỏi tội và cái chết, chính là để chúng ta phục vụ TC và anh em. Hoa quả của phép Thánh Thể không gì khác hơn là sự đổ đầy tình yêu TC giúp người tín hữu biết phục vụ theo gương của thầy.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

Ba câu đầu của đoạn văn rất long trọng: chúng dẫn vào các biến cố của nhà tiệc ly và cuộc tử nạn. Việc rửa chân là một phần, nhưng mới là một nghi thức chuẩn bị. Nó là yếu tố đầu tiên trong cuộc đàm thoại của Chúa Giêsu tại nhà tiệc ly và là đoạn đầu của cuộc tử nạn. Theo một nghĩa nào đó, việc rửa chân tóm kết cuộc đời của Chúa Giêsu cũng như cái chết của Ngài, vì khi sống cũng như khi chết, Chúa Giêsu luôn khiêm nhường và phục vụ.

Đoạn phúc âm này của gioan là một trong những đoạn nói đến việc Chúa Giêsu hành động để giáo huấn các môn đệ. Chúa Giêsu biết việc giáo huấn là một hành trình tiệm tiến. Ngài nói và hành động cũng như người ta gieo giống vào trong cánh đồng, biết rằng muốn chín mùi cần phải chờ đợi thời gian. Chúa Giêsu dạy một bài học thực tế, Ngài biết rằng các hành động cụ thể là ngôn ngữ hùng hồn để đánh động và đáng nhớ nhất. Các môn đệ và các thế hệ tín hữu sẽ không bao giờ quên bài học lạ thường và rõ ràng đó về đức ái mà Chúa Giêsu đã dạy trước khi cử hành bữa tiệc ly.

3. Điều Ta làm, nay ngươi không biết, nhưng sau này ngươi sẽ hiểu”. Với lời này, Chúa Giêsu cho thấy khi dùng quyền hành để phục vụ các tông đồ, Ngài muốn tôn trọng thời gian trong việc biến đổi họ. Ngài đã có thể giáo huấn họ với ánh sáng thần linh chói lọi, nhưng Ngài đã giấu tính cách TC dưới một tấm màn nhân loại khiêm nhu. Ngay cả các tông đồ sống chung với Ngài cũng chỉ được đưa đến niềm tin trọn hảo bằng con đường tiệm tiến. Ngài thường nói với họ: “Điều Thầy nói với các con bây giờ, các con chưa hiểu được:. Ngài đã không tức giận vì họ chậm hiểu, vì họ không chấp nhận ngay con người và sứ mệnh của Ngài. Nhưng Ngài vẫn nói và hành động với uy quyền, quả quyết mình là thầy. Ngài cũng nói: điều các con không thể lĩnh hội vì thiếu hiểu biết, thì hãy chấp nhận bằng lòng tin tưởng vào thày.

4. Lời Chúa Giêsu cứng rắn đáp trả Phêrô làm chúng ta ngạc nhiên. Vì khi từ chối không để Chúa Giêsu hạ mình trước mặt ông, Phêrô đã vô tình hủy bỏ mọi ý định cứu rỗi của Chúa Cha, là Đấng muốn Con Ngài muốn cứu rỗi thế gian với tư cách là người tôi tớ khiêm nhu và hèn yếu hơn là với quyền năng chinh phục. Từ chối ý định của Chúa Cha, mà Chúa Giêsu đang tỏ ra với cả tâm hồn, tức là tự tách rời khỏi Chúa Giêsu. Như Phêrô, chúng ta luôn luôn bị cám dỗ mong muốn trở thành môn đệ Chúa Giêsu mà không qua đau khổ và nhục nhã như Ngài. Nhưng theo thánh ý Chúa Cha, đó là con đường duy nhất dẫn đến vinh quang.

5. Nhờ nhận lãnh Mình và Máu Chúa, người tín hữu được án sáng và sức mạnh cần thiết để chỉ hiện hữu cho Ngài và làm triển nở tình yêu mà Chúa Giêsu không ngừng thông ban. Chúng ta sắp tham dự vào bữa tiệc Thánh Thể, chúng ta hãy để cho Chúa đến thăm chúng ta, hãy để Ngài biến đổi chúng ta: đó chính là cuộc vượt qua của chúng ta để vào nước Trời, nơi mà tất cả đều là an bình và hạnh phúc. Cuộc vượt qua này chỉ được thể hiện tùy theo mức độ chúng ta phó thác vào sức mạnh của Chúa Kitô.

 

7. Dấu chỉ rửa chân

Chỉ cần nhìn ngắm Chúa Giêsu rửa chân cho các môn đệ là đủ để cuộc sống bị đảo lộn do sự khiêm hạ yêu thương của Ngài và ước muốn bắt chước Ngài. Nhưng các nhà chú giải giúp chúng ta hiểu sâu hơn lý do tại sao thánh Gioan bắt đầu trình thuật về cuộc Khổ nạn bằng đoạn văn này.

Chúng ta bị cám dỗ đi ngay đến lời khuyên cuối cùng bởi vì đây là vấn đề hành động: “Thầy đã làm gương cho các con để các con cũng bắt chước mà làm như Thầy đã làm cho các con”. Dầu vậy, trước tiên nên suy niệm điều mà Chúa Giêsu nói với Phêrô: “Nếu Thầy không rửa chân cho con, con sẽ chẳng được dự phần với Thầy”.

Dĩ nhiên “rửa” có nghĩa về mặt vật chất và cũng có nghĩa về mặt tinh thần, nghĩa biểu tượng, của sự thanh tẩy bí nhiệm hơn và hoàn toàn hơn. Đó chính là điều người ta nói về phép Rửa làm cho chúng ta được “dự phần với được Kitô” bằng cách dìm chúng ta vào trong sự chết và sự sống lại của Ngài: “Ai đã tắm rồi thì hoàn toàn sạch sẽ”.

Chỉ thấy cử chỉ nên Phêrô phản đối: “Rửa chân cho con sao? Không!” Cũng như Phêrô đã chống đối khi Chúa Giêsu nói Ngài phải chết: “Thầy phải chết ư? Không!” Không phản ứng mạnh mẽ như thế nhưng chúng ta cũng có những tiếng “Không”. Chúng ta loại bỏ điều làm chúng ta khó chịu trong các cử chỉ và lời nói của Chúa Giêsu, hoặc là chúng ta không đào sâu đủ các cử chỉ và lời nói.

Ở đây, “dự phần” giúp chúng ta hiểu việc rửa chân như là dấu chỉ. Chúa Giêsu yêu cầu chúng ta cùng với Ngài đi vào trong cõi tình yêu tinh tuyền của Ngài. Ngài đã dùng tình yêu chân thật biết bao, mạnh mẽ biết bao đó để cứu chuộc thế giới. Bởi thế, phải phục vụ đến mức khiêm hạ nhất. Lòng kiêu hãnh đầu độc tình yêu, lòng khiêm hạ cứu vớt tình yêu. Nhưng lòng khiêm hạ nào?

Gioan nói cho chúng ta biết: “Chúa Giêsu đã yêu thương con người và yêu thương cho đến cùng”. Nếu không hiểu rõ cực điểm này của tình yêu, người ta sẽ xem việc Chúa Giêsu rửa chân là một cử chỉ khiêm hạ đơn giản hơi có tính cách phô trương. Không, cực điểm bắt đầu ở đây: Chúa vinh quang (“Chúa Cha đã đặt mọi sự trong tay Ngài, Ngài đến từ Thiên Chúa và trở về cùng Thiên Chúa”) bắt đầu một công việc “phục vụ” là điều sẽ dẫn Ngài đến cái chết. Đây là một mầu nhiệm của sự tự hạ cũng như của sự đau khổ: “Người ta sẽ nhạo cười Ngài, người ta sẽ phỉ nhổ Ngài” (Mc 10,34). Ngay từ bước chân đầu tiên hướng về cuộc Khổ nạn này, việc phục vụ được gắn liền với sự khiêm hạ. Điều này nói với chúng ta rằng phục vụ không những không làm cho vinh quang lu mờ nhưng chỉ  có sự phục vụ khiêm hạ mới đi đến cực điểm của tình yêu.

Đây là một bài học khó khăn. Điều mà người ta có thể xem là một cử chỉ bắt chước được thực ra là hành vi của một tình yêu hóa thân vào trong sự phục vụ không bờ bến. Việc rửa chân đưa dẫn cái lý của sự hiến thân được Chúa Kitô thúc đẩy đến những đau khổ cùng cực và cái chết. Nếu chúng ta không xin được “dự phần với Chúa Kitô” để Ngài rửa mọi kiêu hãnh của chúng ta và thông phần sức mạnh tình yêu của Ngài cho chúng ta, chúng ta sẽ sẵn sàng phục vụ bằng những công việc nhỏ nhặt mà vẫn chẳng có được một cuộc sống phục vụ.

Bởi vì đây mới là điều đáng nói. Giờ đây chúng ta có thể đọc lại những từ cuối cùng của bào đọc này và lượng định tầm quan trọng của chúng: “Thầy đã làm gương cho các con”. Trong khi dõi theo Chúa Giêsu đi đâu, chúng ta biết chúng ta phải đi đâu với Ngài. Cử chỉ mở đầu cuộc Khổ nạn biểu thị một tình yêu đòi buộc chúng ta phải nghĩ đến việc cúi xuống chân những người anh em của chúng ta và thúc đẩy chúng ta hành động cụ thể, dấn thân quên mình. “Thầy đã làm gương cho các con” thuộc về việc rửa chân nhưng đã để lộ cho thấy thánh giá rồi

 

 

8. Bữa Tiệc Giao Ước

PHỤNG vụ chiều thứ Năm Tuần Thánh vẽ lại trước mắt chúng ta quang cảnh bữa tiệc ly, lúc mà Chúa Giêsu thết đãi các môn đệ bữa tiệc Giao ước mới trong khuôn khổ bữa tiệc Vượt qua của truyền thống Do Thái. Bầu khí Phụng vụ hôm nay, cũng như cả Tuần Thánh này, mang một vẻ trang trọng, bi thống, phản ảnh phần nào bầu khí bi thống, trầm trọng vào những ngày cuối cùng trong cuộc đời dương thế của Chúa Giêsu. Lúc ấy cả thành Giêrusalem xôn xao, náo nhiệt, đón mừng ngày lễ lớn nhất của niên lịch Phụng vụ. Từng đoàn người hành hương, gốc Do Thái cũng như Hy Lạp, tuôn về thành Thánh (Gn 11,55-57; 12-20). Giới lãnh đạo tìm kế ám hại chúa Giêsu (Gn 11,57) trong lúc phần đông dân chúng lại ngưỡng mộ Người và đã dành cho Người một cuộc tiếp đón hết sức nồng nhiệt (Gn 12,12-19). Bầu khí căng thẳng kịch liệt... chắc chắn sẽ xảy ra một biến cố quan trọng gì đây.

Phía Đức Giêsu : Người biết rõ giờ Người đã điểm (Gn 12,23; 13,1) và Người đi vào giờ định mệnh ấy với tất cả ý thức sáng suốt và quả cảm. Người biết : Người sẽ chết. Nhưng là một cái chết vô cùng hệ trọng : một cái chết tự nguyện để tuân hành thánh ý Chúa Cha; một cái chết vô tội để chuộc tội cho cả loài người. Những hành động Người sắp làm sẽ đánh dấu khúc quẹo định đoạt của lịch sử cứu độ : Người hoàn tất những gì Thiên Chúa đã bắt đầu với dân Do Thái trong quá khứ và khai mạc một kỷ nguyên cho tương lai nhân loại : kỷ nguyên Giao ước mới và vĩnh viễn. Ta phải suy niệm về ý nghĩa bữa tiệc Giao ước trong bối cảnh ấy

1. BỮA TIỆC VƯỢT QUA CỦA NGƯỜI DO THÁI 

Chúa Giêsu là một ngươi Do Thái. Đã bao lần Người cử hành lễ Vượt qua với gia đình và đồng bào của Người. Nay là lần cuối cùng (Lc 22,15-16). Người ăn bữa tiệc cổ truyền tưởng niệm cuộc giải phóng dân tộc Người khỏi ách nô lệ Ai Cập. Biến cố chính trị xã hội ấy đã xảy ra 13 thế kỷ trước đó và hàm chứa những ý nghĩa tôn giáo, mà truyền thống tiên tri và tư tế đã dần dà khai triển thành một nền thần học linh động, bén rễ sâu xa trong đời sống phụng vụ và xã hội của mọi tầng lớp quần chúng. Cuộc giải phóng ấy là cơ hội cho dân Do Thái cảm nghiệm hồng ân của vị thần linh toàn năng duy nhất đã thương cứu vớt, quy tụ, hướng dẫn và thanh luyện họ để lập giao ước ân tình với họ. Người là Thiên Chúa sống động đã chứng tỏ sự hiện diện của mình qua những hành vi lịch sử.

ÝNGHĨA NGUYÊN THỦY CỦA LỄ VƯỢT QUA (Xh 12,1-8.l1-14). Từ ban đầu việc cử hành lễ Vượt qua hằng năm vào mùa Xuân gồm nghi thức sát tế chiên con, lấy máu bôi lên cửa làm dấu hiệu cho Thiên Chúa thấy mà bỏ qua, không giết hại các trưởng nam Do Thái, khi Người đi qua đất Ai Cập để trừng phạt những kẻ áp bức dân Người. Bởi đó dân Do Thái đáng được gọi là "Trưởng tử của Giavê” vì đã được Người để cho sống và đánh đổi với các trưởng tử Ai cập. Nhưng phần trọng tâm của cuộc lễ chính là bữa tiệc hiệp thông giữa các thành phần dân Chúa. Hành động cứu thoát của Thiên Chúa đã khai sinh ra một dân tộc tự do, thì bữa tiệc hằng năm tưởng niệm cuộc Vượt qua ấy nhằm tạo lại và củng cố ý thức cộng đoàn dân tộc.Trong bữa tiệc tất cả mọi người Do Thái biểu dương tình đoàn kết liên đới với nhau và sự hiệp thông với vị Thiên Chúa cứu độ họ. Số người dự tiệc phải đạt tới một mức tối thiểu nào đó thường là một nhóm từ 10 đến 12 người, không phải chỉ để ăn cho hết một con chiên nướng, nhưng còn để nói lên tính cách tập thể của ơn cứu độ. Khung cảnh bình thương là gia đình, và chính gia trưởng chủ tọa bữa tiệc. Để cho đủ túc số, gia trưởng phải mời những người đồng đạo trong thôn xóm tới để chia sẽ bữa tiệc tưởng niệm hồng ân nhưng không ấy của Thiên Chúa.

Cuộc giải phóng ra khỏi Ai Cập xảy tới một cách vội vã trong một bầu khí căng thẳng : Dân phải cảnh giác, phải hành động nhanh chóng và ở trong tư thế sẵn sàng lên đường để được cứu thoát. Chính Thiên Chúa cũng đã canh thức để kịp thời đến tiếp cứu Dân mình. Là những du mục và lữ khách, họ phải dùng bánh không men, ăn lễ Vượt qua, vì họ không có đủ giờ để cho men dậy, và nhất là vì thứ bánh ấy tượng trưng cho tâm hồn trong sạch, thanh thoát, không dính bén, không sa lầy trong kiếp sống nô lệ. Rau diếp đắng nhắc lại khía cạnh chua xót của kiếp vong nô của người Do thái ghi nhớ hồng ân cứu độ và tăng cường cho ý nghĩa thanh luyện tâm hồn để họ xứng đáng đón nhận những hồng ân khác của Người.

Thật vậy, bữa tiệc vượt qua của truyền thống Do thái hiện đại hóa hành động cứu độ của Thiên Chúa đã khai sáng ra họ thành một dân tộc tự do và bữa tiệc ấy cũng mở ra một viễn tượng tương lai cho họ : họ hy vọng, chờ đợi những hành động lớn lao của Thiên Chúa tiếp tục hướng dẫn họ, như sau khi họ đã lên đường xuất hành Người còn ra tay giúp họ vượt qua Biển Đỏ thoát khỏi tầm tay kẻ thù.

ÝNGHĨA NỚI RỘNG CỦA LỄ VƯỢT QUA ; Qua các thời đại, Bữa tiệc Vượt qua vẫn là một nghi lễ tưởng niệm : máu chiên sát tế bôi lên cửa nhà tư nhân hoặc sau này rưới lên bàn thờ trong Đền thánh là dấu hiệu nhắc Thiên Chúa nhớ lại lòng thương của Người, để người tiếp tục cứu độ Dân; cũng như cầu vồng là dấu hiệu nhắc Người nhớ lại giao ước đã ban cho Noe (Kn 9, 16-17), nghi thức cắt bì là dấu hiệu nhắc lại Giao ước với Abraham (Kn 17,11) và ngày hưu lễ Sabbat là dấu hiệu của Giao ước Sinai (Ez 20,12). Các dấu hiệu ấy cũng nhắc nhở dân nhớ lại các hồng ân họ đã nhận được, để cảm tạ, ngợi khen Thiên Chúa và để tuân giữ các điều lệ của giao ước một cách trung thành.

Các suy tư thần học qua các thế hệ, nhất là các thế hệ hậu lưu vong từ thế kỷ thứ 6, đã ghép thêm vào lễ Vượt qua những ý nghĩa khác nữa. Ngay ý nghĩa giải phóng cũng đặt thêm chiều rộng và chiều sâu ; một tiên tri Ezêkiel đã không ngần ngại đồng hóa Ai Cập với đất tội lỗi, và như thế giải thoát khỏi Ai Cập có nghĩa là giải thoát khỏi ách nô lệ (Ez 20,79). Cuộc giải phóng khỏi Ai Cập cũng được xem như là một cuộc tạo dựng, vì Thiên Chúa đã khai sáng ra một dân tộc tự do. Lễ Vượt qua mà người Do Thái cử hành hằng năm nhằm hiện-đại-hóa cuộc sáng tạo ấy đối với tập thể dân Chúa và đối với từng cá nhân, khi họ xác tín rằng Thiên Chúa sẽ tái tạo tim cho họ (Tv 51,12; Ex 36,26-27).

Chính cái kinh nghiệm thiết thân ấy về hành động "cứu độ sáng tạo" của Thiên Chúa đã giúp dân Do Thái đón nhận và hiểu được những ý tưởng về việc tạo thiên lập địa. Thật vậy xét về thứ tự thời gian, họ đã được cảm nghiệm khía cạnh cứu thế trước khi ý thức về khía cạnh tạo hóa của mầu nhiệm Đức Giavê. Và khi suy niệm về hoạt động sáng tạo của Người, họ có một cái nhìn rộng lớn bao trùm cả nguồn gốc lẫn cánh chung, cả quá khứ lẫn tương lai, vì theo họ, Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa từ nguyên thủy cho đến chung tận, và Người không ngừng hoạt động để thiết lập vương quyền của Người khắp hoàn vũ và trên mọi tâm hồn. Còn máu chiên sát tế của lễ Vượt qua thì làm cho họ liên tưởng tới ý định của tổ phụ Abraham tế con một yêu dấu của mình (Kn 22). Hình ảnh Isaac cam lòng chịu chết có một cái gì giống như con chiên hy tế của lễ Vượt qua. Và khuôn mặt Abraham trong thời khai nguyên lịch sử cứu độ cũng như khuôn mặt Môsê trong cuộc xuất hành hướng về Đất Hứa luôn gợi lại Giao ước của Giavê ban cho dân Người.

Tóm lại : Bữa tiệc Vượt qua của người Do Thái mà Chúa Giêsu ăn lần cuối cùng với các môn đệ tại Giêrusalem năm 30 mang tất cả các ý nghĩa ấy, đó là : tưởng niệm và hiện-đại-hóa cuộc giải phóng khỏi ách nô lệ Ai Cập và ách nô lệ tội lỗi; tưởng niệm và hiện-đại-hóa hành động cứu độ, sáng tạo ra Dân Chúa và sáng tạo ra tâm hồn mới cho mọi người; tưởng niệm và hiện-đại-hóa Giao Ước tình yêu Thiên Chúa ban cho dân Người đã tuyển chọn. Bữa tiệc Vượt qua còn mang thêm một nguyện ước; cho Nước Trời trời đến. Chính Chúa Giêsu đã làm chứng cho điều ấy lúc Người nói với các môn đệ.

“Ta sẽ không còn ăn lễ Vượt qua này nữa, cho đến khi nó sẽ hoàn tất trong Nước Tròi” (Lc 22,16).

Chặng đầu của tiến trình hoàn thành ấy là cái chết của Chúa Giêsu, mà bữa tiệc Thánh Thể là nghi lễ tưởng niệm; còn chặng cuối cùng sẽ là bữa tiệc Thiên quốc mà các thánh sẽ cùng ăn với Chúa Giêsu Phục sinh nơi Trời mới Đất mới.

II. BỮA TIỆC GIAO ƯỚC MỚI VÀ VĨNH VIỄN

Lần cuối cùng, Chúa Giêsu ăn Bữa tiệc Vượt qua theo truyền thống Do thái với các môn đệ. Nhưng trước và sau bữa tiệc ấy, Người thết đãi họ thêm một món ăn và một món uống làm thành Bữa Tiệc Thánh Thể ám chỉ cuộc Vượt qua của Người. Chính Người không ăn bữa tiệc phụ trội ấy, vì người vừa là chủ đãi tiệc vừa là của ăn đem ra thết đãi thực khách; Người vừa là tư tế vừa là của lễ. Trong bữa tiệc Vượt qua truyền thống Do Thái, người gia trưởng chủ tọa cuộc lễ, nhưng ông không phải là của lễ. Cả cộng đoàn cùng làm hành động tế tự ấy, vì tất cả đều tham dự vào chức tư tế phổ quát của dân được Thiên Chúa tuyển chọn và thánh hiến. Trái lại khi thiết lập bí tích Thánh Thể, Chúa Giêsu hành động với tư cách tư tế thượng phẩm, nhưng là một tư tế thượng phẩm độc đáo, vì Người tự hiến tế mình như của lễ để làm lương thực cho các môn đệ trong bữa tiệc hiệp thông của Giao ước mới. Người là tư tế nhưng chỉ là tư tế của Giao ước mới.

Tấm bánh miến được Người đồng hóa với Thân Thể Người - Thân thể sắp bị phó nộp chịu chết cho mọi người (1C11,24; Lc 22,19).

Chén rượu nho được người đồng hóa với Máu Người – Máu sắp đổ ra để xóa tội trần gian (Mt 26,28).

Tấm Bánh Thánh Thể ấy quả thật là của ăn thiêng liêng nuôi sống tâm hồn, vì Chúa Giêsu chính là "Sự Thật và Sự Sống” (Gn 14,6); Người là hiện thân của Mạc khải (Hr 1,2), của Lề luật; Người là lời của Thiên Chúa (Gn1,1), Lời mang sự sống (Gn 1,2), đúng như trong truyền thống Do Thái tấm bánh tượng trưng cho Sách Thánh chứa đựng lời Chúa và lề luật. Tấm bánh ấy là do hạt lúa miến đã chết đi dưới lòng đất để làm xuất hiện những hạt lúa miến chắc nịch khác (Gn 14,24), cũng bị nghiền nát đi mà kết tinh thành. Tấm bánh ấy lại bị bẻ ra trước khi được trao ban cho các môn đệ ăn. Thân Mình Chúa Giêsu cũng chỉ trở nên của ăn thiêng liêng khi đã bị đập nát và bẻ gãy trên Thập giá, bị chôn vùi dưới lòng đất để phục sinh với sức sống mới của Thần Khí. Ăn Bánh Thánh Thể là đón nhận lấy Thần Khí tác sinh của Đức Kitô Phục sinh.

Chén rượu nho đồng hóa với Máu Chúa Giêsu được gọi là “Máu Giao ước” (Mc 14,24; Mt 26,28), "Chén Giao ước mới được ký kết trong Máu Người" (1C 11,25; Lc 22,20). Khi chia sẻ chén Thánh ấy, các môn đệ được kéo vào trong Giao ước mới, nghĩa là được giao hòa với Chúa Cha qua sự môi giới của Chúa Giêsu, giống như dân Do Thái ngày xưa, khi được Môsê rảy máu chiên sát tế, đã được giao hòa với Đức Giêsu qua sự môi giới của Môsê trong Giao ước Sinai (Xn 24,8). Trong cả hai cuộc ký kết Giao ước, máu là máu cư7a một tế vật bị giết chết để niêm ấn các điều lệ chứa trong Giao ước. Máu chiên xưa đã đóng ấn chính thức vào bảng Thập giới của Giao ước Sinai. Nay Máu Chúa Giêsu đóng ấn vinh viễn vào Giới răn mới Người trối lại cho các môn đệ : "Các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con” (Gn 13,34). Máu Giao ước mới là Máu Con Thiên Chúa, nên có giá trị cứu độ muôn đời, vì thế lá thư gửi các tín hữu Do Thái đã gọi đó là "Giao ước vĩnh viễn" (Hr 18,20).

Khi ra lệnh cho các môn đệ “hãy làm việc này mà nhớ đến Ta” (Lc 11,24-25; Lc 22,19), Chúa Giêsu muốn rằng cộng đoàn Kitô hữu phải cử hành bữa tiệc Giao ước mới và vĩnh viễn ấy để tưởng niệm cuộc Vượt qua của Người : Người vượt qua cái chết để Phục sinh và về với Chúa Cha (Gn 13,1). Qua cái chết tự nguyện và vô tội để đền tội và chết thay cho ta, Người tháo gỡ khỏi ta dây tròng ràng buộc của tội và giải thoát ta khỏi cái chết vĩnh cửu là hậu quả của tội. Khi ta tin vào Người và để cho Người giải hòa ta với Chúa Cha, thì ta được dẫn vào cõi trường sinh bằng cách tham dự vào cuộc Phục sinh của Người. Bữa tiệc Thánh Thể nhằm mục đích tưởng niệm và hiện-đại-hóa cuộc Vượt qua của Chúa Giêsu. Bởi thế dự tiệc Thánh Thể là thông phần vào mầu nhiệm vượt qua của Người.

Tấm Bánh  Mình Người và Chén Rượu - Máu Người quả thật chứa sự sống thần linh. Người phải là Con Thiên Chúa và Chúa Tể mới nói được những lời hiệu nghiệm đầy sức sáng tạo, như khi Thiên Chúa phán, mọi loài liền có; lệnh Người truyền ra, mọi sự được dựng nên " (Tv 33,9). Lời Chúa Giêsu là những lời sáng tạo, có khả năng làm cho Bánh thành Thịt và Rượu thành Máu Thánh Người. Và lời mời gọi các tông đồ uống Máu Người cũng chứng tỏ uy quyền thần linh của Người. Chính Thánh Kinh đã cấm người ta uống máu, vì máu mang sự sống, và như thế máu thuộc phạm vi độc quyền của Thiên Chúa. Nay Chúa Giêsu muốn ban cho các môn đệ chính sự sống thần linh chứa đựng trong Máu Người đổ ra trên Thập giá, khi vượt qua cái chết để phục sinh, về với Chúa Cha.

Mệnh lệnh cử hành nghi lễ tưởng niệm còn hàm chứa ý định của Chúa Giêsu muốn tấn phong chức tư tế thừa tác của chế độ Tân ước cho các Tông đồ, và ban cho các ngài năng quyền công bố những lời nói hiệu nghiệm làm nên bí tích Thánh Thể cũng như tẩy xóa được tội khiên (Mt 18,18; Gn 20,23). Chúa Kitô là tư tế thượng phẩm theo kiểu Melkisêđê (Kn 14,18; Tv 110,4). Truyền thống Do Thái như Thánh vịnh 110 phản ảnh lại, đã liên kết khuôn mặt Đấng Thiên Sai với phẩm hàm tư tế của Melkisêđê. Chính chúa Giêsu đã áp dụng Thánh vịnh đó cho mình (Mt 22,44; 26,64) và thư gửi các tín hưu Do Thái đã hiểu đúng ý hướng ấy khi khai triển chủ đề thần học về chức tư tế tối cao và vĩnh cửu của Chúa Cứu thế (Hr 5;7;8;9. Khi lấy bánh miến và rượu nho lập phép Thánh Thể, Người ý thức rằng mình đang làm một hành vi tư tế, như Melkisêđê ngày xưa đã đem bán miến, rượu nho tặng cho Abraham, kèm với những lời chúc lành do một vị tư tế của Đấng Tối Cao (Kn 14,18-19). Hành vi dâng hiến cũng như tặng phẩm của Chúa Giêsu mang một ý nghĩa và hiệu năng vượt xa hành vi và tặng vật của Melkisêđê vì Người là tư tế tối cao của Giao ước mới và vĩnh viễn, và bánh miến rượu nho Người ban tặng đã được quyền năng thần linh của Người biến thành Thịt và Máu Người. Khác với Melkisêđê, Người vừa là tư tế vừa là của lễ tế hiến để "xóa tội trần gian" (Mt 26,28; Gn 1,29) và để làm lương thực đem sự sống vĩnh cửu cho loài người  (Gn 6,54).

III. BỮA TIỆC THÁNH THỂ CỦA TA HÔM NAY

Bữa tiệc Giao ước mới do Chúa Giêsu thết đãi các môn đệ gắn liền với bữa tiệc vượt qua của truyền thống Do Thái. Do đó bữa tiệc Thánh Thể của ta hôm nay cũng mang tất cả mọi ý nghĩa của bữa tiệc Giao ước cũ. Lễ Vượt qua của truyền thống Do Thái nhận được sự viên mãn trong cuộc vượt qua của Chúa Kitô. Chính Người, trong hành động chết và sống lại, là hiện thân của Giao ước mới và vĩnh viễn. Mầu nhiệm Vượt qua biểu lộ bản chất và định hướng đời sống của Người : Người hiện hữu cho Chúa Cha và cho loài người. Người sinh ra, hoạt động, rồi chết và sống lại, trở về với Chúa Cha : trong tất cả mọi sự, Người tuân hành thánh ý chúa Cha và tìm vinh danh cho Cha, và Người đến để phục vụ mọi người bằng cách chết thay và chuộc tội cho ta, giải hòa ta lại vơi Chúa Cha và lấy Thịt Máu mình nuôi sống ta. Đến cả khi phục sinh, Người cũng đã sống lại vì ta. Đời sống của Người được dệt thành bởi những quan hệ phục vụ, hướng về kẻ khác. Người có đó, là để cho kẻ khác "ăn" Người đi. Bí tích Thánh Thể, cũng như cử chỉ rửa chân cho các môn đệ (Gn 13,1-15) chứng minh chân lý ấy.

Do đó, mỗi lúc cử hành bí tích Thánh Thể, chúng ta tưởng niệm và hiện-đại-hóa cái chết và cuộc Phục sinh của Đức Kitô cho ta, để chuyển ơn cứu độ chảy theo dòng Máu và Nước từ trái tim bị đâm thủng của Người vào lòng ta. Ơn Thánh chảy vào lòng ta, thì Nước trời cũng đang đến với ta, và qua ta, đến với thế giới. Mỗi lần cử hành thánh lễ, chúng ta tuyên xưng cái chết cứu độ và cuộc Phục sinh đầy sức sáng tạo của Chúa Kitô trong năng lực Chúa Thánh Thần, cho tới khi Người lại đến để hoàn thành Nước Trời bằng cách siêu thăng và biến dạng thế giới này và dâng tất cả lịch sử loài người cho Chúa Cha.

Bí tích Thánh Thể, vì thế, là bí tích của những người hành hương đang xây dựng Nước Trời giữa lòng thế giới. Sự đóng góp của người Kitô hữu cho lịch sử loài người luôn mang ấn tín của mầu nhiệm Vượt qua : hành động của họ được đánh dấu bởi sự thánh hiến cho Thiên Chúa qua bí tích Thánh Tẩy; nghị lực của họ được củng cố bởi sức mạnh Chúa Thánh Thần qua bí tích Thêm sức; đời sống của họ được nuôi dưỡng bởi Mình và Máu Chúa Kitô qua bí tích Thánh Thể. HoÏ xây dựng thế giới, nhưng là một thế giới như con đường đi, chứ không phải cái gì như một thành trì cố định. Trong ý nhắm “Vượt qua" và tinh thần hành hương ấy, họ lãnh nhận Thánh Thể như của ăn đàng. Ý nghĩa đó được tượng trưng bởi cử chỉ của người tín hữu tiến lên bàn thờ, đứng rước lễ trong tư thế sẵn sàng ra đi, như người Do Thái ngày xưa đứng ăn lễ Vượt qua, với bị gậy sắp sẵn, để lên đường Xuất hành (Xh 12,11).

Bí tích Thánh Thể, muốn lôi kéo đời sống nhân loại vào trong chuyển động của cuộc hành hương vĩ đại về Trời mới Đất mới, và không hề hàm ý khước từ một giá trị trần thế nào, trái lại đón nhận và thánh hiến tất cả mọi thực tại, kể cả vật chất mà bánh miến, rượu nho là những mẫu tượng trưng. Bí tích Thánh Thể kết tụ mọi lao nhọc, mọi thất bại, mọi thành công của loài người để sát nhập chúng vào mầu nhiệm chết và phục sinh của Chúa Kitô, và biến chúng thành lời kinh tạ ơn vô tận dâng lên Chúa Cha. Mọi người dự tiệc Thánh Thể đều đi vào cuộc Vượt qua của mình, không phải một cách đơn độc, nhưng với cộng đoàn Giáo hội là dân Thiên Chúa đang trên đường hành hương; bởi vì chính Thánh Thể làm ra Giáo hội, khi Giáo hội họp mừng cử hành Thánh Thể.

GIẢNG LỄ

Buổi chiều hôm nay chúng ta họp nhau lại đây không phải để cử hành một thánh lễ như mọi khi. Chúng ta sẽ chiêm ngưỡng Chúa trong hai hành vi : rửa chân cho môn đệ và cử hành bữa tiệc Thánh Thể đầu tiên trong lịch sử loài người.

Chúa muốn chúng ta bắt chước Người rửa chân cho nhau, như lời Phúc âm chúng ta vừa nghe đọc. Nhưng không tiện làm công việc đó hằng ngày. Giáo hội muốn chúng ta hằng năm phải làm hành vi này theo ý Chúa và trong tinh thần của Chúa. Phúc Âm cho ta biết : hôm nay, Chúa đi vào giờ của Người. Nghĩa là đã đến giờ Người ra tay hành động để cứu thế. Do đó mọi việc Người làm trong giờ này và kể từ giờ này sẽ có giá trị vô song, sẽ quyết định dứt khoát vận mệnh của tất cả thế giới. Ta chỉ cần đọc lại mấy lời mở đầu bài Phúc âm hôm nay là thấy rõ Chúa đã chuẩn bị giờ phút này thế nào và Người đánh giá rất cao những công việc mình sắp làm. Người biết đã đến giờ bỏ thế gian về cùng Chúa Cha nên Người muốn tỏ yêu thương các môn đệ cho đến cùng. Đồng thời Người cũng ý thức rõ Chúa Cha đã ban cho Người mọi sự ở trong tay, nên Người có thể làm được mọi sự mình muốn. Như vậy những việc mà Người sắp làm đây là những việc có khả năng yêu thương các môn đệ hơn hết. Và chúng ta phải hiểu các việc này dưới khía cạnh của tình yêu, đến nỗi bàn tiệc Thánh Thể cũng là bàn tiệc yêu thương và buổi chiều hôm nay là thời gian để biểu thị đức bác ái tột độ.

Chính trong bầu khí yêu thương, mà Đức Kitô đã đứng lên cầm nước đi rửa chân cho môn đệ. Mọi người đều sửng sốt. Sao Thầy lại làm như vậy ? Vì sao để tỏ dấu yêu thương, lại phải bắt đầu bằng việc rửa chân người mình muốn thương ? Phêrô không hiểu gì cả, nên đã hỏi. Chúa đã trả lời nhưng Người nói rõ : bây giờ chưa hiểu được đâu; nhưng sau này sẽ hiểu. Người muốn cho chúng ta phải suy nghĩ về ý nghĩa công việc Người làm, và phải tìm hiểu với ơn Thánh Thần sẽ đến sau ngày Phục sinh. Chính Thánh Thần sẽ cho chúng ta biết : Chúa làm mọi việc vì yêu thương ta. Và vì yêu thương ta, nên Người đã cứu độ ta. Buổi chiều hôm nay, Chúa ra tay cứu thế. Người nhìn môn đệ đang ngồi ở bàn tiệc. Lễ Vượt qua sắp bắt đầu. Nhưng họ đã có tâm hồn để làm lễ Vượt qua với Người chưa? Người thấy cần phải thanh tẩy cho họ. Nên Ngài cầm chậu nước đi rửa chân cho môn đệ. Ngài có thể bảo họ đi rửa chân lấy, tự làm lấy việc sám hối ăn năn. Nhưng chẳng ai rửa được tâm hồn mình sạch tội, trừ được chính ơn của Chúa cứu chuộc rửa cho.

Hôm nạy Chúa rửa chân cho môn đệ trước khi cử hành Thánh Thể, để việc thống hối ăn năn của ta trước thánh lễ luôn luôn nhận được ơn tha thứ. Không thanh tẩy tâm hồn, không có khả năng dâng lễ. Và chính Chúa đã bảo ta phải thống hối những tội nào đặc biệt trước khi dâng lễ vật; nếu chúng con sực nhớ mình còn bất hòa với ai, hãy đặt của lễ đó, đi làm hòa với anh em đã, rồi trở lại dâng lễ sau.

Chính vì vậy mà lễ nghi rửa chân hôm nay vừa có ý nghĩa thanh tẩy vừa muốn diễn tả tình bác ái huynh đệ. Người ta không thể dâng lễ xứng đáng, khi không muốn cùng với mọi người khác làm thành một cộng đoàn trong sạch và bác ái. Thánh Thể sẽ biến mọi người tham dự thành các chi thể của một Thân Mình Chúa, thì lễ nghi rửa chân, nghi thức thống hối trước thánh lễ phải làm cho người ta có tâm tình anh em với nhau trong sự thánh thiện. Thế nên phụng vụ Giáo hội hôm nay muốn rằng người đứng đầu các cộng đoàn phải tự mình làm nghi lễ rửa chân. HoÏ phải nhớ và thực hành Lời Chúa : ai lớn nhất trong anh em, phải phục vụ như người rốt bét. Xin anh em hãy cầu nguyện cho tôi trong giờ phút trang trọng này, để khi cử hành nghi lễ rửa chân, tôi ý thức địa vị của tôi ở trong Giáo hội là để phục vụ. Xin Chúa và anh em tha thứ cho tôi, vì nhiều lần ở cương vị mình, tôi không có tâm tình phục vụ đủ. Và xin mọi người chia sẻ trách nhiệm Giáo hội, xã hội, gia đình với tôi, hãy đi vào tâm tình của Chúa Cứu thế trong hành vi rửa chân cho môn đệ, để chúng ta ăn năn về thái độ quan cách trong quá khứ, và nhận thức từ nay phải phục vụ khiêm tốn và yêu thương hơn. Và như vậy, chúng ta mới xứng đáng đi vào mầu nhiệm Thánh Thể.

Chắc chắn chúng ta không thể diễn tả nhiều về mầu nhiệm này. Chính Giáo hội biết như vậy nên mặc dầu cho ta nhiều giờ chầu sau lễ để ta suy niệm thêm về ơn Thánh Thể mà Chúa ban cho ta hôm nay; sau các tuần lễ Phục sinh, Giáo hội sẽ cử hành lễ Thánh Thể một cách long trọng đặc biệt, để bù đắp cho sự thánh thiếu sót hôm nay. Nhưng như câu kết của bài đọc II mà ta đã nghe đọc, phụng vụ chiều nay muốn cho chúng ta nhìn vào Thánh Thể như nhìn vào lễ Vượt qua của Chúa Kitô. Ngài đã chọn khung cảnh lễ Vượt qua của người Do Thái để thiết lập bí tích Thánh Thể. Người làm tăng giá trị của lễ ấy khi biến nó nên hình ảnh báo trước cuộc Vượt qua của mình.

Hôm nay Người làm lễ Vượt qua thật sự, khi chấp nhận từ bỏ đời này, từ bỏ mạng sống, từ bỏ thân thể hữu hình để vượt qua mọi biên giới trần gian về cùng Cha mình ở trên trời. Bàn tiệc Thánh Thể vì thế đượm mầu tiệc ly. Người uống chén rượu nho lần chót ở đời này để về trời trước, chờ đợi môn đệ mình đến sau. Người Do Thái xưa ăn lễ Vượt qua trong tin tưởng sâu xa vào Lời Chúa, nhưng không biết rõ sự việc sẽ xảy ra. Còn Đức Kitô, Người biết rõ con đường thánh giá đang chờ đợi mình. Người cầm chén rượu nhưng đã nhìn thấy đó là chén máu. Nên cuộc Vượt qua, lễ Thánh Thể của Người là một cuộc đau thương, một lễ tử hình. Ngày thứ Sáu Tuần Thánh với cây Thập giá đã hiện diện đầy đủ trong bàn tiệc Thánh Thể hôm nay. Giá trị của ngày thứ Sáu nằm sẵn trong hành vi Thánh Thể hôm nay rồi, vì ngày mai Chúa đã ở trong tay kẻ dữ, và một phần nào Người không còn tự do, tự nguyện. Nhưng chính vì hôm nay Người tự do, tự nguyện chấp nhận ra đi chịu chết, nên án tử hình của Người trong ngày mai vẫn là lễ dâng tự  ý hoàn toàn. Ngày thứ Sáu chỉ diễn tả ra bên ngoài những gì đã xảy ra trong tâm hồn của Chúa Kitô chiều hôm thứ Năm. Thánh Thể vì vậy không phải chỉ là bàn tiệc ly, nhưng đã là lễ tế trên Thánh giá. Và vì Thánh giá ở đâu thì mầu nhiệm Phục sinh cũng đã tàng ẩn ở đó nên khi tuyên bố : đây là chén Tân Ước vĩnh cửu, Chúa Cứu thế đã cho ta nhìn thấy hiệu quả của ThánhThể là đổi mới tất cả chúng ta trong một tương quan mới về Thiên Chúa. Chúng ta được trở thành tạo vật mới trong lễ Vượt qua của Đức Kitô, vì Đức Kitô không chỉ ra đi chịu chết, nhưng để về cùng Thiên Chúa Cha, Đấng sẽ phục sinh Ngài trong Thánh Thần. Như vậy, mầu nhiệm Phục sinh đã tiềm ẩn trong bàn tiệc ly, đó là mục đích của lễ Vượt qua mà Đức Kitô đã cử hành; đó là tột đỉnh của lòng Ngài yêu thương môn đệ. Ngài cúi xuống rửa chân cho họ, đưa họ vào mầu nhiệm Thánh Thể hy sinh của Ngài, là để cuối cùng họ được cùng Ngài phục sinh trong Giao ước mới, tức là trong mối tình thắm thiết mới giữa Thiên Chúa và loài người.

Giờ đây chúng ta sắp cử hành tất cả những công việc trọng đại ấy. Chúng ta hãy cầu xin cho nhau được từ bỏ con người cũ trong nghi thức rửa chân này, để tiến sang việc kết hợp mật thiết mới với Thiên Chúa trong mầu nhiệm Thánh Thể, hầu sau đó chúng ta sống cuộc đời mới yêu thương anh em trong nỗ lực phục vụ khiêm cung và mỗi ngày mỗi tiến lên trong ý thức thánh thiện kết hợp với Đức Kitô trong mầu nhiệm Vượt qua mà chúng ta cùng nhau sốt sắng cử hành bây giờ.

 

9. Vì yêu, nên chấp nhận tất cả - Tu sĩ Jos. Vinc. Ngọc Biển, S.S.P.

Chiều hôm nay, chiều mà Giáo Hội cử hành thánh lễ Tiệc Ly. Trong thánh lễ này, chúng ta thấy toát lên vẻ trầm buồn bởi cảnh ly biệt của người đi và kẻ ở!

Đức Giêsu sẽ ra đi để chịu chết chuộc tội thiên hạ. Các môn đệ sẽ ở lại để rồi mai đây sẽ tiếp bước trên con đường mà Thầy Giêsu đã đi.

Tuy nhiên, không chỉ dừng lại ở cảnh sầu ly chia ngả, nhưng nó còn đi xa hơn nữa để thấy được tình yêu của người ra đi và sự phản bội, bất trung của nhiều kẻ ở lại! Từ đó, chúng ta nhận ra lòng thương xót của Đấng là Chúa và là Thầy thì lớn lao vô bờ, trong khi đó, sự vô ơn, nhát đảm dẫn đến sự phản bội của người môn sinh lại cứ dần leo thang!

1/ Điều tốt và xấu luôn tồn tại

Trong cuộc sống của con người, sự bất trung, vô ơn, phản bội, có lẽ luôn tồn tại song song với thời gian. Những thái độ, hành vi và lựa chọn tiêu cực ấy lại được diễn ra đây đó giữa cha mẹ với con cái; giữa vợ với chồng; giữa bạn bè, đồng nghiệp với nhau; giữa thầy với trò…, và, nhất là giữa con người với Thiên Chúa là Đấng luôn yêu thương ta. 

Họ bội ước quên thề và phản bội với nhau có thể do động lực tiền bạc, tình cảm và chức quyền gây nên. Những sự vô ơn và phản bội như thế, dân gian người ta gọi những hạng người đó là kẻ: “Ăn cháo đá bát”; “lừa thầy phản bạn”; “qua cầu lướt ván…”.

Với Đức Giêsu, từ khi đón nhận bản tính nhân loại nơi mình, Ngài cũng là con người giống như bao người, vì thế, Đức Giêsu cũng đã từng nếm trải những chuyện như: vô ơn, phản phúc, đổi trắng thay đen, nói không thành có… đến từ những người mà Ngài làm ơn làm phúc; những người mà Ngài đã cứu sống, và, nhất là đến từ các môn đệ là những người được chính Ngài tuyển lựa để ngày đêm ở với Ngài và được Ngài dạy dỗ nhiều điều!

Sự thật cay đắng này diễn ra trong bữa Tiệc ly buổi chiều năm xưa, mà hôn nay chúng ta đang tưởng niệm.

Điều này được thấy qua những nghi thức phụng vụ, nhất là Lời Chúa trong Tin Mừng hôm nay.

Kinh Thánh diễn tả buổi chiều hôm nay là một buổi chiều ly biệt giữa Thầy và trò.

Khung cảnh trầm buồn ấy cộng thêm những nét chấm phá hết sức ấn tượng diễn tả sâu sắc tình yêu thương của Thầy dành cho trò. Tuy nhiên, mặt trái của bức tranh tình yêu đó lại bị những vết đen phản bội, vô ơn và bất trung xen lấn, làm cho họa tiết lộ rõ sự hỗn độn, khiến cho người thưởng thức không khỏi khó chịu và xót xa!

2/ Tất cả vì tình yêu

Câu chuyện diễn tả bản chất của Thiên Chúa là tình yêu, được khởi đi từ việc Đức Giêsu muốn ăn bữa tiệc vượt qua sau cùng với các môn đệ trước khi lên đường hy sinh mạng sống để cứu chuộc nhân loại. Vì thế, đây là một bữa tiệc mang nhiều ý nghĩa thâm sâu.

Đỉnh điểm của buổi họp mặt hôm nay giữa thầy và trò, đó là việc Đức Giêsu loan báo: Một người trong anh em sẽ phản bội. Một trong anh em sẽ chối Thầy, và, đêm nay anh em sẽ vấp phạm vì Thầy.

Từ lời loan báo trên, Đức Giêsu đã nói rất rõ ràng cho các môn đệ biết về sự vô ơn, hèn nhát và thiếu trung thành của các ông đối với Ngài.

Nhưng ngay lúc này, các ông rất hoang mang và nhiều người không thể ngờ được là: tại sao trong nhóm của mình lại có những kẻ “được cá bẻ đăng”, rồi hèn nhát và thiếu trung thành đến vậy…!

Chính vì thế, mà họ bắt đầu nhao nhao hỏi Đức Giêsu: “Thưa thầy, có phải con không?”. Đức Giêsu không nói rõ ai sẽ là người phản bội mình, Ngài chỉ đưa ra hành động ám chỉ: Thầy chấm miếng bánh trao cho ai, thì đó là người ấy. Rồi Giuđa là kẻ đã lĩnh miếng bánh trước mặt anh em. Sau khi đã nhận miếng bánh ân tình, ma quỷ đã nhập vào y và y đã quyết định rời khỏi nơi chốn tình yêu, không gian ánh sáng để tiến về vùng tối tăm của sự ác!

Đọc tiếp trang Tin Mừng, chúng ta còn thấy sự bất trung của các môn đệ khác được tìm thấy trong biến cố tại Vườn Cây Dầu. Các môn đệ đang ở với Đức Giêsu, khi thấy toán lính đến bắt Thầy mình, thế là họ đã bỏ chạy hết. Rồi sự hèn nhát của Phêrô, vị Tông đồ trưởng được diễn ra trong dinh Thượng tế, ông đã trối Thầy trước sự đe loi của đám lính.

Tuy nhiên, dù tội lỗi của các ông có lớn thế nào đi chăng nữa, thì ngay tại phòng tiệc ly, Đức Giêsu làm một loạt những hành vi và lời nói nhằm diễn tả tình yêu của vị Thầy khả kính dành cho môn sinh, qua đó giúp cho các ông tin và đi vào mối tương quan tình yêu với Ngài.

Chính vì yêu và yêu họ đến cùng, nên Đức Giêsu đã không ngần ngại, trao ban, hiến tặng tất cả, ngay cả mạng sống của mình cho con người. Điều này được thể hiện qua việc Ngài thiết lập Bí tích Thánh Thể. Không dừng lại ở đó, Đức Giêsu còn muốn ở lại với loài người mọi ngày cho đến tận thế, nên liền ngay sau đó, Ngài đã thiết lập thiên chức linh mục.

Để tình yêu thương được cụ thể, nên vào cuối bữa ăn, Đức Giêsu đã làm một hành động ngược đời đến kỳ quặc, đó là quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ. Đây là hành động của nô lệ rửa chân cho ông chủ, trò rửa chân cho thầy. Khi làm ngược lẽ tự nhiên như vậy, Đức Giêsu muốn dạy các ông bằng hành động chứ không chỉ lời nói. Điều này đã gây nên sự ngỡ ngàng tột độ, khiến Phêrô đã phải thốt lên: “Lạy Thầy, Thầy định rửa chân cho con ư?”;  “Không đời nào Thầy sẽ rửa chân cho con”.

Tuy nhiên, Đức Giêsu nói với ông: “Nếu Thầy không rửa chân cho con, con sẽ không được dự phần với Thầy”. 

Sau đó Ngài đã dạy các ông: “Nếu Ta là Chúa và là Thầy mà còn rửa chân cho các con, thì các con cũng phải rửa chân cho nhau”.

Như vậy, việc Đức Giêus rửa chân cho các ông, Ngài muốn làm một cử chỉ sâu xa để diễn tả tình yêu của Thiên Chúa với nhân loại.

Bên cạnh đó, Ngài muốn gột rửa tâm hồn các ông thực sự. Bởi vì nơi các ông vẫn còn nhiều vấn vương bụi đời. Nào là tranh dành quyền lực; thích được phục vụ; ăn trên ngồi trước. Nào là chia rẽ nội bộ; nhát đảm, sợ sệt, ham tiền, hám lợi và phản bội….

3/ Sứ điệp Lời Chúa

Ngày nay, vẫn còn đó những con người chẳng khác gì các môn đệ là bao. Họ vẫn mang trong mình những sự kiêu ngạo, ích kỷ, chia rẽ và thiếu trung thành, phản bội và vô ơn…!

Vẫn còn đó những kẻ chỉ vì miếng cơm manh áo mà bán đứng anh em của mình cho sự ác.

Lại có kẻ miệng thì nói tin Chúa, sống chết với đức tin, đạo giáo. Nhưng khi có lợi đến, hay bị thử thách, họ sẵn sàng từ chối thuộc về Chúa để được yên thân.

Và, cũng không thiếu những kẻ “khi hay thì vỗ tay vào, đến khi hoạn nạn thì lìa nhau ra”. Họ tin và theo Chúa chẳng khác gì trẻ con. Họ rất giống những người thiếu lập trường và bị hiệu ứng đám đông điều khiển!

Sứ điệp Lời Chúa và phụng vụ ngày lễ hôm nay mời gọi chúng ta hãy biết cảm tạ hồng ân của Thiên Chúa trong cuộc đời mình. Luôn sống tâm tình biết ơn Thiên Chúa ngang qua sự kiên trì và trung thành với đức tin của mình.

Cuối cùng, hãy sống bản chất của Bí tích Thánh Thể là Bí tích tình yêu, dấu chỉ hiệp nhất, mối dây bác ái; đồng thời luôn biết yêu thương nhau thật lòng như Chúa đã yêu, đó là một tình yêu bằng hành động, hướng tha, hy sinh và phục vụ.

Lạy Chúa Giêsu, hôm nay, Chúa đã thể hiện tình yêu trọn vẹn của Chúa dành cho nhân loại. Xin Chúa ban cho chúng con cảm nghiệm được tình yêu ấy và ra sức thi hành trong cuộc sống qua các mối tương quan với Chúa và tha nhân. Amen.

 

10. Bữa tiệc ly

1/ Chúa rủa chân

Một nhóm Kitô hữu Trung hoa mời một học giả người Mỹ đến Trung hoa, để tổ chức cuộc hội thảo về Kinh Thánh. Trong lúc hội thảo, vị học giả đề nghị các học viên chọn một đoạn P. gây ấn tượng cho mình nhất. Ông ta ngạc nhiên vì thấy họ không chọn bài giảng trên núi hay bài tường thuật cuộc khổ nạn và phục sinh của Chúa Giêsu, mà chọn đoạn Chúa Giêsu rửa chân cho các tông đồ.

Hành động rửa chân nói với tôi điều gì về Chúa Giêsu? Tôi có thể bắt chước hành động đó của Chúa như thế nào? (Trích Viễn tượng 2000.)  

Chính Chúa Giêsu trả lời cho chúng ta: Nếu Thầy là Chúa là Thầy mà còn rửa chân cho anh em thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em (Ga 13, l4-l5). 

Và Thánh Phaolô còn trả lời rõ ràng hơn cho chúng ta hiểu mà thực hành điều Chúa dạy:

"Giả như tôi có nói được các thứ tiếng của loài người và của các thiên thần... Giả như tôi được ơn nói tiên tri và được bíêt hết mọi điều bí nhiệm mọi lẽ cao siêu, hay có được tất cả đức tin đền chuyển núi dời non mà không có đức mến thì tôi cũng chẳngià gì  (1Cr.13, l3). 

2/ Phút dở sống dở chết

Năm 1985 tin tức đài truyền thanh truyền hình ở Nữu Ước (Hoa Kỳ) đều loan tin một phụ nữ bị kẹt nằm ở dưới cần trục. Bác sĩ được cấp tốc mời đến để giúp bà ta sống cho đến lúc nhắc được cần trục lên. Ông thì truyền máu, ông thì tiêm thuốc khỏe và thuốc giảm đau...

Trong giờ phút đờ sống dở chết và đau đớn tật cùng đó, bà ta không xin gì, cũng chẳng trối điều chi, một chỉ lài nỉ van xin được rước Chúa. Và bà ta được toại nguyện. Thế rồi bà ta cũng được cứu, chở đến bệnh viện và được  mạnh khỏe lại... (Theo Cha M. Link).

Tại sao người nữ đó biết mình sắp chết mà không lo sợ, không trối trăn, một chỉ xin cho được rước Chúa? Phải chăng vì bà tin có Chúa ở trong lòng thì Chúa sẽ cứu vớt, Chúa sẽ nuôi linh hồn, Chúa sẽ cho được sống như lời Chúa hứa: Ta là bánh hằng sống từ trời xuống... Ai ăn Thịt Ta và uống Máu Ta thì được sống muôn dời (Ga 6,51-54).

Trong bữa Tiệc ly hôm nay, Chúa Giêsu lập Bút tích Thánh thể để ở với chúng ta, cứu giúp chúng ta hằng ngày, nhất là đêể làm thần lương nuôi dưỡng linh hồn chúng ta trên đường vê Quê Trời.

3/ Tội vô tình

Một bề trên tu viện Công giáo đến tìm ẩn sĩ Aán giáo tại chân núi Hy-mã-lạp-sơn và trình bày về tình trạng bi đát của tu viện với ông:

Trước kia tu viện nầy là một trung tâm thu hút nhiều kẻ hành hương. Nhà thờ lúc nào cũng vang tiếng hát của giáo dân từ khắp nơi đến. Trong tu viện không còn chỗ nhận thêu người vào tu hằng ngày đến gõ cửa nữa. Thế mà bây giờ tu viện chẳng khác nào một ngôi chùa hoang phế. Nhà thờ vắng lạnh, tu sĩ thì leo heo.mấy người, cuộc sống thật là buồn tẻ t....

Vị bề trên hỏi tu sĩ ẤN giáo cho biết nguyên nhân nào hay lầm lỗi nào đã đưa tu viện đến tình trạng trên. Tu sĩ ẤN,,giáo ôntồn bảo: Các tội đã và đang xảy ra trong cộng đoàn là tội vô tình. Và ông giải thích: Đấng Cứu Thế đã hóa trang thành một người trong quý vị, nhưng quý vị không nhận ta Ngài.

Nhận được lời giải đáp, vị bề trên hớn hở trở về tu viện. Ông tập họp mọi người lại và loan báo cho họ biết: Đấng Cứu Thế đã hóa trang thành một người trong nhà. Các tu sĩ đều mở to đôi mắt và quan sát nhau. Ai là Đấng Cứu Thế hóa trang vậy?

Nhưng có điều chắc là một khi Ngài đã cải trang thì không ai có thể nhận ra Ngài được. Mỗi người trong họ có thể là Đấng Cứu Thế.

Vậy là từ đó, mọi người đều đối xử với nhau thư với Đấng Cứu Thế! Chẳng bao lâu bầu khí bác ái huynh đệ, sức sống và niềm vui đã trở lại trong tu viện. Từ khắp nơi người ta lại tìm đến tu viện để tỉnh tâm và cầu nguyện. Nhiều người trẻ cũng đã đến xin gia nhập cộng đoàn. (Trích Món quà giáng sinh)

Trong bữa Tiệc ly, Chúa Giêsu rửa chân cho các môn đệ để dạy các ông thương yêu lo lắng giúp đỡ nhau trong tình bác ái huynh đệ. Sở dĩ tu viện nầy sa sút vì thiếu vắng tình bác ái huynhđệ dó..

4/ Ông Gọi Tôi Là Anh Em.

Một nạn đói xảy ra trong vùng. Cỏ người ăn xin bên góc đường bước đến bên ông Tolstoi là đại văn hào Nga đang đi ngang qua đó. Tolstoi dừng lại, định lấy tiền cho, nhưng không tìm được đồng nào. Ông nói với sự tiếc nuối: 

- Nầy người anh em, đừng giận tôi. Tôi chẳng có đem theo gì

Mắt người ăn xin sáng lên và nói:

- Ông gọi tôi là anh em, đó đã là món quà rất lớn rồi.

*Tại sao chỉ được gọi là anh em mà bảo là món quà lớn nhất? Vì nó nói lên tấm lòng yêu mến, tôn trọng nhau. Đó cũng là một cách thi hành bác ái huynh đệ Chúa dạy. (Trích Minh hoạ Lời Chúa)

5/ Tôi cứ tiếp tục thế nầy

Một người thợ mỏ phải làm việc nặng nhọc hằng ngày để kiếm sống và nuôi gia đình. Ngày kia viên quản lý thấy anh mệt nhọc quá thì nói:

- Anh Thomas, tôi sẽ phân công anh làm việc khác đỡ vất vả hơn. Anh đồng ý không? 

Trước đặc ân đó, ai mà không mừng? Nhưng anh Thomas nói với người quản lý: 

- Thưa ông, ở đây có anh Tregohy thân hình gầy gò mà phải làm việc quá nặng, tôi sợ tình trạng nầy kéo dài thì anh ta sẽ không thọ, và rồi gia đình nghèo khổ của anh ấy biết sống lành sao? Hay ông cho anh ta làm công việc nhẹ ấy đi, còn tôi cứ tiếp tục làm thế nầy cũng được. (Trích Minh hoạ Lời Chúa),

Thật là một mối tình sâu thẳm đậm đà. Phải chăng anh thợ mỏ nầy là hình ảnh Chúa Gtêsu thưng loài người chúng ta, sẵn sàng chết treo trên khổ giá cho chúng ta được sống.

6/ Phục vụ mọi người

Mấy năm gần đây, một số bác sĩ người Đức và người Mỹ rất chú ý đến hiện tượng mà họ gọi là Kinh nghiệm cận tử: nhiều người vì một tai nạn hay một lý do nào đó đã ngất đi trong một thời gian khá dài (có thể nói là chết giấc). Về mặt thể lý, coi thư họ đã chết. Nhưng sau đó họ sống lại. Các bác sĩ đã phỏng vấn 1370 người ấy. Trong những điều họ thuật lại, có những điểm là ai cũng nhất trí như sau: 

Cuộc sống ở cõi bên kia hạnh phúc hơn ở cõi đời nầy. Sau khi chết đi sống lại, không ai còn sợ chết nữa, không ai ham muốn kiếm tiền bạc danh vọng lạc thú nữa. Điều duy nhất mà họ quan tâm là sống yêu thương, quảng đại, phục vụ mọi người. (Tóm bài của Willie Hoffsuemmer).

Tại sao cõi sống bên kia hạnh phúc hơn? và chết đi sống lại không còn ham thích của cải danh vọng thú vui mà chỉ biết thương yêu phục vụ?..

Phải chăng vì bên kia là Quê Hương thật Chúa thưởng những kẻ đã tận tâm chuẩn bị lúc tạm sống ờ trần gian? Và chết đi sống lại chỉ biết yêu thương phục vụ phải chăng vì thấy rõ chỉ có yêu thương phục vụ mới tồn tại và là điều kiện để được hưởng phúc trường sinh?... Hơn nữa vì Chúa đã nêu gương cho mọi người trong Tin mừng hôm nay.

7/ Phép lạ Thánh Thể.

Năm 1970, một toán chuyên gia người Ý đã thực hiện một cuộc phân chất trên bánh và rượu được biến thành Thịt và Máu Chúa Giêsu lưu trữ trong nhà thờ Thánh Phanxicô miền Trung nước Ý.

Và cuộc phân chất đã đi đến kết quả: Máu được chứa đựng trong chén thánh thuộc nhóm AB, Thịt được chứa đựng trong chén cũng thật là thịt người, với tất cả đặc tính của máu thịt một người đang sống, mặc dù máu thịt nầy chỉ được cất giữ trong tình trạng tự nhiên không cần hóa chất hoặc kỹ thuật ướp xác nào.

Đó là phép lạ Thánh thể xảy ra tại tu viện Thánh Phanxicô. Sự kiện như sau: một linh mục không có lòng tin mạnh mẽ. Càng ngày ông càng nghi ngờ bánh rượu được truyền phép không thực sự trở thành Mình Máu Thánh Chúa Giêsu.

Một buổi sáng, sau khi đọc lời truyền phép, ông thấy bánh rượu biến thành Mình Máu Chúa. Trong cơn xúc động sâu thẳm, vị linh mục thét lên:

- Để đánh bại lòng cứng tin của tôi, Chúa đã tự tỏ mình trong Bí tích Cực Thánh nầy. 

Và từ đó Máu và Thịt Chúa Giêsu do phép lạ này đã được cất giữ, để củng cố lòng tin cho những ai nghi ngờ việc bánh rượu trở thành Mình Máu Chúa Giêsu.

Hôm nay Chúa Giêsu lập Bí tích Thánh Thể để ở lại vớichúng ta, làm lương thực bổ dưỡng tâm hồn chúng ta. Bánh rượu được biến thành Mình Máu Thánh Người, mắt phàm không thấy được phải lấy đức tin bù lại

Muốn được sống và sống muôn đời, mỗi người cần lãnh nhận thần lương Chúa ban. Và xin Chúa cũng biến cuộc đời chúng ta trở thành một cử hành Thánh Thể bằng sự phục vụ quảng đại, hy sinh quên mình của chúng ta. (Theo Phút cầu nguyện cuối ngày tập II).

8/ Chúa muốn canh chừng chúng ta

Theo phong tục nhiều dân tộc Phi Châu, trước khi một đứa trẻ được công nhận vào tuổi thanh niên, nó phải trải qua một cuộc thừ thách vào dịp ngừng sinh nhật thứ 13 của nó.

Bởi đó, khi cậu Kitty lên 13 tuổi, cậu phải ở một mình trong rừng vắng suốt một đêm để chịu thử thách. Đây là lần đầu tiên Kitty phải ở một mình trong đêm tối vắng vẻ. Cậu cảm thấy nó dài vô tận. Mỗi tiếng động nhỏ thư là tiếng bom nổ kinh khủng. Cả tiếng lá rụng, cành cây gãy cũng đều làm cho cậu rỡn tóc gáy nổi da ga ø?...

Cuối cùng ánh bình minh cũng rọi qua cành cây kẻ lá. Cậu giật mình hoảng sợ khi thấy lờ mờ có bóng ai đứng sau một cây cổ thậu gần đó. Cậu rón rén bước lại gần và hết sức vui mừng khi thấy cái bóng đó chính là cha của cậu. Ông đã đứng đó canh chừng cậu suốt đêm qua. 

Đời sống người Kitô hữu cũng trải qua đêm tối đầy nguy hiểm, sợ hãi. Nhưng họ tin chắc có Chúa Giêsu Thánh Thể luôn ở với họ, chăm nom săn sóc họ từng giây phút đến suốt đời họ, như người Cha luôn canh chừng đứa con suốt đêm trong câu chuyện trên đây. 

Chúa Giêsu lập bí tích Thánh Thể vì thương loài người, nên thần lưng bổ dưỡng tâm hồn tín hữu Người, đồng thời ở lại gầân gũi chăm sóc hồn xác mọi người. Cả những khi Người cho phép đau khổ thử thách xảy ra cũng chỉ là để chúng ta có cơ hội củng cố niềm tin. (Theo Aùnh Sáng thế gian)

9/ Cha thương con

Nhiều người Hoa kỳ biết tên ông Bim. Người ta thường gọi là: ông Bim quảng đại.

Là một chủ nông trại giàu nhất vùng, nhưng ông sống gần gũi mọi người, sẵn sàng giúp đỡ những ai nghèo khổ bệnh tật. Ông chỉ có một đứa con trai duy nhất. Nhưng rủi thay, trong một chuyến đi nghỉ cuối tuần, vợ con ông đã bị tai nạn chết hết !..

Trong những ngày buồn thảm đó, ông lại gặp  một đứa trẻ ăn mặc rách rưới lang thang. Ông gọi nó đến hỏi thăm, mới biết nó là đứa trẻ mồ côi cha mẹ từ nhỏ, sống rày đây mai đó nhờ những người hảo tâm trong vùng. Tên nó là Juni. Oâng dẫn Juni về nhà, nhận em làm con nuôi, và làm chúct hư cho nó:

Nếu ông qua đời thì moiï tài sản của ông để lại cho Juni.

Các bạn ông ngạc nhiên hỏi sao ông làm thế. Ông trả lời: 

- Tôi thương nó.

Thiên Chúa là tình yêu. Người thương chúng ta đến nỗi ban Con Một Người cho chúng ta. Và Con Một của Người cũng vì thương chúng ta, đã lấy Thịt Máu Thánh Người làm thần lương bổ dưỡng tâm hồn,gần gũi  chăm sóc chúng ta hằng ngày, để chúng ta đáp lại tình thương của Người, kính mến Người, yêu thương tha nhân. (Theo Phút cầu nguyện cuội ngày, tập II).

l0/ Chia sẻ

Mẹ Têrêsa Calcutta, người được giải thưởng Nobel hòa bình năm 1979 đã kể lại câu chuyện sau đây: Ngày nọ, có một thiếu phụ dẫn 8 đứa con đến xin gạọ, vì mấy ngày qua không có hột cơm ăn. Mẹ trao cho chị ta một túi gạo. Chị mừng rỡ cám ơn rồi chia ra hai phần. Thấy thế mẹ Têrêsa ngạc ngạc nhiên hỏi:

- Sao chị phân ra làm hai?

- Tôi dành một phần cho gia đình người Hồi giáo bên cạnh thà tôi, vì mấy ngày qua cũng chẳng có cơm ăn.

Mẹ Têrêsa kết luận: 

- Thế giới nầy sẽ hết nghèo khó, nếu người ta biết chia sẻ cho nhau như thiếu phụ nầy. Nhưng càng giàu, chúng ta càng muốn tích lũy thêm. Ngược lại càng nghèo, chúng ta càng dễ chia sẻ cho nhau. 

Chúa Giêsu lập Bí tích Thánh Thể lấy Thịt Máu Người bổ dưỡng tâm hồn chúng ta, bao lâu chúng ta trải qua cõi sống tạm bợ nầy để về đến Quê Hưg thật Thiên Quốc, như dân Do thái xưa trong sa mạc nhờ ăn bánh man na Chúa ban mà đủ sức đi tới dất Chúa hứa.

Chúa nêu gương cho chúng ta, dể chúng ta cũng biết thương yêu chia sẻ cho anh chị em chúng ta như túi bạo được người thiếu phụ chia hai. Chúng ta đói có người đói hơn chúng ta. Chúng ta khổ, có người khổ hơn chúng ta. Chúng ta bệnh tật, có người bệnh tật hơn chúng ta. Cần biết nhìn xung quanh sẽ thấy nhu cầu của người khác để mở rộng tâm hồn trước những nhu cầu đó của anh chị em chúng ta. (Theo Tất cả là hồng ân).

11/ Vương quốc ta đã suy đồi

Chuyện cổ Aán Độ có kể lại: Một vị vua muốn biết lòng dân có thương yêu phục vụ nhau không. Ông ta cải trang làm người nghèo ăn xin. Nhưng ông đi khắp nước mà không được ai màng tới cũng chẳng giúp đỡ gì. Ông ta buồn bả trở về hoàng cung, than thở với các quan cận thần. 

- Vương quốc của ta quá suy đồi, không ai biết yêu thương giúp đỡ kẻ nghèo khó. Người giàu có thì họ trọng vọng bợ đỡ, còn kẻ bần cùng thì họ khinh dể bỏ bê, như ta thử đi ăn mày thì không ai nhìn tới?...

Nếu Chúa Giêsu đến với chúng ta trong lòng mạo người nghèo khó ăn mày, chúng ta có tiếp đón, yêu thương giúp đỡ không? hay cũng khinh thường bỏ bê như dân quốc của ông vua đó?

Là đồ đệ Chúa, chúng ta ai cũng biết lời Chúa dạy: Người ta cứ dấu nầy mà nhận biết các con là môn đệ Thầy, là các con thương yêu nhau.

Hơn nữa, Chúa còn đồng hóa mình với kẻ nghèo khó bệnh tật: Những gì các con làm cho một trong những kẻ bé mọn nhất là các con làm cho chính Ta

Và trong bữa Tiệc ly, Chúa Giêsu đã rửa chân cho các tông đồ, đã lập Bí tích Thánh Thể để dạy chúng ta yêu thương phục vụ nhau. 

Ước gì mỗi người tín hữu chúng ta biết noi gương Chúa, biết làm theo Lời Chúa dạy để xứng đáng làm môn đệ Chúa và làm công dân Nước Trời. (Theo Anh Sáng thế gian)

12/ Phục vụ tha nhân.

Một hôm khách đi đường lấy làm lạ, khi thấy một triết gia Hy lạp đứng cười nắc nẻ một mình. Ai cũng tưởng ông ta điên, nên chẳng để ý tới.

Sau cùng có một người tọc mạch muốn biết rõ sự thật. Anh đến gần triết gia và hỏi:

- Sao ông đứng cười một mình mãi thế? Ông ta lấy tay chỉ hòn đá nằm trên đương và nói:

- Anh có thấy hòn đá nằm giữa đường đó không? Từ sáng tới giờ không biết bao nhiêu người đã vấp vào hòn đá đó té ngã, và họ bực tức chửi bới, nhưng không ai cúi xuống nhặt hòn đá vứt khỏi lối đi để người khác khỏi vấp ngã...

Nhặt hòn đá vứt khỏi lối đi để người anh em mình khỏi bị vấp ngã.

Thật là một việc làm hết sức giản đơn nhẹ nhàn, nhưng không ai làm. Phải chăng vì nó quá tầm thường không cần đếm xỉa tới? Đúng ra là vì con người ích kỷ, không biết nghĩ đến anh em mình, thiếu tình thương phục vụ kẻ khác.

Nếu mọi người biết nhìn biết nghĩ như nhà hiền triết Hy-lạp đó thì thêm gian nầy đã trở thành thiên đàng. Khi con người biết thưng yêu phục vụ nhau thì sẽ không còn khốn khổ, chiến tranh, hận thù, kỳ thị, đóùi khát nữa.

Chúa Giêsu đã yêu thưng phục vụ, và phục vụ đến chết trên khổ giá, đến lấy Máu Thịt Mình nuôi âưỡng mọi người.

Đó chính là tấm gương cao cả nhất cho mọi người, nhất là người Kitô hữu chúng ta. (Theo Như lòng Chúa khoan dung)

 

 

11. NGHỊCH LÝ CUỘC TÌNH - Lm. DĐH.

Biết nhiều khổ nhiều, có yêu mới khổ vì yêu, làm phúc phải tội, chắc không phải là những lời “than thân trách phận” vu vơ, đôi khi vì tình đời trái ngang mà ta thốt lên: thật mấy ai học được “chữ ngờ” ! Có những sự lạ tưởng đang mơ, anh hàng xóm của tôi quá túng nghèo bỗng trở nên giầu khác thường, người xưa gọi với mỹ danh là: lên như diều gặp gió. Có những đôi vợ chồng trong héo ngoài tươi, chỉ vì không muốn ảnh hưởng đến việc học tập của con cái, do đó họ phải hy sinh, phải khổ đau nhiều mà con cái không hề hay biết.

Cha ông chúng ta nói rằng: trời đánh còn tránh bữa ăn, vậy đó, Đức Giêsu năm xưa đã đi ra ngoài quy luật, đang khi ăn Ngài đứng dậy cởi áo ngoài, thắt lưng cho gọn lại, lấy nước rửa chân cho các học trò. Đã vậy, tại sao Ngài không rửa đôi tay cho sạch mà lại rửa chân ? Nghịch lý mà ngay người trong cuộc không thể hiểu nổi hành động của Thầy mình: uống rượu mà không say, rửa chân nhưng sẽ sạch cả tâm hồn ; không để Thầy rửa, các con sẽ không được thông phần với Thầy. Nếu các con không đón nhận tình yêu thương của Thầy, các con sẽ không biết yêu như Thầy yêu. Thầy Giêsu ăn tiệc với các học trò, nhưng không say rượu mà say tình, Thầy Giêsu không rửa mắt, hay rửa mặt cho các đệ tử, nhưng nhất định rửa đôi chân nhằm giúp các môn sinh đứng vững trước sứ mạng tông đồ được giao phó.

Tham dự vào “Đại tam nhật vượt qua”, phụng vụ không giới thiệu về sự cao siêu huyền bí nơi tình yêu cha mẹ, tình yêu quê hương, mà lưu ý chúng ta đến tính bất ngờ giữa tình thầy trò Giêsu. Các môn đệ hoảng hốt giật mình vì tình thầy lạ kỳ đến độ dám quỳ gối rửa chân cho các đệ tử, ngay trong bữa ăn. Ngài không cùng các học trò bày mưu lập kế để thu phục đám đông, để phát triển hài hòa tình làng nghĩa xóm, đúng hơn Ngài kêu gọi mọi người cùng xây dựng một tình yêu bền vững. Trong khi xã hội chủ trương né tránh khổ đau, tìm kiếm hạnh phúc trần thế, minh chứng cho mọi người biết thế nào là công thành danh toại, Đức Giêsu lại diễn tả cường độ yêu đến cùng tận. “Chết cho người mình yêu”.

Nâng cao mức độ hiểu biết cho các học trò, tăng khả năng miễn nhiễm do dự cho tinh thần phục vụ của các học trò tưởng là cần thiết. Nhưng không, Ngài cho biết: Thầy là Thầy, là Chúa mà còn rửa chân cho các con, vậy các con hãy thường xuyên rửa chân cho nhau. Một nghịch lý khiến các môn đệ xưa kia và các môn đệ hôm nay không khỏi hãi sợ, càng làm lớn, càng phải hy sinh hãm mình nhiều, hiểu biết nhiều thì phải chia sẻ nhiều, phục vụ nhiều. Thầy Giêsu không rửa đôi tay cho các môn đệ, nhằm giúp các ông đưa của ăn thức uống vào miệng cho vệ sinh, mà lại rửa đôi chân cho các ông. Một hành động, khiến Phêrô phải kêu lên: vậy “xin Thầy không những rửa chân, mà hãy rửa cả tay, cả đầu con nữa”.

Nghịch lý mà người đời vẫn cho rằng: ăn lúc đói, nói lúc say, hoặc như các chị em phụ nữ thường kêu ca: rượu vào lời ra, Đức Giêsu chưa ăn, chưa uống đã say rồi ! Và phải một thời gian, các môn đệ mới hiểu Thầy của họ say tình, tửu lượng của Thầy cao đến độ khiến các môn đệ, cả những ai yêu mến Ngài, rồi cũng say tình như Ngài. Mâu thuẫn của Đức Giêsu đến độ gọi là “bất thường”, Ngài rửa chân cho các học trò, nhưng là nhắm đến sẽ sạch tấm lòng, giải tỏa được những “lăn tăn” cho các môn đệ việc bán Chúa phản Thầy. Thứ tình mà người đời cho rằng: tình là tình nhiều lúc có nhưng không, thứ tình nơi Đức Giêsu không chỉ là tình tha thứ, tình “có mãi và tràn đầy” trong những ai yêu mến Ngài. Thứ tình lạ kỳ đến độ ngày hôm nay vẫn có biết bao nam thanh nữ tú, không ngần ngại bỏ tất cả để được xả thân phục vụ “say như Thầy đã say. Amen.

 

 

12. NGẬP TRÀN TÌNH YÊU THƯƠNG - Lm. Giuse Đỗ Đức Trí

Ngày 14/2 hằng năm được gọi là ngày Valentine, ngày Tình yêu, bởi vì phát xuất từ một tình yêu hy sinh quên mình vì hạnh phúc của người khác, do một linh mục tên là Valentino. Bất chấp lệnh cấm kết hôn đối với những người đang độ tuổi quân dịch, linh mục Valentino đã âm thầm chứng hôn cho một đôi bạn trẻ yêu nhau. Sự việc đến tai hoàng đế, ông đã ra lệnh bắt và tử hình vị linh mục can đảm này. Từ đó, ngày tử đạo của ông được gọi là ngày Valentine để tôn vinh những con người dám hy sinh tính mạng vì tình yêu và hạnh phúc của người khác.
Nếu như ngày Valentine được cả thế giới tổ chức, như một ngày của tình yêu, thì có thể nói ngày Thứ Năm Tuần Thánh phải là ngày ngập tràn tình yêu cho tất cả nhân loại. Vì trong ngày này, không phải là một người hy sinh cho một đôi tình nhân, nhưng chính Đức Giêsu – Thiên Chúa làm người, đã hy sinh, hiến dâng cả mạng sống, máu thịt mình cho hạnh phúc và sự sống đời đời của cả nhân loại. Vì thế, cho đến muôn đời, ngày hôm nay mãi mãi được gọi là Thứ Năm Thánh.
Bầu khí của buổi chiều hôm nay có vẻ trầm trầm nhưng không buồn bã u ám, mà là vẻ thâm trầm, sâu lắng, nhưng hùng tráng của một bản trường ca tình yêu Đức Giêsu dành cho nhân loại. Bản trường ca tình yêu này kể lại với nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau. Tin Mừng Gioan cho thấy, Chúa Giêsu hoàn toàn ý thức và chủ động thể hiện tình yêu của Ngài với tất cả mọi người hiện diện hôm đó. Chúa Giêsu biết giờ của Người đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Cha. Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng. Có lẽ không còn có thể có từ ngữ nào trong nhân loại để diễn tả tình yêu của Chúa Giêsu trong giờ phút này. Thánh Gioan chỉ có thể diễn tả bằng cụm từ: Người yêu thương họ đến cùng.
Yêu đến cùng, là tình yêu của cha mẹ dành cho con, của người thầy dành cho các học trò. Vì không muốn xa rời, nhưng phải chia tay, vì vậy, tâm trạng của Chúa Giêsu lúc này thật khó tả. Chúa Giêsu đã làm tất cả những gì có thể làm trong những giờ phút còn lại, để thể hiện tình yêu thương tột cùng dành cho các môn đệ. Chúa Giêsu và các môn đệ cùng tham dự bữa tiệc Vượt qua là bữa tiệc thánh theo truyền thống đạo Do Thái, để tưởng niệm việc Thiên Chúa giải thoát dân Do Thái khỏi cảnh nô lệ Ai Cập. Trong bữa ăn này, Chúa Giêsu còn đi xa hơn và sâu hơn ý nghĩa của việc giải thoát, khi Ngài biến bánh và rượu trở nên thịt và máu của Ngài để làm của ăn cho nhân loại và để tẩy rửa tội lỗi và giải thoát nhân loại khỏi ách nô lệ của ma quỷ và tội lỗi.
Ngày cầm bánh và rượu, tạ ơn, bẻ ra, trao cho các môn đệ và nói: Đây là mình Thầy, anh em hãy cầm lấy mà ăn. Đây là máu Thầy, anh em hãy cầm lấy mà uống, máu đổ ra để muôn người được tha tội. Với việc lập Bí tích Thánh Thể, trao ban thịt máu mình làm của ăn của uống cho nhân loại, Chúa Giêsu đã chấp nhận sự hy sinh đến cùng, hy sinh đến độ trao ban tất cả con người, mạng sống, hơi thở, máu thịt cho những người mình yêu thương. Hơn nữa, biến mình thành của ăn của uống, Chúa Giêsu muốn được các môn đệ hằng ngày nhớ đến Ngài, ăn Ngài, để cho Ngài được đi vào trong thể xác và tâm hồn, nên một với mỗi người và làm nên chất dinh dưỡng nuôi sống cả xác hồn nhân loại. 
Biến bánh và rượu nên máu thịt của mình, đồng thời lại làm cho máu thịt vẫn giữ nguyên hình dàng bánh và rượu, Chúa Giêsu muốn thực hiện phép lạ kỳ diệu này, để được ở lại với nhân loại cho đến ngày tận thế. Để có thể hiện diện mãi với những kẻ mình yêu thương, Chúa Giêsu đã có một sáng kiến vượt sức tưởng tượng, đó là trao cho các môn đệ của mình quyền năng của chính Ngài khi nói với các ông: Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy. Với mệnh lệnh lênh này, Chúa Giêsu lập nên chức Linh Mục và trao ban cho các linh mục được quyền nhân danh Chúa tiếp tục cử hành màu nhiệm Thánh Thể và nối dài sự hy sinh và tình yêu đến cùng của Chúa mỗi ngày nơi bàn thờ. 
Chúa Giêsu trao cho các học trò một nhiệm vụ vô cùng cao trọng đó là tiếp tục nhân danh Ngài cử hành và sống màu nhiệm tình yêu tự hiến của Chúa cho đến ngày tận thế. Chúa thừa biết rằng, các môn đệ của Chúa là những người bất toàn, Chúa biết các ông hèn nhát, sẽ bỏ chạy khi gặp kháo khăn, sẽ phản bội khi gặp thử thách, nhưng Chúa vẫn hết mực tin tương nơi các ông. Cho đến ngày hôm nay, các giám mục, các linh mục vẫn mãi là những người trần mắt thịt, yếu đuối, tội lỗi sai lầm, nhưng Thiên Chúa vẫn muốn sử dụng những con người này, để cử hành màu nhiệm tình yêu của Thiên Chúa và cũng để nhân danh Thiên Chúa tiếp tục yêu thương nhân loại cho đến cùng theo gương của Chúa Giêsu.
Để cụ thể bài học yêu cho đến tận cùng, Chúa Giêsu đã làm một việc, mà các tông đồ không thể chấp nhận được. Simon Phêrô đã phản ứng quyết liệt: Thưa Thầy, không thể như thế được, Thầy không thể rửa chân cho con như thế được. Thánh Gioan kể lại: Chúa Giêsu chỗi dậy, rời khỏi bàn ăn, cởi áo ngoài ra, lấy khăn thắt lưng, đổ nước vào chậu và cúi xuống rửa chân cho các môn đệ. Từng động tác của Chúa Giêsu được tác giả Tin Mừng cảm nhận và ghi lại chi tiết. Ngài đã chỗi dậy, không chỉ rời khỏi bàn ăn, mà còn rời bỏ địa vì là Thầy, là chủ và là Chúa, để bước đến với những con người thấp hèn bé nhỏ. Ngài cởi áo choàng ra, lấy khăn thắt lưng: Đây là một sự cởi bỏ khỏi sự tự ái khỏi cái tôi, giũ bỏ cả địa vị cao trọng để lấy khăn thắt lưng, chấp nhận biến mình trở thành một người hầu, người phục vụ, kẻ nô lệ cho học trò của mình.
Sau khi bài học về phục được được dạy bằng việc làm cụ thể cho các môn đệ, Chúa Giêsu trở về với vị trí của một người thầy, Ngài mặc áo lại, trở về chỗ và giải thích cho các môn đệ: Anh em gọi Thầy là Thầy, là Chúa. Nếu Thầy là Chúa, là Thầy mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau… Anh em hãy làm như Thầy đã làm cho anh em. Trăm nghe không bằng một thấy; Lời nói mau qua, gương lành lôi kéo. Chúa Giêsu đã dạy cho các môn đệ bài học yêu thương phục vụ một cách hết sức cụ thể. Để có thể phục vụ anh em giống như Chúa, đòi mỗi người cũng phải dám từ bỏ địa vị hiện tại của mình là ông nọ bà kia, dù mình là ai…, để có thể cúi xuống rửa chân cho anh em. Rửa chân cho anh em, là dám chấp nhận gạt bỏ mọi sự tự ái, cái tôi, kể cả danh dự, để cúi xuống phục vụ, không so bì tính toán thiệt hơn và không vì một mục đích nào khác là yêu thương và muốn người mình yêu được hạnh phúc.
Ngày Thứ Năm Thánh hôm nay phải là ngày mỗi chúng ta, dù là linh mục hay giáo dân, cảm nhận được niềm vui và hạnh phúc vì được ngụp lặn trong biển trời yêu thương của Chúa Giêsu. Chỉ khi mỗi người thực sự cảm nhận, thục sự đụng chạm được tình yêu của Chúa, thì mới có thể hiểu được một tình yêu vĩ đại Chúa Giêsu dành cho mỗi chúng ta. Hiểu và cảm nhận được tình yêu của Chúa, chúng ta sẽ được sống trong hạnh phúc ngay hôm nay vì biết rằng mình là người được Chúa yêu thương bằng một tình yêu đến cùng. Cũng đừng ngại ngùng và tự hào vì mình là người yêu của Chúa, được Chúa yêu, vì  sự tự hào này sẽ giúp chúng ta sống xứng đáng với tình yêu của Chúa và sống giống với tình yêu của Chúa. Sống xứng đáng và sống giống tình yêu của Chúa, có nghĩa là chúng ta được mời gọi để yêu thương vợ, chồng, con cái và mọi người bằng tình yêu đến cùng giống như Chúa; Chấp nhận sự hy sinh, thiệt thòi, sức khỏe, thời giờ kể cả mạng sống, cho vợ chồng con cái và cho anh chị em chung quanh. Mỗi người cần vun đắp và làm cho gia đình trở thành nơi ngập tràn tình yêu thương và sự linh thánh như căn phòng tiệc ly của Chúa Giêsu và các môn đệ. 
Hãy nhận lấy mà ăn; Hãy cầm lấy mà uống, là lời thiết tha Chúa đang mời gọi mỗi người. Xin Cho chúng ta luôn tin tưởng đến đón nhận tình yêu thương tận hiến của Chúa nới Bí Tích cực trọng này để chúng ta có đủ sức mạnh yêu thương, hy sinh tận hiến cho nhau. Amen.

 

 

13. DẤU TÌNH - Trầm Thiên Thu

Thứ Năm Tuần Thánh (Maundy Thursday) còn gọi là Thứ Năm Giao Ước, Thứ Năm Tuyệt Đối, hoặc Thứ Năm của các Mầu Nhiệm. Theo La ngữ, chữ Mandatum (Anh ngữ là Maundy) có nghĩa là “điều răn” hoặc “mệnh lệnh”. Thứ Năm Tuần Thánh muốn nói tới mệnh lệnh mà Chúa Giêsu truyền cho các môn đệ trong Bữa Tiệc Ly: “Hãy yêu thương nhau” (Ga 13:34; Ga 15:12; Ga 15:17). Đó là DẤU TÌNH được Chúa Giêsu “khắc ghi” qua Bí tích Thánh Thể (chân thành yêu thương) và Rửa Chân (khiêm nhường phục vụ). Và Ngài gọi đó là Điều Răn Mới. Có thể gọi Thứ Năm Tuần Thánh là Ngày Tình Yêu Thánh của các Kitô hữu.

Tuần Thánh khởi đầu, đỉnh cao là Tam Nhật Vượt Qua – ba ngày cao điểm của Phụng Vụ, với các sắc màu khác nhau: khởi đầu là Thứ Năm Tuần Thánh mang sắc màu Vui, tiếp theo là Thứ Sáu Tuần Thánh mang sắc màu Thương, và đêm Thứ Bảy Tuần Thánh mang sắc màu Mừng.

Như chúng ta biết, Thứ Năm Tuần Thánh là ngày Vui, buổi sáng là Thánh Lễ Truyền Dầu, rồi buổi chiều là Thánh Lễ kỷ niệm Chúa Giêsu thiết lập Bí tích Thánh Thể và chức linh mục, cũng là ngày tưởng nhớ Bữa Tiệc Ly. Trong niềm vui có lẫn nỗi buồn, tạo cảm giác rất khó tả, đặc biệt là trong đó có sự quyến luyến của cuộc chia tay giữa Thầy và trò.

Còn nữa, Thứ Năm Tuần Thánh còn là ngày Chúa Giêsu dạy bài học yêu thương độc đáo, vì Ngài không chỉ dạy bằng lời nói mà dạy bằng HÀNH ĐỘNG cụ thể, chứng minh lời Ngài đã nói: “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20:28; Mc 10:45). Yêu thương và Phục vụ là hai “điểm nhấn” của ngày Thứ Năm Tuần Thánh. Ai yêu thương thì sẵn sàng phục vụ, ai phục vụ là chứng tỏ yêu thương. Mối tương tác tất yếu tuyệt vời!

Khi còn sinh thời, Thánh GH Gioan Phaolô II đã nhấn mạnh đến chức vụ phục vụcủa mình là “Tôi Tớ của Các Tôi Tớ của Chúa – Servus Servorum Dei”. Ngài không tự xưng bằng đại danh từ “chúng tôi” như các giáo hoàng trước mà dùng đại danh từ “tôi”. Ngài chọn làm một lễ tấn phong đơn giản chứ không rườm rà, và không đội mũ giáo hoàng khi đảm nhiệm. Là giáo hoàng nhưng ngài không muốn được phục vụ, thể hiện đức khiêm nhường. Khi nhậm chức giáo hoàng, các hồng y quỳ gối trước ngài để tuyên hứa và hôn nhẫn, nhưng ngài đứng dậy khi ĐHY Stefan Wyszyński (người Ba Lan) quỳ gối, ngăn hồng y này hôn nhẫn và ôm hồng y này. ĐGH Phanxicô cũng đã thể hiện rõ nét khiêm nhường, nghèo khó, và cũng không muốn ai phục vụ mình. Đó là các tấm gương sáng về nhân đức khiêm nhường và tinh thần phục vụ.

Ngày xưa, Đức Chúa phán với ông Mô-sê và ông A-ha-ron trên đất Ai-cập: “Tháng này, các ngươi phải kể là tháng đứng đầu các tháng, tháng thứ nhất trong năm. Hãy nói với toàn thể cộng đồng Ít-ra-en: Mồng mười tháng này, ai nấy phải bắt một con chiên cho gia đình mình, mỗi nhà một con. Nếu nhà ít người, không ăn hết một con thì chung với người hàng xóm gần nhà mình nhất, tuỳ theo số người. Các ngươi sẽ tuỳ theo sức mỗi người ăn được bao nhiêu mà chọn con chiên. Con chiên đó phải toàn vẹn, phải là con đực, không quá một tuổi. Các ngươi bắt chiên hay dê cũng được. Phải nhốt nó cho tới ngày mười bốn tháng này, rồi toàn thể đại hội cộng đồng Ít-ra-en đem sát tế vào lúc xế chiều, lấy máu bôi lên khung cửa những nhà có ăn thịt chiên. Còn thịt, sẽ ăn ngay đêm ấy, nướng lên, ăn với bánh không men và rau đắng”(Xh 12:1-8).

Dân nào cũng có những phong tục khác nhau theo văn hóa của mình. Với dân Chúa, cách ăn uống cũng khác, họ làm theo lời Chúa căn dặn: “Các ngươi phải ăn thế này: lưng thắt gọn, chân đi dép, tay cầm gậy. Các ngươi phải ăn vội vã, Đó là lễ Vượt Qua mừng Đức Chúa” (Xh 12:11).

Đối với dân tộc Việt Nam, chúng ta không có tục lệ như vậy, nhưng vẫn không thấy lạ. Chiên hay dê một tuổi là con vật còn nhỏ, còn toàn vẹn và vô tư như đứa trẻ, máu của con vật tinh tuyền được bôi lên cửa làm dấu hiệu để gia đình đó được thoát tai họa: “Đêm ấy Ta sẽ rảo khắp đất Ai-cập, sẽ sát hại các con đầu lòng trong đất Ai-cập, từ loài người cho đến loài thú vật, và sẽ trị tội chư thần Ai-cập: vì Ta là Đức Chúa. Còn vết máu trên nhà các ngươi sẽ là dấu hiệu cho biết có các ngươi ở đó. Thấy máu, Ta sẽ vượt qua, và các ngươi sẽ không bị tai ương tiêu diệt khi Ta giáng hoạ trên đất Ai-cập. Các ngươi phải lấy ngày đó làm ngày tưởng niệm, ngày đại lễ mừng Đức Chúa. Qua mọi thế hệ, các ngươi phải mừng ngày lễ này. Đó là luật quy định cho đến muôn đời” (Xh 12:12-14).

Đã được báo trước về cách tránh tai họa như vậy thì thật là đại phước. Ai không làm theo là cố chấp, ai làm theo là biết vâng phục và tất nhiên được hưởng lợi ích. Đối với Thiên Chúa, chúng ta chẳng là gì cả, nhưng chúng ta vẫn không ngừng được Ngài ban tặng biết bao hồng ân. Thánh Vịnh gia cũng đã có kinh nghiệm đó nên tự hỏi và tự quyết định: “Biết lấy chi đền đáp Chúa bây giờ vì mọi ơn lành Người đã ban cho? Con xin nâng chén mừng ơn cứu độ và kêu cầu thánh danh Chúa” (Tv 116:12-13). Vâng, chắc chắn không lễ vật nào xứng đáng bằng những gì đến từ Thiên Chúa.

Thánh Vịnh gia thành tâm khấn hứa: “Lời khấn nguyền với Chúa, con xin giữ trọn, trước toàn thể dân Người. Đối với Chúa thật là đắt giá cái chết của những ai trung hiếu với Người. Vâng lạy Chúa, thân này là tôi tớ, tôi tớ Ngài, con của nữ tỳ Ngài, xiềng xích trói buộc con, Ngài đã tháo cởi” (Tv 116:15-16). Để phù hợp với Cựu ước, Chúa Giêsu cũng đã nói: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15:13).

Cuộc sống có nhiều cách chết, chúng ta cũng phải “chết” cho nhau hằng ngày, vì mọi người đều là “người yêu” của nhau. Trong ngày trọng đại này, mỗi chúng ta hãy cùng với Thánh Vịnh gia chân thành thân thưa với Thiên Chúa: “Con sẽ dâng lễ tế tạ ơn và kêu cầu thánh danh Chúa. Lời khấn nguyền với Chúa, con xin giữ trọn, trước toàn thể dân Người” (Tv 116:17-18). Lòng biết ơn rất quan trọng nhưng người ta lại hay quên – có khi vô tình, có lúc cố ý. Và vẫn còn đó gương mười người được ơn chữa lành nhưng chỉ có một người biết ơn, mà người này lại là người ngoại! (x. Lc 17:11-19).

Cũng với tâm tình tri ân, Thánh Phaolô nói: “Thật vậy, điều tôi đã lãnh nhận từ nơi Chúa, tôi xin truyền lại cho anh em: trong đêm bị nộp, Chúa Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng tạ ơn, rồi bẻ ra và nói: ‘Anh em cầm lấy mà ăn, đây là Mình Thầy, hiến tế vì anh em; anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy’. Cũng thế, cuối bữa ăn, Người nâng chén và nói: ‘Đây là chén Máu Thầy, Máu đổ ra để lập Giao Ước Mới; mỗi khi uống, anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy’. Thật vậy, cho tới ngày Chúa đến, mỗi lần ăn Bánh và uống Chén này, là anh em loan truyền Chúa đã chịu chết” (1 Cr 11:23-26).

Thánh Phaolô trình bày lại khung cảnh Bữa Tiệc Ly năm xưa đầy ắp thâm tình. Cách riêng, bữa dạ tiệc này có hai loại “món” vô cùng đặc biệt: Yêu Thương và Phục Vụ. Hai món này rất ngon, chắc chắn ai cũng thích dùng, thế nhưng lại rất khó chế biến.

Có một điều xác định rất lạ. Chết là buồn đau, là chiến bại, là cùng đường, vậy mà lại cần loan truyền ư? Đây là loại nghịch-lý-thuận sẽ không thể hiểu nếu không có đức tin Kitô giáo. Chết không như người ta lầm tưởng, chết ngỡ như thua thiệt, là thất bại ê chề, nhưng chính cái chết lại là biên giới qua Bến Phục Sinh, là nhịp cầu tới Miền Sự Sống, là cửa ngõ vào Cõi Trường Sinh. Vô cùng kỳ diệu!

Trước khi vào Cõi Sinh (vùng sống) phải qua Cõi Tử (miền chết), nhưng trước khi qua Vùng Chết phải trải nghiệm Ải Đau Khổ. Đó là loại Tam Giác đặc biệt: Tam-Giác-Sống-Chết.

Trình thuật Ga 13:1-15 cho biết: Trước lễ Vượt Qua, Đức Giêsu biết giờ của Ngài đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Ngài vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Ngài yêu thương họ đến cùng. Với nhân tính, chắc hẳn Ngài cũng lưu luyến lắm, nhất là với các đệ tử đã chia ngọt sẻ bùi suốt ba năm ròng. Nhưng điều gì đến sẽ đến, cuộc vui nào cũng tàn, sum họp rồi chia ly, đó là lẽ thường ở đời thôi!

Tuy nhiên, ma quỷ đã gieo vào lòng tông đồ Giu-đa, con ông Si-môn Ít-ca-ri-ốt, ý định nộp Thầy Giêsu. Đức Giêsu biết rằng Chúa Cha đã giao phó mọi sự trong tay Ngài, Ngài bởi Thiên Chúa mà đến và sắp trở về cùng Thiên Chúa. Trong tiệc mừng Lễ Vượt Qua với các môn đệ, và cũng là Bữa Tiệc Ly, bữa ăn cuối cùng của Ngài trên thế gian và bữa cuối cùng đồng bàn với các môn đệ, Ngài đứng dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài ra và lấy khăn mà thắt lưng, rồi Ngài đổ nước vào chậu, bắt đầu rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau. Một hành động rất lạ, chắc hẳn các môn đệ cũng chỉ thấy lạ chứ không thể biết đó là “điềm báo” của một người sắp chết.

Chuyện kể hôm nay là câu chuyện mà ai cũng thuộc nằm lòng, mặc dù có thể không chính xác từng chữ. Khỏi kể lại thì ai cũng đã biết, bởi vì mới nghe kể câu đầu đã có thể biết rõ kết thúc. Thế nhưng câu chuyện này vẫn luôn thu hút bất kỳ ai. Từ Phòng Tiệc Ly tới Vường Dầu, từ Vườn Dầu tới Dinh Cai-pha và Phi-la-tô, và từ đó tới Đồi Sọ, ai cũng biết diễn biến thế nào, thế nhưng người ta cứ nghe mãi và đọc mãi cuốn truyện đó mà không chán. Một điều rất lạ!

Một cuốn truyện hoặc một bộ phim hay tới mức nào thì người ta cũng chỉ đọc hoặc xem một lần, nhiều lắm cũng chỉ hai lần là thấy nhàm chán. Vậy mà với bộ Phúc Âm (và Kinh Thánh), người ta càng đọc càng thấy thú vị, càng nhận thấy cái mới. Tương tự, đối với Thánh Lễ cũng vậy, dù không tham dự cũng biết trình tự như thế nào. Thế mà càng tham dự càng thu hút, chẳng ai chán vì đi lễ nhiều bao giờ. Đúng là phép lạ thật!

Và câu chuyện bi hùng được tiếp diễn…

Ngay khi Chúa Giêsu bưng chậu nước đến chỗ ông Phêrô, ông liền thưa: “Thưa Thầy! Thầy mà lại rửa chân cho con sao?”. Nhưng Ngài bảo: “Việc Thầy làm, bây giờ anh chưa hiểu, nhưng sau này anh sẽ hiểu”. Ông Phêrô cương quyết không để cho Thầy rửa chân cho mình, vì có đời nào lại có chuyện ngược đời như vậy được! Nhưng Ngài nghiêm giọng: “Nếu Thầy không rửa cho anh, anh sẽ chẳng được chung phần với Thầy”. Nghe vậy, ông Phêrô nói ngay: “Thế thì xin Thầy cứ rửa, không chỉ rửa chân mà rửa cả tay và đầu con nữa”. Đúng là người có bản tính “thẳng như ruột ngựa”, nghĩ sao nói vậy. Đức Giêsu bảo ông: “Ai đã tắm rồi thì không cần phải rửa nữa; toàn thân người ấy đã sạch. Về phần anh em, anh em đã sạch, nhưng không phải tất cả đâu!”. Thật vậy, Ngài biết ai sẽ nộp Ngài nên mới nói: “Không phải tất cả anh em đều sạch”.

Sau khi rửa chân cho các môn đệ xong, Đức Giêsu mặc áo vào rồi về chỗ, và Ngài nói: “Anh em có hiểu việc Thầy mới làm cho anh em không? Anh em gọi Thầy là Thầy, là Chúa, điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là Chúa. Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy mà còn rửa chân cho anh em thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em” (Ga 13:12-15). Những lời Chúa Giêsu nói nghe rất nhẹ nhàng nhưng lại có sức khiến chúng ta “nhức tai”, “buốt óc” và “nhói tim” lắm! Thật vậy, chữ Yêu Thương rất ngắn gọn, xem chừng rất đơn giản, nhưng để thực hành cho đúng ý Thầy Giêsu thì không hề đơn giản, vì vậy mà chúng ta phải cố gắng không ngừng, phải cố gắng qua từng nhịp thở vậy.

Tương tự, chữ Phục Vụ cũng ngắn gọn lắm, nhưng có hai vế: Phục vụ và được phục vụ. Không ai “ưa” vế thứ nhất, nhưng ai cũng thích vế thứ nhì. Bản tính con người đâu dễ “lèo lái”, do đó mà thực hiện “bổn phận phục vụ” mãi vẫn thấy “căng” lắm, thậm chí có người còn chỉ “chăm chú” làm ngược lại là “thích được người khác phục vụ”. Ôi, lạy Thiên Chúa!

Được biết, tại phòng thánh của nhà dòng, Mẹ Thánh Teresa Calcutta đã ghi lời nhắc nhở: “Xin các linh mục hãy dâng mỗi Thánh lễ như Thánh lễ đầu tiên và như Thánh lễ cuối cùng trong đời”. Đúng là ý tưởng của thánh nhân, thật là thâm thúy đầy tính tâm linh, nhưng đó cũng là lời nhắc nhở “đáng phải giật mình” lắm đấy, bất kể là ai – tức là cả giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân!

Thứ Năm Tuần Thánh là một ngày đặc biệt để xét mình về bài học Yêu Thương và Phục Vụ mà Chúa Giêsu đã dạy, bài học vô giá đó vẫn luôn nóng bỏng ngay trong thời đại ngày nay. Ai cũng phải thuộc lòng và thi hành triệt để bài học này của Thầy Giêsu. Yêu mến Chúa và lưu luyến Ngài thì phải thực hiện lệnh Ngài truyền, đó là điều hoàn toàn hợp lý, vì có vậy mới chứng tỏ tình yêu mà chúng ta dành cho Ngài!

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, xin đổi mới con nên giống Chúa mỗi ngày một hơn, xin khơi “lửa tình” để con say yêu Thánh Thể, nguồn sống dồi dào cho con vì biết nhờ Ngài, với Ngài và trong Ngài, đồng thời xin giúp con quyết tâm thực hiện bài học Yêu Thương và Phục Vụ đúng theo Tôn Ý Ngài. Con tin kính Ngài là Đấng cứu độ, hằng sinh và hiển trị với Chúa Cha, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời. Amen.

 

 

14. HÃY YÊU NHƯ GIÊ-SU - Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

Có ai đó nói rằng: “bạn cứ yêu đi, bạn sẽ biết phải làm gì?”. Tình yêu là sức mạnh để con người sống và hành động. Có tình yêu người ta mới sống hết mình. Có tình yêu người ta mới không quản ngại nắng mưa hay đường xá xa xôi, gập gềnh. Quả đúng như cha ông ta nói: “Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo – Mấy sông cũng lội – Mấy đèo cũng qua”.

Chuyện ngụ ngôn về tình yêu của loài bướm được kể lại rằng: Một ngày nọ, chú bướm đực đề nghị: “Chúng ta bắt đầu một trò chơi nhỏ nhé!”. Bướm cái đồng ý. Chú nói tiếp: “Ai là người đầu tiên ngồi trong bông hoa này vào sáng sớm mai sẽ là người yêu người kia nhiều hơn”. Bướm cái gật đầu.

Sáng hôm sau, bướm đực đến từ sớm, đợi bông hoa nở ra và chú có thể ngồi vào đó trước khi con cái tới. Cuối cùng, bông hoa cũng mở… và chú nhìn thấy một cảnh tượng vô cùng kinh khủng.
Người yêu của chú đã chết bên trong bông hoa. Cô ấy đã ở đó cả đêm, để sáng hôm sau khi nhìn thấy người yêu, cô sẽ bay đến và nói rằng cô yêu chú biết nhường nào!

Tình yêu làm cho cuộc đời thêm thi vị và hạnh phúc. Sống trong tình yêu ai cũng vui tươi, hân hoan. Khi yêu người ta mới thấy đời thật hạnh phúc. Khi tình yêu bị mất thì cuộc đời cũng chìm trong tăm tối cô đơn. Tình yêu không còn thì lòng người cũng tê tái buồn đau như Nguyễn Du đã từng viết:

“Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”.

Hôm nay Thứ Năm Tuần Thánh, là dịp nhắc nhở chúng ta về tình yêu cao vời của Thầy Chí Thánh Giê-su. Một tình yêu dám chết cho người mình yêu. Một tình yêu không so đo tính toán nhưng chỉ biết yêu là cho đi, cho đi đến cùng. Ngài cho đi không chỉ sức lực, trí tuệ để phục vụ mà còn cho đi chính bản thân mình làm của ăn của uống cho con người. Ngài đã sống trọn vẹn tình yêu là “chết cho người mình yêu”.

Tình yêu ấy Ngài cũng mời gọi chúng ta hãy làm việc “Này” mà nhớ đến Ngài. Hãy lập lại tình yêu dâng hiến mà Ngài đã hiến thân vì nhân loại. Hãy lập lại tình yêu hy sinh mà Ngài đã cống hiến cho nhân trần. Hãy sống một cuộc đời như Chúa để tình yêu của Ngài mãi ở lại trên thế gian.

Năm nay với chủ đề “gia đình hãy là dấu chỉ lòng thương xót” như mời gọi cách riêng các gia đình hãy biết chăm sóc nhau. Vợ chồng hãy chăm sóc và phục vụ nhau theo gương Thầy chí Thánh Giê-su. Bởi vì khi kết hôn là chúng ta mong được chăm sóc và bảo vệ nhau suốt đời. Đây là tình yêu dâng hiến, tình yêu vị tha như Đức Giê-su đã tận hiến cho người mình yêu.

Mới đây trên cộng đồng mạng loan truyền nhau thông điệp: “Phụ nữ ơi! Hãy ngừng hy sinh”. Họ lý giải cho lời hiệu triệu này là: “Từ ngàn năm dưới lũy tre làng, ‘con trâu đi trước, cái cày theo sau’, người ta đã mặc nhiên thừa nhận rằng, ngay từ khi cất tiếng khóc oe oe thì thân phận của người phụ nữ đã gắn chặt với hai từ ‘hy sinh'”.

“Nghĩ cho cùng, khi kêu gọi người phụ nữ hãy cứ tiếp tục ‘hy sinh’, đó chỉ là sự ích kỷ của đàn ông muốn đè nặng âu lo trên vai em gầy guộc mà thôi”, tác giả nhắn gửi. Thông điệp này ngay sau đó được cư dân mạng đã có những phản ứng trái chiều với nhau. Kẻ cỗ vũ người phàn nàn. Kẻ ủng hộ, người kết án . . .

Thực ra phụ nữ hay nam giới đều phải  hy sinh. Mỗi giới mỗi vẻ. Mỗi giới đều thể hiện sự hy sinh, lòng quảng đại của mình khác nhau. Hình ảnh người nữ thêu thùa, người chồng gánh nước bổ củi vẫn là những nét đẹp của gia đình. Hình ảnh người chồng cầy ruộng, người vợ cấy lúa vẫn là những bức tranh thập đẹp về sự hy sinh tần tảo của mái ấm gia đình. Trong thế giới văn mình hôm nay ta vẫn cần những hình ảnh vợ chồng cùng chia sẻ việc dọn nhà, bếp núc, giặt giũ . . . Đó là những việc không tê nhưng sẽ làm cho gia đình ấm áp hạnh phúc hơn. Thế nên, bình đẳng giới tính không có nghĩa là làm cho phụ nữ biến thành đàn ông, mà quan yếu mỗi người đều phải biết sống hết mình với giá trị của mình trong hai chữ hy sinh.

Khi Chúa Giê-su cúi xuống rửa chân cho các môn đệ dường như Ngài cũng nhắc phải có hai chữ hy sinh để có thể khiêm tốn cúi xuống chăm sóc nhau. Vợ chồng quan tâm chăm sóc nhau khi mạnh khỏe cũng như lúc ốm đau. Cả hai đều phải biết cúi xuống để thấy nhu cầu của nhau mà chia sẻ, mà quan tâm cho nhau.

Khi Chúa Giê-su cầm bánh và nói: “Này là Mình Thầy, các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy”. Dường như Ngài cũng nhắc tới hai chữ hy sinh cần phải có trong đời sống lứa đôi. Vợ chồng phải biết bẻ cuộc đời mình như tấm bánh thơm ngon mang lại hạnh phúc cho nhau.  Vợ chồng phải hiến dâng cho nhau sự hy sinh, sự quan tâm, sự phục vụ để mang lại niềm vui hạnh phúc cho người mình yêu.

Ước gì các đôi vợ chồng hãy thể hiện sự quan tâm chăm sóc nhau bằng những nghĩa cử cao đẹp. Cách riêng trong năm “gia đình hãy là dấu chỉ lòng thương xót” sẽ khơi gợi lên lòng cảm mến yêu thương dành cho nhau không chỉ bằng lời nói mà bằng chính hành động cúi xuống rửa chân cho nhau để mang lại niềm vui và hạnh phúc cho nhau. Xin Chúa chúc lành cho các gia đình và thêm sức mạnh tình yêu để mỗi người biết hiến dâng cho người mình yêu được hạnh phúc hơn. Amen

 

 

15. SỐNG YÊU THƯƠNG VÀ PHỤC VỤ - Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Hôm nay chúng ta tái diễn ngày Thứ Năm Tuần Thánh đầu tiên của lịch sử, ngày Chúa Giêsu Kitô qui tụ các môn đệ của mình để cử hành lễ Vượt Qua. Lúc ấy, Chúa đã khai mở Lễ Vượt Qua mới của Tân Ước, mà chính Người tự ý nộp mình chịu khổ hình để cứu độ chúng ta.

Trong Bữa Tiệc Ly Thánh, Chúa Kitô đã thiết lập Bí tích Thánh Thể. Lời thánh Phaolô nói về điều nầy được coi như là bài tường thuật cổ xưa nhất về bửa Tiệc Ly của Chúa, có ghi lại rằng Chúa Giêsu, “trong đêm Người bị phản bội, đã cầm lấy bánh và sau khi dâng lời chúc tụng, thì bẻ bánh ra và nói : “Ðây là Mình Ta, được trao ban cho chúng con; hãy làm việc nầy mà nhớ đến Ta”; Cũng vậy , vào cuối bửa ăn, Chúa cầm lấy chén rượu và nói: “Ðây là chén của giao ước mới trong Máu Ta; hãy làm việc nầy, mỗi lần anh em uống chén nầy, để nhớ đến Ta”. Thật vậy, mỗi lần anh em ăn bánh và uống chén nầy, anh em loan truyền việc Chúa chịu chết, cho đến khi Người lại đến” (x. 1 Cr 11, 23- 26). Ðó là những lời long trọng trong đó được thông truyền qua các thế kỷ chứng tích kỷ niệm việc thiết lập bí tích Thánh Thể. Mỗi năm, vào ngày thứ Năm Tuần Thánh, chúng ta nhớ lại điều nầy, và trong tinh thần, chúng ta hướng về Căn Phòng Tiệc Ly.

Cùng một lúc Chúa Giêsu đã thiết lập Bí tích Truyền chức linh mục, để qua các linh mục, Thánh lễ được tiếp tục. Kinh Tiền Tụng của Thánh Lễ làm phép Dầu hôm nay mạc khải cho chúng ta ý nghĩa ấy : “Chúa đã tuyển chọn một số người để họ tham gia thánh của của Người nhờ việc đặt tay. Chúa muốn họ nhân danh Người tái diễn hy lễ cứu độ…dọn cho con cái Cha bàn tiệc Vượt Qua, lấy Lời Cha nuôi dưỡng và dùng các bí tích bồi bổ dân thánh của Chúa”.

Với việc thiết lập bí tích Thánh Thể, Chúa Giêsu thông truyền cho các Tông đồ việc tham dự thừa tác vào chức linh mục của Người, chức tư tế của Giao Ước Mới và vĩnh cữu, nhờ đó đến phiên mình, các tông đồ được biến đổi thành những tác viên của mầu nhiệm tuyệt vời của đức tin, mầu nhiệm được kéo dài mãi cho đến tận cùng thế gian. Ðồng thời các ngài trở thành những kẻ phục vụ cho tất cả những ai sẽ thông phần vào hồng ân và mầu nhiệm to lớn như vậy.

Và chính ngày Thứ Năm này, Chúa đã ban truyền cho chúng ta giới luật yêu thương : “Các con hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương các con” (Ga 13,34). Nếu tình yêu xưa kia đã từng dựa trên sự đối trác, hoặc hoàn thành một tiêu chuẩn đã đặt định trước. Thì giờ đây tình yêu Kitô giáo được xây dựng trên nền tảng Tình Yêu là chính Chúa Kitô. Người đã yêu thương nhân loại đến cùng, đến cùng ở đây là cái chết, yêu đến thí mạng vì chúng ta : đây phải là thước đo tình yêu của người môn đệ đối với Thầy mình và là dấu hiệu để người ngoài nhận biết chúng ta là người Kitô hữu.

Yêu thương, không đơn giản là kết quả của những nỗ lực bản thân, nhưng một món quà từ Thiên Chúa. Hạnh phúc thay cho chúng ta có được Thiên Chúa là Tình Yêu, là nguồn suối tình yêu, Người đã tự hiến mình nơi Bí tích Thánh Thể để nuôi dưỡng chúng ta.

Cuối cùng, hôm nay chúng ta chiêm ngưỡng việc Chúa rửa chân cho các môn đề. Chúa Giêsu đã mặc lấy thái độ của một người đầy tớ, cúi mình và quì xuống, và rửa chân cho các Tông Đồ trong Căn phòng Tiệc Ly, và truyền cho họ làm như vậy với nhau (x. Ga 13,14). Chúng ta nhìn thấy lại việc Chúa Giêsu đang rửa chân, mà theo nền văn hóa Do thái là công việc riêng của những người tôi tớ và của người thấp hèn nhất trong gia đình. Thánh Phêrô mới đầu đã lên tiếng từ chối. Nhưng Chúa thuyết phục ông, và thánh Phêrô chịu để Chúa rửa chân cho mình, cùng với những môn đệ khác. Liền sau đó, sau khi đã mặc lại áo và ngồi vào bàn, Chúa Giêsu giải thích ý nghĩa của hành động Người vừa làm như sau : “Chúng con gọi Ta là Thầy và là Chúa; và điều nầy đúng lắm, bởi vì Ta là Thầy và là Chúa. Vậy, nếu Ta là Thầy và là Chúa, mà rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau” (Ga 13, 12- 14). Trong cử chỉ này của Thầy Chí Thánh, Chúa Giêsu đã dạy chúng ta một bài học quí giá về sự khiêm nhường. Đúng như dự đoán, vì là biểu tượng Cuộc Khổ Nạn, Chúa Giêsu đã hạ mình cho đến chết để cứu độ chúng ta.

Thần học gia Romano Guardini nói rằng : “thái độ của người nhỏ quì xuống trước người lớn, không phải là khiêm nhường. Đơn giản, đó chỉ là sự thật. Người khiêm nhường thực sự là người lớn mà lại hạ mình xuống trước một kẻ nhỏ”. Đây là lý do tại sao nói Chúa Giêsu Kitô là Đấng khiêm nhường thật trong lòng. Trước Chúa Kitô là Đấng khiêm nhường, mô hình truyền thống bị phá vỡ. Người đã đảo ngược các giá trị thuần túy của con người và mời gọi chúng ta đi theo Người để xây dựng một thế giới mới, dựa trên sự phục vụ.

Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng con biết sống yêu thương và phục vụ lẫn nhau như Chúa truyền dạy. Amen.

 

 

16. TÂM TƯ PHÚT CUỐI - JB. Lê Đình Nam

Trước giờ chịu khổ nạn của mình Chúa Giêsu đã luôn gần gủi và dành hết thời giờ với các môn đệ. Ngài muốn tâm sự những cảm xúc mà Ngài đang trải nghiệm với họ trước thử thách lớn lao ấy. Nhưng với các môn đệ thì khác, họ vẫn chẳng hiểu Chúa Giêsu đang nói gì.  Trước những buồn sầu và trăn trối của Thầy mình họ vẫn tỏ ra hờ hững, vô tâm.

Thật đáng thương cho Chúa Giêsu trong khung cảnh ấy! Khi mà cái chết cận kề, đến cả những môn đệ thân tín nhất vẫn chẳng thể hiểu và sẻ chia nỗi niềm tâm tư với mình. Dường như đối với họ, theo thầy Giêsu là sẽ đi đến con đường vinh quang của tiền tài vật chất, của tham vọng và quyền lực. Họ vẫn không hiểu đó là con đường cứu độ bằng cái chết trên thập giá của Thầy mình. Những lợi lộc, địa vị trong mơ tưởng đã che lấp tâm trí của họ, đến nỗi cả tâm trạng của Thầy mình lúc đó mà họ cũng không còn nắm bắt được.

Nhiều lần và nhiều cách, Chúa Giêsu đã nghẹn ngào bày tỏ nỗi lòng sâu kín của mình cho các môn đệ nhưng chẳng ai hiểu. Giờ chết đang cận kề, trong thân phận con người, Ngài trải nghiệm sự sợ hãi và lo lắng biết chừng nào. Ngài cũng cần được chia sẻ, cần được ủi ai giữa lúc cô đơn, lạc lõng thế này.

Ngài đã trải nghiệm cuộc sống như một con người thực sự để thấu hiểu con người. Ấy thế mà nỗi buồn của Ngài thì chẳng ai hiểu, cho đến cả những môn đệ thân cận của mình. Chẳng ai thèm lưu luyến, bứt rứt khi Thầy chỉ ở với họ còn có ít giờ nữa. Chẳng ai thèm quan tâm đến con đường thập giá Thầy mình sắp trải qua. Thầy Giêsu vẫn cứ cô đơn một mình!

Đôi khi trong cuộc sống hôm nay, Giêsu vẫn còn đó những nỗi niềm, ưu tư về ta nhưng ta đâu để ý đến Ngài. Ngài vẫn cô đơn nơi nhà Tạm vì ta quá bận rộn với đời sống thường nhật. Ngài vẫn lạc lõng giữa những ngôi Thánh đường to lớn vì ta chẳng thèm lui tới viếng thăm. Ngài vẫn hiện diện nơi những mảnh đời éo le trong cuộc sống nhưng chẳng ai trong ta đến động viên, giúp đỡ.

Dòng đời là thế, ta quá bận rộn với những toan tính thế sự. Ta quá mãi mê với những thú vui trần thế. Ta bỏ rơi Giêsu lẻ loi một mình cùng với những nổi niềm riêng. Ta chỉ biết đến Ngài mỗi khi ta cần điều gì đó. Ta chỉ chạy đến Ngài mỗi lúc cho muốn xin cái này cái kia. Những lúc như thế, nỗi cô đơn của Giêsu càng bị dày vò và day dứt hơn.

Hững hờ và vô tâm dần đưa ta xa Chúa. Ngài vẫn luôn hiểu ta nhưng ta chẳng bao giờ muốn hiểu Ngài. Tâm tư Giêsu vẫn luôn thổn thức vì ta. Trái lại có khi nào ta cố gắng dành chút thời giờ để gặp gỡ, sẻ chia và tâm sự với Ngài hay không?

Tâm điểm của Tuần Thánh đang cận kề, hãy nhanh chân chạy đến với Giêsu! Đừng để Ngài cô đơn một mình trước cái chết; đừng để nỗi niềm và thao thức của Ngài ngày một to lớn vì sự xa lánh của ta.

 

 

17. NỖI BUỒN GIUĐA - Lm Giuse Hoàng Kim Toan

Một nhân vật xuất hiện trong sự kiện dẫn đến cuộc tử nạn của Chúa, chỉ trong chốc lát khi anh nộp Chúa bằng nụ hôn, rồi ra đi, gợi lên nhiều suy nghĩ.

Một câu hỏi của lương tâm.

Có người nói vì tham tiền, Giuđa bán Chúa với ba mươi đồng bạc. Có người thì bảo vì cần có một người đứng lên lật đổ chính quyền Roma, để đưa Chúa đến đường cùng phải ra tay. Tiền – quyền – hưởng thụ. Tất cả đều là những cám dỗ thường ngày của nhiều người, chứ không riêng gì đối với Giuđa. Giuđa là đại diện cho một con người bị lương tâm tra vấn khi dự định xấu bắt đầu được thực hiện, không thể dừng lại được nữa. Có những con người gây ra đau khổ, bất công, sự chết cho người vô tội mà vẫn nhởn nhơ, giương mặt kiêu căng thách thức, lương tâm đã chết từ lâu, vẫn còn lu loa đổ lỗi cho người vô tội. Họ còn ghê gớm hơn cả Giuđa vẫn đang đang sống trên cả pháp luật và kiêu hãnh với lương tâm chai lỳ của mình.

Giuđa và ruộng máu

Đồng tiền của Giuđa vất ra, các quan chức thượng tế, kinh sư đã tậu lấy một thửa ruộng, gọi là ruộng máu (Xem Mt 27, 3 – 10 ). Đồng tiền đã nhuốm máu người vô tội, ngày nay người ta không sử dụng đồng tiền này mua thửa đất để chôn cất người ngoại kiều; mà mua lấy đất, xây những biệt thự, dát vàng, mua lấy kim cương cho mình. Có lẽ thời đại xã hội đang sống đã đi vào một chỗ tệ hại rồi sao? Một bi kịch không phải của người công chính mà bi kịch của người đứng lỳ trong tội lỗi của mình. Lấy cái vỏ bọc hào nhoáng của biệt thự, siêu xe để che cái tội tệ nhân phẩm; lấy cái hưởng thụ xa hoa để lấp đi tiếng kêu oan, tiếng khóc của những người chịu áp bức, bị cưỡng chế, vu oan, tù tội…

Giuđa, người bị lợi dụng.

Sự thất vọng của Giuđa ra đi và vất tiền trả lại cho thượng tế và kinh sư, có lẽ anh nhận ra mình đã bị bọn quan chức kia lợi dụng? Cái đau khổ thất vọng của con người rơi vào một thảm trạng như Giuđa khám phá ra mình bị lợi dụng cho ý đồ đen tối của người khác, cũng có những hành động như vậy. Trong một cái đau khổ, không thể đứng ra tố cáo kẻ đã lợi dụng mình để đánh đập, chửi bới, vu oan, nộp người vô tội… là một sự thất vọng chán chường nhất vì chính mình. Giuđa rất thất vọng, thất vọng về mình đã bị lừa và cũng vì một phần lòng tham của mình, nghe theo sự dụ dỗ của kẻ sẵn sàng chi tiền cho mình làm điều ác không ngờ tới. Chỉ một nụ hôn thôi và được ba mươi đồng, chỉ cần một chút xíu tư lợi thôi, cũng sẵn sàng làm càn, bán mình cho người khác sử dụng vào việc làm hại, giết chết người khác.

Giuđa đi thắt cổ.

Thắt cổ, tự vẫn, một câu hỏi có đúng là như thế không, nơi mà người ta không biết chịu đánh đập dã man, xử lý mạnh tay dẫn đến cái chết của người tội nhân hay vô tội. Giuđa đi thắt cổ, là chính anh đi tự trừng phạt mình. Đó là một tòa án lương tâm khắc nghiệt nơi chính anh, không thể chấp nhận ngay cả chính mình phạm sai lầm cách thô thiển như thế. Có lẽ, anh cũng thất vọng với những tòa án, nơi mà anh không đủ can đảm chứng kiến, đóng đinh người vô tội. Anh không đủ can đảm nhìn đám đông gào thét, đòi đóng đinh người vô tội vào thập gía. Quá nhiều bất công, quá nhiều sự xấu bị đầu độc vào những con người bản chất là hiền lành. Vào thời điểm sự dữ dường như đang chiến thắng, những tội ác xảy ra từng ngày, không ai đứng ra xử cho công minh, chính trực, mà người ta phải tự xử lấy trong tức giận.

Giuđa và lòng thương xót của Chúa. 

Giuđa là một bi kịch. Trong kết thúc của bi kịch đó là tự vẫn. Nhưng tự vẫn chỉ là điều người ta thấy bên ngoài. Như Lời Chúa trong sách Samuel khi đi tuyển chọn Đavit: “Ðừng nhìn đến dáng vẻ của nó, hay tầm vóc cao lớn của nó, vì Ta không màng đến nó; không phải người phàm nhìn sao, Thiên Chúa cũng không nhìn thế, bởi người phàm chỉ trông thấy (điều lộ trước) mắt, còn Yavê trông thấy (điều ẩn đáy) lòng” (1 Sm 16, 6). Lòng thương xót của Chúa là cửa ngõ cuối cùng cho con người, ai cũng có thể vào ngưỡng cửa ấy, kể cả những kẻ cả cuộc đời làm điều xấu, gây những điều tai hại khác, họ cũng được vào ngưỡng cửa của lòng thương xót. Chỉ cần có một điều, sám hối tự nhận ra trách nhiệm của mình ngay trước khi cái chết ập đến, như kẻ trộm: “Phần ta, thực tế phải lẽ, ta chuốc lấy đáng tội đã làm; nhưng ông này, ông không hề làm điều gì trái!” 42 Và hắn nói: “Lạy Ðức Yêsu, xin nhớ tôi, khi Ngài đến trong Nước của Ngài!” (Lc 23, 41 – 42).

Ghen tỵ với kẻ tội lỗi ăn năn sám hối chăng?

Chúa có cách đền trả cho kẻ tội lỗi đã gây ra bất công, làm thiệt hại cho người khác trong thời gian sống của họ. Việc làm của Chúa cũng xuất phát từ cõi lòng ăn năn của người sám hối trước khi mất, có thể thấy như sự đền bù của ông GiaKêu: “ “Này nửa phần của cải tôi, thưa Ngài, tôi xin bố thí cho kẻ khó, và nếu tôi đã gian lận gì của ai, tôi xin đền lại gấp bốn” (Lc 19, 8). Hãy cầu nguyện cho người tội lỗi biết ăn năn, dù sớm hay muộn! Chúa có cách của Người.

Lạy Chúa. Chúng con cần cầu nguyện và dâng những hy sinh nhiều hơn nữa cho quê hương, đất nước của chúng con, khi thấy còn nhiều điều sự dữ tràn lan, xảy ra từng ngày. Cầu nguyện để Chúa thực hiện, thức tỉnh lương tâm, biến đổi sự xấu ra sự lành. Dâng những hy sinh để Chúa làm cho tình yêu chiến thắng thù hận, cho con người được sống dồi dào trong tình thương mến cùng với thiên nhiên hiền hòa.

 

 

18. YÊU THƯƠNG ĐẾN CÙNG - Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty

Tông đồ Gio-an khảng định: giờ Đức Giê-su ra đi chịu chết chính là đỉnh điểm (kairos) của đời sống Con Người (xem Ga chương 12 câu 27-34). Đó là thời điểm và cách thức mà Giê-su – Cứu Chúa có thể diễn đạt tình yêu của Thiên Chúa cách trọn vẹn nhất; “Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng”. Tình yêu đó sẽ ôm ấp mọi con người, không loại trừ bất cứ ai, trong trường hợp cụ thể lúc đó kể cả Giu-đa lẫn Phê-rô, những kẻ đang rắp tâm phản bội hoặc yếu đuối bội phản Thầy. Tình yêu Thiên Chúa bao dung và rộng mở không biên giới; nhưng vấn đề chính ở đây là liệu người ta có sẵn lòng đón nhận tình yêu đó hay không. Vấn đề này về mặt lý thuyết xem ra rất đơn giản, nhưng trên thực tế lại không dễ dàng được chấp nhận. Câu chuyện Gio-an tường thuật là một minh họa rất rõ nét: trước khi lên đường đi chịu chết Đức Giê-su đã cúi xuống rửa chân cho các môn đệ Người. Điều gì đã xẩy ra vào buổi chiều hôm đó cũng có thể xảy ra cho bất kỳ ai, ở bất cứ đâu và vào bất cứ thời đại nào.

Trong tấn kịch này, vai diễn của Phê-rô có phần nổi trội hơn tất cả. Phản ứng của ông có thể là hoàn toàn tư riêng, nhưng chắc chắn nó cũng biểu lộ thái độ chung mà nhiều môn đệ khác cùng chia sẻ: “Thầy mà lại rửa chân cho con sao?… Không đời nào con chịu đâu!” Phản ứng này xem ra hoàn toàn hợp lý: làm sao người môn đệ có thể để ông thầy cúi xuống rửa chân cho mình? Nếu Đức Giê-su không nài ép, “nếu Thầy không rửa chân cho anh, anh sẽ chẳng được vào chung phần với Thầy”, thì có lẽ Phê-rô sẽ chẳng bao giờ chịu chấp nhận, và các môn đệ khác cũng không nốt.

Thế đấy! Tin và chấp nhận một Thiên Chúa khiêm hạ tới độ hủy mình ra như không, chỉ vì yêu thương tôi, một con người tội lỗi thấp hèn, là không dễ chút nào. Tôi dễ dàng chấp nhận một Thiên Chúa uy nghi cao cả đòi buộc tôi phải giữ phải tránh điều này điều nọ, một Thiên Chúa phán truyền mệnh lệnh, một Thiên Chúa thưởng phạt công minh…, nói chung một Thiên Chúa bề trên, kẻ cả; nhưng tôi lại thấy thật không thể chấp nhận nổi một Thiên Chúa đặt mình dưới cả tôi, cúi xuống trở nên thấp hèn hơn tôi, và sẵn sàng bị tước đoạt đi tất cả…, một Thiên Chúa kèo dưới… chỉ để yêu thương tôi. Tôi luôn có khuynh hướng tôn thờ, kính sợ Thiên Chúa, nhưng lại rất ái ngại đi sâu hơn nữa vào ‘lòng thương xót đến cùng’ của Người. Xét cho cùng thì tôi vẫn thấy ‘thái độ kính sợ Đức Chúa’ của Cựu Ước nói riêng, và của mọi tôn giáo nói chung, dễ chấp nhận hơn là tinh thần tự hủy của Tân Ước, như Đức Ki-tô Giê-su đã từng thể hiện trên thập giá. Thiết tưởng đây chính là ‘cớ vấp phạm’ lớn nhất của thập giá Đức Ki-tô mà Phao-lô đã đề cập tới, đặc biệt đối với những ai xưng mình là Ki-tô hữu (= người có đạo), là môn đệ (= linh mục tu sĩ) qua mọi thời.

Thế nhưng, đối với Đức Ki-tô, thì ‘cớ vấp phạm” ấy lại là một điều kiện tiên quyết (sine qua non), vì “nếu Thầy không rửa chân cho anh, anh sẽ chẳng được vào chung phần với Thầy”. Câu này là một khảng định chắc nịch chứ không chỉ là một lời mời gọi chung chung, một lời khuyên… không thi hành cũng được. Và ‘chung phần với Thầy’ chính là tham gia vào cái thứ tình yêu độc nhất vô nhị mà chỉ một mình Thiên Chúa trong Đức Ki-tô Giê-su thập giá mới có, tức là yêu thương đến cùng, là yêu tới độ hủy mình ra như không, đặt mình vào chỗ thấp nhất trong thiên hạ hầu có thể trao ban và phục vụ.

Thiết nghĩ ít ai trong chúng ta đã không vấp phạm về điều này ít là một lần trong đời. Lấy một thí dụ nhỏ, có mấy ai trong chúng ta nghĩ rằng: các việc bác ái mình làm nhiều khi thật nông cạn và chẳng Tin Mừng tí nào không? Bao lâu ta còn chưa chịu để cho Chúa ‘rửa chân’ cho, bấy lâu ta còn thi hành một thứ bác ái trịch thượng của bậc kẻ cả, phục vụ đấy mà trên thế thượng phong ban phát. Riêng với các linh mục cảm nghiệm này còn phải cụ thể và thường xuyên hơn nữa; chẳng hạn, có bao giờ linh mục ngồi vào tòa giải tội trong tư thế mình còn thấp hèn hơn cả các hối nhân tới xưng tội, hoặc tiến ra cử hành Thánh Lễ mà cảm thấy Chúa đang cúi xuống rửa chân cho mình…, hoặc khi rước mình và máu thánh Chúa mà nghiệm thấy quá bất xứng vì  được Chúa biến thành miếng ăn nuôi sống con người tội lỗi và bất toàn như mình chăng? Nhiều lần khi cho rước lễ tôi đã tận mắt chứng kiến việc Chúa đi vào các môi miệng, được trao vào các bàn tay mà đôi khi chính bản thân mình còn cảm thấy rờn rợn? Thế đấy, chính vì ‘để Thày rửa chân cho’ thường xuyên bị lãng quên mà bác ái phục vụ rất ít khi thực sự là quên mình, là cúi xuống; Thánh Lễ lúc đó sẽ nặng về tính thờ phượng kính tôn hơn là “Người yêu thương đến cùng”, ‘Alter Christus’ mang nặng nội dung chức thánh địa vị hơn là ‘mục tử tự hiến’, “vào chung phần với Thầy” được cắt nghĩa là vào hưởng vinh quang thiên quốc hơn là tham dự vào tình yêu thập giá tự hủy của Đức Ki-tô, và còn nhiều điều khác nữa…

Bài học ‘rửa chân’ thật mấu chốt và quan trọng biết bao! Thế nhưng thật đáng tiếc nó thường bị coi (kể cả bởi các chủ tế cử hành) chỉ như một biểu tượng cá biệt hơn là diễn tả hoàn hảo một mạc khải về tình yêu trao hiến phục vụ đích thực. Tệ hơn nữa nó còn bị thu hẹp thành một nghi thức phụng vụ được cử hành trong Thánh Lễ ngày Thứ Năm Tuần Thánh… và sau đó là kết thúc luôn, không còn được thực thi cách cụ thể trong cuộc sống đức tin của cuộc sống thường ngày.

Lạy Chúa Giê-su khiêm hạ vì yêu thương, xin cho con biết để cho chính con được Chúa rửa chân cho mỗi khi tiến ra cử hành Thánh Lễ, để con cũng được ‘chung phần’ với yêu đến cùng của Thập Giá. Vinh quang thập giá chính là vinh quang của tự hủy phải được tỏ rạng nơi mọi linh mục của Chúa, bây giờ và luôn mãi. Xin cho con, trước khi dám ‘cùng chết với Chúa’, biết khiêm tốn chấp nhận để Chúa chết và tự hủy ra như không vì con và cho con. A-men.

 

 

19. SUY NIỆM THỨ NĂM TUẦN THÁNH - Lm. Anthony Trung Thành

Chiều hôm nay là buổi chiều của Tình Yêu. Tình yêu của một vị Thiên Chúa đối với nhân loại. Đây là một tình yêu cao cả, một tình yêu tròn đầy. Tình yêu đó được thể hiện qua ba việc làm của Đức Giêsu: Rửa chân, lập phép Thánh Thể và chức linh mục. Cả ba việc làm này đều hết sức quan trọng và liên hệ mật thiết với nhau: Linh mục là Đức Kitô thứ hai, Thánh Thể là Mình Máu Thánh Đức Giêsu Kitô và rửa chân là sứ mạng của Đức Giêsu và cũng chính là sứ mạng của linh mục.

Vì linh mục (Đức Kitô thứ hai) là người cử hành thánh lễ, làm nên Thánh Thể và tiếp tục sứ mạng “rửa chân” như lời Đức Giêsu đã truyền. Chính vì thế, buổi chiều hôm nay chúng ta hãy nhớ cầu nguyện cách đặc biệt cho các linh mục.

Trước hết, chúng cầu nguyện cho có nhiều linh mục: Theo Niên giám Thống kê của Giáo Hội năm 2015, có 5.304 giám mục, 415.656 linh mục. Trên toàn cầu, con số linh mục chịu chức đã tăng 0,83% trong các năm từ 2010 đến 2015. Tuy nhiên, hơn một nửa các cộng đồng của Giáo Hội Công Giáo trên thế giới không có linh mục trú sở. Giáo phận Xingú ở vùng Pará, Ba Tây, chẳng hạn, có 800 giáo xứ trong một khu vực truyền giáo xét về lãnh thổ lớn bằng nước Đức, nhưng chỉ có 27 linh mục, điều này có nghĩa hơn 2 phần 3 tín hữu chỉ được tham dự thánh lễ Chúa Nhật 2 hoặc 3 lần trong một năm. Chính vì thế, chúng ta cầu nguyện cho có thêm nhiều linh mục để đáp ứng nhu cầu của các tín hữu. (Nguồn: conggiao.info)

Đồng thời chúng ta cũng cầu nguyện cho các linh mục trở thành những linh mục như lòng Chúa mong muốn. Đó là cầu nguyện cho các linh mục chu toàn sứ mạng mà Chúa và Giáo Hội trao phó. Linh mục có ba sứ mạng chính: Sứ mạng Ngôn sứ, sứ mạng Tư tế và sứ mạng Mục tử.

Chúng ta cầu nguyện cho các linh mục chu toàn sứ mạng ngôn sứ: Trong ngày truyền chức, Đức Giám Mục nhắn nhủ các tiến chức rằng: “Con hãy tin điều con đọc, dạy điều con tin và sống điều con dạy.” Vì vậy, việc đọc, suy niệm, giảng dạy và sống Lời Chúa phải là bổn phận hàng đầu của linh mục. Linh mục phải rao giảng Lời Chúa với tinh thần trách nhiệm. Linh mục phải rao giảng Lời Chúa lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện. Thánh Phaolô đã nói: “Hãy rao giảng lời Chúa, hãy lên tiếng, lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện; hãy biện bác, ngăm đe, khuyên nhủ, với tất cả lòng nhẫn nại và chủ tâm dạy dỗ” (2Tm 4,2). Linh mục rao giảng Lời Chúa trong nhà thờ, rao giảng Lời Chúa nơi các lớp giáo lý, rao giảng Lời Chúa khắp mọi nơi khi cần thiết. Linh mục rao giảng Lời Chúa cho những người có đạo, rao giảng Lời Chúa cho những người lương dân, rao giảng Lời Chúa cho những người chống đối, rao giảng Lời Chúa cả những khi bị cấm cách, bắt bớ. Chính các Tông đồ ngày xưa đã làm như vậy: Trước thượng hồi đồng Do Thái cấm không cho các Tông đồ rao giảng về danh Đức Giêsu nữa, Thánh Phêrô và Thánh Gioan đã nói: “Phần chúng tôi, những gì tai đã nghe, mắt đã thấy, chúng tôi không thể không nói ra” (Cv 4,20). Vì sứ mạng ngôn sứ, nên nhiều linh mục vẫn can đảm nói thẳng nói thật để lên án những bất công trong xã hội, bênh vực cho công lý và sự thật cho dù phải chịu bách hại, bắt bớ, thậm chí có khi nguy hiểm đến tính mạng của mình.

Chúng ta cầu nguyện cho các linh mục chu toàn sứ mạng Tư tế: Tất cả các Kitô hữu là tư tế cộng đồng, còn các linh mục là tư tế thừa tác của Đức Kitô. Linh mục thi hành Chức Tư Tế qua việc cử hành các mầu nhiệm thánh. Đó là cử hành phụng vụ, nhất là phụng vụ các Bí tích. Các Bí tích là máng chuyển thông ơn Thiên Chúa. Ơn Thiên Chúa qua Bí tích bị khóa lại, chỉ có linh mục mới có thể mở ra được. Vì thế, Thánh Gioan Viannay khẳng định rằng: “Nếu không có linh mục, thì sự thương khó và sự chết của Chúa không giúp gì cho ta.” Ngài nói: “Nếu trong rương có đầy vàng mà không có ai mở ra, nào có ích gì? cũng vậy, nếu không có linh mục, sẽ không có Bí tích giải tội, không có Mình Thánh Chúa…ai là nguyên cớ để bánh trở nên Mình Thánh Chúa? Ai thanh tẩy tâm hồn ta? Ai dọn linh hồn người chết ra đi thanh thản…nếu không phải là linh mục.”

Linh mục cần thiết như thế đó. Linh mục cần cho linh mục. Linh mục cần cho mọi người. Nhờ linh mục, ơn thánh qua các Bí tích tuôn chảy đến với con người. Vì vậy, chúng ta cầu xin cho các linh mục thi hành tốt nhiệm vụ tư tế, để các Bí tích mang lại hiệu quả dồi dào cho mỗi người chúng ta. Đồng thời, mỗi chúng ta cũng cần sống đầy đủ ý nghĩa của các Bí tích, bằng cách: chuẩn bị xa, dọn mình gần và còn kéo dài ơn Bí tích sau khi lãnh nhận.

Chúng ta cầu nguyện cho các linh mục chu toàn sứ mạng Mục tử: Linh mục luôn được gọi là Người của đoàn chiên. Được xức dầu Thánh Thần, như Đức Kitô là Đầu và là Mục tử, linh mục được sai đến với mọi người trong tư cách là mục tử tốt lành của đoàn chiên. Vì thế, noi gương Đức Kitô – Thủ lãnh các Mục tử, linh mục có trách nhiệm yêu thương gắn bó, lo lắng, tận tuỵ và hy sinh vì đoàn chiên. Linh mục đến là để chiên được sống và sống dồi dào. Đoàn chiên này bao gồm cả những tín hữu lẫn những người chưa gia nhập Hội Thánh. Vì vậy, linh mục luôn cần có Đức Ái mục vụ. Với Đức Ái mục vụ, linh mục diễn tả hành vi và phong cách của Đức Kitô Mục tử đến chỗ tận hiến mình để mưu ích cho đoàn chiên. Thái độ căn bản của người mục tử là luôn tin tưởng vào sứ mạng của mình: làm Vinh Danh Chúa và cứu rỗi các linh hồn. Sứ mạng này được thực hiện trong hy sinh thập giá và chắc chắn sẽ kết trái trong vinh quang phục sinh. Có tin tưởng vào sứ mạng, linh mục mới phấn khởi thi hành tác vụ tôi tớ và mới dám liều mạng sống mình vì Chúa và vì đoàn chiên. (x. Chỉ nam linh mục, Gp. Thái Bình).

Mặc dầu linh mục được lãnh nhận những sứ mạng cao cả như vậy, nhưng linh mục cũng là những con người vớ những yếu đuối của con người. Nói theo kiểu Thánh Phaolô, những sứ mạng cao cả ấy lại chứa đựng trong một chiếc bình sành dễ vỡ là thân xác linh mục (x. 2Cr 4,7). Chính vì vậy, ngoài việc cố gắng nổ lực của bản thân, linh mục cần lời cầu nguyện và sự giúp đỡ của mọi thành phần dân Chúa. Cầu nguyện cho các linh mục chu toàn sứ mạng của mình. Cầu nguyện cho các linh mục thực sự là những linh mục thánh thiện. Chân phước linh mục Antone Chevrier (Pháp) đã nói:

– Xin hãy giúp tôi xây dựng một ngôi thánh đường. Chỉ có ngôi thánh đường này mới cứu được thế giới.

Người ta ngạc nhiên bèn hỏi: – Thưa Cha, ngôi thánh đường nào vậy ?

Ngài nói tiếp:

– Tôi muốn làm hết sức để xây một ngôi thánh đường mà nền móng là những linh mục thánh thiện, các cột đỡ cũng là những linh mục thánh thiện, nhà tạm cũng là những linh mục thánh thiện, tòa giảng cũng là những linh mục thánh thiện và bàn thờ cũng là những linh mục thánh thiện.

Chỉ có ngôi thánh đường này mới cần thiết cho mọi người, ở mọi nơi và trong mọi lúc!

Lạy Chúa Giêsu, chúng con cảm tạ Chúa đã thiết lập chức linh mục để ở lại với chúng con. Xin cho các linh mục biết chu toàn các sứ mạng của mình, trở thành những linh mục thánh thiện, hầu mưu ích cho dân Chúa. Amen.

 

 

20. ĐỨC ÁI: HOA TRÁI CỦA THÁNH THỂ - Tiến Sĩ Trần Mỹ Duyệt

Ðức ái, Thánh Thể và Thiên Chức Linh Mục. Ðây là 3 chủ đề lớn nhất trong Ngày Thứ Năm Tuần Thánh, ngày kỷ niệm những việc mà Chúa Giêsu đã làm trong căn phòng Tiệc Ly, trước khi Ngài chịu khổ nạn.

Nhưng giữa Ðức Ái, Thánh Thể và Chức Linh Mục, Ðức Ái được cho là quan trọng và cần thiết hơn. Ðiều này có thể được chứng minh bằng lời mà Chúa Giêsu đã nói với Phêrô: “Nếu Thầy không rửa chân cho con, con sẽ không được dự phần với Thầy” (Gioan 13:8).

Không được dự phần với Chúa đối với Phêrô lúc bấy giờ là không được lãnh nhận Mình và Máu Thánh Chúa. Không tham dự Lễ Vượt Qua với Chúa.

Không được dự phần với Chúa, cũng có nghĩa là không được thông phần thiên chức linh mục mà Chúa sắp sửa thiết lập.

Không được dự phần với Chúa, là không được đón nhận Ơn Cứu Chuộc mà Ngài sắp sửa thực hiện qua cuộc khổ nạn và cái chết của Ngài.

Và vì thế, không được dự phần với Chúa, là không được thông phần sự sống đời đời với Ngài.

Tóm lại, việc Phêrô không được dự phần với Chúa là việc hệ trọng. Nó có tính cách quyết liệt, và mang ý nghĩa đời đời. Có lẽ vì hiểu được tầm quan trọng và sự cần thiết của hành động dự phần ấy, ông đã vội vàng thưa với Chúa: “Vậy xin Thầy hãy rửa không những chân con, mà cả tay và đầu nữa” (Gioan 13: 9).

Như vậy, rửa chân đối với Phêrô là một thái độ khiêm tốn đón nhận tình yêu Thiên Chúa dành cho ông. Ðể cho Chúa Giêsu rửa chân, tức là để Ngài gột rửa linh hồn ông, khiến ông xứng đáng với Thánh Thể của Ngài. Xứng đáng với thiên chức linh mục mà Ngài sắp sửa mời gọi ông tham dự. Và xứng đáng trong việc chia sẻ cuộc khổ nạn, và sự Phục Sinh của Ngài.

Đối với Phêrô cũng như tất cả mọi Kitô hữu sau này, rửa chân còn là một dấu chỉ thực hành của đức ái mà Chúa Giêsu mong muốn mỗi người cần phải học nơi Ngài: “Vì Thầy đã làm gương cho các con để các con cũng bắt chước mà làm như Thầy đã làm cho các con” (Gioan 13: 15).

Ðức ái và Thánh Thể:

Ngày Thứ Năm Tuần Thánh, suy ngắm về mầu nhiệm Thánh Thể và tưởng niệm sự hy sinh cao cả của Chúa khi ban mình làm của ăn, của uống nuôi dưỡng nhân loại trên hành trình đức tin và trong đời sống tâm linh. Câu hỏi được đặt ra, liệu chúng ta phải sống với sức sống Thánh Thể như thế nào? Ðời sống đạo của chúng ta có lột tả được ý nghĩa “rửa chân” mà Chúa Giêsu đã thực hiện và dậy chúng ta không? Chúng ta có để Chúa rửa chân như Phêrô đã để Ngài rửa chân, nhất là chúng ta có rửa chân cho nhau không? Nếu chúng ta đến với Chúa Giêsu Thánh Thể bằng tâm hồn khiêm tốn, và đón nhận Ngài vào cuộc đời mình, chúng ta cũng phải sống với mầu nhiệm Thánh Thể bằng việc rửa chân cho nhau là đón tiếp, giúp đỡ, và tha thứ cho nhau như Chúa đã yêu thương và tha thứ cho chính mình.

Chúa Giêsu đã nói với Phêrô: “Nếu Thầy không rửa chân cho con, con sẽ không được dự phần với Thầy” (Gioan 13:8). Ông đã thưa lại với Chúa: “Vậy xin Thầy hãy rửa không những chân con, mà cả tay và đầu nữa” (Gioan 13:9). Và đó là sống Mầu Nhiệm Thánh Thể qua việc thực tha đức ái trong cuộc sống hằng ngày của người Kitô hữu.

Thánh Thể là một biểu hiện tuyệt vời Tình Yêu Thiên Chúa dành cho con người. Chúa Giêsu biết những gì Ngài sẽ phải làm và những gì sẽ sẩy ra cho Ngài như lời Thánh Ký ghi nhận. Ngài đã thiết lập phép Thánh Thể để duy trì tình yêu của Ngài đối với con cái loài người, và cũng để nuôi dưỡng tình yêu con người bằng chính sức sống đến từ Thịt và Máu Ngài: “Thịt Ta thật là của ăn. Máu Ta thật là của uống” (Gioan 6:55).

Đức ái và chức Linh mục:

Ngày Thứ Năm Tuần Thánh cũng là một dịp để cùng ôn lại Bí Tích Truyền Chức Thánh mà Chúa Giêsu đã thiết lập, không ngoài việc duy trì và bảo tồn Thánh Thể. Bởi vì không có linh mục, thì không có Thánh Thể. Cũng có thể nói, Bí Tích Truyền Chức Thánh là một thể hiện tuyệt vời tình yêu Thánh Thể đối với nhân loại.

Hành động rửa chân mà Chúa Giêsu đã làm trước khi thiết lập Thiên Chức Linh Mục, mang một ý nghĩa hết sức đặc biệt nói lên mục đích cao cả của Bí Tích. Không ai xứng đáng với chức linh mục, nhưng linh mục lại chính là người phục vụ, người phải quí gối xuống để rửa chân cho anh chị em mình. Với Phêrô cũng như tất cả các linh mục sau này, rửa chân còn là một dấu chỉ tích cực của đức ái mà Chúa Giêsu mong muốn các linh mục phải thực hành mỗi ngày khi nhân danh Chúa để đem Ngài đến cho mọi người: “Thầy đã làm gương cho các con để các con cũng bắt chước mà làm như Thầy đã làm cho các con” (Gioan 13: 15).

Ðối với Chúa vì yêu thương nhân loại, Ngài đã xuống thế, chịu khổ nhục và chịu chết. Ngài đã để lại Thánh Thể và Thiên Chức Linh Mục. Ðối với các linh mục, như Chúa Giêsu đã nói với Phêrô, là nếu không thông hiệp với Ðức Ái tức là Tình Yêu của Ngài, và riêng ông, nếu không sống đức ái ấy, thì “không được dự phần với Ngài”.  Có thể nói, bí tích truyền chức gắn bó với bí tích Thánh Thể qua Ðức Ái trọn hảo.

Đức ái, hoa trái của Thánh Thể:

Thật vậy, nếu Thánh Thể là của ăn, của uống nuôi sống linh hồn các tín hữu trong cuộc sống tâm linh, thì cuộc sống ấy để làm gì? Và sinh hoạt như thế nào? Trong tự nhiên, khi một người lớn lên, khỏe mạnh thì phải biết dùng lý trí và hành động của mình để làm đẹp và tăng thêm ý nghĩa của cuộc sống. Sống có ý nghĩa. Sống cho xứng đáng con người. 

Cũng giống như cuộc sống thể lý hay cuộc sống tâm lý, cuộc sống tâm linh phải đem lại hoa trái và giá trị thật cho người Kitô hữu. Những giá trị phát xuất do tình yêu tức là đức ái chân thật. Những hành động chăm sóc, lo lắng cho các người bệnh tật già yếu, nuôi nấng và săn sóc các em cô nhi, quả phụ, hoặc những kẻ đầu đường xó chợ, chính là những cử chỉ rửa chân mà Chúa Giêsu đã nói đến trong ngày Thứ Năm Tuần Thánh.

Thứ Năm Tuần Thánh khi suy niệm về Bí Tích Thánh Thể, về Bí Tích Truyền Chức, chúng ta không thể quên sự nối kết mật thiết và hình thức diễn tả cách đầy đủ của hai bí tích này, đó là Đức Ái. Hành động rửa chân rất khiêm nhường, rất thực tế và rất sống động mà Chúa Giêsu đã làm và cũng đã truyền lại cho chúng ta là những kẻ tin theo Ngài. Không để Chúa rửa chân cho, và không rửa chân cho nhau, chúng ta cũng không thể hiểu được thế nào là Chúa Giêsu trong Thánh Thể, và cũng chẳng hiểu được sự cao cả, thánh thiện của bí tích truyền chức.

Trong bài giảng hôm đó liên quan đến đức bác ái, vị linh mục đã kể một câu chuyện nhân chuyến hành hương Ðất Thánh. Hôm đó có một người hành khất đến xin giúp đỡ. Trong đoàn hành hương lúc bấy giờ có một bà giầu có vàng bạc đeo quanh cổ, quanh tay nhưng bà không giúp đỡ gì mà còn tỏ ra như khinh bỉ người nghèo đó. Thấy vậy, ngài làm như cần tiền và muốn có sự giúp đỡ của bà. Và lạ lùng thay, thái độ bà trở nên rất niềm nở, quảng đại. Bà rút trong túi xách tay 200 đồng, biếu cha để cha tiêu xài hay muốn mua gì tùy ý. Kết luận câu chuyện, linh mục giảng thuyết đã làm mọi người suy nghĩ qua câu nói: “Rõ thật là dại. Chúa xin thì không cho, mà cha xin lại cho.” Người giầu có này vì thiếu bác ái, bà đã không nhìn ra Chúa, đã không hiểu được giá trị của chức linh mục, và chắc chắn đức tin của bà đối với Chúa Giêsu Thánh Thể cũng rất yếu ớt.

 

 

21. DI CHÚC TÌNH YÊU PHỤC VỤ - JM. Lam Thy

Kể từ ngày đăng quang Giáo hoàng (13/3/2013), ĐTC Phan-xi-cô quyết định không cử hành Thánh lễ Tiệc ly trong khung cảnh uy nghi của Vương cung thánh đường Thánh Gio-an La-tê-ra-nô, nhưng đã chọn một nơi khiêm tốn, kề bên những khổ đau của con người: * Ngày 28/3/2013, khi vừa được bầu làm Giáo hoàng, ĐTC đã gây bất ngờ khi cử hành Thánh lễ Tiệc ly tại Trung tâm giam giữ trẻ vị thành niên Casal del Marmo ở ngoại ô phía bắc Rô-ma và rửa chân cho các tù nhân trẻ tại đây, cả nam và nữ. * Ngày 18/4/2014, lần thứ hai trong tư cách Giáo hoàng, ĐTC đã chọn cử hành Thánh lễ Tiệc ly tại một trung tâm chăm sóc người già và khuyết tật ở Rô-ma: Trung tâm “Mẹ Maria Chúa Quan Phòng”, do tổ chức Don Carlo Gnocchi điều hành. * Ngày 02/4/2015, ĐTC đã đến nhà tù Rebbibia ở mạn đông Rô-ma để cử hành Thánh lễ Tiệc ly và rửa chân cho các tù nhân. * Ngày 25/3/2016 ĐTC cử hành Thánh lễ Tiệc ly tại Trung tâm đón tiếp người tị nạn Castelnuovo di Porto cách Rô-ma 30 km về phía Bắc.

Trong bài giảng Thánh lễ Tiệc Ly tại Castelnuovo di Porto (ngày 25/3/2016), ĐTC nhấn mạnh: “Di sản mà Chúa Giê-su để lại cho chúng ta là: hãy là người tôi tớ phục vụ nhau. Bây giờ tôi sẽ thực hiện cử chỉ này, nhưng tất cả chúng ta hãy nghĩ đến người khác: làm sao để phục vụ họ tốt hơn, đó là điều Chúa Giê-su muốn chúng ta thực hiện.” ĐTC nói thêm: “Chúng ta vừa nghe trong bài đọc điều Chúa Giê-su đã làm trong bữa Tiệc Ly, cử chỉ ly biệt này là một lời di chúc. Lời di chúc đó là: “Thiên Chúa trở thành người tôi tớ. Vậy anh em phải trở nên tôi tớ phục vụ lẫn nhau, phục vụ trong yêu thương. Cử chỉ này càng mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc vì chỉ có người nô lệ, người tôi tớ mới làm công việc rửa chân, và Chúa Giê-su trong Bữa Tiệc Ly, khi lập bí tích Thánh Thể, đã dùng cử chỉ rửa chân này để nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta phải là người tôi tớ phục vụ lẫn nhau.” (nguồn: Vatican.net)

Bài Tin Mừng trong Thánh lễ chiều Thứ Năm Tuần Thánh (Ga 13, 1-15) trình thuật về “Bữa ăn cuối cùng của Đức Giê-su và các môn đệ”. Như vậy là Đức Giê-su đã không ăn lễ Vượt Qua theo nghi thức Do-thái, mà là muốn nhân dịp này, Người từ biệt các môn đệ để bước vào cuộc Vượt Qua của chính mình (vượt qua sự chết, chiến thắng tội lỗi, phục sinh vinh hiển). Bữa tiệc lễ Vượt Qua đã trở thành bữa Tiệc Ly và những lời huấn dụ cuối cùng của Đức Giê-su chính là những di ngôn (ĐTC Phanxicô gọi là “lời di chúc” – xc “Bài giảng” -nt-). Giáo hội đã coi những lời di chúc đó là lời “trối trăng” (“Lạy Chúa, trong bữa tiệc ly trọng đại, trước ngày tự hiến thân chịu khổ hình, Ðức Giê-su đã trối cho Hội Thánh một hy lễ mới muôn đời tồn tại làm bằng chứng tình thương của Người.” – Lời nguyện nhập lễ Thánh lễ Tiệc Ly). Bản di chúc đó để lại di sản cho các môn đệ. Di sản cao quý ấy chính là 2 việc làm mang ý nghĩa vô cùng sâu sắc:

1- Rửa chân cho các môn đệ: “Người đứng dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài ra, và lấy khăn mà thắt lưng. Rồi Đức Giê-su đổ nước vào chậu, bắt đầu rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau.” (Ga 13, 4-5). Sau đó, Người đã giải thích rõ ràng việc làm này: “Anh em có hiểu việc Thầy mới làm cho anh em không? Anh em gọi Thầy là “Thầy”, là “Chúa”, điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là Chúa. Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em. Thật, Thầy bảo thật anh em: tôi tớ không lớn hơn chủ nhà, kẻ được sai đi không lớn hơn người sai đi. Anh em đã biết những điều đó, nếu anh em thực hành, thì thật phúc cho anh em!” (Ga 12, 12-17).

Trong cuộc sống, vấn đề rửa chân chỉ có thể xảy ra khi người chủ hoặc vua chúa quan quyền bắt nô lệ, tôi tớ phục vụ, hoặc những con cháu tỏ lòng hiếu thảo rửa chân cho cha mẹ, ông bà khi các ngài già yếu bệnh tật. Ở đây Đức Giê-su là Thầy, là Chúa, mà lại quỳ xuông rửa chân cho các môn đệ, không những chỉ dạy cho người môn đệ hiểu được cách sống khiêm tốn phục vụ, mà còn có tác dụng giáo dục về đức Mến (là nhân đức cao trọng nhất trong 3 nhân đức đối thần: Tin, Cậy, Mến – “Hiện nay Đức Tin , Đức Cậy Đức Mến cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là Đức Mến” – 1Cr 13, 13). Con người sống trên đời khi yêu quý bản thân tất nhiên sẽ mong muốn thân thể mình phải sạch sẽ. Cả thân thể sạch sẽ mà để đôi chân dơ dáy thì có coi được không? Vì thế, ai cũng rất siêng năng rửa chân cho bản thân mình. Thiên Chúa lại dạy: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi, ngươi phải yêu người thân cận như chính mình.” (Mt 22, 37). Như vậy, để yêu được tha nhân như yêu chính mình (“ái nhân như ái thân”), thì “anh em cũng phải rửa chân cho nhau” là điều đương nhiên rồi.

2- Lập Bí tích Thánh Thể: “Trong đêm bị nộp, Chúa Giê-su cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng tạ ơn, rồi bẻ ra và nói: “Anh em cầm lấy mà ăn, đây là Mình Thầy, hiến tế vì anh em; anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy.” Cũng thế, cuối bữa ăn, Người nâng chén và nói: “Đây là chén Máu Thầy, Máu đổ ra để lập Giao Ước Mới; mỗi khi uống, anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy.” (1Cr 11, 23-25). Trước đây, trên núi Si-nai, Thiên Chúa đã lập Giao Ước và ban bia đá 10 Điều Răn (Mến Chúa yêu người) cho Dân Người thông qua ngôn sứ Mô-sê (Xh 24, 12-18); thì giờ đây, Đức Giê-su Thiên Chúa lại lập một Giao Ước Mới ban chính Thịt Máu mình làm hy tế Thập giá cứu độ nhân loại, đồng thời làm của dưỡng nuôi linh hồn đàn chiên tín hữu đến muôn đời muôn kiếp. Rõ ràng Thiên Chúa, thông qua Con Một Người, lại một lần nữa lập Giao Ước Tinh Yêu với toàn thể nhân loại (nói chung) và cách riêng với những người tin (tín hữu).

Xét cho cùng, cả 2 việc Đức Ki-tô thực hiện trong đêm bị nộp đều nói lên Tình Yêu vô bờ bến của Thiên Chúa, Người luôn luôn mong mỏi con cái của Người sống trọn vẹn trong Tình Yêu cao vời khôn ví đó. Mà nếu con cái của Người biết vâng nghe Lời Người, thực hành đúng những điều Người truyền dạy, thì đó chính là sống quây quần đùm bọc lấy nhau, yêu thương gắn kết với nhau nên một. Hoá cho nên chính trong bữa tiệc “Ly biệt”, Chúa Giê-su lại muốn các môn đệ, tín hữu “Đoàn tụ” (tất cả đoàn tụ yêu thương nhau, như các chi thể hiệp nhất nên một thân thể Ki-tô ở dưới thế, để rồi sẽ được đoàn tụ với nhau trong Nước Trời mai sau). Lời Đức Giê-su cầu nguyện cùng Chúa Cha (“Con không chỉ cầu nguyện cho những người này, nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào con, để tất cả nên một, như Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta.” – Ga 17, 20-21), cho thấy “những người này” là các Tông đồ và “những ai … tin vào Con” chính là những Ki-tô hữu. Nói khác hơn, đó là những người tin vào Con Thiên Chúa nhờ lời rao giảng của các Tông đồ, đã được chính Đức Ki-tô Thiên Chúa cầu nguyện cho vậy.

Chung quy, những lời dậy và việc làm của Đức Giê-su trong bữa Tiệc Ly đã nói lên đầy đủ ý nghĩa cốt tuỷ của Ki-tô Giáo, đó là tinh thần “Phục Vụ Trong Yêu Thương”. Thiên Chúa đã yêu thương nhân loại đến nỗi ban chính Con Một xuống thế làm người để phục vụ cho hạnh phúc của nhân loại. Vâng, “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20, 28). Quả thực “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì người mình yêu.” (Ga 15, 13). Từ những việc làm thực tế, những vật thể hữu hình (nước rửa chân, khăn lau, miếng bánh, ly rượu), Đức Giê-su đã dạy các tín hữu hãy noi gương Người mà phục vụ lẫn nhau trong Chân Lý Tình Yêu.

Để có thể kết hợp với Đức Ki-tô, ngõ hầu trở nên đồng hình đồng dạng với Người (Pl 3, 9-10), người Ki-tô hữu cần phải biết “Ơn riêng Thiên Chúa đã ban, mỗi người trong anh em phải dùng mà phục vụ kẻ khác” (1Pr 4, 10); “đừng lợi dụng tự do để sống theo tính xác thịt, nhưng hãy lấy đức mến mà phục vụ lẫn nhau” (Gl 5, 13). Một cách cụ thể là hãy đem Lời Chân Lý (Bánh Hằng Sống) đến cho mọi người, đồng thời cũng đừng quên đem cơm bánh vật chất đến cho những kẻ khó nghèo bệnh tật. Vâng, “Trước một thế giới đang yêu cầu các Ki-tô hữu đưa ra một chứng tá mới mẻ về tình yêu và lòng trung thành với Chúa, mọi Ki-tô hữu đều cảm thấy phải cấp bách ganh đua với nhau trong đời sống bác ái, trong việc phục vụ và làm các việc lành (x. Hr 6,10). Lời nhắc nhở này đặc biệt thúc bách trong mùa thánh chuẩn bị mừng lễ Phục Sinh.” (Sđ Mùa Chay 2012, phần kết luận).

Mong rằng tất cả đàn chiên trong ràn chiên Giáo Hội, hãy theo chân vị Giáo-Hoàng-của-người-nghèo là ĐTC Phan-xi-cô, mà đến với những người nghèo khó vật chất (thiếu cơm ăn áo mặc) kể cả những kẻ đói ăn tinh thần (thiếu vắng hoặc chưa biết đến Lời Chúa), để thực hiện những chứng tá bác ái “trong việc phục vụ và làm các việc lành”. Ôi! “Lạy Chúa, trong bữa tiệc ly trọng đại, trước ngày tự hiến thân chịu khổ hình, Ðức Giê-su đã trối cho Hội Thánh một hy lễ mới muôn đời tồn tại làm bằng chứng tình thương của Người. Chiều nay, chúng con đến tham dự yến tiệc cực thánh, như lời Người truyền dạy, xin Chúa cho tất cả chúng con được tràn đầy tình yêu và sức sống viên mãn của Người. Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời. Amen.” (Lời nguyện nhập lễ Thánh lễ Tiệc Ly).

 

 

22. LỜI THẦY NĂM XƯA - Lm. Jos. DĐH

Không ai đủ khả năng để tổng hợp những “lời hay ý đẹp”, áp dụng vào cuộc sống của mình, chia sẻ cho đời. Chung quanh ta nhiều tài năng phong phú, có giá trị như bị lãng quên, phải chăng vì lý do chưa phù hợp với hoàn cảnh. Có khá nhiều cơ hội vụt qua, nhanh đến độ bất ngờ, để lại hối tiếc mà thôi. Tình yêu cao quý nhất là thủy chung, tình người trân trọng hơn cả vẫn là chữ tín, và chỉ khi hiểu nhau, tình thầy trò, hay tình huynh đệ mới thực sự không phai mờ.

Tục ngữ có câu : dốt đến đâu, học lâu cũng biết. Đức Giêsu đến thực thi đức yêu thương, Ngài không chọn tìm học trò khôn ngoan hay khờ dại. Mà những ai thuộc về Đức Giêsu đều được gắn liền với đức ái mục tử. Ngài lưu ý các học trò về tinh thần khim tốn, sống yêu thương, giúp nhau rửa sạch vết nhơ tội lỗi. Trong bữa tiệc cuối cùng, Chúa Giêsu không dùng những lời ngọt ngào yêu thương, nhưng Ngài vô cùng cương quyết : “nếu Thầy không rửa chân cho anh em, anh em sẽ không được dự phần với Thầy”.

Bữa tiệc chia tay hôm đó, Thầy Giêsu không tuyên dương hay có ý khiển trách người học trò phản bội hay chối Chúa, Thầy đã làm gương sáng cho các học trò về hành động yêu thương. “Ta là Thầy là Chúa mà còn rửa chân cho anh em, vậy anh em hãy rửa chân cho nhau”. Lời Thầy Giêsu làm lệch hướng các học trò về quyền bính, và cụ thể hóa bằng hành động cúi mình rửa chân : “anh em có hiểu biết việc Thầy vừa làm cho các con chăng ?”

Lời Thầy Giêsu không khỏi làm các học trò ưu tư, ăn uống thì cần rửa tay, mà ở đây Thầy lại chủ động rửa chân cho các ông. Lời Thầy nhẹ nhàng nhưng sâu rộng, tay và đầu sạch rồi, nhưng chân cần phải sạch để bước theo Thầy vững vàng hơn. Lời Thầy không thể mơ hồ đến độ cứ rửa đôi chân sạch bụi đời là đủ, nhưng hãy theo gương Thầy sống yêu thương phục vụ đến cùng. Lời Thầy đầy ắp yêu thương và không thiếu cương quyết : “việc Thầy làm bây giờ anh em không hiểu, nhưng sau sẽ hiểu”.

Trọng Thầy mới làm được thầy, dù khó chấp nhận việc Thầy mình làm, nhưng kẻ bộc trực như Phêrô còn phải khuất phục. Rõ ràng bài học vâng phục, bác ái, không thể là hành động tùy tiện chọn lựa của người tông đồ. Thương mến ai, người ta cho kiến thức, địa vị, tài sản; giao lưu tiệc tùng, người ta thích kẻ đồng bàn với mình phải là hiểu nhau, là bè bạn thân thích cùng khả năng. Chúa rửa chân cho các học trò không phân biệt, như một lời nhắn gởi Chúa sẽ còn cùng các học trò đi khắp nơi rửa chân cho những người đau khổ, bệnh tật, cả những tâm hồn tội lỗi nữa.

Buổi hội họp sau hết với các học trò không phải là tìm phương án đối phó với những kẻ chống đối, mà là mở ra một hướng đi mới cho các học trò cùng hành động yêu thương. Mơ ước của Chúa Giêsu là các môn đệ phải thấm nhuần bài học anh em hãy yêu thương nhau, để rồi người người, nhà nhà biết tiếp tục lời Thầy : hãy yêu như Thầy yêu. Lời Thầy năm xưa sẽ còn là lời nhắc nhớ, hãy lấy tình bác ái để cư xử với nhau, lấy tinh thần người làm lớn phục vụ rửa chân cho nhau nên tinh sạch. Người môn đệ theo Chúa mãi mãi là hành động đẹp, khi mỗi người biết yêu thương nhau. Amen.

 

 

23. ĐÔI TAY BIỂU TƯỢNG TÌNH YÊU - Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

Đã nhiều lần chúng ta nhìn thấy bức tranh vẽ hay điêu khắc đôi bàn tay gầy guộc chắp vào nhau hướng lên trời. Nhiều người chỉ biết rằng đây là biểu tượng của cầu nguyện. Thực ra, đôi bàn tay này do một người em đã vẽ bàn tay người anh. Một bàn tay vất vả hy sinh lao động để nuôi em ăn học.
Chuyện kể rằng có một gia đình nghèo gồm 18 người con. Hai người con lớn trong nhà đều chung ước mơ trở thành họa sĩ. Nhà nghèo nên họ quyết định chỉ một người đi học. Họ sẽ tung một đồng xu. Người thua sẽ làm thợ mỏ, dùng toàn bộ thu nhập để chu cấp cho người thắng đi học. Sau này thành tài người thắng sẽ giúp ngược lại.
Đồng xu được tung lên, người em thắng cuộc và được đi học. Người anh trong suốt 4 năm, làm lụng để nuôi người anh em của mình ăn học. Sau 4 năm thành họa sĩ nổi danh, người em muốn thực hiện lời cam kết ngày nào nên trong bữa ăn sum họp, người em đứng dậy để cảm ơn người anh trai đã hy sinh 4 năm giúp mình hoàn thành được ước mơ. Người em nói:
– Anh Albert, bây giờ đã đến lượt anh. Anh hãy theo đuổi ước mơ của mình. Em sẽ lo toàn bộ chi phí và chăm sóc gia đình. Albert mỉm cười, rồi bật khóc:
– Không, anh không thể vẽ được nữa. Đã quá muộn rồi. Bây giờ, sau 4 năm làm việc trong hầm mỏ, không còn ngón tay nào của anh là lành lặn. Thậm chí bây giờ anh còn bị thấp khớp ở tay phải nặng tới mức không thể nâng nổi một chiếc ly, nói gì đến việc cầm cọ vẽ. Cảm ơn em, nhưng bây giờ đã quá muộn rồi…
Trước tình yêu quá cao vời của anh, người em đã thực hiện một tác phẩm cẩn thận nhất trong đời: vẽ lại đôi bàn tay của anh trai mình, với lòng bàn tay hướng vào nhau và những ngón tay gầy guộc hướng lên trời. Ông chỉ gọi bức tranh của mình đơn giản là “Đôi tay”, nhưng cả thế giới đều đặt tên cho kiệt tác đó là “Đôi tay cầu nguyện”.
Xem ra đôi bàn tay còn có ý nghĩa là trao ban, là hy sinh cho người mình yêu. Đôi bàn tay ấy đã nâng ước mơ cho người em thành tài trong cuộc đời.
Hôm nay thứ năm tuần thánh cũng mời gọi chúng ta chiêm ngắm một tình yêu tự hiến qua hình ảnh tấm bánh bẻ ra để trao ban. Chúa Giê-su đã lưu dấu mãi tình yêu tự hiến cho người mình yêu.  Ngài muốn chúng ta mỗi khi ăn tấm bánh ấy phải loan truyền tình yêu tự hiến của Ngài đến muôn đời. Một tình yêu cho đi mà không mong đền đáp. Một tình yêu hiến dâng quên đi cả tính mạng của mình. Một tình yêu chịu nghiền nát thành của ăn cho người mình yêu.
Trong bữa tiệc cuối cùng với các môn đệ, Chúa  đã chọn tấm bánh như một biểu trưng, một dấu chỉ cho cả cuộc đời mình. Tấm bánh được làm nên là vì sự sống, vì niềm vui của người khác mà không bao giờ là cho chính bản thân mình. Có thể đó là tấm bánh đơn sơ, dân dã đem lại niềm vui cho trẻ thơ mỗi khi mẹ đi chợ về. Có thể đó là tấm bánh nhỏ bé nhưng vô cùng cần thiết, đem lại sức sống cho người đang đói lả. Bánh có thể được đặt trang trọng trên những bàn tiệc thịnh soạn. Bánh có thể được nâng niu trên đôi tay gầy gò, run rẩy của người hành khất bên vỉa hè. Như thế, Bánh không kén chọn người ăn, và dù là cao cấp hay bình dân, bánh được làm ra là để cho đi chính mình, trao tặng chính mình, để trở nên niềm vui và sức sống cho người khác. Chúa Giêsu đã trở nên tấm bánh thật vừa với tầm tay của tất cả hạng người.
Thật đơn sơ nhưng cũng vô cùng sâu xa, vì tấm bánh nói lên tình yêu tự hiến. Khi xưng mình là bánh, Chúa Giêsu muốn bày tỏ một tình yêu tha thiết, sẵn sàng chịu nghiền nát, chịu tan biến, chịu chết cho nhân loại. Chúa  chịu nhỏ đi để con người được lớn lên. Chúa  chịu hủy hoại cho ta được lành lặn các thương tích. Chúa chịu chết cho ta được sống.
Hơn ba mươi năm đi khắp nẻo đường đời và trên đỉnh cao thập tự giá, Ngài đã sống như một tấm bánh. Tấm Bánh được bẻ ra và trao tặng như một cử chỉ yêu thương. Ngài trở nên Tấm Bánh như một lời mời gọi: “Anh em cầm lấy mà ăn”. Ngài trở nên tấm bánh để từ đây, Thiên Chúa có thể ở lại mãi với con người. 
Hôm nay chúng ta kỷ niệm ngày Chúa lập bí tích Thánh Thể. Bí tích của tình yêu tự hiến. Qua tấm bánh đơn sơ nhưng nói lên tình yêu hiến dâng của Thầy Chí Thánh Giê-su chấp nhận tan biến cho người mình yêu.
Xin cho chúng ta nhận ra tình yêu vô biên của Chúa để sống ngàn đời tri ân. Xin cho cuộc đời chúng ta cũng biết tự hủy chính mình như tấm bánh đem lại niềm vui và hạnh phúc cho người mình yêu. Amen.

 

 

24. LÒNG THƯƠNG XÓT TỎA SÁNG - Lm. Giuse Đỗ Đức Trí

Trong cái nắng chói chang của sa mạc, người lữ hành vẫn tìm được những ốc đảo có cây cối xum xuê bởi có nguồn nước. Trong cánh đồng khô hạn, thỉnh thoảng người nông dân vẫn bắt gặp những bụi cây ngọn cỏ xanh tươi. Trong một xã hội đầy rẫy sự ác và bất công, người ta vẫn có thể thấy được những tấm lòng bao dung, nhân ái. Cũng vậy, đọc các bài đọc của ngày thứ Năm Tuần Thánh, chúng ta có cảm tưởng như bóng tối của sự dữ, sự ác đang bao trùm, nhưng trong khung cảnh tối tăm đó, lòng thương xót của Thiên Chúa vẫn luôn tỏa sáng.

Câu chuyện xuất hành xảy ra vào thời điểm con cái Israel bị lưu đày tại Aicập. Tương lai của họ như mờ mịt bởi sự đàn áp của các Pharaon. Trong cảnh cùng cực đó, Thiên Chúa là người cha, đã nghe thấu tiếng than khóc của dân con Ngài. Thiên Chúa đã đem đến cho họ một tương lai tươi sáng qua cuộc xuất hành. Ngài đã dùng cánh tay hùng mạnh để bênh vực dân Ngài đã chọn. Để đánh dấu cuộc giải thoát vĩ đại này, Thiên Chúa đã chỉ thị cho Israel phải cử hành một nghi lễ sát tế con chiên vượt qua, lấy máu bôi lên khung cửa. Dấu máu này cho thấy họ thuộc về dân của Thiên Chúa và ai bôi máu chiên lên cửa thì sẽ được giải thoát. Trong đêm đó, Thiên Chúa sẽ đi ngang qua đất Aicập, nhà nào có dấu máu chiên, Thiên Chúa sẽ vượt qua và chúc phúc cho họ, nhà nào không có dấu máu chiên thì sẽ bị tru diệt.

Cuộc xuất hành cùng với nghi lễ ăn tiệc chiên vượt qua đã trở thành niềm tin ăn sâu vào đời sống của người Do Thái. Tất cả mọi người Do Thái đều nhìn biến cố này như một biến cố Thiên Chúa tỏ lòng xót thương đối với họ. Con chiên vượt qua và máu chiên là đấu chỉ cứu dân khỏi chết, đã trở thành biểu tượng rất thiêng liêng mà dân Israel đều ghi nhớ khi tham dự lễ vượt qua hàng năm.

Cũng trong truyền thống đạo đức này, Chúa Giêsu cùng với các môn đệ bước vào bữa tiệc vượt qua. Nếu nghe câu truyện, chúng ta có cảm giác như bóng tối của sự dữ, sự ác đang bao trùm cả không gian qua con người của Giuda, một kẻ đang bị ma quỷ sử dụng. Trong bầu khí rất cảm động và linh thiêng của bữa tiệc ly, Chúa Giêsu biết trước những gì sắp xảy ra cho mình, nên Ngài đã dành tất cả thời gian còn lại trên trần gian để bộc lộ tình thương của Ngài dành cho các môn đệ và cho nhân loại. Từng cử chỉ, từng hành động của Chúa Giêsu là từng cử chỉ, hành động của tình yêu và lòng thương xót đến cùng, là hành động yêu thương của một người thầy dành cho học trò, của một người cha dành cho các con trước lúc ra đi.

Trong bữa ăn đó, Chúa Giêsu đã thực hiện một việc rất lạ lùng. Ngài cầm bánh và chén trao cho các tông đồ và nói với các ông : Đây là mình Thầy, sẽ bị nộp vì các con, các con hãy cầm lấy mà ăn. Đây là máu Thầy, máu Giao Ước Mới, đổ ra để tha tội, các con hãy cầm lấy mà uống và hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy. Hành động này vượt quá sức tưởng tượng của các tông đồ, có lẽ ngay lúc ấy, các ông cũng chưa thể hiểu hết những việc Chúa làm. Qua việc biến bánh và rượu trở nên thịt máu Ngài, Chúa Giêsu muốn được ở lại và ở mãi bên những người mà Ngài yêu thương. Ngài muốn chúng ta đón nhận Ngài như là của ăn, để Ngài có thể đi vào trong tâm hồn từng người, làm nên chất dinh dưỡng nuôi sống con người.

Do tình yêu và lòng thương của một người thầy, người cha thúc đẩy, Chúa Giêsu không còn nghĩ gì đến bản thân mình, Ngài muốn thể hiện đến tận cùng lẽ yêu thương. Không chỉ trở nên của ăn để ở lại mãi với nhân loại, Chúa Giêsu còn trao cho các tông đồ quyền : Hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy. Với lệnh truyền này, Chúa Giêsu đã thiết lập nên chức Linh Mục, trao cho các tông đồ quyền nhân danh Ngài để tiếp tục nối dài tình yêu thương và sự hiện diện của Ngài với nhân loại. Trao cho các tông đồ quyền thể hiện lòng thương xót và sự hy sinh của mình, Chúa Giêsu đã chấp nhận trở nên hoàn toàn lệ thuộc vào các ông. Từ đây, khi các ông làm như Chúa đã làm, thì Chúa hiện diện trong việc làm của các ông. Mặc dù Chúa biết rất rõ, các tông đồ là những kẻ yếu đuối và đầy giới hạn, nhưng Chúa vẫn chọn các ông là những linh mục đầu tiên, để qua sự giới hạn bất toàn của các tông đồ và của các linh mục ngày nay, lòng thương xót của Chúa lại tiếp tục được trao ban cho thế giới.

Các tông đồ chưa hết bất ngờ bởi việc bẻ bánh Chúa Giêsu vừa thực hiện thì lại đến bất ngờ khác. Thánh Gioan thuật lại : Ngài yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian và Người yêu thương họ đến cùng. Yêu đến tột cùng là không còn giới hạn, không còn tiếc gì và cũng không còn giữ lại điều gì cho riêng mình. Tình thương này không chỉ dành cho những người ưu tuyển, nhưng dành cho tất cả mọi người, kể cả Giuđa, kẻ đang bị ma quỷ điều khiển. Chúa Giêsu đã chỗi dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài ra, lấy khăn thắt lưng, đổ nước vào chậu và cúi xuống rửa chân cho các tông đồ. Với hành động này, Chúa Giêsu để cho lòng thương xót vượt trên tất cả, phủ lấp tất cả. Ngài không còn nghĩ gì đến địa vị của một người Thầy. Ngài đã cúi xuống để rửa chân cho các tông đồ, trong đó có Giuđa, kẻ đang nuôi trong lòng sự phản bội mà Chúa Giêsu đã biết.

Simon Phêrô và các tông đồ hết sức ngỡ ngàng đến độ không chấp nhận : Thưa Thầy, không thể như thế, Thầy không thể rửa chân cho con. Đối với người Do Thái, việc rửa chân là việc của nô lệ làm cho chủ, người tự do và con cái không phải làm việc này. Vậy mà, Chúa Giêsu đã xóa hẳn vị thế của mình là một người Thầy, để cúi xuống rửa chân cho các học trò. Điều này vượt quá lý lẽ thông thường của con người, nhưng với lý lẽ của tình yêu và lòng thương xót, thì việc làm này lại là việc làm có lý lẽ riêng của nó.

Khi rửa chân cho các môn đệ xong, Đức Giêsu mặc áo vào, trở về chỗ và nói : Anh em gọi Thầy là thầy, là Chúa, điều đó là phải. Vậy nếu Thầy là thầy, là Chúa mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Bài học từ việc cúi xuống rửa chân đến đây đã rõ. Chúa Giêsu muốn dạy các ông bài học về sự phục vụ. Vì trở thành môn đệ của Chúa, thành những người nối dài tình yêu và lòng thương xót của Chúa, không phải để các tông đồ tìm kiếm một địa vị quyền lợi theo kiểu thế gian, nhưng là phải chấp nhận cởi bỏ con người của mình. Cởi bỏ con người tức là cởi bỏ địa vị, quyền lực, tham vọng, cởi bỏ cả cái tôi kiêu căng và thói tự ái, để có thể cúi xuống phục vụ anh em.

Sự phục vụ mà Chúa Giêsu mong muốn chúng ta làm không phải chỉ là sự phân phát bố thí, nhưng phải làm tất cả những việc đó bằng trái tim yêu thương và bằng sự trân trọng, tôn trọng anh em. Phục vụ tất cả mọi người không trừ ai, kể cả những người đang thù ghét và tìm cách hại mình, như Giuđa đang nuôi trong mình sự phản bội. Anh em cũng phải rửa chân cho nhau, Anh em hãy làm như Thầy đã làmkhông chỉ là một lời mời, mà là một đòi buộc đối với người môn đệ của Chúa. Chúa muốn những ai theo Chúa cũng phải dám cúi xuống để rửa chân phục vụ anh em mình. Chỉ khi dám cúi xuống mới có thể phục vụ đúng theo gương của Thầy Giêsu, chỉ khi cúi xuống chúng ta mới có thể nhìn thấy những nhu cầu của anh chị em để có thể cảm thông và chia sẻ.

Thưa quý OBACE, cử hành lễ Tiệc Ly hôm nay, chúng ta chiêm ngắm và cảm nhận một tình yêu trao ban đến tận cùng của Chúa Giêsu. Ngài đã ban tặng máu thịt làm của ăn của uống nuôi nhân loại. Ngài còn trao ban cả tự do và trọn con người của mình cho các tông đồ, khi lập Bí tích Truyền Chức. Ngài trao cho các ông quyền làm cho Ngài được hiện diện cách bí tích nơi trần gian cho đến ngày tận thế. Trước tình yêu trao ban lớn lao như thế, chúng ta được mời gọi đáp lại bằng việc đón rước Ngài một cách quảng đại, để cho Ngài đi vào tâm hồn và cuộc đời, để cho Ngài chiếm hữu và làm chủ đời ta.

Chúng ta cũng cầu nguyện cho các linh mục, các ngài chỉ là người phàm, mang đầy yếu đuối, nhưng lại được chọn để chia sẻ vào quyền năng của Thiên Chúa. Các linh mục được mời gọi để nhân danh Chúa, yêu thương và tiếp tục hiến tế cuộc đời mình cho anh em, theo gương Thầy Giêsu. Các linh mục đang từng ngày thánh hiến bản thân, nhưng vẫn không giũ hết khỏi mình sự lấm lem do yếu đuối. Chúng ta thông cảm, nâng đỡ và cầu nguyện cho các ngài.

Xin cho chúng ta thấm nhuần bài học phục vụ Chúa đã nêu gương, để trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta cũng biết dẹp khỏi mình sự kiêu căng xét đoán, sự dửng dưng vô cảm, để biết cúi xuống phục vụ anh chị em. Xin cho chúng ta có một đôi mắt thật sáng để có thể nhìn thấy những nhu cầu và những đau khổ của anh em, để có thể có cái nhìn cảm thông. Xin cho chúng ta có một đôi tay giang rộng để có thể ôm ấp mọi người, để xoa dịu những đau khổ của kiếp người. Xin cho chúng ta có một đôi chân dẻo dai để có thể bước đến với anh em, xóa bỏ mọi ngăn cách nghi kỵ, hờn dỗi, để có thể đem tình yêu thương của Chúa đến cho họ. Amen.

 

 

25. SUY NIỆM THỨ NĂM TUẦN THÁNH - Lm. Giuse Trực

Chiều hôm nay có thể gọi một cách văn hoa là “chiều ly biệt”. Nhưng tôi thích gọi là “buổi chiều xé nát con tim”. Quả thật buổi chiều hôm nay làm cho con tim của Chúa phải nhiều lần chết nghẹt vì xúc động. Tất cả chỉ vì Ngài quá yêu thương: “Đức Giêsu biết giờ của người đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thượng họ đến cùng” (Ga 12, 1).

Trước tiên là sự kiện Chúa Giêsu lập bí tích Thánh Thể. Đây là sáng kiến độc nhất vô nhị trong toàn thể vũ trụ này. Chỉ một mình Thiên Chúa với tình yêu thương mới có thể nghĩ ra cách thức để được ở lại với con người. Đây là một tình yêu hiến mình.

Kế đến là việc Chúa Giêsu lập bí tích Truyền chức thánh để thông ban chức linh mục cho một số người Chúa tuyển chọn, với mục đích có người là hình ảnh của Chúa ở trần gian này, và thực hiện hành động ban phát lương thực là chính Mình Máu Ngài để nuôi sống những con người yêu thương, muốn sống gắn bó với Ngài. Đây là một tình yêu trao ban.

Cuối cùng là hành động quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ như một người đầy tớ phục vụ cho chủ mình. Chúa muốn để lại cho các môn đệ và mỗi người chúng ta bài học về tình yêu phục vụ.

Lạy Chúa, đứng trước tình yê hiến mình, tình yêu trao ban và tình yêu phục vụ, con được mời gọi đáp trả lại tình yêu của Chúa để trở nên giống Chúa trong việc hy sinh hiến mình, trong việc trao ban tình yêu và phục vụ tha nhân. Con hy sinh cho gia đình con. Con trao ban hết tình yêu của con cho những người mà con gặp gỡ, nhất là những người thân trong gia đình. Con phục vụ hết thảy mọi người trong môi trường con đang sống. Lạy Chúa xin cho con biết lấy tình yêu đáp đền tình yêu. Cũng xin cho con biết lấy tình yêu xóa bỏ hận thù và khơi thông tình thương mến.

 

 

 

26. KỶ VẬT TÌNH YÊU - Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Phụng vụ chiều Thứ Năm Tuần Thánh, Giáo hội cử hành Bí tích Thánh Thể do Chúa Giêsu thiết lập vào sau bữa tối cuối cùng với các Tông Đồ trong nhà Tiệc Ly, trước đêm hấp hối trong Vườn Cây Dầu, để muôn đời tưởng nhớ tới sự hiện diện thực sự của Người giữa chúng ta. Đây là Thánh lễ sau hết được cử hành trước Đêm Vọng Phục Sinh Thứ Bẩy Tuần Thánh. Vì là Lễ sau hết nên lúc hát Kinh Vinh Danh, các chuông nhà thờ reo lên, và sẽ chỉ reo lại vào đúng lúc hát Kinh Vinh Danh trong Đêm Vọng Phục Sinh. Sau Thánh lễ chiều nay, các khăn bàn thờ đều được lột sạch, các chân nến và thánh giá được cất đi, người ta không còn trưng hoa nữa để loan báo ngày đại tang của Giáo hội và cũng ngụ ý nói rằng, Giáo hội không cử hành lễ nào nữa cho đến ngày Chúa Kitô sống lại.

Cử hành Cuộc Khổ Nạn và Phục Sinh của Đức Kitô là mục đích của Tam Nhật Vượt Qua. “Chúng ta phải hãnh diện về thập giá Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Nơi Người, ta được giải thoát, được sống và được sống lại ; chính Người giải thoát và cứu độ ta” ( Ca nhập lễ ).

Trước ngày Lễ Vượt Qua, Chúa Giêsu biết đã đến giờ Mình phải bỏ thế gian mà về cùng Chúa Cha, Người vốn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn đang ở thế gian, thì đã yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1-2). Chúa Giêsu đã yêu thương các môn đệ, thì Người đã yêu họ đến cùng một cách kinh ngạc. Thật không có hành động nào khác để diễn tả yêu thương cho bằng tình yêu. Cũng như các môn đệ, Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta đến nỗi không có ngòi bút nào trên trần gian này có thể diễn tả hoặc viết ra hết được tình yêu thương ấy, trong những ngày cuối đời của “kiếp người” lầm than và cay đắng. Vì yêu, Chúa Giêsu đã lập Bí tích Thánh Thể, lấy chính Thịt Máu Mình làm của ăn của uống nuôi dưỡng chúng ta. Để tiếp tục yêu thương và tha thứ, Chúa thiết lập thiên chức Linh mục đời đời. Và cũng chính hôm nay, Chúa truyền dạy chúng ta phải yêu thương nhau như Chúa đã yêu. Tất cả chẳng phải là Kỷ Vật Tình Yêu Thiên Chúa để lại cho chúng ta đó hay sao?

Các con hãy lãnh nhận mà ăn, này là Mình Ta… Các con hãy cầm lấy mà uống, chén này là Tân ước trong Máu Ta” (1 Cr 11, 24-25). Thật không thể hiểu nổi, Thiên Chúa yêu nhân loại biết là chừng nào. Người đã yêu bằng một Tình Yêu trao ban, hy sinh và tận hiến. Khi lập Phép Thánh Thể, Chúa hiến chính thân mình làm lượng thực nuôi dưỡng chúng ta, ở với chúng ta mọi ngày cho đến tận thế. Không những thế, Chúa còn cho chúng ta tham dự vào sự sống của chính Chúa khi rước Mình và Máu Thánh Ngài, để được sống đời đời.

Chưa hết, thiết lập Bí tích Thánh Thể xong, Chúa Giêsu cũng lập luôn Bí tích Truyền Chức Thánh. Chúa nói với các Tông Đồ hiện diện : “Các con hãy làm việc này để nhớ đến Thầy” (Lc 22, 19 ;1 Cr 11, 24). Với lời trên, cho thấy Thiên Chúa yêu thương và tín nhiệm con người, trao cho con người tiếp tục việc làm yêu thương ấy. Mặc dù phàm nhân bất xứng, Chúa vẫn ủy thác cho sứ mạng thay mặt Chúa hiện tại hóa Hy tế Thập giá trên bàn thờ mỗi ngày, tất cả chỉ vì yêu.

Sau khi rửa chân cho các môn đệ, một lần nữa, Người mời gọi chúng ta : “Thầy đã làm gương cho các con, để các con cũng bắt chước mà làm như Thầy đã làm cho các con” (Ga 13,15). Bằng cách này, Người thiết lập một sự liên kết thân mật giữa Bí tích Thánh Thể, Bí tích của quà tặng hy sinh và huấn lệnh yêu thương.

Hôm nay, kỷ niệm ngày Chúa Giêsu thiết lập thiên chức Linh mục, chúng ta có nhiều dịp nhắc đi nhắc lại một câu rất sâu sắc nhưng cũng cần phải tìm hiểu thêm : Không có Thánh Thể thì không có chức Linh mục – không có chức Linh mục thì cũng không có Bí tích Thánh Thể (chỉ một lần rồi thôi). Hai điều đó liên kết chặt chẽ với nhau nhờ đức bác ái. Không thể tham dự Thánh Thể nếu không có Tư Tế, nhưng cũng không thể tham dự Thánh Thể nếu không có đức bác ái và sự tha thứ. Trong Bí tích Thánh Thể, tất cả chúng ta đều tham dự vào một Mình Thánh, một Máu Thánh. Trở nên một, chúng ta không còn tách biệt được nữa.

Ai tham dự bàn tiệc của Chúa thì người đó không thể tách rời khỏi bổn phận yêu thương anh em. Mỗi lần chúng ta tham dự Bàn tiệc Thánh Thể, chúng ta thưa “Amen” trước Mình và Máu Thánh Chúa, như thế chúng ta cam kết thực hiện điều Ðức Kitô đã làm, là “rửa chân” cho anh chị em, trở nên một hình ảnh thực sự và tỏ tường của Ðấng “đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ”(Phil 2,7).

Tình yêu là kỷ vật cao quý nhất mà Ðức Kitô để lại cho những ai được Người kêu gọi bước theo. Chính tình yêu của Người, được chia sẻ bởi các môn đệ, là điều được ban tặng cho tất cả nhân loại trong buổi chiều nay.

Thánh Thể là Kỷ Vật tuyệt đỉnh của tình yêu, một ơn cao cả, nhưng cũng là một trách nhiệm lớn lao cho những ai tiếp nhận. Ðứng trước Phêrô, người đã từ chối không chịu để được rửa chân, Ðức Giêsu đã nhấn mạnh đến nhu cầu phải nên thanh sạch để có thể dự phần vào bàn tiệc Thánh Thể.

Nghi thức rửa chân nói lên sự khiêm tốn của mình đối với người khác, nhìn nhận rằng mình là người có tội, nếu có điều gì là do tôi chứ không phải do anh em, tha nhân thật sự là anh em của tôi. Bác ái không phải là chối từ việc người khác không có lỗi, nếu lỗi là có lỗi với Chúa. “Rửa chân cho nhau” chứ không phải rửa chân cho người trên hay cho người dưới, tất cả đều là tha thứ, yêu thương và giúp đỡ nhau.

Chúng ta cầu xin Chúa cho Thánh lễ cử hành chiều hôm nay, đưa chúng ta vào trong mầu nhiệm của Bí tích Thánh Thể, mầu nhiệm của thiên chức Linh mục, và giới răn trọng nhất là bác ái yêu thương. Chúng ta cố gắng ghi nhớ những điều này để đưa vào trong cuộc sống hàng ngày của mỗi người. Amen.

 

 

27. DẠ TIỆC ÂN TÌNH - Trầm Thiên Thu

Lễ Vượt Qua hay lễ Quá Hải (Anh ngữ là Passover) là lễ quan trọng nhất của người Do Thái, kéo dài một tuần. Chiều ngày 14 tháng Ni-xan (khoảng tháng Ba, tháng Tư dương lịch), người ta sát tế chiên (cừu) tại đền thờ, rồi tư tế lấy máu chiên mà đổ dưới chân bàn thờ. Khi đêm xuống, người ta sẽ ăn tiệc Chiên Vượt Qua theo gia đình hay theo nhóm, rồi lấy chút máu chiên bôi lên cửa nhà.

Lễ Vượt Qua được cử hành như một cuộc tưởng niệm nhằm giúp mỗi người sống lại kinh nghiệm của cha ông họ được giải phóng khỏi ách nô lệ Ai Cập xưa kia. Trong bữa tiệc, người ta ăn thịt chiên với bánh không men và rau đắng (Xh 12:14), ngoài ra, họ cũng uống với nhau bốn chén rượu đã được vị chủ tọa bữa tiệc chúc lành để kỉ niệm bốn lời hứa của Thiên Chúa với dân Do Thái: [1] Ta sẽ đem các ngươi ra từ ách của Ai Cập; [2] Ta sẽ giải thoát các ngươi khỏi cảnh làm tôi mọi chúng; [3] Ta sẽ giương cánh tay mà chuộc lấy các ngươi; [4] Ta sẽ lấy các ngươi làm dân Ta, và Ta sẽ là Thiên Chúa các ngươi. Cuối bữa tiệc này, mọi người cùng hát Thánh Vịnh.

Bữa Tiệc Ly là Dạ Tiệc Vượt Qua, Chúa Giêsu dùng bữa với các môn đệ. Trong bữa tiệc này, Ngài làm hai điều quan trọng và kỳ lạ: thiết lập Bí Tích Thánh Thể và Ngài đích thân rửa chân cho các môn đệ. Cả hai hành động đó là dấu chỉ của yêu thương, của lòng thương xót.

Vậy yêu thương là thế nào? Yêu thương là CHO hay NHẬN? Có ai cân-đo-đong-đếm được tình yêu đâu mà sao biết kẻ yêu ít, người yêu nhiều?

Xưa nay, từ cổ chí kim, chưa có một định nghĩa nào về tình yêu trọn vẹn nhất khiến người ta thỏa mãn. Chữ Yêu rất đơn giản mà cũng rất nhiêu khê. Chỉ có một tình yêu đích thực nhưng được nhìn với nhiều lăng kính, mỗi người yêu mỗi cách và mức độ cũng rất khác nhau. Nói chung, yêu là CHO nhiều hơn NHẬN, yêu đến quên mình, đó mới là Tình Yêu chân chính, thế nên người ta mới nói “yêu là chết trong lòng”. Yêu là khổ, không khổ không là yêu, khổ đến “chết” mới là yêu! Không chỉ “chết trong lòng” mà chết thật, vì có những người đã dám liều chết vì quá yêu!

Việt Nam có chuyện tình Đồi Thông Hai Mộ và chuyện tình Lan và Điệp, còn Tây phương có chuyện tình Romeo và Juliet. Những chuyện tình thật lãng mạn và đẹp nhưng cũng đầy chất bi thương!

Yêu là khổ, không yêu thì lỗ, nên người ta cương quyết “thà chịu khổ hơn chịu lỗ”. Những người đó “ngon” thật và can đảm thật! Người ta còn gọi đó là “thú đau thương”. Đau thương mà lại “thú vị”, yêu như điên, đó mới là yêu thật lòng, vị tha chứ không vị kỷ. Chúa Giêsu đã xác định: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15:13). Sau những ngày tháng hoang đàng, Thánh Giám mục Tiến sĩ Augustinô đã hối tiếc: “Con yêu Chúa quá muộn màng”, và rồi thánh nhân nói thêm: “Mức độ yêu Chúa là yêu vô hạn”. Một mức độ kỳ lạ: giới hạn của yêu thương là yêu-không-giới-hạn!

Yêu thương liên quan hai động thái cần thiết: Vâng Phục và Phục Vụ.

VÂNG PHỤC VÌ YÊU THƯƠNG

Trình thuật Xh 12:1-8, 11-14 cho biết các chi tiết: Đức Chúa phán với ông Môsê và ông Aharon trên đất Ai Cập: “Tháng này, các ngươi phải kể là tháng đứng đầu các tháng, tháng thứ nhất trong năm. Hãy nói với toàn thể cộng đồng Ít-ra-en: Mồng mười tháng này, ai nấy phải bắt một con chiên cho gia đình mình, mỗi nhà một con. Nếu nhà ít người, không ăn hết một con, thì chung với người hàng xóm gần nhà mình nhất, tuỳ theo số người. Các ngươi sẽ tuỳ theo sức mỗi người ăn được bao nhiêu mà chọn con chiên. Con chiên đó phải toàn vẹn, phải là con đực, không quá một tuổi. Các ngươi bắt chiên hay dê cũng được. Phải nhốt nó cho tới ngày mười bốn tháng này, rồi toàn thể đại hội cộng đồng Ít-ra-en đem sát tế vào lúc xế chiều, lấy máu bôi lên khung cửa những nhà có ăn thịt chiên. Còn thịt, sẽ ăn ngay đêm ấy, nướng lên, ăn với bánh không men và rau đắng”. Luật cũ chú trọng cách sống tự nhiên của con người, và cách hành lễ cũng “thực tế” hơn ngày nay, nhưng đó là thể hiện sự vâng lời – vâng lời Chúa nghĩa là yêu mến Chúa.

Học ăn, học nói, học gói, học mở. Đầu tiên là phải học ăn. Cách ăn cũng có luật: lưng thắt gọn, chân đi dép, tay cầm gậy. Cách ăn “lạ” nhất là “phải ăn vội vã”, vì đó là lễ Vượt Qua mừng Đức Chúa. Đêm ấy Thiên Chúa rảo khắp đất Ai Cập, sát hại các con đầu lòng trong đất Ai Cập, từ loài người cho đến loài thú vật, và sẽ trị tội chư thần Ai Cập. Nghe vậy chúng ta cảm thấy Chúa “dữ tợn” quá. Nhưng không, luật cũ là luật tự nhiên, những gì là “đầu tiên” được dành ưu tiên cho Thiên Chúa, gọi là “của lễ đầu mùa”, kể cả con đầu lòng. Ngày nay, một số dân tộc vẫn có cách mừng thu hoạch như lễ mừng lúa mới, lễ mừng thu hoạch.

Vết máu bôi trên nhà là dấu hiệu vâng phục, tức là “giữ luật”, và là “dấu hiệu tình yêu”. Những người trong nhà đó sẽ không bị tai ương tiêu diệt khi Thiên Chúa giáng hoạ trên đất Ai Cập. Ngày đó được chọn làm ngày tưởng niệm, ngày đại lễ mừng Đức Chúa. Đó là luật quy định cho đến muôn đời. Luật đó là hồng ân Chúa ban. Ngài ban đủ thứ ân sủng để con người đủ sức “vượt qua” biển đời. Thiên Chúa YÊU nhiều nên CHO nhiều, còn chúng ta NHẬN quá nhiều mà yêu chẳng bao nhiêu, thế nên:

Lấy chi đáp đền Chúa đây

Vì bao ân huệ chính Ngài đã ban? (Tv 116:12)

Dù thật lòng muốn đền đáp ơn Chúa nhưng chẳng có gì để dâng, nếu có thì cũng chẳng có gì xứng đáng. Thân phận bụi tro mọn hèn cả dám thân thưa:

Con nâng chén hồng ân cứu độ

Mà xưng tụng danh Chúa mãi thôi (Tv 116:13)

Thời quân chủ, thần dân không được ngước nhìn Long Nhan, ai nhìn sẽ bị tội khi quân và phải chết. Thần dân muốn tâu trình điều gì phải quay hướng khác và không được tâu trực tiếp mà chỉ được tâu với cái “bệ rồng” Vua ngồi: “Muôn tâu bệ hạ”. Thế nhưng, đối với Thiên Chúa là Vua các vua và Chúa các chúa, thân sâu bọ chúng ta lại được diện kiến Tôn Nhan thì quả là vô cùng diễm phúc: “Trước Thánh Nhan thật là quý giá, cái chết của những ai hiếu nghĩa với Ngài” (Tv 116:15). Chúng ta chỉ là tôi tớ Ngài, con của nữ tỳ Ngài, thế mà lại được diễm phúc thì phải ghi lòng tạc dạ thâm ân này: “Con sẽ dâng hiến lễ tạ ơn mà xưng tụng danh Chúa” (Tv 116:17), đồng thời phải chân thành tự thề hứa: “Lời khấn nguyền với Chúa, con xin giữ trọn, trước toàn thể Dân Ngài” (Tv 116:18).

PHỤC VỤ VÌ YÊU THƯƠNG

Biết thì phải chia sẻ cho người khác, trừ khi người ta không muốn được chia sẻ. Chia sẻ là một dạng yêu thương: cho, tặng, biếu. Chính Thánh Phaolô đã xác nhận: “Điều tôi đã lãnh nhận từ nơi Chúa, tôi xin truyền lại cho anh em” (1 Cr 11:23). Rồi ngài kể lại việc Chúa Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng tạ ơn, rồi bẻ ra và nói: “Anh em cầm lấy mà ăn, đây là Mình Thầy, hiến tế vì anh em; anh em hãy làm nhưThầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy”, và cuối bữa thì Chúa Giêsu nói: “Đây là chén Máu Thầy, Máu đổ ra để lập Giao Ước Mới; mỗi khi uống, anh em hãy làm nhưThầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy” (1 Cr 11:24-25). Thánh Phaolô giải thích: “Từnay cho tới ngày Chúa đến, mỗi lần ăn Bánh và uống Chén này, là anh em loan truyền Chúa đã chịu chết” (1 Cr 11:26), do đó mà chúng ta hằng ngày tuyên tín trong mỗi Thánh lễ: “Lạy Chúa, chúng con loan truyền Chúa chịu chết, và tuyên xưng Chúa sống lại, cho tới khi Chúa đến”, hoặc “Lạy Chúa, mỗi lần ăn Bánh và uống Chén này, chúng con loan truyền Chúa chịu chết cho tới khi Chúa đến”.

Ngay trước Lễ Vượt Qua, Đức Giêsu biết “giờ của Ngài” đã đến, đó là giờ Ngài phải bỏ thế gian mà về với Thiên Chúa Cha. Ngài yêu thương mọi người đến giọt Nước và giọt Máu cuối cùng, Ngài không muốn xa chúng ta, nhưng Ngài phải tuân phục Thánh Ý của Chúa Cha.

Đức Giêsu biết rõ Giuđa nghĩ gì, tính toán ra sao, và sắp làm gì. Nhưng Thánh Ý Chúa Cha nhiệm mầu. Thế nhưng, có người lập luận rằng “quỷ sứ không được cứu độ”. Giuđa bị gọi là quỷ sứ, Phêrô bị gọi là satan, mà quỷ sứ và satan có khác nhau? Sao satan được cứu độ mà quỷ sứ lại không được? Có gì lấn cấn? Thật ra chẳng ai dám phán xét, cũng chằng ai xứng đáng mà có quyền kết án ông Giuđa. Đừng chỉ “săm soi” một vài khía cạnh nào đó rồi quyết đoán. Tại sao Tội Nguyên Tổ lại được Giáo hội gọi là Tội Hồng Phúc? Thật là mầu nhiệm, vì Lòng Chúa Thương Xót lớn hơn mọi tội lỗi của cả nhân loại kia mà!

Chúa Giêsu bởi Thiên Chúa mà đến, và Ngài sắp phải trở về cùng Thiên Chúa. Do đó, trong một bữa ăn, Ngài đứng dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài ra, và lấy khăn mà thắt lưng. Rồi Ngài đổ nước vào chậu, bắt đầu rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau. Chắc hẳn môn đệ nào cũng ngạc nhiên vô cùng khi thấy Sư phụ hành động “kỳ cục nhất thế gian”.

Thế nên, khi Ngài đến chỗ ông Simôn Phêrô, ông liền thưa: “Thưa Thầy! Thầy mà lại rửa chân cho con sao?” (Ga 13:6). Không hề có bề trên nào dám làm chuyện “ngược đời” và “động trời” như vậy. Nghe Phêrô nói, Đức Giêsu trả lời: “Việc Thầy làm, bây giờ anh chưa hiểu, nhưng sau này anh sẽ hiểu” (Ga 13:7). Ông Phêrô chưa thể hiểu nên lại thưa: “Thầy mà rửa chân cho con, không đời nào con chịu đâu!” (Ga 13:8a). Đức Giêsu đáp: “Nếu Thầy không rửa cho anh, anh sẽ chẳng được chung phần với Thầy” (Ga 13:8b). Nghe Thầy nói “không được chung phần” thì ông Phêrô liền thưa: “Vậy, thưa Thầy, xin cứ rửa, không những chân, mà cả tay và đầu con nữa” (Ga 13:9). Nhưng Đức Giêsu bảo ông: “Ai đã tắm rồi, thì không cần phải rửa nữa; toàn thân người ấy đã sạch. Về phần anh em, anh em đã sạch, nhưng không phải tất cả đâu!” (Ga 13:10). Ông Phêrô cụt hứng, chẳng khác như bị tạt nước lạnh. Rõ ràng Ý CHÚA HOÀN TOÀN KHÁC HẲN Ý LOÀI NGƯỜI. Ngài rất thâm ý nên mới nói: “Không phải tất cả anh em đều sạch”.

Rửa chân cho các môn đệ xong, Ngài mặc áo vào, về chỗ và nói: “Anh em có hiểu việc Thầy mới làm cho anh em không?” (Ga 13:11). Hỏi vậy thôi, chứ Ngài biết tỏng là chẳng ai hiểu, vì ông nào cũng “mắt chữ O và miệng chữ A”, cứ như trời trồng hết thảy. Thấy thế, Chúa Giêsu nói luôn: “Anh em gọi Thầy là Thầy, là Chúa, điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là Chúa. Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em” (Ga 13:13-15).

Thầy mà còn rửa chân cho đệ tử, chủ mà rửa chân cho đầy tớ, thế thì chắc chắn đệ tử hoặc đầy tớ cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho đệ tử, để đệ tử cũng làm như Thầy đã làm cho đệ tử. Đó là Luật Yêu của Chúa. Luật nhẹ nhàng mà KHÔNG DỄ thực hiện, lời giản dị mà thâm thúy. Và đó cũng là điều chúng ta phải suy nghĩ, nhất là trong Tam Nhật Thánh này, vì chính Chúa Giêsu đã làm gương cho chúng ta noi theo.

Chữ Yêu bắt đầu bằng mẫu tự Y có hình “ngã ba”, nghĩa là có 3 hướng: Hướng lên Chúa, hướng tới tha nhân, và hướng về chính mình. Yêu Chúa hết linh hồn và hết trí khôn, yêu người như chính mình, yêu mình ít thôi – không được yêu mình thái quá (tự ái là yêu mình thái quá, là ích kỷ). Yêu có những hệ lụy quan yếu. Yêu là điều luôn có mối liên kết quan trọng: Cần thiết –> thiết tha –> tha thứ. Đó là quy-trình-yêu-thương, là vòng-tròn-thương-xót. Và một hệ lụy khác lại phát sinh: YÊU thì phải KÍNH, KÍNH thì phải NỂ, NỂ thì phải TRỌNG, TRỌNG thì phải VỌNG (mong), MONG thì thấy NHỚ, NHỚ nghĩa là YÊU. Đó là vòng-tròn-yêu bắt đầu và kết thúc bằng động từ YÊU. Chúa nhớ chúng ta và chúng ta cũng phải nhớ Chúa, mà NHỚ NGÀI thì PHẢI THI HÀNH THÁNH Ý NGÀI. Hoàn toàn hợp lý!

Cũng như khi nói về gia đình, chúng ta áp dụng danh từ kép “hiếu đễ”. Và thật kỳ lạ với chuỗi hợp lý này: HIẾU thì phải ĐỄ (nhường), NHƯỜNG thì phải NHỊN. Nhờ đó mà “trong ấm, ngoài êm”, tạo nên “tổ ấm”, tạo nên hạnh phúc gia đình. Xã hội cũng vậy. Cộng đoàn cũng thế. Nói chung, tất cả chỉ cần tóm gọn trong một chữ YÊU. Biết yêu thì biết thương, biết thương thì biết xót, đó chính là biết sống lòng thương xót của Thiên Chúa.

Lạy Thầy Giêsu chí thánh, nhân từ và giàu lòng thương xót, xin đổi mới trái tim chúng con nên giống Chúa để càng ngày càng thêm nhiều “máu yêu” hơn, nhờ đó mà chúng con có thể vừa yêu mến Ngài vừa yêu thương tha nhân, đồng thời dám sống và hành động như Ngài trong mọi hoàn cảnh. Ngài là Đấng hằng sinh và hiển trị muôn đời. Amen.

 

 

28. TIỆC LY – BỮA TIỆC CỨU ĐỘ - Lm. Giuse Nguyễn Thành Long

Có lẽ trong đời mình, nhiều người trong chúng ta đã từng tổ chức các bữa tiệc khác nhau: tiệc cưới, tiệc giỗ, tiệc tân gia, tiệc sinh nhật, tiệc thôi nôi, tiệc đầy tháng, v.v… Còn đối với Chúa Giêsu, trong suốt cuộc đời dương thế của mình, Ngài chỉ “tổ chức” duy nhất một bữa tiệc, cũng là “tiệc chia tay” với các môn đệ dấu yêu trước khi Ngài đi vào cuộc thương khó, tử nạn. Bữa tiệc duy nhất này vẫn thường được gọi bằng cái tên rất dễ thương: Tiệc Ly. Tuy nhiên, đây không phải là bữa tiệc ly – tiệc chia tay thông thường, mà là bữa tiệc đặc biệt nhất, quan trọng nhất, và cũng gây nhiều cảm hứng nhất cho các nhà điêu khắc, hội họa trong lịch sử nhân loại. Vậy Tiệc Ly là bữa tiệc gì mà đặc biệt như thế?

1/ Tiệc Ly, trước hết, là bữa tiệc Vượt Qua. Chúa Giêsu đã khẳng định điều này: “Thầy những khát khao mong mỏi ăn lễ Vượt Qua này với anh em, trước khi chịu khổ hình” (Lc 26,15). Chúng ta biết Lễ Vượt Qua của người Do Thái bắt đầu vào tối Thứ Sáu. Nhưng Chúa Giêsu đã ăn tiệc Vượt Qua vào tối Thứ Năm, nghĩa là Ngài ăn lễ trước một ngày. Vì đêm Thứ Sáu và ngày Thứ Bảy, Chúa Giêsu đã chết và đang ở trong mộ đá. Và vì là tiệc Vượt Qua, nên Chúa Giêsu đã đích thân lên chương trình kỹ lưỡng: từ việc mượn phòng tiệc, sắp đặt các chỗ ngồi, chuẩn bị đồ ăn thức uống, rồi sai các môn đi chuẩn bị trước. Nhưng đây cũng là lễ Vượt Qua được “làm mới”. Mới ở chỗ: nếu trong lễ Vượt Qua thời Cựu Ước, máu chiên của cuộc vượt qua được bôi lên cửa nhà những người Do Thái, làm cho tai họa “bỏ qua” nhà họ và các con trai đầu lòng của họ thoát chết, thì trong bữa Tiệc Ly – lễ Vượt Qua mới, chính Chúa Giêsu đã trở thành Chiên Vượt Qua của Thiên Chúa. Máu của Ngài – máu của Chiên Thiên Chúa sẽ giải thoát nhân loại khỏi ách nô lệ tội lỗi và sự chết để được trường sinh trong Vương Quốc của Ngài.

2/ Tiệc Ly, thứ đến, còn là bữa Tiệc Thánh. Là bữa Tiệc Thánh vì tất cả những gì liên hệ đều thánh. Người chủ sự bữa tiệc hôm đó không phải là một người phàm, dù đó là người gia trưởng trong các gia đình Do Thái hoặc là Môisê hay Aaron đi nữa; chủ tiệc là Con Thiên Chúa, Đấng “ba lần thánh”. Cả đến đồ ăn thức uống của bữa tiệc đó, tức là bánh và rượu, cũng đã trở thành “của ăn của uống cực thánh” – Mình và Máu châu báu của Chúa. Điều đặc biệt hơn nữa: bữa Tiệc Thánh này sẽ được tiếp nối và kéo dài cho đến tận thế, và những người làm công việc tiếp nối này cũng được “thánh hiến” qua Bí tích Truyền Chức mà Ngài sẽ thiết lập ngay sau đó. Tất cả những gì “liên hệ” tới lễ Tiệc Ly này đều trở thành “thánh”: Thánh lễ, chén thánh, đĩa thánh, khăn thánh, Bánh Thánh, Máu Thánh…

3/ Sau nữa, Tiệc Ly còn là bữa tiệc yêu thương phục vụ. Thánh Gioan đã viết: “Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1). Ngài “yêu thương tất cả những kẻ thuộc về mình”, yêu thương cả Giuđa là kẻ nhẫn tâm phản bội Ngài; yêu thương cả Phêrô là kẻ vô tâm chối bỏ Ngài. Nhưng không phải là yêu thương một cách chung chung mà là yêu thương từng người, cũng không phải là yêu thương một cách hời hợt như ta thường thấy giữa thầy trò, mà là “yêu thương đến cùng”, yêu thương đến độ hiến mạng sống mình, biến thịt máu mình làm của ăn của uống nuôi sống linh hồn. Cử chỉ rửa chân là cử chỉ nói lên sự yêu thương phục vụ đúng nghĩa của nó: yêu thương thì không nề hà, yêu thương thì không tính toán, yêu thương thì không phân biệt đẳng cấp thứ bậc, chủ tớ…; yêu thương thì sẵn sàng quên mình đi để phục vụ.

Có khi nào chúng ta thấy trong một bữa tiệc mà Đức Giám Mục, hay Đức Giáo Hoàng đi lại phục vụ chén bát, phân phát đồ ăn thức uống, châm đá, hoặc bưng nước cho giáo dân rửa tay chưa? Có lẽ là chưa! Trong bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu đã làm công việc phục vụ đó, nhưng không chỉ “bưng nước”, mà Ngài còn đích thân cúi xuống rửa chân cho từng người một. Ngài là vị Thiên Chúa mà dân Israel không dám gọi bằng tên, càng không dám tới gần. Nhưng nay Ngài đến thật gần với con người, và không những thế Ngài còn cúi xuống thật thấp trong cung cách là một người tôi tớ, người rốt hết, chứ không phải là một người chủ.. Đây là một cử chỉ nói lên cung cách phục vụ khiêm nhường thẳm sâu nhất của Ngài. Và Ngài cũng mời gọi các môn đệ của Ngài hãy yêu thương phụ vụ như Ngài đã nêu gương: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương” (Ga 15,12); “Anh em cũng hãy rửa chân cho nhau”, nghĩa là “hãy phục vụ nhau như thế”!

Nếu người ta cám ơn thánh Luca vì ngài là vị thánh sử duy nhất đã ghi lại lời Chúa Giêsu dạy về dụ ngôn người cha nhân hậu (x. Lc 15,11-31), thì ta cũng phải biết ơn thánh Gioan vì ngài cũng là vị thánh sử duy nhất ghi lại biến cố vô cùng ý nghĩa xảy ra trước giờ phút Chúa chịu tử nạn, đó là biến cố Ngài rửa chân cho các môn đệ (x. Ga 13,1-20).

Vì những yếu tố trên, Tiệc Ly trở thành bữa tiệc vô tiền khoáng hậu, bữa tiệc cứu độ.

Trong mỗi Thánh Lễ, trước khi rước lễ, linh mục đều nâng bánh rượu và xướng rằng: “Đây Chiên Thiên Chúa Đây Đấng xóa tội trần gian. Phúc cho những ai được mời đến dự tiệc Chiên Thiên Chúa”. Là Kitô hữu, chúng ta thật diễm phúc vô cùng, vinh dự vô cùng vì hằng ngày chúng ta được Chúa mời tham dự bữa tiệc đặc biệt này. Hãy dâng lời tạ ơn Chúa luôn. Và một trong những cách thế tạ ơn tốt nhất, thiết nghĩ, đó chính là nỗ lực để “thực thi tình yêu và lòng thương xót” đối với anh chị em đồng loại như Chúa đã nêu gương.

Tất nhiên, Chúa sẽ không hỏi chúng ta đã rửa chân được cho bao nhiêu người, nhưng Chúa sẽ hỏi đôi bàn tay chúng ta đã giúp đỡ sẻ chia cho được những ai! Chúa sẽ không hỏi chúng ta đã hôn được bao nhiêu bàn chân, nhưng Chúa sẽ hỏi môi miệng chúng ta đã làm cho bao nhiêu người được an vui hạnh phúc. Chúa không muốn chúng ta trở thành những người thợ làm thuê (rửa chân – hôn chân thuê), những robot, người máy của thời hiện đại, nhưng muốn chúng ta thực sự trở thành những con trai con gái của một vị Thiên Chúa yêu thương, yêu thương đến cùng bằng nỗ lực thực hành giới luật yêu thương mà Chúa đã dạy (x. Tình Chúa – Tình Người, Lm. Giuse Dương Hữu Tình).

Cụ thể đó là ta đã cúi xuống để có thể lắng nghe và cảm thông với những đau khổ và nhọc nhằn của anh chị em đồng loại hay chưa? Ta đã cúi xuống để phục vụ cha mẹ già trong gia đình, gia tộc mình, bằng sự yêu thương kính trọng hay chưa? Ta đã cúi xuống để yêu thương và phục vụ chồng của mình, vợ của mình, con cái của mình bằng sự hy sinh trao hiến chưa? Ta đã quan tâm đến hàng xóm láng giềng, là những người sống bên cạnh chúng ta nhiều hơn chưa?

Dĩ nhiên để có thể yêu thương theo cung cách của Chúa yêu là không dễ chút nào. Cần phải có ơn Chúa trợ giúp. Bí tích Thánh Thể chính là nguồn trợ lực vô cùng cần thiết.

Vậy xin cho mỗi người chúng ta biết năng tham dự Thánh lễ và tiếp nhận Thánh Thể Chúa mỗi ngày, nhờ đó ta có thêm sức mạnh để thực thi giới luật yêu thương đối với anh em mình như Chúa dạy, và để nhờ đó mà ta có được sự sống đời đời mai sau. Amen.

 

 

29. YÊU ĐẾN CÙNG - Huệ Minh

Đâu đó, ta thấy người ta nói về tình yêu. Người ta vẫn nghiên cứu, phân tích tình yêu dưới nhiều góc độ, tốn rất nhiều giấy mực, để lý giải tình yêu… nhưng có lẽ rất ít người hiểu cho đúng tình yêu là gì.

Thi sĩ Xuân Diệu, một người được xem là nhà thơ của tình yêu, có những cảm nhận rất tinh tế về tình yêu và tâm lý con người, nhưng cũng thú nhận là không thể giải nghĩa được tình yêu. Ông viết như thế này:

“Làm sao giải nghĩa được tình yêu

Có nghĩa gì đâu, một buổi chiều

Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt…”

Và khi con người không lý giải được tình yêu thì có lẽ phải viện tới Trời. Vì thế, Hàn Mặc Tử, một nhà thơ công giáo trứ danh, khuyên chúng ta – trong bài “Ðà Lạt trăng mờ” – như sau:

“Ai hãy làm thinh chớ nói nhiều,

Ðể nghe dưới đáy, nước hồ reo

Ðể nghe tơ liễu run trong gió

Và để xem Trời giải nghĩa yêu.”

“Và để xem Trời giải nghĩa yêu!” Ðúng vậy, Thiên Chúa là Tình Yêu. Tình Yêu là phẩm chất của Thiên Chúa nên chỉ có Thiên Chúa mới biết thế nào là yêu và chỉ có Ngài mới có đủ thẩm quyền để “giải nghĩa yêu”.

Về tình yêu, Chúa Giêsu “giải nghĩa yêu” khi Ngài thỏ thẻ với ông Nicôđêmô biết: “Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một Người để tất cả những ai tin vào Con của Người thì không phải hư mất nhưng được sống đời đời” (Ga 3,16).

Chúa Giêsu cũng đã “giải nghĩa yêu” rất thẳng thắn và chân thành : “Không có tình yêu nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu mình.” (Ga 15, 13)

Thật vậy, ý nghĩa của tình yêu giờ đây đã được sáng tỏ: yêu thương là trao ban, là hy sinh, là cống hiến, là cho đi… Chính Thiên Chúa Cha yêu thương thế gian nên đã trao ban Người Con Một cho thế gian; Chúa Giêsu đã yêu thương thế gian nên Ngài đã hy sinh tính mạng cho thế gian.

Xem ra Chúa Giê-su không hề giải nghĩa yêu bằng những lời hoa mĩ. Ngài thể hiện lòng yêu thương qua cuộc sống. Tin Mừng hôm nay cho biết rằng: “Ngài vốn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng… Người đứng dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài ra, và lấy khăn thắt lưng. Rồi Ðức Giêsu đổ nước vào chậu, bắt đầu rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau.” (Ga 13, 1.4-5).

Chúa Giêsu đã yêu là “Yêu đến cùng”. Yêu theo cách của Chúa Giêsu là trao ban tất cả, tận hiến tất cả,đến cả mạng sống mình.

Đó là một tình yêu vô vị lợi, không chút tính toán , không mảy may vụ lợi, không ngần ngại quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ . Chúa Giêsu đã yêu thương con người đến cùng, nên đã cầm lấy bánh, tạ ơn, bẻ ra và trao cho các môn đệ : “Này là Mình Thầy” : Đó là tình yêu tự hiến, hy sinh chính mình để cho nhân loại được sống. Chúa Giêsu yêu thương đến cùng nên đã chấp nhận chịu chết đau thương trên thập giá : Đó là tình yêu cao cả, từ bỏ ý riêng hoàn toàn để thực hiện ý Chúa Cha. “Xin cất chén này xa Con, nhưng đừng vì ý Con, mà hoàn toàn tuân theo thánh ý Cha”. Như thế, yêu đến cùng là một tình yêu đích thực và đã làm nên những điều kỳ diệu.

          “Yêu đến cùng” là sống trọn vẹn, là “chơi xả láng”.

Đó chính là từ ngữ mà Thánh Gioan Tông Đồ diễn tả về cách sống của Chúa Giêsu đối với các môn đệ của Mình và cho cả chúng ta. Tình yêu ấy muốn trao ban tất cả những gì là tốt đẹp, là thiện hảo nhất cho người mình yêu mến.

Chúa Giêsu đã nêu gương trước cho chúng ta, Chúa Giêsu đã không giữ lại cho mình cái gì, dù là cả sinh mạng. Ngài hiến thân để trở thành của lễ toàn hảo dâng lên Chúa Cha hầu mong cứu chuộc con người khỏi thần chết và sự dữ. Tình yêu ấy kêu mời chúng ta hãy biết thể hiện tình yêu cách trọn vẹn, không tính toán đối với anh em mình.

  • “Yêu đến cùng” là quỳ gối xuống, trở thành kẻ tôi đòi, chấp nhận thân phận của một người phục vụ để cho mong cho anh em được lớn lên. “Không còn vẻ hình hài, dáng dấp oai phong” nhưng trở nên “Con chiên gánh tội trần gian”.

Học với chữ “yêu” của Chúa Giêsu. Yêu này đòi hỏi mỗi người chúng ta sống quảng đại, sẵn sàng chia sẻ, chịu thua lỗ, để anh em mình “được lời”. Sống chữ “yêu” của Chúa, chúng ta hãy tập cho mình thái độ “cúi mình, uốn cong lưng xuống” để phục vụ và sống vì, sống cho anh em.

  • “Yêu đến cùng” là chết để cho anh em mình sống. Chúa đã từng dạy và nêu gương cho tất cả chúng ta về một tình yêu tận hiến hoàn toàn. Ngài đã trở nên chiếc bánh cho mọi người ăn, trở nên máu cho mọi người uống. “Ngài hiến thân vì và cho tất cả chúng ta” bằng chính cái chết của mình. Và “Không có tình yêu nào cao quí cho bằng người dám hiến thân vì người mình yêu”.

Tình yêu của Chúa đã đi đến tuyệt đỉnh, để như hạt lúa bị chôn vùi, thối đi, để con người chúng ta có được mùa gặt bội thu.

Yêu đến cùng là quảng đại dấn thân và có khi phải thiệt thân vì Tin Mừng. Vì yêu nên chấp nhận sống cảnh âm thầm, vô danh như những tu sĩ sống đời chiêm niệm. Yêu đến cùng là sẵn sàng chấp nhận phần thiệt thòi để người khác được nhiều phần lợi hơn như các thánh tử đạo đã chấp nhận thiệt cả thân mình.

Yêu đến cùng đòi hỏi quảng đại hy sinh theo gương Chúa Giêsu : chủ nhân  trở thành tôi tớ bằng cách tự nguyện phục vụ, Thiên Chúa trở thành “kẻ tội đồ” để mang lại sự sống cho kẻ tin.

Yêu đến cùng không chỉ có tấm lòng nhưng là thể hiện tấm lòng bằng hành động cụ thể, nghĩa là không chỉ làm những việc từ thiện, mà làm việc bác ái với tấm lòng yêu thương chân thành và quảng đại.

Nhìn lên tình yêu Giêsu, ta hãy học và bắt chước thái độ “Yêu đến cùng” của Chúa, là chúng ta biết khiêm tốn phục vụ trong những điều nhỏ bé nhất một cách vô vị lợi.

 

 

30. Ở LẠI TRONG TÌNH THƯƠNG CỦA THẦY - Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

Có lần Chúa Giêsu nói: “Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy.  Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy” (Ga 15, 9-10). Khi mời gọi chúng ta hãy ở lại trong tình thương của Người, Chúa Giêsu, qua cuộc sống trần thế, đã chứng tỏ lòng yêu thương chúng ta bằng chính tình yêu mà Chúa Cha đã dành cho Người.

Tình yêu mạnh mẽ ấy đã khiến Chúa vui hiến thân làm giá cứu chuộc loài người. Tình yêu ấy thúc đẩy Chúa để lại cho trần thế Kho Báu muôn đời cần thiết cho loài người: bí tích Thánh Thể.

Khai mạc Tam nhật Thánh, chúng ta cử hành và tưởng niệm việc Chúa hiến mình đến muôn đời để ở lại với chúng ta nơi bí tích Thánh Thể, là chúng ta cử hành và nhắc nhở nhau về một tình yêu vô song. Đó là một tình yêu dữ dội, một tình yêu trào tràn, một tình yêu ngút ngàn. Đó là một tình yêu muôn đời không thể tìm thấy bất cứ nơi đâu, ngoài Thiên Chúa.

Bản chất của tình thương yêu nơi cung lòng Thiên Chúa là thế: một khi đã thông truyền, nó sẽ thông truyền trọn vẹn, không kém bớt, không tiêu hao, không sứt mẻ, không giảm suy. Nó là một công thức luôn luôn: “thế nào… thế ấy”. Được yêu thế nào, sẽ yêu thế ấy.

Tình yêu thương của Chúa Cha truyền sang Chúa Con là tình yêu của Đấng Toàn Năng thể hiện mình. Người là Thiên Chúa cuồn cuộn trong sự thủy chung, giàu có trong sự trao ban, trào tràn trong sự hiến dâng, bền bỉ trong sự giải cứu, sẵn sàng trong sự đón nhận, lớn lao trong sự tha thứ, cao cả trong sự chở che, mạnh mẽ trong sự phục hồi…

Đến lượt Chúa Con, sau khi nhận lãnh tình yêu của Chúa Cha, lại tiếp tục truyền sang chúng ta. Người yêu chúng ta bằng một tình yêu tròn đầy từ muôn đời cho đến muôn đời, luân chảy từ Chúa Cha đến chúng ta; một tình yêu không bao giờ có thể sánh ví, một tình yêu núi không thể đo, biển không thể dò.

Bởi vậy, Chúa Giêsu khẳng định về tình yêu của Người: “Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy” (Gioan 15,9).

Bởi tình yêu của Thiên Chúa là môi sinh che chở chúng ta đẹp đến vậy, cho nên tình yêu ấy trở thành nguồn hạnh phúc vô cùng cho những ai biết ở lại trong nó.

Chúa Giêsu biết chúng ta cần tình yêu ấy, Chúa Giêsu biết chúng ta trông ngóng tình yêu ấy, Chúa Giêsu biết chúng ta không thể thiếu tình yêu ấy, vì thế, ngay sau lời dạy “hãy ở trong tình yêu của Thầy”, Chúa dạy ta cách thức để giữ mãi tình yêu ấy: “Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy, anh em sẽ ở lại trong tình thương của Thầy, như Thầy đã giữ các điều răn của Cha Thầy và ở lại trong tình thương của Người”(Ga 15, 11).

Lắng nghe Chúa Giêsu dạy, Ta phấn đấu mỗi ngày một nhiều hơn để sống giới răn của Chúa, sống hoàn hảo nhất Lời Chúa dạy. Bởi chỉ có phương thế ấy, ta mới có thể trọn vẹn chiếm lấy tình thương yêu của Thiên Chúa.

Ta hãy đến lãnh nhận Mình và Máu Thánh của Chúa. Khi thông hiệp với Chúa rồi, ta giữ lấy tình yêu của Chúa mà sống trong đời, để mọi nơi, mọi lúc, ta chứng tỏ cho đời, nơi cuộc sống của mình là chính tình yêu vô cùng của Thiên Chúa từ bi đại lượng.

Hãy nỗ lực bằng khả năng trao ban tình thương mà bản thân đã được Chúa dành cho mình, để ta luôn có Chúa Giêsu nơi tâm hồn mình. Và vì có Chúa Giêsu, ta cũng sẽ trọn vẹn sống trong Thiên Chúa.

Hãy hoàn hảo hóa giới răn của Chúa nơi đời sống bản thân mình, để ta nên một trong Chúa Cha và Chúa Con nhờ tình yêu chan chứa của Chúa Cha và Chúa con.

Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng con sống giới răn Chúa, để chúng con luôn biết giữ mãi tình yêu của Chúa nơi tâm hồn và nơi cuộc đời chúng con. MỘt khi giữ trọn tình yêu Chúa, chúng con hy vọng, mãi muôn đời chúng con sẽ ở lại trong tình yêu của Chúa, như Chúa ở lại trong tình yêu của Chúa Cha. Amen.

 

 

31. THỨ NĂM TUẦN THÁNH - Lm. Antôn

Ông bà anh chị em thân mến. Chiều hôm nay, cùng với mọi người trong Giáo hội, chúng ta bước vào Tam Nhật Thánh, cử hành mầu nhiệm Vượt Qua của Chúa Giê-su, Đấng cứu độ trần gian. Trong ba ngày thánh này, chúng ta nghe những lời Chúa trăn trối, và suy niệm những hành động cuối cùng trong cuộc đời của Chúa Giê-su, biểu lộ tình yêu thương cao cả của Chúa với chúng ta, dạy chúng ta làm gì và sống như thế nào.

Chiều hôm kỷ niệm ngày lễ Vượt Qua và khi mặt trời vừa lặn, Chúa Giêsu cùng với các môn đệ cử hành bữa tiệc theo đúng truyền thống. Và trong bữa tiệc, Chúa Giêsu đã bộc lộ niềm xúc động vì đây là lần cuối cùng Chúa mừng lễ Vượt Qua chung với các môn đệ.   Người biết rằng sau bữa ăn này, Người sẽ phải vâng thánh ý Chúa Cha hoàn thành sứ mệnh đã được giao phó. Và cũng trong bữa ăn này, Chúa đã để lại một lời trăn trối chất chứa tình yêu thương, phát xuất từ trái tim: “Các con  hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con.”  Sau đó, Chúa Giêsu đã làm một cử chỉ đột ngột, Ngài chỗi dậy khỏi bàn, lấy khăn thắt lưng, đổ nước vào chậu, rồi rửa chân cho các môn đệ. Sau khi rửa chân cho các môn đệ, Chúa ngồi vào bàn tiếp tục dạy dỗ các môn đệ về yêu thương phục vụ, và nói rõ cho các môn đệ biết mục đích việc Chúa rửa chân cho họ, “Các con gọi Ta là Thầy và là Chúa thì phải lắm, vì đúng thật Thầy như vậy.  Vậy nếu Ta là Chúa và là Thầy mà còn rửa chân cho các con, thì các con cũng phải rửa chân cho nhau.”  Trong giây phút nữa đây, chúng ta sẽ cử hành việc rửa chân này.

Có người nói rằng: “Con thành thật thưa với cha, con đã từ chối không nhận lời mời được rửa chân nhiều lần rồi.”  Tôi biết quí ông rất ngại nhận lời vì nhìn thấy cha xứ quì gối trước mặt, rửa và lau chân cho mình. Đối với tôi, thật sự, đây không phải là việc quá khiêm nhường, nhưng là một việc rất đặc biệt và quí trọng.  Nhưng việc này đối với Chúa ngày xưa thì khác, vì đây là một việc dơ bẩn.  Như chúng ta biết, ngày xưa dân chúng không mang giày và vớ như ngày nay, họ mang một thứ như dép suốt ngày, trong nhà cũng như đi ngoài đường nhiều phân của thú vật, như ở Việt Nam chúng ta ngày xưa. Chúng ta có thể hình dung, tưởng tượng dép của họ dơ dáy và hôi hám như thế nào. Cho nên khi vào nhà nào thì có người đầy tớ rửa và lau chân sạch sẽ trước khi ngồi dự tiệc ăn. Giả sử nếu tôi thật sự muốn khiêm nhường, thì tôi sẽ âm thầm đến nơi ở của những người vô gia cư và rửa chân cho họ, không có sự hiện diện của báo chí phỏng vấn, loan tin đi, và không có những người quay phim trực tiếp truyền hình ra ngoài cho mọi người biết.

Có một người được mời rửa chân nói rằng: “Con không biết phải nghĩ như thế nào?”  Ông bà anh chị em thân mến.  Thật sự, trong cuộc đời của Chúa Giê-su, Ngài làm nhiều việc giảng dạy, làm nhiều phép lạ, làm nhiều sự chữa lành, và giúp đỡ nhiều người, nhưng trong đêm cuối cùng trước khi chịu chết, Chúa muốn nói và làm những việc ngoại lệ để in sâu vào tâm và trí các môn đệ, và biểu lộ cho họ biết Ngài là ai.  Vì vậy, Chúa nói với các ông hãy suy nghĩ những việc Ngài vừa làm.  Chúng ta hãy nghe lời Chúa nói với các tông đồ: “Các con có hiểu biết việc Thầy vừa làm cho các con chăng?..Thầy đã làm gương cho các con để các con cũng bắt chước mà làm như Thầy đã làm cho các con.”  Chúng ta nghe Chúa nói trước đó rằng: “Ai trong các con muốn làm lớn, thì hãy tự làm đầy tớ anh em. Và ai muốn thành người cầm đầu trong các con, thì hãy tự làm nô lệ cho mọi người. Vì chính Con Người cũng không đến để được phục vụ, nhưng để phục vụ và ban mạng sống mình làm giá cứu chuộc cho nhiều người.”  (Mc. 10.44)  Và Chúa còn ban cho chúng ta một tấm gương qua giới răn yêu thương, Ngài nói: “Các con hãy yêu mến nhau, như Thầy đã yêu mến các con.” (Ga. 15.12)

Ông bà anh chị em thân mến.  Con người nhân loại chúng ta khi chết thì thường để lại cho con cháu tiền bạc và vật chất. Trước khi chết, Chúa Giêsu không để lại cho nhân loại kho tàng châu báu ngọc ngà, hay danh vọng vật chất, nhưng Người đã để lại cho nhân loại những món quà cao quí tinh thần, đó là Bí Tích Thánh Thể, Chức linh mục và lời trăn trối: tình yêu hy sinh phục vụ, để chúng ta sống trong ân sủng của Người, được ơn cứu độ, và sống lại với Người. Đây là một gia tài vĩ đại vô giá, không thể dùng tiền của để mua được. Ngoài ra, chúng ta cũng nhận biết những lời trăn trối hay những việc làm của một người, nhất là của cha mẹ hay ông bà trước khi qua đời, rất quan trọng và rất trân quí. Chúng ta, là con cái, cháu chắt, cố gắng hết sức giữ và sống những lời, cũng như thực hành những việc của người đã khuất trối lại. Nếu chúng ta tin và yêu Chúa, thì chúng ta phải biết lắng nghe và thực hành lời Chúa truyền dạy, và biết trân quí những món quà Chúa đã để lại cho chúng ta.

Chiều hôm nay, chúng ta cử hành lại viêc Chúa Giêsu đã làm và truyền dạy chúng ta, là những người tin và yêu Người. Chúng ta kính nhớ và tôn thờ tình yêu thương bao la của Chúa, và cầu xin, qua việc cử hành và tôn thờ mầu nhiệm Thánh Thể, chúng ta được nối kết một cách mật thiết với Chúa, và giúp chúng ta sống đức tin, sống tình đoàn kết thương yêu hy sinh phục vụ, bác ái và quảng đại để làm sáng danh Chúa và xây dựng giáo xứ.   

 


Sinh hoạt khác

Tin Giáo Hội

Mục Tổng Hợp

» Xem tất cả Video

Liên kết website

Bài viết được quan tâm