Danh mục bài viết

Cập nhật 15/4/2019 - 8:18 - Lượt xem 1891

Các bài Suy niệm Thứ Năm Tuần Thánh

Lời Chúa: Xh 12, 1-8. 11-14; 1 Cr 11, 23-26; Ga 13, 1-15

 

1. Phải rửa chân cho nhau - Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ.

Người biết mình sắp qua đời thường để lại di chúc cho con cái. 
Di chúc nói lên ước nguyện, lời nhắn nhủ hay lệnh truyền của người sắp ra đi. 
Có thể nói Thầy Giêsu khi biết cuộc Khổ Nạn gần đến 
cũng đã để lại một di chúc kép cho các môn đệ dấu yêu: 
Ngài đã rửa chân cho các môn đệ và nhất là Ngài đã lập bí tích Thánh Thể. 
Thứ Năm Tuần Thánh là ngày chúng ta đặc biệt nhớ đến di chúc ấy. 
Sống di chúc của Chúa Giêsu là cách biểu lộ tình yêu đối với Ngài. 
Có nhiều điểm giống nhau nơi việc Rửa chân và lập Bí tích Thánh Thể. 
Cả hai đều là những cử chỉ Thầy Giêsu làm lúc cận kề cái chết. 
Cả hai đều được làm trong bầu khí một bữa ăn tối gần lễ Vượt Qua. 
Vào lúc cuối đời, sau bao năm tận tụy với sứ mạng phục vụ, 
Thầy Giêsu muốn gói ghém trong hai cử chỉ đơn giản ấy lễ hiến dâng đời mình. 
Cả hai đều tượng trưng cho cái chết tự hạ trên thập giá. 
Rửa chân đòi Thầy phải cúi xuống rất sâu, phải trở thành tôi tớ phục vụ. 
Rửa chân là điều mà tôi tớ không hẳn phải làm cho chủ, 
thì bây giờ Thầy làm cho trò. 
Cái chết trên thập giá là sự phục vụ cao nhất được diễn tả qua việc rửa chân. 
Bí tích Thánh Thể còn diễn tả cách tuyệt vời hơn cái chết hy sinh ấy. 
Trong bí tích này, tấm bánh trở nên Mình Thầy bị bẻ ra và trao đi. 
Rượu trở nên Máu Thầy, Máu sẽ bị đổ ra cho muôn người trên thế giới. 
Trong cả hai biến cố Rửa chân và bí tích Thánh Thể, 
Thầy Giêsu đều mời các môn đệ tham dự cách tích cực. 
Tham dự vào cái chết của Thầy bằng cách để cho Thầy rửa chân, 
hay tham dự bằng cách ăn uống Mình và Máu Ngài. 
Hai biến cố trên không phải là chuyện chỉ xảy ra một lần bởi Thầy Giêsu. 
Thầy mời các môn đệ cũng làm như Thầy, và lặp đi lặp lại những cử chỉ đó. 
“Anh em cũng phải rửa chân cho nhau” (Ga 13, 14). 
“Anh em hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy (Lc 22, 19). 
Cúi xuống phục vụ tha nhân và lãnh nhận Bí Tích Thánh Thể 
sẽ giúp chúng ta tham dự vào cái chết và sự Phục sinh của Chúa Giêsu. 
Muốn ở lại trong tình thương của Thầy Giêsu, 
cần giữ lệnh Thầy truyền (Ga 15, 10). 
Mà “đây là lệnh truyền của Thầy, anh em hãy yêu thương nhau 
như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15, 12). 
Hơn nữa, Thầy Giêsu còn cho ta một cách khác để ở lại trong Thầy : 
“Ai ăn Thịt và uống Máu tôi, thì ở lại trong tôi, 
và tôi ở lại trong người ấy” (Ga 6, 56). 
Thứ Năm Tuần Thánh là ngày lễ của Tình Yêu theo đúng nghĩa nhất. 
Yêu là cúi xuống phục vụ, yêu là bẻ đời mình cho tha nhân như Thầy Giêsu. 
Ước gì chúng ta được ở lại trong tình yêu của Giêsu nhờ biết yêu. 

Lạy Thầy Giêsu, 
khi Thầy rửa chân cho các môn đệ 
chúng con hiểu rằng Thầy đã làm một cuộc cách mạng lớn. 
Thầy dạy chúng con một bài học rất ấn tượng 
khi Thầy bưng chậu nước, bất ngờ đến với các môn đệ trong bữa ăn, 
khi Thầy cúi xuống, dùng bàn tay của mình để rửa chân rồi lau chân cho họ. 
Chắc Thầy đã nhìn thật sâu vào mắt của từng môn đệ và gọi tên từng người. 
Giây phút được rửa chân là giây phút ngỡ ngàng và linh thánh. 
Lạy Thầy Giêsu, 
thế giới chúng con đang sống rất thấm bài học của Thầy. 
Chúng con vẫn xâu xé nhau chỉ vì chức tước và những đặc quyền, đặc lợi. 
Ai cũng sợ phải xóa mình, quên mình. 
Ai cũng muốn vun vén cho cái tôi bất chấp lương tri và lẽ phải. 
Khi nhìn Thầy rửa chân, chúng con hiểu mình phải thay đổi cách cư xử. 
Không phải là ban bố như một ân nhân, nhưng khiêm hạ như một tôi tớ. 
Từ khi Thầy cúi xuống rửa chân cho anh Giuđa, kẻ sắp nộp Thầy, 
chúng con thấy chẳng ai là không xứng đáng cho chúng con phục vụ. 
Lạy Thầy Giêsu, 
Thầy để lại cho chúng con một di chúc bằng hành động. 
Thầy đã nêu gương cho chúng con noi theo, 
để rửa chân chẳng còn là chuyện nhục nhã, nhưng là mối phúc. 
Xin cho chúng con thấy Thầy vẫn cúi xuống trên đời từng người chúng con, 
để nhờ đó chúng con có thể cúi xuống trên đời những ai khổ đau bất hạnh. Amen. 

 

2. Đỉnh cao của mầu nhiệm cứu độ là tình yêu  - Tu sĩ: Jos. Vinc. Ngọc Biển, S.S.P.

Trong cuộc sống, nơi các gia đình, nhất là văn phong của Việt Nam, chúng ta rất coi trọng bữa ăn. Nơi bữa ăn, niềm vui, nỗi buồn, thành công hay thất bại, thường hay được chia sẻ. Có những bữa ăn để chia tay; có những bữa ăn để lên đường. Chia tay hoặc lên đường thường hay để lại nhiều kỷ niệm nơi người đi và kẻ ở!

Hôm nay, Đức Giêsu quy tụ các Tông đồ là những người thân tín với Ngài trong suốt chặng đường rong ruổi loan báo Tin Mừng. Ngài quy tụ họ, để trao lại cho họ một tặng phẩm thần linh là Bí tích Thánh Thể và truyền cho các ông hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Ngài. Qua đó, như một sự hiện hữu sau khi chết, để khi còn sống, Đức Giêsu ở cùng với các ông thế nào, thì ít ngày nữa thôi, Ngài cũng hiện diện và ở lại với các ông cách vô hình nhưng trọn vẹn nơi Bí tích cao trọng là chính Thánh Thể Ngài. Mặt khác, qua bữa tiệc này, phần cuối cùng của bữa tiệc, Đức Giêsu hành động và trăng trối những lời tâm huyết để xây dựng cộng đoàn Giáo Hội đó là: “Luật yêu thương”.

1/ Một tặng phẩm cao quý được trao tặng

Nếu trong cuộc sống, hai người yêu nhau, họ thường có những lời lẽ chân tình, ấm áp để thể hiện tình yêu của mình cho người mình yêu. Khi đi xa, người ta hay trao tặng cho nhau những kỷ vật trân quý, để dù xa mặt chứ lòng thì không. Qua món quà đó, với người đón nhận thì tặng vật đó không chỉ đơn thuần là một kỷ niệm, nhưng nó còn là sự hiện hữu của chính người tặng quà.

Cũng vậy, khi Đức Giêsu biết “giờ” của mình sắp trở về với Thiên Chúa Cha, nên Ngài đã yêu thương họ đến cùng khi trao ban chính thân mình làm của nuôi sống môn sinh.

Chiều hôm nay, chúng ta kỷ niệm việc Đức Giêsu lập Bí tích Thánh Thể. Đây là Bí tích cao trọng nhất trong 7 Bí tích. Cao trọng bởi vì qua Bí tích này, Đức Giêsu hiến dâng thân mình làm của ăn của uống để nuôi sống nhân loại và ở cùng chúng ta mọi ngày cho đến tận thế. Ngài yêu thương và yêu hết mình. Yêu đến nỗi bằng lòng chịu chết để miễn sao người mình yêu được hạnh phúc.

Thật vậy, Ngài đã trao ban chính Thân Mình làm bảo vật, để mỗi khi các Tông đồ cũng như những người tin, cử hành và tưởng nhớ, thì Ngài hiện diện cách trực tiếp nơi mầu nhiệm cử hành. Khi đó, Đức Giêsu trở nên đồng hình đồng dạng với người đón nhận, để từ đây, trong ta có Chúa và trong Chúa có ta. Ôi, còn gì cao quý và hạnh phúc cho bằng ta được thông phần vào bản tính Thiên Chúa với Đấng là Thiên Chúa nhưng lại chia sẻ thân phận con người với chúng ta!

Lời cầu nguyện của Đức Giêsu với Chúa Cha làm toát lên đặc tính kỳ diệu này:“ ... như, lạy Cha, Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta. Như vậy, thế gian sẽ tin rằng Cha đã sai con” (Ga 17,21). Giáo Hội tiếp diễn ý nghĩa hiệp thông với mọi thành phần khi đã liên kết với Đức Giêsu, qua Kinh Tiền Tụng Thánh Thể: “Chúng con nài xin Chúa cho chúng con khi thông phần Mình và Máu Đức Kitô, được quy tụ nên một nhờ Chúa Thánh Thần”. 

Qua Bí tích này, mỗi người được hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa thông qua bản thể Đức Giêsu trong Bí tích Thánh Thể, đồng thời cũng được liên kết chặt chẽ với nhau trong cùng một thân thể.

2/ Một dấu tích sống động được tiếp diễn

Sau khi Chúa Giêsu thiết lập Bí tích Thánh Thể, ngài đã thiết lập Bí tích Truyền Chức liền sau đó như một sự liên hệ, liền mạch và mật thiết với nhau. Đúng thế, không thể có Thánh Thể nếu không có người cử hành Thánh Thể. Vì thế, Đức Giêsu đã trao ban thừa tác vụ đặc biệt cho các Tông đồ, để sau này, các ông sẽ đảm trách những việc làm như Đức Giêsu vừa làm cho đến ngày tận thế.

Thoạt mới nghe, chúng ta dễ tưởng lầm là Bí tích này chỉ có liên hệ hay dành riêng cho các linh mục? Nhưng không! Bí tích này liên hệ chặt chẽ với cộng đoàn, bởi vì Bí tích này thuộc về nhóm Bí tích xây dựng cộng đoàn.

Thật thế, chức vụ linh mục không phải cho bản thân mình, vì các ngài không thể tha tội cho mình, các ngài cũng không thể ban phát các Bí tích cho mình. Vì thế, linh mục là của mọi người, cho mọi người và vì mọi người.

Nếu Đức Giêsu trước kia đã đến để cho con chiên được sống dồi dào, thì ngày nay các linh mục cũng được trao ban trách vụ như thế. Ôi huyền nhiệm và cao quý vô lường! Qua Bí tích Truyền Chức, Đức Giêsu hiện diện cách trực tiếp khi các linh mục cử hành phụng vụ trong vai trò đại diện cho Đức Giêsu là Đầu của thân thể. Và, như thế, mỗi người chúng ta luôn được các ngài chăm sóc, nên không bị rơi vào tình cảnh bơ vơ, mồ côi vì không người chăn dắt. Các ngài sẽ thay mặt Chúa, thi hành việc của Chúa trong vai trò lãnh đạo, phục vụ và thánh hóa vì tình yêu.

3/ Một lời trăng trối tâm huyết muôn đời nhớ mãi

Cũng chiều hôm nay, mỗi chúng ta quây quần nơi đây, để nghe đọc lại di ngôn và lệnh truyền của Đức Giêsu về tình yêu. Lệnh truyền này mang tính cấp bách và quan trọng. Vì thế, đòi hỏi người môn đệ một sự bất khả từ, bởi lẽ, đây là điểm sáng, là cốt lõi, là bản chất thiết yếu của người mang danh Đức Kitô trong mình.

Thật vậy, Đức Giêsu không chỉ trao ban chính Thân Mình để nuôi sống nhân loại, mà Ngài còn dạy cho các Tông đồ bài học về tình yêu, để đưa các ông vào qũy đạo của chính Ngài là “yêu và yêu đến cùng”.

Ngài nói: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13, 34). Yêu như Thầy là yêu như thế nào? Thưa yêu như Thầy chính là trở thành người tôi tớ phục vụ, là chấp nhận chết cho người khác được sống. Không những dạy các ông bằng lời, mà Ngài còn làm gương cho các ông noi theo. Vì thế, ngay lập tức, Ngài đứng lên, cởi áo choàng, thắt lưng, lấy nước rửa chân cho từng Tông đồ trước sự ngỡ ngàng của các ông. Ngỡ ngàng là phải, vì hành vi rửa chân là việc làm của người nô lệ dành cho ông chủ. Nhưng hôm nay, Đức Giêsu đã làm đảo lộn vai trò và vị trí khi tự làm những việc dành cho người hầu hạ, và các Tông đồ trở nên những ông chủ.

Sau khi đã rửa chân cho các ông, Đức Giêsu nói tiếp: “Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em” (Ga 13, 14-15). Qua hành động rửa chân cho các Tông đồ, Đức Giêsu để lại cho các ông bài học về đức khiêm nhường và phục vụ. Tuy nhiên, để thực hiện được hai nhân đức này thì cần phải có tình yêu làm động lực.

Tình yêu thương được hiện lên như một ngọn hải đăng giữa biển khơi tăm tối, giúp cho mọi người nhận ra đường để đi và đi đến nơi an toàn. Vì thế Đức Giêsu đã dạy cho các ông biết trước viễn cảnh trong tương lai khi nói: “... mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy: là anh em có lòng yêu thương nhau" (Ga 13, 35).

4/ Sống linh đạo Thánh Thể và thực hiện lời trăn trối của Đức Giêsu

Thánh Phaolô nói: “Thật vậy, cho tới ngày Chúa đến, mỗi lần ăn Bánh và uống Chén này, là anh em loan truyền Chúa đã chịu chết”  (1 Cr 11, 26).

Là người kitô hữu, chúng ta tin Chúa, yêu Chúa và đều mong muốn được ơn cứu độ, thì không có lẽ gì chúng ta không sống linh đạo Bí tích này.

Nếu muôn ngàn hạt lúa kết thành tấm bánh, bao trái nho ép thành chén rượu, tượng trưng cho sự hiệp nhất của con cái Chúa, thì mỗi người chúng ta cũng phải hiệp nhất với nhau như vậy.

Muốn được như thế, tinh thần sống mầu nhiệm tự hủy của hạt lúa, trái nho luôn mời gọi và thôi thúc chúng ta thi hành.

Trong đời sống gia đình, người chồng phải là người chồng mẫu mực, sẵn sàng hy sinh gánh vác vì tình yêu với vợ và các con. Người vợ hãy hết lòng lo cho con cái, chăm lo cho chồng và con tử tế. Con cái biết ngoan ngoãn nghe lời cha mẹ... Làm được như thế, ấy là chúng ta đang thực hiện di ngôn của Đức Giêsu trong tinh thần hy sinh và phục vụ.

Nếu không yêu thương nhau, thì chẳng khác chi hạt lúa mì trơ trọi một mình, không sinh hoa trái. Nhưng yêu thương những người lân cận với mình thôi thì chưa đủ, mà phải yêu thương hết mọi người như Đức Giêsu đã yêu. Ngài đã không loại trừ Giuđa là kẻ rồi đây sẽ bán mình; không bỏ lại Phêrô là người sẽ thề sống thề chết không biết mình; không lên án và trách móc những người hại mình, mà: “Lạy Chúa, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23, 34)

Mong sao sứ điệp Lời Chúa hôm nay luôn ở bên tai, qua hành động và trong trái tim của chúng ta, để chúng ta yêu và yêu không giới hạn như Đức Giêsu. 

Lạy Chúa Giêsu, chúng con xin tạ ơn Chúa đã để lại cho chúng con Bí tích kỳ diệu là chính Thánh Thể Chúa làm của ăn của uống cho mỗi chúng con. Xin cho chúng con biết yêu mến, tin tưởng và mau mắn loan truyền cho tới khi Chúa đến trong vinh quang. Xin cũng cho mọi suy nghĩ và hành động của chúng con được tình yêu làm căn cốt và thúc đẩy, để như Chúa, chúng con yêu rồi mới làm. Amen.

 

3. Hãy rửa chân cho nhau

Chiều tiệc ly được thánh Gioan ghi lại tỉ mỉ và gợi hình. Chúa Giêsu làm bảy cử điệu rõ ràng: đứng dậy, cởi áo, lấy khăn, thắt lưng, đổ nước, rửa chân và lau lọt. Khi cởi áo choàng ngoài Chúa Giêsu đã làm cử chỉ của một người nô lệ hay ít ra của một người thợ bắt tay vào việc. Thời đó, phận sự của nô lệ, đặc biệt các nô lệ không phải là người Do thái có nhiệm vụ rửa chân cho khách tới nhà (1Sm 25,41).

Đây là một việc làm hoàn toàn tự nguyện của Chúa. Ngay cử chỉ Chúa cởi áo và tự lấy mặc lại (c.12) làm chúng ta liên tưởng đến những lời Chúa đã nói (Gio 10,17-18) để nói đến cái chết hoàn toàn tự nguyện và sự sống lại uy quyền của riêng Ngài. Khi Chúa Giêsu vừa làm xong công việc của một nô lệ, thì Chúa muốn nhấn mạnh đến sự bất tương xứng tự nhiên giữa công việc ấy đối với một vì Thiên Chúa (c.14), là họ thực sự là những môn đệ phục vụ hoàn toàn cho nước Trời, phục vụ cho đến chết, như lời Chúa nói “Tôi tớ không lớn hơn chủ, kẻ được sai không lớn hơn kẻ sai mình” (Mt 10,14 Lc 6,40. Gio 15,20). Đấy chúng ta thấy một vì Thiên Chúa thực hiện câu “Ta đến để phục vụ...” (Mt 20,28). Rất có thể có một ông vua trần thế làm công việc khiêm tốn ấy cho bầy tôi trước khi từ giã rút lui khỏi ngai vàng của mình.

Nhưng khó và rất khó mà tin được có một nhà vua làm như thế khi sắp trở lại kinh đô chiến thắng huy hoàng của mình. Còn Chúa đã làm gương trước khi về trời với Thiên Chúa Cha, Ngài đã cúi gồng mình rửa chân cho từng môn đệ kể cả Giuda Iscario. Có vậy chúng ta mới hiểu được câu “Vốn dĩ là một Thiên Chúa song chẳng coi mình bằng Thiên Chúa. Người tự ha ïvâng lời cho đến chết và chết trên thập giá” (Ph 2,6).

Chúng ta hiểu thế nào về một vì Thiên Chúa chỉ vì tình yêu nhân loại đã bỏ vinh quang trời cao đến giữa loài người, thân phận khổ lụy bèo mây. Ngài đã bằng lòng nhận những đau khổ lầm than nơi thân xác mình để làm gánh nhẹ nhàng cho mọi người. Ngài đã lấy tinh thần là phần bất tử một hủy diệt sự chết đã giết chết loài người.

Ngài bị  điều đi như con chiên và bị giết như con cừu. Ngài đã cứu chúng ta ra khỏi tà đạo như cứu khỏi Ai cập, khỏi tay Pharaon. Ngài đã làm cho thần chết phải bẽ bàng và khiến cho ma quỉ phải tru trếu khóc lóc, như Maisen làm cho Pharaon. Chính Chúa đã đón muôn khổ lụy trong muôn người. Ngài là Đấng bị giết trong con người Abel, bị trói chân tay trong con người Isaac,bị lưu lạc trong con người của Gicop, bị bắn trong con người của Giuse, bị bỏ trôi sông như Maisen, bị bách hại nơi con người David và bị nhục nhã trong các vì tiên tri. Chính Chúa là Đấng nhập thể trong cung lòng trinh nữ Maria, bị treo trên cây gỗ, bị chôn vùi dưới đất, chính Ngài từ trong nấm mồ kẻ chết sống lại và lên trời cao thẳm.

Vâng, đấy là giá trị của phục vụ. Phục vụ trong tình yêu vô vị lợi, không điều kiện, không ơn huệ. Chúa Giêsu là Chúa, là thầy nhưng cũng là tôi tớ. Đã yêu những kẻ thuộc về mình cho đến cùng, đến thí mạng sống, Ngài thanh tẩy vết nhơ của họ. Ngài phục vụ tất cả, kể cả Phêrô và Giuda. Nhờ ánh sáng gương lành của Chúa, Giáo hội khám phá ra ơn kêu gọi của mình là phục vụ anh em không trừ ai trong tình yêu với tư cách là một tôi tớ khiêm cung.

 

4. Bí tích Thánh Thể

Tại một ngôi làng nhỏ bên Tây Đức, trước năm 1940 là nơi gặp gỡ của các danh họa Aâu Châu, nhưng kể từ thế chiến thứ hai, nó trở thành nhà tù giam giữ những phạm nhân của Đức Quốc xã, có mặt một Phó tế được phong chức linh mục tại đây. Sau khi chết, ngài để lại chúc thư "Tình yêu và đền bù". Thế rồi 15 năm sau, nhà tù đó biến thành Dòng kín Carmel, các nữ tu đến đó để sống cho lý tưởng tình yêu và đền bù.

Tình yêu chính là ý nghĩa của Bí tích Thánh Thể. Trong bữa tiệc ly, Chúa Giêsu đã quì gối rửa chân cho các Tông đồ và cũng trong Bữa Tiệc ly Ngài đã thiết lập Bích tích Thánh Thể cũng như loan báo về cái chết của Ngài. Phêrô đại diện các Tông đồ đã có lý khi khước từ Chúa Giêsu rửa chân cho ông vì đây là công việc của tôi tớ trong nhà. Theo tục lệ người Do Thái, trước khi vào bàn ăn tôi tớ trong nhà phải đi rửa chân cho khách. Chúa Giêsu đã muốn thực hiện cử chỉ ấy để thực thi chính điều Ngài đã nói : Con người không đến để được hầu hạ, nhưng để hầu hạ và hiến mạng sống làm giá chuộc nhiều người.

Cử chỉ yêu thương mà Chúa Giêsu đã làm cho các Tông đồ là một quyết tâm sống trọn ý nghĩa yêu thương của Ngài, cũng như người tôi tớ không sống cho mình mà cho người khác. Nhưng Ngài chưa lấy làm đủ, Ngài còn biểu lộ tình yêu qua hình ảnh một miếng bánh trao ban để ở mãi với con người. Bị bẻ ra và tiêu tan, Chúa Giêsu đã sống đến cùng những đòi hỏi của yêu thương. Thánh Gioan đã tóm gọn cuộc sống Chúa Giêsu qua câu : "Ngài đã yêu các kẻ thuộc về Ngài và đã yêu đến cùng", nghĩa là sẵn sàng sống chết cho người mình yêu. Tình yêu đến cùng ấy, Chúa Giêsu đã thể hiện qua cái chết trên Thập giá, và Ngài còn muốn tái diễn hàng ngày dưới hình dạng Bánh và Rượu trong bí tích Thánh Thể. Cũng như tôi tớ chỉ sống và chết cho người khác, chiếc bánh chỉ hiện hữu để được ăn, được hao mòn, được tiêu tán. Dưới hình thức lương thực, Chúa Giêsu muốn thể hiện tình yêu của Ngài đối với chúng ta; tiếp nhận Ngài qua Bí tích thánh thể, chúng ta sống bằng chính sự sống của Ngài, ăn uống Ngài, chúng ta cũng được mời gọi nên giống Ngài và san sẻ sự sống của Ngài cho người khác.

Sống và chết cho người khác, nên một với Ngài là thực hiện sứ mệnh của Ngài tức là phục vụ và phục vụ cho đến cùng. Sứ mệnh phục vụ ấy Chúa Giêsu truyền lại cho chúng ta qua Bí tích Truyền chức. Linh mục là người được ủy thác để lặp lại lời của Chúa Giêsu. "Các con hãy làm việc này, mà nhớ đến Ta". Làm việc này không những là cử hành Bí tích Thánh Thể để Chúa Giêsu luôn ở mãi giữa nhân loại, mà con chu toàn sứ mệnh phục vụ của Ngài. Không chỉ riêng linh mục, nhưng tất cả những ai nhờ phép rửa được tháp nhập vào sự sống Đức Kitô, nghĩa là mọi kitô hữu trong lời nói và hành động cũng yêu thương và chết để nhớ đến Ngài. Mỗi cử chỉ và hành vi bác ái đều là một nghĩa cử tưởng nhớ đến Chúa Giêsu, đều là một tiếp tục, hay đúng hơn là một hiến lễ được dâng trên bàn thờ.

Tưởng nhớ việc Chúa lập Bí tích Thánh Thể và truyền chức linh mục trong ngày thứ năm tuần thánh, chúng ta nhớ đến cách đặc biệt các linh mục. Xin chúa ban cho các ngài luôn trung thành với sứ mệnh phục vụ. Xin cho tình yêu Chúa luôn ngự trị trong tâm hồn chúng ta để chúng ta cũng sống yêu thương và phục vụ.

 

 

5. Tình yêu hiệp nhất và tận hiến

Trước lễ Vượt Qua, Đức Giê-su biết giờ của Người đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng.

Ma quỷ đã gieo vào lòng Giu-đa, con ông Si-môn Ít-ca-ri-ốt, ý định nộp Đức Giê-su. Đức Giê-su biết rằng : Chúa Cha đã giao phó mọi sự trong tay Người, Người bởi Thiên Chúa mà đến, và sắp trở về cùng Thiên Chúa, nên trong một bữa ăn, Người đứng dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài ra, và lấy khăn mà thắt lưng. Rồi Đức Giê-su đổ nước vào chậu, bắt đầu rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau.

Vậy, Người đến chỗ ông Si-môn Phê-rô, ông liền thưa với Người : "Thưa Thầy ! Thầy mà lại rửa chân cho con sao ?" Đức Giê-su trả lời : "Việc Thầy làm, bây giờ anh chưa hiểu, nhưng sau này anh sẽ hiểu." Ông Phê-rô lại thưa : "Thầy mà rửa chân cho con, không đời nào con chịu đâu !" Đức Giê-su đáp : "Nếu Thầy không rửa cho anh, anh sẽ chẳng được chung phần với Thầy."   Ông Si-môn Phê-rô liền thưa : "Vậy, thưa Thầy, xin cứ rửa, không những chân, mà cả tay và đầu con nữa." Đức Giê-su bảo ông : "Ai đã tắm rồi, thì không cần phải rửa nữa ; toàn thân người ấy đã sạch. Về phần anh em, anh em đã sạch, nhưng không phải tất cả đâu !" Thật vậy, Người biết ai sẽ nộp Người, nên mới nói : "Không phải tất cả anh em đều sạch."

Khi rửa chân cho các môn đệ xong, Đức Giê-su mặc áo vào, về chỗ và nói : "Anh em có hiểu việc Thầy mới làm cho anh em không ? Anh em gọi Thầy là 'Thầy', là 'Chúa', điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là Chúa. Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em.

Một điều hết sức tự nhiên trong lời từ giã phải nói về sự ra đi của mình. Chúa Giê-su đã làm như thế đối với các môn đệ của mình, nhưng Ngài đưa ra thêm một mệnh lệnh.

Bằng một cử chỉ sống động bày tỏ tâm tình vẫn có nơi Ngài, Ngài bưng một chậu nước cúi mình rửa chân cho các môn đệ. Cảm nghiệm tâm tình của Chúa qua cử chỉ này, thánh Gio-an đã nhận định : "Ngài vẫn thương yêu những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian và thương yêu họ đến cùng." Sau đó Ngài bảo họ phải đối xử với nhau như Ngài đã đối xử với họ.

Ngài dùng chữ điều răn mới trong lời Ngài nói với họ như một lời từ giã. Đó là điều răn mà lãnh tụ Mô-sê tóm tắt trong luật pháp, nhưng đã được Chúa Giê-su làm mới lại bằng cách ban cho nó một tiêu chuẩn mới, một động lực mới : "Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy yêu anh em." Ngài sắp bước vào chuyến đi mà không ai có thể theo được, Ngài phải lên đường một mình, trước khi ra đi, Ngài truyền cho họ một mệnh lệnh là phải yêu mến nhau như Ngài đã yêu mến họ. Điều này có ý nghĩa gì cho chúng ta, và cho liên hệ giữa chúng ta với người khác ? Chúa Giê-su đã yêu môn đệ Ngài như thế nào ?

Chúa yêu các môn đệ bằng một tình yêu vô vị lợi, chỉ ban phát :

Đời sống của Ngài là đời sống ban phát. Ngài ban phát ra những gì Cha đã ban cho Ngài. Ngài đã ban cho họ sự bình an của Ngài nhờ đó Ngài được nâng đỡ trong cơn hoạn nạn. Ngài đã ban cho họ sự vui mừng mà Ngài đã tạo nên được giữa những khốn khổ đau buồn của mình. Ngài đã ban cho họ chìa khóa Nước Trời mà các quyền lực của hỏa ngục không thể nào thắng được. Ngài đã ban cho họ vinh quang mà chính Ngài đã có trước khi các thế giới được tạo nên, để tất cả mọi người trong họ được kết hợp làm một với Cha Ngài. Ngài đã ban cho tất cả những gì mình có – đã không giữ lại một chút gì dầu là chính mạng sống của mình.

Trong tình yêu thương cao quý nhất của loài người vẫn còn yếu tố ích kỷ. Có thể trong vô thức chúng ta thường nhớ đến hạnh phúc mình sẽ nhận, hoặc sự cô đơn mình phải chịu nếu mối tình bất thành hay bị từ chối. Chúng ta thường nghĩ : tình yêu này đem lại điều gì cho tôi ? Mặt trái của tình yêu là chúng ta đi tìm hạnh phúc cho mình. Nhưng Chúa Giê-su không nghĩ đến chính mình Ngài. Ước muốn duy nhất của Chúa là tự phó mình và những gì Ngài có cho những người Ngài yêu thương.

Chúa Giê-su yêu thương môn đệ bằng tình yêu hy sinh :

Chẳng có đòi hỏi nào là quá đáng đối với tình yêu. Chúa Giê-su đã yêu thương các môn đệ đến tận cùng, nên Ngài không đặt một giới hạn nào cho tình yêu thương. Nếu yêu thương có nghĩa là phải mang thập giá thì Chúa Giê-su sẵn sàng lên thập giá. Không còn lời nào rõ ràng hơn : "Này là mình Ta hiến nộp vì các con, này là máu Ta đổ ra vì các con …" Lắm lúc ta suy nghĩ cách sai lầm rằng tình yêu thương nhằm đem hạnh phúc đến cho mình. Dĩ nhiên, cuối cùng, tình yêu sẽ đem lại hạnh phúc, nhưng trước mắt, có thể tình yêu thương đem lại đau đớn, đòi hỏi thập giá.

Chúa Giê-su yêu môn đệ bằng tình yêu thông cảm, hiểu biết:

Chúa Giê-su biết rõ mọi nhược điểm của các môn đệ, nhưng Ngài vẫn yêu thương họ. Những người thật sự yêu thương chúng ta là những người biết rõ những điều tệ hại nhất nơi chúng ta mà vẫn yêu thương. Chẳng bao giờ chúng ta biết rõ ai nếu chưa sống với họ. Thỉnh thoảng mới gặp, chúng ta thấy họ trong tình trạng tốt nhất, hoàn toàn nhất ; nhưng khi sống chung, chúng ta mới biết được tính tình và nhược điểm của họ. Người khác cũng kinh nghiệm về ta như vậy. Chúa Giê-su đã sống với các môn đệ qua nhiều ngày nhiều tháng, Ngài biết tất cả những gì cần biết về họ, nhưng Ngài vẫn yêu thương họ. Nhiều khi chúng ta bảo rằng tình yêu mù quáng. Sự thật không phải thế, vì tình yêu mù quáng có thể kết thúc trong tan vỡ và trống rỗng. Tình yêu chân thật là tình yêu với đôi mắt mở to, là yêu con người không theo tưởng tượng, nhưng yêu người ấy vì chính người ấy vậy. Không yêu một phần của người đó mà yêu con người toàn diện. Tấm lòng bao la của Chúa Giê-su đủ để yêu thương chính con người thật của chúng ta.

Chúa yêu môn đệ bằng tình yêu tha thứ.

Người môn đệ đầu đàn chối bỏ Chúa. Tất cả đều lìa bỏ Ngài trong giờ phút Ngài cần họ hơn cả. Trong những ngày Chúa sống với họ, thật sự họ không hiểu Ngài. Họ mù quáng và không nhạy bén, học chậm và thiếu hiểu biết. Nhưng Chúa Giê-su không chấp ; không có sự thất bại nào mà Ngài không tha thứ được. Tình yêu không biết tha thứ thì không thể làm gì được ngoại trừ  co rút dần và chết. Chúng ta là những tạo vật nghèo khốn, mang một thân phận khiến chúng ta làm tổn thương những người yêu mến chúng ta hơn cả. Vì thế tình yêu trường tồn phải được xây dựng trên sự tha thứ vì không có sự tha thứ thì tình yêu sẽ chết.

Ngài đã chết vì kẻ khác, việc ấy chứng tỏ tình yêu của Ngài. Tình yêu hy sinh biểu lộ trong những kẻ theo Ngài sẽ làm chứng cho thế gian biết thế nào là môn đệ thật.

 

 

6. Rửa chân cho môn đệ (Ga 13,1-15)

1. Chọn đoạn văn rửa chân để đọc trong thánh lễ thứ năm Tuần Thánh thoạt tiên xem ra hơi lạ, vì ta không thấy có liên lạc nào rõ ràng giữa cử chỉ của đấng Cứu thế với mầu nhiệm Tử nạn - Phục sinh của Ngài mà cử hành Thánh Thể đang hiện tại hóa. Vậy phải cố gắng tìm ra ý nghĩa sau xa của bản văn bằng cách đặt nó trong tương quan với công việc cứu rỗi chúng ta.

Các tác giả đồng ý chia phúc âm Gioan làm hai phần chính: phần I gồm 12 chương đầu nói lên việc Chúa Giêsu tỏ mình cho thế gian. Phần II từ chương 13 đến chương 20 gồm những mạc khải đặc biệt Chúa Giêsu dành riêng cho các môn đệ trong bối cảnh “giờ” của Ngài (Ga 13,1), nghĩa là trong bối cảnh tử nạn và Vinh hiển của Ngài.

Được đặt ở đầu phần II của phúc âm, đoạn rửa chân có một ý nghĩa cao hơn ý nghĩa một bài học luân lý. Để hiểu hành động này trước tiên phải nhớ rằng nó liên quan mật thiết với cuộc khổ nạn của Chúa, và cũng đừng quên hậu cảnh Thánh Thể và phục sinh của nó.

Nếu Gioan đã thấy không cần nói đến việc thành lập phép thánh thể trong các trình thuật các biến cố của buổi Tiệc ly cuối cùng, chính là vì việc biên soạn các chương 13-17 đã được thành hình trong khung cảnh các cuộc cử hành lễ vượt qua (Phục sinh) hàng năm.

2. Các câu 1-3 không những chỉ là lời dẫn nhập của đoạn văn rửa chân, mà cả hai phần của Phúc âm Gioan nữa (ch. 13-20). Lời văn có vẻ trịnh trọng và bi thảm: cuộc đời Đức Kitô đã đạt đến cao điểm, đã đến giờ mà Ngài, nhờ cái chết, qua khỏi thế gian này để về cùng Cha Ngài và trong cái chết này, Ngài phải đương đầu với Satan, thủ lãnh thế gian (14,30).

“Trước lễ Vượt qua”, những chữ đầu tiên này rất quan trọng. Dầu người ta có giải quyết thế nào về vấn đề niên hiệu các ngày sau cùng, của cuộc đời Chúa Giêsu dưới thế này (đối với phúc âm nhất lãm, bữa tiệc ly xem ra trùng hợp với ngày lễ vượt qua của người Do thái, trong khi đó đối với Gioan, bữa tiệc ly xảy ra truóc đó một ngày), hình như chắc Gioan muốn trình bày cho chúng ta nội dung của chương 13-17 trong bối cảnh lễ vượt qua Do thái. Do đó trình thuật này sẽ được sáng tỏ hơn nếu đặt nó trong tương quan với biến cố vượt qua. Sự giải thoát của chúng ta, sự vượt qua từ cái chết đến sự sống, được đảm bảo nhờ chính cuộc vượt qua mà Đức Kitô đã thực hiện bằng viêc tự hạ mang lấy thập giá: việc tự hạ này được tiên báo trong cử chỉ khiêm tốn phục vụ thay thế các tông đồ.

Lời dẫn nhập của trình thuật này cũng cho thấy hành động cuối cùng của đời Đức Kitô là việc biểu lộ sâu xa nhất tình yêu của Ngài: “Đã yêu mến những kẻ thuộc về Ngài còn trong thế gian, thì Ngài đã yêu mến họ đến cùng” (eis telos). Từ ngữ hy lạp eis telos có thể hiểu theo hai cách: “Cuối cùng, nghĩa là sau hết xét theo thời gian” và “tột cùng”, nghĩa là tuyệt đỉnh xét theo hoàn hảo”. Có lẽ ở đây có thể hiểu cả hai nghĩa. Tuy nhiên các tiếng đó nhấn mạnh sự hoàn hảo, sự sung mãn hơn. Trong khi dùng các chữ này, tác giả phúc âm muốn nói Chúa Giêsu đã yêu “các kẻ của Ngài” đến mức độ tột cùng, khi chấp nhận chết cho họ. “Không có lòng mến nào lớn hơn là thí mạng sống vì bạn hữu” (15,13).

Việc Rửa Chân được đặt trong cao điểm của tình yêu của Thày đối với trò. Từ đó, theo gương Chúa Giêsu không chỉ hệ tại phục vụ anh em một việc nào đó, nhưng ở việc yêu thương hoàn hảo bằng cách thường xuyên hiến thân mình hoàn toàn phục vụ tha nhân, đến độ hy sinh ngay cả mạng sống.

Điểm lưu ý cuối cùng về phần dẫn nhập: Gioan nhấn mạnh đến việc Chúa Giêsu bước vào mầu nhiệm vượt qua, chấp nhận “giờ của Ngài” một cách ý thức. Ngoài ra, Đấng sửa soạn rửa chân cho các môn đệ và đang đối diện với cái chết, dưới cái nhìn của tác giả phúc âm, là Vị Chúa vinh hiển, là Con độc nhất mà Chúa Cha đã trao tất cả vào trong tay (c.3). Câu sau cùng này, khá trùng hợp với 17,2 và với lời báo Đức Kitô phục sinh trong Mt 28,18, cho thấy Gioan biên soạn trình thuật dưới ánh sáng biến cố vượt qua hầu loan truyền cho các Kitô hữu ý nghĩa cao quí và sâu sắc hàm chứa trong việc Rửa chân, ý nghĩa mà các tông đồ chưa lĩnh hội khi được rửa chân.

Thường thường người ta rửa chân khi bước vào nhà (x. Ga 19,21; Lc 7,44; 1Tm 5,10), trước lúc chuẩn bị ăn uống. Ở đây việc rửa chân diễn ra trong lúc ăn. Như thế đây không phải là dấu hiệu phục vụ khách giúp khách rủa sạch bụi đường. Thời gian Chúa Giêsu chọn để rửa chân đã là một việc khác thường.

Trong gia đình, việc rửa chân cho chủ nhà không phải là việc của gia nhân Do thái, mà là của gia nhân ngoại quốc (Strack - Bill II, 557). Nhưng đừng quá phóng đại việc này, vì vợ vẫn rửa chân cho chồng và con gái rửa chân cho cha.

Trong bối cảnh bữa tiệc ly, ngoài thời gian khác thường, còn một cử chỉ nghịch lý nữa, là Chúa Giêsu, với tư cách là một rabbi (c.13-14; một tôn sư), đã hạ mình rửa chân cho môn đệ. Thường các môn đệ giúp thày nhiều việc; đối với người Do thái, các công việc đó quan trọng đối với việc huấn luyện môn đệ hơn là các lời giảng dạy của ông thày. Ở đây, Đức Kitô đảo ngược vai trò, vì Ngài muốn nhấn mạnh đến tính cách mầu nhiệm của việc rửa chân.

Càng ngạc nhiên hơn, khi tác giả phúc âm trình bày người rửa chân trong ánh sáng vinh hiển của vị “Chúa” (c.7.13-14) có uy quyền trên tất cả (c.3), đang chuẩn bị về cùng Cha (c.1.3) để được mặc lấy quyền năng TC (17,24).

Khi hành động như thế, Chúa Giêsu biết chắc các môn đệ sẽ kinh ngạc. Ta có thể tin rằng Ngài muốn gây ra chuyện đó để lợi dụng cơ hội mà thông đạt cho họ một mạc khải quan trọng về sứ mạng của Ngài và về những yêu sách của đời Kitô hữu.

Chính vì muốn lưu ý hướng sâu xa của Chúa mà Gioan trình bày trình thuật rửa chân theo phương pháp tam phần của các giáo sĩ Do thái. Văn chương các giáo sĩ thường dùng phương thức sư phạm này là đưa ra một cử chỉ bí nhiệm - để gợi lên một vấn nạn - và sau cùng là lợi dụng cơ hội để thông truyền một giáo huấn (x. D.Daube, the New Testament and Rabbinic Judaism, London, 1956,tr. 175-183). Tuy đoản văn rửa chân có nhiều phức tạp, nhưng nó theo phương pháp này: mô tả cử chỉ bí nhiệm (c.4-5) - vấn nạn (c.6) - giải thích (12-15)

Như thế việc rửa chân cũng được xếp vào loại “dấu chỉ”. Hành động của Chúa Giêsu nói lên một mầu nhiệm, một ý nghĩa còn ẩn giấu mà các tín hữu phải tìm hiểu trong đức tin. Việc dùng hai động từ để cùng chỉ việc cởi bỏ (theinai) và mặc lại (laibein) áo xống (13,4.12) cũng như việc thí mạng và lấy lại mạng sống (10,11.15.17-18) đã cho thấy chủ ý nói trên.

Mối tương quan của trình thuật (c.4-5) với “giờ” Tử nạn và Vinh hiển (c.1-3) cũng cho thấy việc rửa chân là “dấu chỉ” của con đường tự hạ mà Chúa Giêsu đã chọn để trở về cùng Cha Ngài. Cuối cùng, mẩu đối thoại giữa Chúa Giêsu và Phêrô nói lên ý nghĩa của dấu chỉ này.

4. “Nếu Ta không rửa ngươi, tất ngươi không có phần nào với Ta” “Có phần với Ta” nghĩa là sống chung với ai (2Cr 6,15). Nếu Phêrô đứng đầu từ chối, ông sẽ cắt đứt liên hệ với thày mình. Để giải thích sự nghiêm khắc này, thánh Cyrille và Basile nói đến tội bất tuân. Nhưng đa số các tác giả muốn cắt nghĩa theo khía cạnh huyền nhiệm, thần bí: cần thiết phải được Chúa Giêsu tinh luyện mới được cứu rỗi (Origene, Ambroise, Audustin,Gregoire, Thomas, Maldonat, Calmet). Tuy nhiên, vấp phải một khó khăn khác. Ý tưởng “tinh luyện” xem ra xa lạ đối hành động của Chúa và không hề được nhắc đến trong phần giải thích. Với lại những người chủ trương cắt nghĩa theo khía cạnh huyền nhiệm, đã nêu ra nhiều lối giải thích bất đồng khó hòa hợp được. Vậy nên theo thánh Gioan Kim Khẩu cắt nghĩa đây là một bài học khiêm nhường. Nếu hành động Chúa Giêsu là một dấu chỉ khiêm nhượng, thì ít nhất đây là biểu tượng, là biểu thức sống động của việc Ngôi Lời tự hạ. Chắc chúng ta còn nhớ một đoản văn hay trong thư gởi tín hữu Philip: “Hãy có nơi anh em những tâm tư như đã có nơi Đức Chúa Giêsu Kitô. Ngài, phận là phận của một vị TC... song Ngài đã hủy mìn ra không, lĩnh lấy thân phận tôi đòi. Phêrô từ chối là vì ông thấy khó chịu khi để Chúa Giêsu phải tự hạ quỳ trước mặt ông; ông đã phán tương tự khi Chúa Giêsu loan báo tử nạn (Mt 16,22; Mc 8,33) và đã bị Chúa Giêsu quở trách nặng lời: “Xéo đi sau Ta, hỡi satan. Ý tưởng của ngươi không phải là ý tưởng TC...” (Mt 16,23; Mc 8,33). Lúc Phêrô chống lại sự tự hạ của Chúa Giêsu, cách nào đó ông muốn làm cho chương trình cúu rỗi bị thất bại. Như thế ông làm sao thuộc về Chúa Giêsu ? Muốn thuộc về Ngài, phải chấp nhận để Ngài cứu chúng ta bằng việc tự hạ của Ngài, phải để Ngài làm.

Chúa Giêsu không chấp nhận phản ứng bộc phát của Phêrô, một phản ứng chứng tỏ ông không hiểu gì. Không được phán đoán lối hành động của Chúa từ bên ngoài, theo quan niệm loài người, Phêrô bị giam hãm trong quan niệm cũ về Đấng Messia nên không thể chấp nhận Đấng Messia tự hạ phục dịch như người nô lệ. Tuy nhiên trong ý tưởng của Chúa Giêsu, hành động này chứa đựng ý nghĩa cao xa mà Phêrô chưa lĩnh hội được: đó là việc phục dịch nô lệ ấy tiên trưng cái chết của Ngài. Chắc chắn Ngài đã loan báo cho họ biết Ngài sẽ phải chết. Và trong trường hợp đó, Ngài đã quở trách Phêrô vì đã phản đối (Mt 16,22; Mc 8,33). Phêrô đã không hiểu gì nên liền sau đó, nghĩa là sau khi rửa chân, Chúa Giêsu đã dạy cho ông một bài học. Đây là ý nghĩa đầu tiên của thành ngữ “nhưng sau này” (13,7). Tuy nhiên, cũng có thể có nghĩa là ngày hôm sau: hôm sau họ sẽ phải hiểu rõ ràng hơn, khi thấy Đấng Messia bị treo trên thập giá và đổ máu ra cho đến giọt cuối cùng.

Phêrô cũng chưa lĩnh hội được cách sâu xa mạc khải của Đức Kitô sau khi chứng kiến cảnh biến hình của Chúa, ông không thể chấp nhận việc Đấng Messia chết (Mt 16,21-23); bây giờ cái chết sắp đến, ông lại không thể chịu được việc Chúa tự hạ như một tên nô lệ. Thật ra, Phêrô đâu có chống lại chính việc rửa chân: “Vậy thì, xin rửa cả đầu và cả tay nữa”, song là chống lại quyết định của Chúa Giêsu muốn rửa cho ông, chống lại việc tự nguyện hạ mình như thế: “Thưa Ngài, Ngài mà lại rửa chân cho tôi sao ?”. Phêrô vẫn chưa hiểu rằng Chúa Giêsu, qua cử chỉ đó, tự đặt mình trong viễn cảnh đã chi phối đời Ngài mà cái chết của Ngài sẽ làm cho hoàn hảo (19,30). Ông cũng chưa biết một môn đệ đi theo Chúa Giêsu phải có thái độ phục vụ tha nhân và phục vụ hết mình (10,38-45; 9,30-35; Mt 20,21-28; Lc 22,24-30; 44-48; Ph 2,5-8), cũng không hiểu ý nghĩa đời Kitô hữu là giúp tha nhân. Tuy nhiên, ai không hiểu được vậy, sẽ không có chỗ trong nước trời hiện tại, cũng như trong Nước Trời vinh quang mai sau. Như thế, nếu lời quở trách của Chúa Giêsu không phải là lời quở trách lỗi của Phêrô, thì ít nhất cũng là lời khuyến cáo, hối thúc Phêrô mau mắn hiểu ý nghĩa đời sống của Đức Kitô và ý nghĩa đời sống Kitô hữu. Theo chương trình cứu rỗi của Chúa Cha, Chúa Giêsu phải chết ô nhục trong việc hoàn toàn từ bỏ chính mình. Đó là điều mà tất cả Kitô hữu đến lượt mình phải thực thi.

5. Khi cho Phêrô biết hiệu quả trầm trọng của việc ông từ chối, Chúa Giêsu cho thấy ý nghĩa thiêng liêng sâu xa của việc Ngài làm. Tuy nhiên Phêrô không nhận ra rằng: ngoài việc rửa chân, Chúa Giêsu còn muốn nói đến việc tẩy rửa thiêng liêng, điều kiện để trở thành bạn hữu và được dự phần vào của cải thần linh. Như người đàn bà Samaritanô đối với nước hằng sống (4,15), như dân Do thái đối với bánh sự sống (6,34), Phêrô đang ở trên bình diện vật chất, nghĩ rằng thày mình chỉ đòi chấp nhận sự tẩy rửa thân xác như điều kiện thành bạn hữu của Ngài. Nếu theo gương bà Samaritanô và dân Do thái; Phêrô hối hả nhận: Thầy có thể rửa luôn cả tay chân và đầu nữa; ông sẵn sàng chấp nhận tất cả...

Câu Chúa Giêsu trả lời hoàn toàn nói đến việc thanh luyện và tẩy rửa thiêng liêng; điều này chứng tỏ Ngài đứng trên bình diện thiêng liêng dù Ngài đang nói về các thực tại vật chất, như Ngài đã làm lúc nói về Đền thờ thân xác Ngài (2,19-21) về nước hằng sống (4,10-15), bánh hằng sống (6,27-34); vì các hình ảnh vật chất đối với Ngài là biểu tượng của những thực tại thiêng liêng.

Khi Phêrô đòi được rửa cả chân tay và đầu nữa, Chúa Giêsu hiểu lời ông theo một ý nghĩa thiêng liêng. Dưới mắt Chúa Giêsu, Phêrô vừa xin Ngài tẩy rửa cách thiêng liêng, tẩy cả con người; và Chúa cho thấy việc tẩy rửa hoàn toàn như thế là vô ích. Đã tắm rồi thì người phương đông vì đi chân không nên không cần tắm nữa, chỉ cần rửa chân vì dính bụi. Đối với các môn đệ thì cũng vậy: “Các ngươi đã sạch bời Lời Ta đã nói với các ngươi” (15,3). Lời thần linh, đã được tất cả đón nhận trừ Giuda, có giá trị tẩy sạch trong nước hằng sống của Thánh Thần (3,5) đến nỗi họ không cần tẩy rửa thiêng liêng toàn diện nữa. Chỉ cần Chúa Giêsu hoàn tất trong họ việc thanh tẩy bằng cái chết trên thập giá được biểu tượng qua việc rửa chân.

6. Chúa Giêsu đã rửa chân để làm gương, để dạy một bài học sống động. Chúa Giêsu là thày, là Chúa, dùng phương thế này để ghi khắc trong tâm hồn các môn đệ rằng Ngài đến để phục vụ chứ không phải để được phục vụ (Mt 20,28; Ph 2,6-11). Ngài đã sống một đời yêu thương (13,1), một tình yêu (agapê) luôn trao ban và trao ban chính mình.

Bằng dấu hiệu rửa chân lạ thường, Chúa Giêsu đã cho thấy Ngài hoàn toàn phục vụ con người, và phục vụ bằng chính cái chết trên thập giá. Cũng như Ngài đã cởi áo và mặc áo lại để phục vụ họ, Ngài sẽ thí mạng sống và lấy lại mạng sống (10,18) vì lợi ích của họ. Qua cử chỉ rửa chân Đức Kitô mạc khải cho chúng ta nhân cách sâu xa của Ngài: Ngài là Đấng hiện hữu cho kẻ khác, là Đấng phục vụ hoàn toàn cho anh em đồng loại.

“Ta nêu gương cho các ngươi, ngõ hầu như Ta đã làm cho các ngươi. Các ngươi cũng làm như vậy” (c.15), “Phúc cho các ngươi, nếu các ngươi làm như vậy” (c.17). Theo gương Chúa Giêsu không phải là làm lại một cách vật chất cử chỉ khiêm nhượng mà Ngài đã làm. Nhưng đúng hơn là luôn qui hướng đến việc hiến mạng sống mình, ý hướng được cụ thể hóa qua việc rửa chân.

Làm như Ngài đã làm chính là đi vào trong chuyển động của đời sống và sứ mạng Ngài, là xem cuộc hiện hữu mình như là việc phục vụ tha nhân, là hiểu rằng Kitô hữu “hiện hữu” cho người khác, bằng cách chấp nhận tôi tớ đến độ chia xẻ cuộc Tử nạn của Chúa Giêsu.

Luật phục vụ này có giá trị cho mọi kitô hữu, nhưng tác giả phúc âm muốn cho chúng ta thấy luật phục vụ đó đặc biệt là lẽ sống của các tông đồ, của những người có nhiệm vụ hay quyền bính trong dân Chúa. Vì thế tác giả phúc âm đã đưa trình thuật của mình câu nói chung cho cả truyền thống phúc âm: “Quả thật, Ta bảo các ngươi, tôi tớ không lớn hơn chủ, kẻ được sai không lớn hơn người sai phái” (c.16; Mt 10,24; Lc 6,40).

KẾT LUẬN

Nếu Đức Kitô Tử nạn và Phục sinh đã giải thoát chúng ta khỏi tội và cái chết, chính là để chúng ta phục vụ TC và anh em. Hoa quả của phép Thánh Thể không gì khác hơn là sự đổ đầy tình yêu TC giúp người tín hữu biết phục vụ theo gương của thầy.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

Ba câu đầu của đoạn văn rất long trọng: chúng dẫn vào các biến cố của nhà tiệc ly và cuộc tử nạn. Việc rửa chân là một phần, nhưng mới là một nghi thức chuẩn bị. Nó là yếu tố đầu tiên trong cuộc đàm thoại của Chúa Giêsu tại nhà tiệc ly và là đoạn đầu của cuộc tử nạn. Theo một nghĩa nào đó, việc rửa chân tóm kết cuộc đời của Chúa Giêsu cũng như cái chết của Ngài, vì khi sống cũng như khi chết, Chúa Giêsu luôn khiêm nhường và phục vụ.

Đoạn phúc âm này của gioan là một trong những đoạn nói đến việc Chúa Giêsu hành động để giáo huấn các môn đệ. Chúa Giêsu biết việc giáo huấn là một hành trình tiệm tiến. Ngài nói và hành động cũng như người ta gieo giống vào trong cánh đồng, biết rằng muốn chín mùi cần phải chờ đợi thời gian. Chúa Giêsu dạy một bài học thực tế, Ngài biết rằng các hành động cụ thể là ngôn ngữ hùng hồn để đánh động và đáng nhớ nhất. Các môn đệ và các thế hệ tín hữu sẽ không bao giờ quên bài học lạ thường và rõ ràng đó về đức ái mà Chúa Giêsu đã dạy trước khi cử hành bữa tiệc ly.

3. Điều Ta làm, nay ngươi không biết, nhưng sau này ngươi sẽ hiểu”. Với lời này, Chúa Giêsu cho thấy khi dùng quyền hành để phục vụ các tông đồ, Ngài muốn tôn trọng thời gian trong việc biến đổi họ. Ngài đã có thể giáo huấn họ với ánh sáng thần linh chói lọi, nhưng Ngài đã giấu tính cách TC dưới một tấm màn nhân loại khiêm nhu. Ngay cả các tông đồ sống chung với Ngài cũng chỉ được đưa đến niềm tin trọn hảo bằng con đường tiệm tiến. Ngài thường nói với họ: “Điều Thầy nói với các con bây giờ, các con chưa hiểu được:. Ngài đã không tức giận vì họ chậm hiểu, vì họ không chấp nhận ngay con người và sứ mệnh của Ngài. Nhưng Ngài vẫn nói và hành động với uy quyền, quả quyết mình là thầy. Ngài cũng nói: điều các con không thể lĩnh hội vì thiếu hiểu biết, thì hãy chấp nhận bằng lòng tin tưởng vào thày.

4. Lời Chúa Giêsu cứng rắn đáp trả Phêrô làm chúng ta ngạc nhiên. Vì khi từ chối không để Chúa Giêsu hạ mình trước mặt ông, Phêrô đã vô tình hủy bỏ mọi ý định cứu rỗi của Chúa Cha, là Đấng muốn Con Ngài muốn cứu rỗi thế gian với tư cách là người tôi tớ khiêm nhu và hèn yếu hơn là với quyền năng chinh phục. Từ chối ý định của Chúa Cha, mà Chúa Giêsu đang tỏ ra với cả tâm hồn, tức là tự tách rời khỏi Chúa Giêsu. Như Phêrô, chúng ta luôn luôn bị cám dỗ mong muốn trở thành môn đệ Chúa Giêsu mà không qua đau khổ và nhục nhã như Ngài. Nhưng theo thánh ý Chúa Cha, đó là con đường duy nhất dẫn đến vinh quang.

5. Nhờ nhận lãnh Mình và Máu Chúa, người tín hữu được án sáng và sức mạnh cần thiết để chỉ hiện hữu cho Ngài và làm triển nở tình yêu mà Chúa Giêsu không ngừng thông ban. Chúng ta sắp tham dự vào bữa tiệc Thánh Thể, chúng ta hãy để cho Chúa đến thăm chúng ta, hãy để Ngài biến đổi chúng ta: đó chính là cuộc vượt qua của chúng ta để vào nước Trời, nơi mà tất cả đều là an bình và hạnh phúc. Cuộc vượt qua này chỉ được thể hiện tùy theo mức độ chúng ta phó thác vào sức mạnh của Chúa Kitô.

 

7. Dấu chỉ rửa chân

Chỉ cần nhìn ngắm Chúa Giêsu rửa chân cho các môn đệ là đủ để cuộc sống bị đảo lộn do sự khiêm hạ yêu thương của Ngài và ước muốn bắt chước Ngài. Nhưng các nhà chú giải giúp chúng ta hiểu sâu hơn lý do tại sao thánh Gioan bắt đầu trình thuật về cuộc Khổ nạn bằng đoạn văn này.

Chúng ta bị cám dỗ đi ngay đến lời khuyên cuối cùng bởi vì đây là vấn đề hành động: “Thầy đã làm gương cho các con để các con cũng bắt chước mà làm như Thầy đã làm cho các con”. Dầu vậy, trước tiên nên suy niệm điều mà Chúa Giêsu nói với Phêrô: “Nếu Thầy không rửa chân cho con, con sẽ chẳng được dự phần với Thầy”.

Dĩ nhiên “rửa” có nghĩa về mặt vật chất và cũng có nghĩa về mặt tinh thần, nghĩa biểu tượng, của sự thanh tẩy bí nhiệm hơn và hoàn toàn hơn. Đó chính là điều người ta nói về phép Rửa làm cho chúng ta được “dự phần với được Kitô” bằng cách dìm chúng ta vào trong sự chết và sự sống lại của Ngài: “Ai đã tắm rồi thì hoàn toàn sạch sẽ”.

Chỉ thấy cử chỉ nên Phêrô phản đối: “Rửa chân cho con sao? Không!” Cũng như Phêrô đã chống đối khi Chúa Giêsu nói Ngài phải chết: “Thầy phải chết ư? Không!” Không phản ứng mạnh mẽ như thế nhưng chúng ta cũng có những tiếng “Không”. Chúng ta loại bỏ điều làm chúng ta khó chịu trong các cử chỉ và lời nói của Chúa Giêsu, hoặc là chúng ta không đào sâu đủ các cử chỉ và lời nói.

Ở đây, “dự phần” giúp chúng ta hiểu việc rửa chân như là dấu chỉ. Chúa Giêsu yêu cầu chúng ta cùng với Ngài đi vào trong cõi tình yêu tinh tuyền của Ngài. Ngài đã dùng tình yêu chân thật biết bao, mạnh mẽ biết bao đó để cứu chuộc thế giới. Bởi thế, phải phục vụ đến mức khiêm hạ nhất. Lòng kiêu hãnh đầu độc tình yêu, lòng khiêm hạ cứu vớt tình yêu. Nhưng lòng khiêm hạ nào?

Gioan nói cho chúng ta biết: “Chúa Giêsu đã yêu thương con người và yêu thương cho đến cùng”. Nếu không hiểu rõ cực điểm này của tình yêu, người ta sẽ xem việc Chúa Giêsu rửa chân là một cử chỉ khiêm hạ đơn giản hơi có tính cách phô trương. Không, cực điểm bắt đầu ở đây: Chúa vinh quang (“Chúa Cha đã đặt mọi sự trong tay Ngài, Ngài đến từ Thiên Chúa và trở về cùng Thiên Chúa”) bắt đầu một công việc “phục vụ” là điều sẽ dẫn Ngài đến cái chết. Đây là một mầu nhiệm của sự tự hạ cũng như của sự đau khổ: “Người ta sẽ nhạo cười Ngài, người ta sẽ phỉ nhổ Ngài” (Mc 10,34). Ngay từ bước chân đầu tiên hướng về cuộc Khổ nạn này, việc phục vụ được gắn liền với sự khiêm hạ. Điều này nói với chúng ta rằng phục vụ không những không làm cho vinh quang lu mờ nhưng chỉ  có sự phục vụ khiêm hạ mới đi đến cực điểm của tình yêu.

Đây là một bài học khó khăn. Điều mà người ta có thể xem là một cử chỉ bắt chước được thực ra là hành vi của một tình yêu hóa thân vào trong sự phục vụ không bờ bến. Việc rửa chân đưa dẫn cái lý của sự hiến thân được Chúa Kitô thúc đẩy đến những đau khổ cùng cực và cái chết. Nếu chúng ta không xin được “dự phần với Chúa Kitô” để Ngài rửa mọi kiêu hãnh của chúng ta và thông phần sức mạnh tình yêu của Ngài cho chúng ta, chúng ta sẽ sẵn sàng phục vụ bằng những công việc nhỏ nhặt mà vẫn chẳng có được một cuộc sống phục vụ.

Bởi vì đây mới là điều đáng nói. Giờ đây chúng ta có thể đọc lại những từ cuối cùng của bào đọc này và lượng định tầm quan trọng của chúng: “Thầy đã làm gương cho các con”. Trong khi dõi theo Chúa Giêsu đi đâu, chúng ta biết chúng ta phải đi đâu với Ngài. Cử chỉ mở đầu cuộc Khổ nạn biểu thị một tình yêu đòi buộc chúng ta phải nghĩ đến việc cúi xuống chân những người anh em của chúng ta và thúc đẩy chúng ta hành động cụ thể, dấn thân quên mình. “Thầy đã làm gương cho các con” thuộc về việc rửa chân nhưng đã để lộ cho thấy thánh giá rồi

 

 

8. Bữa Tiệc Giao Ước

PHỤNG vụ chiều thứ Năm Tuần Thánh vẽ lại trước mắt chúng ta quang cảnh bữa tiệc ly, lúc mà Chúa Giêsu thết đãi các môn đệ bữa tiệc Giao ước mới trong khuôn khổ bữa tiệc Vượt qua của truyền thống Do Thái. Bầu khí Phụng vụ hôm nay, cũng như cả Tuần Thánh này, mang một vẻ trang trọng, bi thống, phản ảnh phần nào bầu khí bi thống, trầm trọng vào những ngày cuối cùng trong cuộc đời dương thế của Chúa Giêsu. Lúc ấy cả thành Giêrusalem xôn xao, náo nhiệt, đón mừng ngày lễ lớn nhất của niên lịch Phụng vụ. Từng đoàn người hành hương, gốc Do Thái cũng như Hy Lạp, tuôn về thành Thánh (Gn 11,55-57; 12-20). Giới lãnh đạo tìm kế ám hại chúa Giêsu (Gn 11,57) trong lúc phần đông dân chúng lại ngưỡng mộ Người và đã dành cho Người một cuộc tiếp đón hết sức nồng nhiệt (Gn 12,12-19). Bầu khí căng thẳng kịch liệt... chắc chắn sẽ xảy ra một biến cố quan trọng gì đây.

Phía Đức Giêsu : Người biết rõ giờ Người đã điểm (Gn 12,23; 13,1) và Người đi vào giờ định mệnh ấy với tất cả ý thức sáng suốt và quả cảm. Người biết : Người sẽ chết. Nhưng là một cái chết vô cùng hệ trọng : một cái chết tự nguyện để tuân hành thánh ý Chúa Cha; một cái chết vô tội để chuộc tội cho cả loài người. Những hành động Người sắp làm sẽ đánh dấu khúc quẹo định đoạt của lịch sử cứu độ : Người hoàn tất những gì Thiên Chúa đã bắt đầu với dân Do Thái trong quá khứ và khai mạc một kỷ nguyên cho tương lai nhân loại : kỷ nguyên Giao ước mới và vĩnh viễn. Ta phải suy niệm về ý nghĩa bữa tiệc Giao ước trong bối cảnh ấy

1. BỮA TIỆC VƯỢT QUA CỦA NGƯỜI DO THÁI 

Chúa Giêsu là một ngươi Do Thái. Đã bao lần Người cử hành lễ Vượt qua với gia đình và đồng bào của Người. Nay là lần cuối cùng (Lc 22,15-16). Người ăn bữa tiệc cổ truyền tưởng niệm cuộc giải phóng dân tộc Người khỏi ách nô lệ Ai Cập. Biến cố chính trị xã hội ấy đã xảy ra 13 thế kỷ trước đó và hàm chứa những ý nghĩa tôn giáo, mà truyền thống tiên tri và tư tế đã dần dà khai triển thành một nền thần học linh động, bén rễ sâu xa trong đời sống phụng vụ và xã hội của mọi tầng lớp quần chúng. Cuộc giải phóng ấy là cơ hội cho dân Do Thái cảm nghiệm hồng ân của vị thần linh toàn năng duy nhất đã thương cứu vớt, quy tụ, hướng dẫn và thanh luyện họ để lập giao ước ân tình với họ. Người là Thiên Chúa sống động đã chứng tỏ sự hiện diện của mình qua những hành vi lịch sử.

ÝNGHĨA NGUYÊN THỦY CỦA LỄ VƯỢT QUA (Xh 12,1-8.l1-14). Từ ban đầu việc cử hành lễ Vượt qua hằng năm vào mùa Xuân gồm nghi thức sát tế chiên con, lấy máu bôi lên cửa làm dấu hiệu cho Thiên Chúa thấy mà bỏ qua, không giết hại các trưởng nam Do Thái, khi Người đi qua đất Ai Cập để trừng phạt những kẻ áp bức dân Người. Bởi đó dân Do Thái đáng được gọi là "Trưởng tử của Giavê” vì đã được Người để cho sống và đánh đổi với các trưởng tử Ai cập. Nhưng phần trọng tâm của cuộc lễ chính là bữa tiệc hiệp thông giữa các thành phần dân Chúa. Hành động cứu thoát của Thiên Chúa đã khai sinh ra một dân tộc tự do, thì bữa tiệc hằng năm tưởng niệm cuộc Vượt qua ấy nhằm tạo lại và củng cố ý thức cộng đoàn dân tộc.Trong bữa tiệc tất cả mọi người Do Thái biểu dương tình đoàn kết liên đới với nhau và sự hiệp thông với vị Thiên Chúa cứu độ họ. Số người dự tiệc phải đạt tới một mức tối thiểu nào đó thường là một nhóm từ 10 đến 12 người, không phải chỉ để ăn cho hết một con chiên nướng, nhưng còn để nói lên tính cách tập thể của ơn cứu độ. Khung cảnh bình thương là gia đình, và chính gia trưởng chủ tọa bữa tiệc. Để cho đủ túc số, gia trưởng phải mời những người đồng đạo trong thôn xóm tới để chia sẽ bữa tiệc tưởng niệm hồng ân nhưng không ấy của Thiên Chúa.

Cuộc giải phóng ra khỏi Ai Cập xảy tới một cách vội vã trong một bầu khí căng thẳng : Dân phải cảnh giác, phải hành động nhanh chóng và ở trong tư thế sẵn sàng lên đường để được cứu thoát. Chính Thiên Chúa cũng đã canh thức để kịp thời đến tiếp cứu Dân mình. Là những du mục và lữ khách, họ phải dùng bánh không men, ăn lễ Vượt qua, vì họ không có đủ giờ để cho men dậy, và nhất là vì thứ bánh ấy tượng trưng cho tâm hồn trong sạch, thanh thoát, không dính bén, không sa lầy trong kiếp sống nô lệ. Rau diếp đắng nhắc lại khía cạnh chua xót của kiếp vong nô của người Do thái ghi nhớ hồng ân cứu độ và tăng cường cho ý nghĩa thanh luyện tâm hồn để họ xứng đáng đón nhận những hồng ân khác của Người.

Thật vậy, bữa tiệc vượt qua của truyền thống Do thái hiện đại hóa hành động cứu độ của Thiên Chúa đã khai sáng ra họ thành một dân tộc tự do và bữa tiệc ấy cũng mở ra một viễn tượng tương lai cho họ : họ hy vọng, chờ đợi những hành động lớn lao của Thiên Chúa tiếp tục hướng dẫn họ, như sau khi họ đã lên đường xuất hành Người còn ra tay giúp họ vượt qua Biển Đỏ thoát khỏi tầm tay kẻ thù.

ÝNGHĨA NỚI RỘNG CỦA LỄ VƯỢT QUA ; Qua các thời đại, Bữa tiệc Vượt qua vẫn là một nghi lễ tưởng niệm : máu chiên sát tế bôi lên cửa nhà tư nhân hoặc sau này rưới lên bàn thờ trong Đền thánh là dấu hiệu nhắc Thiên Chúa nhớ lại lòng thương của Người, để người tiếp tục cứu độ Dân; cũng như cầu vồng là dấu hiệu nhắc Người nhớ lại giao ước đã ban cho Noe (Kn 9, 16-17), nghi thức cắt bì là dấu hiệu nhắc lại Giao ước với Abraham (Kn 17,11) và ngày hưu lễ Sabbat là dấu hiệu của Giao ước Sinai (Ez 20,12). Các dấu hiệu ấy cũng nhắc nhở dân nhớ lại các hồng ân họ đã nhận được, để cảm tạ, ngợi khen Thiên Chúa và để tuân giữ các điều lệ của giao ước một cách trung thành.

Các suy tư thần học qua các thế hệ, nhất là các thế hệ hậu lưu vong từ thế kỷ thứ 6, đã ghép thêm vào lễ Vượt qua những ý nghĩa khác nữa. Ngay ý nghĩa giải phóng cũng đặt thêm chiều rộng và chiều sâu ; một tiên tri Ezêkiel đã không ngần ngại đồng hóa Ai Cập với đất tội lỗi, và như thế giải thoát khỏi Ai Cập có nghĩa là giải thoát khỏi ách nô lệ (Ez 20,79). Cuộc giải phóng khỏi Ai Cập cũng được xem như là một cuộc tạo dựng, vì Thiên Chúa đã khai sáng ra một dân tộc tự do. Lễ Vượt qua mà người Do Thái cử hành hằng năm nhằm hiện-đại-hóa cuộc sáng tạo ấy đối với tập thể dân Chúa và đối với từng cá nhân, khi họ xác tín rằng Thiên Chúa sẽ tái tạo tim cho họ (Tv 51,12; Ex 36,26-27).

Chính cái kinh nghiệm thiết thân ấy về hành động "cứu độ sáng tạo" của Thiên Chúa đã giúp dân Do Thái đón nhận và hiểu được những ý tưởng về việc tạo thiên lập địa. Thật vậy xét về thứ tự thời gian, họ đã được cảm nghiệm khía cạnh cứu thế trước khi ý thức về khía cạnh tạo hóa của mầu nhiệm Đức Giavê. Và khi suy niệm về hoạt động sáng tạo của Người, họ có một cái nhìn rộng lớn bao trùm cả nguồn gốc lẫn cánh chung, cả quá khứ lẫn tương lai, vì theo họ, Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa từ nguyên thủy cho đến chung tận, và Người không ngừng hoạt động để thiết lập vương quyền của Người khắp hoàn vũ và trên mọi tâm hồn. Còn máu chiên sát tế của lễ Vượt qua thì làm cho họ liên tưởng tới ý định của tổ phụ Abraham tế con một yêu dấu của mình (Kn 22). Hình ảnh Isaac cam lòng chịu chết có một cái gì giống như con chiên hy tế của lễ Vượt qua. Và khuôn mặt Abraham trong thời khai nguyên lịch sử cứu độ cũng như khuôn mặt Môsê trong cuộc xuất hành hướng về Đất Hứa luôn gợi lại Giao ước của Giavê ban cho dân Người.

Tóm lại : Bữa tiệc Vượt qua của người Do Thái mà Chúa Giêsu ăn lần cuối cùng với các môn đệ tại Giêrusalem năm 30 mang tất cả các ý nghĩa ấy, đó là : tưởng niệm và hiện-đại-hóa cuộc giải phóng khỏi ách nô lệ Ai Cập và ách nô lệ tội lỗi; tưởng niệm và hiện-đại-hóa hành động cứu độ, sáng tạo ra Dân Chúa và sáng tạo ra tâm hồn mới cho mọi người; tưởng niệm và hiện-đại-hóa Giao Ước tình yêu Thiên Chúa ban cho dân Người đã tuyển chọn. Bữa tiệc Vượt qua còn mang thêm một nguyện ước; cho Nước Trời trời đến. Chính Chúa Giêsu đã làm chứng cho điều ấy lúc Người nói với các môn đệ.

“Ta sẽ không còn ăn lễ Vượt qua này nữa, cho đến khi nó sẽ hoàn tất trong Nước Tròi” (Lc 22,16).

Chặng đầu của tiến trình hoàn thành ấy là cái chết của Chúa Giêsu, mà bữa tiệc Thánh Thể là nghi lễ tưởng niệm; còn chặng cuối cùng sẽ là bữa tiệc Thiên quốc mà các thánh sẽ cùng ăn với Chúa Giêsu Phục sinh nơi Trời mới Đất mới.

II. BỮA TIỆC GIAO ƯỚC MỚI VÀ VĨNH VIỄN

Lần cuối cùng, Chúa Giêsu ăn Bữa tiệc Vượt qua theo truyền thống Do thái với các môn đệ. Nhưng trước và sau bữa tiệc ấy, Người thết đãi họ thêm một món ăn và một món uống làm thành Bữa Tiệc Thánh Thể ám chỉ cuộc Vượt qua của Người. Chính Người không ăn bữa tiệc phụ trội ấy, vì người vừa là chủ đãi tiệc vừa là của ăn đem ra thết đãi thực khách; Người vừa là tư tế vừa là của lễ. Trong bữa tiệc Vượt qua truyền thống Do Thái, người gia trưởng chủ tọa cuộc lễ, nhưng ông không phải là của lễ. Cả cộng đoàn cùng làm hành động tế tự ấy, vì tất cả đều tham dự vào chức tư tế phổ quát của dân được Thiên Chúa tuyển chọn và thánh hiến. Trái lại khi thiết lập bí tích Thánh Thể, Chúa Giêsu hành động với tư cách tư tế thượng phẩm, nhưng là một tư tế thượng phẩm độc đáo, vì Người tự hiến tế mình như của lễ để làm lương thực cho các môn đệ trong bữa tiệc hiệp thông của Giao ước mới. Người là tư tế nhưng chỉ là tư tế của Giao ước mới.

Tấm bánh miến được Người đồng hóa với Thân Thể Người - Thân thể sắp bị phó nộp chịu chết cho mọi người (1C11,24; Lc 22,19).

Chén rượu nho được người đồng hóa với Máu Người – Máu sắp đổ ra để xóa tội trần gian (Mt 26,28).

Tấm Bánh Thánh Thể ấy quả thật là của ăn thiêng liêng nuôi sống tâm hồn, vì Chúa Giêsu chính là "Sự Thật và Sự Sống” (Gn 14,6); Người là hiện thân của Mạc khải (Hr 1,2), của Lề luật; Người là lời của Thiên Chúa (Gn1,1), Lời mang sự sống (Gn 1,2), đúng như trong truyền thống Do Thái tấm bánh tượng trưng cho Sách Thánh chứa đựng lời Chúa và lề luật. Tấm bánh ấy là do hạt lúa miến đã chết đi dưới lòng đất để làm xuất hiện những hạt lúa miến chắc nịch khác (Gn 14,24), cũng bị nghiền nát đi mà kết tinh thành. Tấm bánh ấy lại bị bẻ ra trước khi được trao ban cho các môn đệ ăn. Thân Mình Chúa Giêsu cũng chỉ trở nên của ăn thiêng liêng khi đã bị đập nát và bẻ gãy trên Thập giá, bị chôn vùi dưới lòng đất để phục sinh với sức sống mới của Thần Khí. Ăn Bánh Thánh Thể là đón nhận lấy Thần Khí tác sinh của Đức Kitô Phục sinh.

Chén rượu nho đồng hóa với Máu Chúa Giêsu được gọi là “Máu Giao ước” (Mc 14,24; Mt 26,28), "Chén Giao ước mới được ký kết trong Máu Người" (1C 11,25; Lc 22,20). Khi chia sẻ chén Thánh ấy, các môn đệ được kéo vào trong Giao ước mới, nghĩa là được giao hòa với Chúa Cha qua sự môi giới của Chúa Giêsu, giống như dân Do Thái ngày xưa, khi được Môsê rảy máu chiên sát tế, đã được giao hòa với Đức Giêsu qua sự môi giới của Môsê trong Giao ước Sinai (Xn 24,8). Trong cả hai cuộc ký kết Giao ước, máu là máu cư7a một tế vật bị giết chết để niêm ấn các điều lệ chứa trong Giao ước. Máu chiên xưa đã đóng ấn chính thức vào bảng Thập giới của Giao ước Sinai. Nay Máu Chúa Giêsu đóng ấn vinh viễn vào Giới răn mới Người trối lại cho các môn đệ : "Các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con” (Gn 13,34). Máu Giao ước mới là Máu Con Thiên Chúa, nên có giá trị cứu độ muôn đời, vì thế lá thư gửi các tín hữu Do Thái đã gọi đó là "Giao ước vĩnh viễn" (Hr 18,20).

Khi ra lệnh cho các môn đệ “hãy làm việc này mà nhớ đến Ta” (Lc 11,24-25; Lc 22,19), Chúa Giêsu muốn rằng cộng đoàn Kitô hữu phải cử hành bữa tiệc Giao ước mới và vĩnh viễn ấy để tưởng niệm cuộc Vượt qua của Người : Người vượt qua cái chết để Phục sinh và về với Chúa Cha (Gn 13,1). Qua cái chết tự nguyện và vô tội để đền tội và chết thay cho ta, Người tháo gỡ khỏi ta dây tròng ràng buộc của tội và giải thoát ta khỏi cái chết vĩnh cửu là hậu quả của tội. Khi ta tin vào Người và để cho Người giải hòa ta với Chúa Cha, thì ta được dẫn vào cõi trường sinh bằng cách tham dự vào cuộc Phục sinh của Người. Bữa tiệc Thánh Thể nhằm mục đích tưởng niệm và hiện-đại-hóa cuộc Vượt qua của Chúa Giêsu. Bởi thế dự tiệc Thánh Thể là thông phần vào mầu nhiệm vượt qua của Người.

Tấm Bánh  Mình Người và Chén Rượu - Máu Người quả thật chứa sự sống thần linh. Người phải là Con Thiên Chúa và Chúa Tể mới nói được những lời hiệu nghiệm đầy sức sáng tạo, như khi Thiên Chúa phán, mọi loài liền có; lệnh Người truyền ra, mọi sự được dựng nên " (Tv 33,9). Lời Chúa Giêsu là những lời sáng tạo, có khả năng làm cho Bánh thành Thịt và Rượu thành Máu Thánh Người. Và lời mời gọi các tông đồ uống Máu Người cũng chứng tỏ uy quyền thần linh của Người. Chính Thánh Kinh đã cấm người ta uống máu, vì máu mang sự sống, và như thế máu thuộc phạm vi độc quyền của Thiên Chúa. Nay Chúa Giêsu muốn ban cho các môn đệ chính sự sống thần linh chứa đựng trong Máu Người đổ ra trên Thập giá, khi vượt qua cái chết để phục sinh, về với Chúa Cha.

Mệnh lệnh cử hành nghi lễ tưởng niệm còn hàm chứa ý định của Chúa Giêsu muốn tấn phong chức tư tế thừa tác của chế độ Tân ước cho các Tông đồ, và ban cho các ngài năng quyền công bố những lời nói hiệu nghiệm làm nên bí tích Thánh Thể cũng như tẩy xóa được tội khiên (Mt 18,18; Gn 20,23). Chúa Kitô là tư tế thượng phẩm theo kiểu Melkisêđê (Kn 14,18; Tv 110,4). Truyền thống Do Thái như Thánh vịnh 110 phản ảnh lại, đã liên kết khuôn mặt Đấng Thiên Sai với phẩm hàm tư tế của Melkisêđê. Chính chúa Giêsu đã áp dụng Thánh vịnh đó cho mình (Mt 22,44; 26,64) và thư gửi các tín hưu Do Thái đã hiểu đúng ý hướng ấy khi khai triển chủ đề thần học về chức tư tế tối cao và vĩnh cửu của Chúa Cứu thế (Hr 5;7;8;9. Khi lấy bánh miến và rượu nho lập phép Thánh Thể, Người ý thức rằng mình đang làm một hành vi tư tế, như Melkisêđê ngày xưa đã đem bán miến, rượu nho tặng cho Abraham, kèm với những lời chúc lành do một vị tư tế của Đấng Tối Cao (Kn 14,18-19). Hành vi dâng hiến cũng như tặng phẩm của Chúa Giêsu mang một ý nghĩa và hiệu năng vượt xa hành vi và tặng vật của Melkisêđê vì Người là tư tế tối cao của Giao ước mới và vĩnh viễn, và bánh miến rượu nho Người ban tặng đã được quyền năng thần linh của Người biến thành Thịt và Máu Người. Khác với Melkisêđê, Người vừa là tư tế vừa là của lễ tế hiến để "xóa tội trần gian" (Mt 26,28; Gn 1,29) và để làm lương thực đem sự sống vĩnh cửu cho loài người  (Gn 6,54).

III. BỮA TIỆC THÁNH THỂ CỦA TA HÔM NAY

Bữa tiệc Giao ước mới do Chúa Giêsu thết đãi các môn đệ gắn liền với bữa tiệc vượt qua của truyền thống Do Thái. Do đó bữa tiệc Thánh Thể của ta hôm nay cũng mang tất cả mọi ý nghĩa của bữa tiệc Giao ước cũ. Lễ Vượt qua của truyền thống Do Thái nhận được sự viên mãn trong cuộc vượt qua của Chúa Kitô. Chính Người, trong hành động chết và sống lại, là hiện thân của Giao ước mới và vĩnh viễn. Mầu nhiệm Vượt qua biểu lộ bản chất và định hướng đời sống của Người : Người hiện hữu cho Chúa Cha và cho loài người. Người sinh ra, hoạt động, rồi chết và sống lại, trở về với Chúa Cha : trong tất cả mọi sự, Người tuân hành thánh ý chúa Cha và tìm vinh danh cho Cha, và Người đến để phục vụ mọi người bằng cách chết thay và chuộc tội cho ta, giải hòa ta lại vơi Chúa Cha và lấy Thịt Máu mình nuôi sống ta. Đến cả khi phục sinh, Người cũng đã sống lại vì ta. Đời sống của Người được dệt thành bởi những quan hệ phục vụ, hướng về kẻ khác. Người có đó, là để cho kẻ khác "ăn" Người đi. Bí tích Thánh Thể, cũng như cử chỉ rửa chân cho các môn đệ (Gn 13,1-15) chứng minh chân lý ấy.

Do đó, mỗi lúc cử hành bí tích Thánh Thể, chúng ta tưởng niệm và hiện-đại-hóa cái chết và cuộc Phục sinh của Đức Kitô cho ta, để chuyển ơn cứu độ chảy theo dòng Máu và Nước từ trái tim bị đâm thủng của Người vào lòng ta. Ơn Thánh chảy vào lòng ta, thì Nước trời cũng đang đến với ta, và qua ta, đến với thế giới. Mỗi lần cử hành thánh lễ, chúng ta tuyên xưng cái chết cứu độ và cuộc Phục sinh đầy sức sáng tạo của Chúa Kitô trong năng lực Chúa Thánh Thần, cho tới khi Người lại đến để hoàn thành Nước Trời bằng cách siêu thăng và biến dạng thế giới này và dâng tất cả lịch sử loài người cho Chúa Cha.

Bí tích Thánh Thể, vì thế, là bí tích của những người hành hương đang xây dựng Nước Trời giữa lòng thế giới. Sự đóng góp của người Kitô hữu cho lịch sử loài người luôn mang ấn tín của mầu nhiệm Vượt qua : hành động của họ được đánh dấu bởi sự thánh hiến cho Thiên Chúa qua bí tích Thánh Tẩy; nghị lực của họ được củng cố bởi sức mạnh Chúa Thánh Thần qua bí tích Thêm sức; đời sống của họ được nuôi dưỡng bởi Mình và Máu Chúa Kitô qua bí tích Thánh Thể. HoÏ xây dựng thế giới, nhưng là một thế giới như con đường đi, chứ không phải cái gì như một thành trì cố định. Trong ý nhắm “Vượt qua" và tinh thần hành hương ấy, họ lãnh nhận Thánh Thể như của ăn đàng. Ý nghĩa đó được tượng trưng bởi cử chỉ của người tín hữu tiến lên bàn thờ, đứng rước lễ trong tư thế sẵn sàng ra đi, như người Do Thái ngày xưa đứng ăn lễ Vượt qua, với bị gậy sắp sẵn, để lên đường Xuất hành (Xh 12,11).

Bí tích Thánh Thể, muốn lôi kéo đời sống nhân loại vào trong chuyển động của cuộc hành hương vĩ đại về Trời mới Đất mới, và không hề hàm ý khước từ một giá trị trần thế nào, trái lại đón nhận và thánh hiến tất cả mọi thực tại, kể cả vật chất mà bánh miến, rượu nho là những mẫu tượng trưng. Bí tích Thánh Thể kết tụ mọi lao nhọc, mọi thất bại, mọi thành công của loài người để sát nhập chúng vào mầu nhiệm chết và phục sinh của Chúa Kitô, và biến chúng thành lời kinh tạ ơn vô tận dâng lên Chúa Cha. Mọi người dự tiệc Thánh Thể đều đi vào cuộc Vượt qua của mình, không phải một cách đơn độc, nhưng với cộng đoàn Giáo hội là dân Thiên Chúa đang trên đường hành hương; bởi vì chính Thánh Thể làm ra Giáo hội, khi Giáo hội họp mừng cử hành Thánh Thể.

GIẢNG LỄ

Buổi chiều hôm nay chúng ta họp nhau lại đây không phải để cử hành một thánh lễ như mọi khi. Chúng ta sẽ chiêm ngưỡng Chúa trong hai hành vi : rửa chân cho môn đệ và cử hành bữa tiệc Thánh Thể đầu tiên trong lịch sử loài người.

Chúa muốn chúng ta bắt chước Người rửa chân cho nhau, như lời Phúc âm chúng ta vừa nghe đọc. Nhưng không tiện làm công việc đó hằng ngày. Giáo hội muốn chúng ta hằng năm phải làm hành vi này theo ý Chúa và trong tinh thần của Chúa. Phúc Âm cho ta biết : hôm nay, Chúa đi vào giờ của Người. Nghĩa là đã đến giờ Người ra tay hành động để cứu thế. Do đó mọi việc Người làm trong giờ này và kể từ giờ này sẽ có giá trị vô song, sẽ quyết định dứt khoát vận mệnh của tất cả thế giới. Ta chỉ cần đọc lại mấy lời mở đầu bài Phúc âm hôm nay là thấy rõ Chúa đã chuẩn bị giờ phút này thế nào và Người đánh giá rất cao những công việc mình sắp làm. Người biết đã đến giờ bỏ thế gian về cùng Chúa Cha nên Người muốn tỏ yêu thương các môn đệ cho đến cùng. Đồng thời Người cũng ý thức rõ Chúa Cha đã ban cho Người mọi sự ở trong tay, nên Người có thể làm được mọi sự mình muốn. Như vậy những việc mà Người sắp làm đây là những việc có khả năng yêu thương các môn đệ hơn hết. Và chúng ta phải hiểu các việc này dưới khía cạnh của tình yêu, đến nỗi bàn tiệc Thánh Thể cũng là bàn tiệc yêu thương và buổi chiều hôm nay là thời gian để biểu thị đức bác ái tột độ.

Chính trong bầu khí yêu thương, mà Đức Kitô đã đứng lên cầm nước đi rửa chân cho môn đệ. Mọi người đều sửng sốt. Sao Thầy lại làm như vậy ? Vì sao để tỏ dấu yêu thương, lại phải bắt đầu bằng việc rửa chân người mình muốn thương ? Phêrô không hiểu gì cả, nên đã hỏi. Chúa đã trả lời nhưng Người nói rõ : bây giờ chưa hiểu được đâu; nhưng sau này sẽ hiểu. Người muốn cho chúng ta phải suy nghĩ về ý nghĩa công việc Người làm, và phải tìm hiểu với ơn Thánh Thần sẽ đến sau ngày Phục sinh. Chính Thánh Thần sẽ cho chúng ta biết : Chúa làm mọi việc vì yêu thương ta. Và vì yêu thương ta, nên Người đã cứu độ ta. Buổi chiều hôm nay, Chúa ra tay cứu thế. Người nhìn môn đệ đang ngồi ở bàn tiệc. Lễ Vượt qua sắp bắt đầu. Nhưng họ đã có tâm hồn để làm lễ Vượt qua với Người chưa? Người thấy cần phải thanh tẩy cho họ. Nên Ngài cầm chậu nước đi rửa chân cho môn đệ. Ngài có thể bảo họ đi rửa chân lấy, tự làm lấy việc sám hối ăn năn. Nhưng chẳng ai rửa được tâm hồn mình sạch tội, trừ được chính ơn của Chúa cứu chuộc rửa cho.

Hôm nạy Chúa rửa chân cho môn đệ trước khi cử hành Thánh Thể, để việc thống hối ăn năn của ta trước thánh lễ luôn luôn nhận được ơn tha thứ. Không thanh tẩy tâm hồn, không có khả năng dâng lễ. Và chính Chúa đã bảo ta phải thống hối những tội nào đặc biệt trước khi dâng lễ vật; nếu chúng con sực nhớ mình còn bất hòa với ai, hãy đặt của lễ đó, đi làm hòa với anh em đã, rồi trở lại dâng lễ sau.

Chính vì vậy mà lễ nghi rửa chân hôm nay vừa có ý nghĩa thanh tẩy vừa muốn diễn tả tình bác ái huynh đệ. Người ta không thể dâng lễ xứng đáng, khi không muốn cùng với mọi người khác làm thành một cộng đoàn trong sạch và bác ái. Thánh Thể sẽ biến mọi người tham dự thành các chi thể của một Thân Mình Chúa, thì lễ nghi rửa chân, nghi thức thống hối trước thánh lễ phải làm cho người ta có tâm tình anh em với nhau trong sự thánh thiện. Thế nên phụng vụ Giáo hội hôm nay muốn rằng người đứng đầu các cộng đoàn phải tự mình làm nghi lễ rửa chân. HoÏ phải nhớ và thực hành Lời Chúa : ai lớn nhất trong anh em, phải phục vụ như người rốt bét. Xin anh em hãy cầu nguyện cho tôi trong giờ phút trang trọng này, để khi cử hành nghi lễ rửa chân, tôi ý thức địa vị của tôi ở trong Giáo hội là để phục vụ. Xin Chúa và anh em tha thứ cho tôi, vì nhiều lần ở cương vị mình, tôi không có tâm tình phục vụ đủ. Và xin mọi người chia sẻ trách nhiệm Giáo hội, xã hội, gia đình với tôi, hãy đi vào tâm tình của Chúa Cứu thế trong hành vi rửa chân cho môn đệ, để chúng ta ăn năn về thái độ quan cách trong quá khứ, và nhận thức từ nay phải phục vụ khiêm tốn và yêu thương hơn. Và như vậy, chúng ta mới xứng đáng đi vào mầu nhiệm Thánh Thể.

Chắc chắn chúng ta không thể diễn tả nhiều về mầu nhiệm này. Chính Giáo hội biết như vậy nên mặc dầu cho ta nhiều giờ chầu sau lễ để ta suy niệm thêm về ơn Thánh Thể mà Chúa ban cho ta hôm nay; sau các tuần lễ Phục sinh, Giáo hội sẽ cử hành lễ Thánh Thể một cách long trọng đặc biệt, để bù đắp cho sự thánh thiếu sót hôm nay. Nhưng như câu kết của bài đọc II mà ta đã nghe đọc, phụng vụ chiều nay muốn cho chúng ta nhìn vào Thánh Thể như nhìn vào lễ Vượt qua của Chúa Kitô. Ngài đã chọn khung cảnh lễ Vượt qua của người Do Thái để thiết lập bí tích Thánh Thể. Người làm tăng giá trị của lễ ấy khi biến nó nên hình ảnh báo trước cuộc Vượt qua của mình.

Hôm nay Người làm lễ Vượt qua thật sự, khi chấp nhận từ bỏ đời này, từ bỏ mạng sống, từ bỏ thân thể hữu hình để vượt qua mọi biên giới trần gian về cùng Cha mình ở trên trời. Bàn tiệc Thánh Thể vì thế đượm mầu tiệc ly. Người uống chén rượu nho lần chót ở đời này để về trời trước, chờ đợi môn đệ mình đến sau. Người Do Thái xưa ăn lễ Vượt qua trong tin tưởng sâu xa vào Lời Chúa, nhưng không biết rõ sự việc sẽ xảy ra. Còn Đức Kitô, Người biết rõ con đường thánh giá đang chờ đợi mình. Người cầm chén rượu nhưng đã nhìn thấy đó là chén máu. Nên cuộc Vượt qua, lễ Thánh Thể của Người là một cuộc đau thương, một lễ tử hình. Ngày thứ Sáu Tuần Thánh với cây Thập giá đã hiện diện đầy đủ trong bàn tiệc Thánh Thể hôm nay. Giá trị của ngày thứ Sáu nằm sẵn trong hành vi Thánh Thể hôm nay rồi, vì ngày mai Chúa đã ở trong tay kẻ dữ, và một phần nào Người không còn tự do, tự nguyện. Nhưng chính vì hôm nay Người tự do, tự nguyện chấp nhận ra đi chịu chết, nên án tử hình của Người trong ngày mai vẫn là lễ dâng tự  ý hoàn toàn. Ngày thứ Sáu chỉ diễn tả ra bên ngoài những gì đã xảy ra trong tâm hồn của Chúa Kitô chiều hôm thứ Năm. Thánh Thể vì vậy không phải chỉ là bàn tiệc ly, nhưng đã là lễ tế trên Thánh giá. Và vì Thánh giá ở đâu thì mầu nhiệm Phục sinh cũng đã tàng ẩn ở đó nên khi tuyên bố : đây là chén Tân Ước vĩnh cửu, Chúa Cứu thế đã cho ta nhìn thấy hiệu quả của ThánhThể là đổi mới tất cả chúng ta trong một tương quan mới về Thiên Chúa. Chúng ta được trở thành tạo vật mới trong lễ Vượt qua của Đức Kitô, vì Đức Kitô không chỉ ra đi chịu chết, nhưng để về cùng Thiên Chúa Cha, Đấng sẽ phục sinh Ngài trong Thánh Thần. Như vậy, mầu nhiệm Phục sinh đã tiềm ẩn trong bàn tiệc ly, đó là mục đích của lễ Vượt qua mà Đức Kitô đã cử hành; đó là tột đỉnh của lòng Ngài yêu thương môn đệ. Ngài cúi xuống rửa chân cho họ, đưa họ vào mầu nhiệm Thánh Thể hy sinh của Ngài, là để cuối cùng họ được cùng Ngài phục sinh trong Giao ước mới, tức là trong mối tình thắm thiết mới giữa Thiên Chúa và loài người.

Giờ đây chúng ta sắp cử hành tất cả những công việc trọng đại ấy. Chúng ta hãy cầu xin cho nhau được từ bỏ con người cũ trong nghi thức rửa chân này, để tiến sang việc kết hợp mật thiết mới với Thiên Chúa trong mầu nhiệm Thánh Thể, hầu sau đó chúng ta sống cuộc đời mới yêu thương anh em trong nỗ lực phục vụ khiêm cung và mỗi ngày mỗi tiến lên trong ý thức thánh thiện kết hợp với Đức Kitô trong mầu nhiệm Vượt qua mà chúng ta cùng nhau sốt sắng cử hành bây giờ.

 

9. Vì yêu, nên chấp nhận tất cả - Tu sĩ Jos. Vinc. Ngọc Biển, S.S.P.

Chiều hôm nay, chiều mà Giáo Hội cử hành thánh lễ Tiệc Ly. Trong thánh lễ này, chúng ta thấy toát lên vẻ trầm buồn bởi cảnh ly biệt của người đi và kẻ ở!

Đức Giêsu sẽ ra đi để chịu chết chuộc tội thiên hạ. Các môn đệ sẽ ở lại để rồi mai đây sẽ tiếp bước trên con đường mà Thầy Giêsu đã đi.

Tuy nhiên, không chỉ dừng lại ở cảnh sầu ly chia ngả, nhưng nó còn đi xa hơn nữa để thấy được tình yêu của người ra đi và sự phản bội, bất trung của nhiều kẻ ở lại! Từ đó, chúng ta nhận ra lòng thương xót của Đấng là Chúa và là Thầy thì lớn lao vô bờ, trong khi đó, sự vô ơn, nhát đảm dẫn đến sự phản bội của người môn sinh lại cứ dần leo thang!

1/ Điều tốt và xấu luôn tồn tại

Trong cuộc sống của con người, sự bất trung, vô ơn, phản bội, có lẽ luôn tồn tại song song với thời gian. Những thái độ, hành vi và lựa chọn tiêu cực ấy lại được diễn ra đây đó giữa cha mẹ với con cái; giữa vợ với chồng; giữa bạn bè, đồng nghiệp với nhau; giữa thầy với trò…, và, nhất là giữa con người với Thiên Chúa là Đấng luôn yêu thương ta. 

Họ bội ước quên thề và phản bội với nhau có thể do động lực tiền bạc, tình cảm và chức quyền gây nên. Những sự vô ơn và phản bội như thế, dân gian người ta gọi những hạng người đó là kẻ: “Ăn cháo đá bát”; “lừa thầy phản bạn”; “qua cầu lướt ván…”.

Với Đức Giêsu, từ khi đón nhận bản tính nhân loại nơi mình, Ngài cũng là con người giống như bao người, vì thế, Đức Giêsu cũng đã từng nếm trải những chuyện như: vô ơn, phản phúc, đổi trắng thay đen, nói không thành có… đến từ những người mà Ngài làm ơn làm phúc; những người mà Ngài đã cứu sống, và, nhất là đến từ các môn đệ là những người được chính Ngài tuyển lựa để ngày đêm ở với Ngài và được Ngài dạy dỗ nhiều điều!

Sự thật cay đắng này diễn ra trong bữa Tiệc ly buổi chiều năm xưa, mà hôn nay chúng ta đang tưởng niệm.

Điều này được thấy qua những nghi thức phụng vụ, nhất là Lời Chúa trong Tin Mừng hôm nay.

Kinh Thánh diễn tả buổi chiều hôm nay là một buổi chiều ly biệt giữa Thầy và trò.

Khung cảnh trầm buồn ấy cộng thêm những nét chấm phá hết sức ấn tượng diễn tả sâu sắc tình yêu thương của Thầy dành cho trò. Tuy nhiên, mặt trái của bức tranh tình yêu đó lại bị những vết đen phản bội, vô ơn và bất trung xen lấn, làm cho họa tiết lộ rõ sự hỗn độn, khiến cho người thưởng thức không khỏi khó chịu và xót xa!

2/ Tất cả vì tình yêu

Câu chuyện diễn tả bản chất của Thiên Chúa là tình yêu, được khởi đi từ việc Đức Giêsu muốn ăn bữa tiệc vượt qua sau cùng với các môn đệ trước khi lên đường hy sinh mạng sống để cứu chuộc nhân loại. Vì thế, đây là một bữa tiệc mang nhiều ý nghĩa thâm sâu.

Đỉnh điểm của buổi họp mặt hôm nay giữa thầy và trò, đó là việc Đức Giêsu loan báo: Một người trong anh em sẽ phản bội. Một trong anh em sẽ chối Thầy, và, đêm nay anh em sẽ vấp phạm vì Thầy.

Từ lời loan báo trên, Đức Giêsu đã nói rất rõ ràng cho các môn đệ biết về sự vô ơn, hèn nhát và thiếu trung thành của các ông đối với Ngài.

Nhưng ngay lúc này, các ông rất hoang mang và nhiều người không thể ngờ được là: tại sao trong nhóm của mình lại có những kẻ “được cá bẻ đăng”, rồi hèn nhát và thiếu trung thành đến vậy…!

Chính vì thế, mà họ bắt đầu nhao nhao hỏi Đức Giêsu: “Thưa thầy, có phải con không?”. Đức Giêsu không nói rõ ai sẽ là người phản bội mình, Ngài chỉ đưa ra hành động ám chỉ: Thầy chấm miếng bánh trao cho ai, thì đó là người ấy. Rồi Giuđa là kẻ đã lĩnh miếng bánh trước mặt anh em. Sau khi đã nhận miếng bánh ân tình, ma quỷ đã nhập vào y và y đã quyết định rời khỏi nơi chốn tình yêu, không gian ánh sáng để tiến về vùng tối tăm của sự ác!

Đọc tiếp trang Tin Mừng, chúng ta còn thấy sự bất trung của các môn đệ khác được tìm thấy trong biến cố tại Vườn Cây Dầu. Các môn đệ đang ở với Đức Giêsu, khi thấy toán lính đến bắt Thầy mình, thế là họ đã bỏ chạy hết. Rồi sự hèn nhát của Phêrô, vị Tông đồ trưởng được diễn ra trong dinh Thượng tế, ông đã trối Thầy trước sự đe loi của đám lính.

Tuy nhiên, dù tội lỗi của các ông có lớn thế nào đi chăng nữa, thì ngay tại phòng tiệc ly, Đức Giêsu làm một loạt những hành vi và lời nói nhằm diễn tả tình yêu của vị Thầy khả kính dành cho môn sinh, qua đó giúp cho các ông tin và đi vào mối tương quan tình yêu với Ngài.

Chính vì yêu và yêu họ đến cùng, nên Đức Giêsu đã không ngần ngại, trao ban, hiến tặng tất cả, ngay cả mạng sống của mình cho con người. Điều này được thể hiện qua việc Ngài thiết lập Bí tích Thánh Thể. Không dừng lại ở đó, Đức Giêsu còn muốn ở lại với loài người mọi ngày cho đến tận thế, nên liền ngay sau đó, Ngài đã thiết lập thiên chức linh mục.

Để tình yêu thương được cụ thể, nên vào cuối bữa ăn, Đức Giêsu đã làm một hành động ngược đời đến kỳ quặc, đó là quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ. Đây là hành động của nô lệ rửa chân cho ông chủ, trò rửa chân cho thầy. Khi làm ngược lẽ tự nhiên như vậy, Đức Giêsu muốn dạy các ông bằng hành động chứ không chỉ lời nói. Điều này đã gây nên sự ngỡ ngàng tột độ, khiến Phêrô đã phải thốt lên: “Lạy Thầy, Thầy định rửa chân cho con ư?”;  “Không đời nào Thầy sẽ rửa chân cho con”.

Tuy nhiên, Đức Giêsu nói với ông: “Nếu Thầy không rửa chân cho con, con sẽ không được dự phần với Thầy”. 

Sau đó Ngài đã dạy các ông: “Nếu Ta là Chúa và là Thầy mà còn rửa chân cho các con, thì các con cũng phải rửa chân cho nhau”.

Như vậy, việc Đức Giêus rửa chân cho các ông, Ngài muốn làm một cử chỉ sâu xa để diễn tả tình yêu của Thiên Chúa với nhân loại.

Bên cạnh đó, Ngài muốn gột rửa tâm hồn các ông thực sự. Bởi vì nơi các ông vẫn còn nhiều vấn vương bụi đời. Nào là tranh dành quyền lực; thích được phục vụ; ăn trên ngồi trước. Nào là chia rẽ nội bộ; nhát đảm, sợ sệt, ham tiền, hám lợi và phản bội….

3/ Sứ điệp Lời Chúa

Ngày nay, vẫn còn đó những con người chẳng khác gì các môn đệ là bao. Họ vẫn mang trong mình những sự kiêu ngạo, ích kỷ, chia rẽ và thiếu trung thành, phản bội và vô ơn…!

Vẫn còn đó những kẻ chỉ vì miếng cơm manh áo mà bán đứng anh em của mình cho sự ác.

Lại có kẻ miệng thì nói tin Chúa, sống chết với đức tin, đạo giáo. Nhưng khi có lợi đến, hay bị thử thách, họ sẵn sàng từ chối thuộc về Chúa để được yên thân.

Và, cũng không thiếu những kẻ “khi hay thì vỗ tay vào, đến khi hoạn nạn thì lìa nhau ra”. Họ tin và theo Chúa chẳng khác gì trẻ con. Họ rất giống những người thiếu lập trường và bị hiệu ứng đám đông điều khiển!

Sứ điệp Lời Chúa và phụng vụ ngày lễ hôm nay mời gọi chúng ta hãy biết cảm tạ hồng ân của Thiên Chúa trong cuộc đời mình. Luôn sống tâm tình biết ơn Thiên Chúa ngang qua sự kiên trì và trung thành với đức tin của mình.

Cuối cùng, hãy sống bản chất của Bí tích Thánh Thể là Bí tích tình yêu, dấu chỉ hiệp nhất, mối dây bác ái; đồng thời luôn biết yêu thương nhau thật lòng như Chúa đã yêu, đó là một tình yêu bằng hành động, hướng tha, hy sinh và phục vụ.

Lạy Chúa Giêsu, hôm nay, Chúa đã thể hiện tình yêu trọn vẹn của Chúa dành cho nhân loại. Xin Chúa ban cho chúng con cảm nghiệm được tình yêu ấy và ra sức thi hành trong cuộc sống qua các mối tương quan với Chúa và tha nhân. Amen.

 

10. Bữa tiệc ly

1/ Chúa rủa chân

Một nhóm Kitô hữu Trung hoa mời một học giả người Mỹ đến Trung hoa, để tổ chức cuộc hội thảo về Kinh Thánh. Trong lúc hội thảo, vị học giả đề nghị các học viên chọn một đoạn P. gây ấn tượng cho mình nhất. Ông ta ngạc nhiên vì thấy họ không chọn bài giảng trên núi hay bài tường thuật cuộc khổ nạn và phục sinh của Chúa Giêsu, mà chọn đoạn Chúa Giêsu rửa chân cho các tông đồ.

Hành động rửa chân nói với tôi điều gì về Chúa Giêsu? Tôi có thể bắt chước hành động đó của Chúa như thế nào? (Trích Viễn tượng 2000.)  

Chính Chúa Giêsu trả lời cho chúng ta: Nếu Thầy là Chúa là Thầy mà còn rửa chân cho anh em thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em (Ga 13, l4-l5). 

Và Thánh Phaolô còn trả lời rõ ràng hơn cho chúng ta hiểu mà thực hành điều Chúa dạy:

"Giả như tôi có nói được các thứ tiếng của loài người và của các thiên thần... Giả như tôi được ơn nói tiên tri và được bíêt hết mọi điều bí nhiệm mọi lẽ cao siêu, hay có được tất cả đức tin đền chuyển núi dời non mà không có đức mến thì tôi cũng chẳngià gì  (1Cr.13, l3). 

2/ Phút dở sống dở chết

Năm 1985 tin tức đài truyền thanh truyền hình ở Nữu Ước (Hoa Kỳ) đều loan tin một phụ nữ bị kẹt nằm ở dưới cần trục. Bác sĩ được cấp tốc mời đến để giúp bà ta sống cho đến lúc nhắc được cần trục lên. Ông thì truyền máu, ông thì tiêm thuốc khỏe và thuốc giảm đau...

Trong giờ phút đờ sống dở chết và đau đớn tật cùng đó, bà ta không xin gì, cũng chẳng trối điều chi, một chỉ lài nỉ van xin được rước Chúa. Và bà ta được toại nguyện. Thế rồi bà ta cũng được cứu, chở đến bệnh viện và được  mạnh khỏe lại... (Theo Cha M. Link).

Tại sao người nữ đó biết mình sắp chết mà không lo sợ, không trối trăn, một chỉ xin cho được rước Chúa? Phải chăng vì bà tin có Chúa ở trong lòng thì Chúa sẽ cứu vớt, Chúa sẽ nuôi linh hồn, Chúa sẽ cho được sống như lời Chúa hứa: Ta là bánh hằng sống từ trời xuống... Ai ăn Thịt Ta và uống Máu Ta thì được sống muôn dời (Ga 6,51-54).

Trong bữa Tiệc ly hôm nay, Chúa Giêsu lập Bút tích Thánh thể để ở với chúng ta, cứu giúp chúng ta hằng ngày, nhất là đêể làm thần lương nuôi dưỡng linh hồn chúng ta trên đường vê Quê Trời.

3/ Tội vô tình

Một bề trên tu viện Công giáo đến tìm ẩn sĩ Aán giáo tại chân núi Hy-mã-lạp-sơn và trình bày về tình trạng bi đát của tu viện với ông:

Trước kia tu viện nầy là một trung tâm thu hút nhiều kẻ hành hương. Nhà thờ lúc nào cũng vang tiếng hát của giáo dân từ khắp nơi đến. Trong tu viện không còn chỗ nhận thêu người vào tu hằng ngày đến gõ cửa nữa. Thế mà bây giờ tu viện chẳng khác nào một ngôi chùa hoang phế. Nhà thờ vắng lạnh, tu sĩ thì leo heo.mấy người, cuộc sống thật là buồn tẻ t....

Vị bề trên hỏi tu sĩ ẤN giáo cho biết nguyên nhân nào hay lầm lỗi nào đã đưa tu viện đến tình trạng trên. Tu sĩ ẤN,,giáo ôntồn bảo: Các tội đã và đang xảy ra trong cộng đoàn là tội vô tình. Và ông giải thích: Đấng Cứu Thế đã hóa trang thành một người trong quý vị, nhưng quý vị không nhận ta Ngài.

Nhận được lời giải đáp, vị bề trên hớn hở trở về tu viện. Ông tập họp mọi người lại và loan báo cho họ biết: Đấng Cứu Thế đã hóa trang thành một người trong nhà. Các tu sĩ đều mở to đôi mắt và quan sát nhau. Ai là Đấng Cứu Thế hóa trang vậy?

Nhưng có điều chắc là một khi Ngài đã cải trang thì không ai có thể nhận ra Ngài được. Mỗi người trong họ có thể là Đấng Cứu Thế.

Vậy là từ đó, mọi người đều đối xử với nhau thư với Đấng Cứu Thế! Chẳng bao lâu bầu khí bác ái huynh đệ, sức sống và niềm vui đã trở lại trong tu viện. Từ khắp nơi người ta lại tìm đến tu viện để tỉnh tâm và cầu nguyện. Nhiều người trẻ cũng đã đến xin gia nhập cộng đoàn. (Trích Món quà giáng sinh)

Trong bữa Tiệc ly, Chúa Giêsu rửa chân cho các môn đệ để dạy các ông thương yêu lo lắng giúp đỡ nhau trong tình bác ái huynh đệ. Sở dĩ tu viện nầy sa sút vì thiếu vắng tình bác ái huynhđệ dó..

4/ Ông Gọi Tôi Là Anh Em.

Một nạn đói xảy ra trong vùng. Cỏ người ăn xin bên góc đường bước đến bên ông Tolstoi là đại văn hào Nga đang đi ngang qua đó. Tolstoi dừng lại, định lấy tiền cho, nhưng không tìm được đồng nào. Ông nói với sự tiếc nuối: 

- Nầy người anh em, đừng giận tôi. Tôi chẳng có đem theo gì

Mắt người ăn xin sáng lên và nói:

- Ông gọi tôi là anh em, đó đã là món quà rất lớn rồi.

*Tại sao chỉ được gọi là anh em mà bảo là món quà lớn nhất? Vì nó nói lên tấm lòng yêu mến, tôn trọng nhau. Đó cũng là một cách thi hành bác ái huynh đệ Chúa dạy. (Trích Minh hoạ Lời Chúa)

5/ Tôi cứ tiếp tục thế nầy

Một người thợ mỏ phải làm việc nặng nhọc hằng ngày để kiếm sống và nuôi gia đình. Ngày kia viên quản lý thấy anh mệt nhọc quá thì nói:

- Anh Thomas, tôi sẽ phân công anh làm việc khác đỡ vất vả hơn. Anh đồng ý không? 

Trước đặc ân đó, ai mà không mừng? Nhưng anh Thomas nói với người quản lý: 

- Thưa ông, ở đây có anh Tregohy thân hình gầy gò mà phải làm việc quá nặng, tôi sợ tình trạng nầy kéo dài thì anh ta sẽ không thọ, và rồi gia đình nghèo khổ của anh ấy biết sống lành sao? Hay ông cho anh ta làm công việc nhẹ ấy đi, còn tôi cứ tiếp tục làm thế nầy cũng được. (Trích Minh hoạ Lời Chúa),

Thật là một mối tình sâu thẳm đậm đà. Phải chăng anh thợ mỏ nầy là hình ảnh Chúa Gtêsu thưng loài người chúng ta, sẵn sàng chết treo trên khổ giá cho chúng ta được sống.

6/ Phục vụ mọi người

Mấy năm gần đây, một số bác sĩ người Đức và người Mỹ rất chú ý đến hiện tượng mà họ gọi là Kinh nghiệm cận tử: nhiều người vì một tai nạn hay một lý do nào đó đã ngất đi trong một thời gian khá dài (có thể nói là chết giấc). Về mặt thể lý, coi thư họ đã chết. Nhưng sau đó họ sống lại. Các bác sĩ đã phỏng vấn 1370 người ấy. Trong những điều họ thuật lại, có những điểm là ai cũng nhất trí như sau: 

Cuộc sống ở cõi bên kia hạnh phúc hơn ở cõi đời nầy. Sau khi chết đi sống lại, không ai còn sợ chết nữa, không ai ham muốn kiếm tiền bạc danh vọng lạc thú nữa. Điều duy nhất mà họ quan tâm là sống yêu thương, quảng đại, phục vụ mọi người. (Tóm bài của Willie Hoffsuemmer).

Tại sao cõi sống bên kia hạnh phúc hơn? và chết đi sống lại không còn ham thích của cải danh vọng thú vui mà chỉ biết thương yêu phục vụ?..

Phải chăng vì bên kia là Quê Hương thật Chúa thưởng những kẻ đã tận tâm chuẩn bị lúc tạm sống ờ trần gian? Và chết đi sống lại chỉ biết yêu thương phục vụ phải chăng vì thấy rõ chỉ có yêu thương phục vụ mới tồn tại và là điều kiện để được hưởng phúc trường sinh?... Hơn nữa vì Chúa đã nêu gương cho mọi người trong Tin mừng hôm nay.

7/ Phép lạ Thánh Thể.

Năm 1970, một toán chuyên gia người Ý đã thực hiện một cuộc phân chất trên bánh và rượu được biến thành Thịt và Máu Chúa Giêsu lưu trữ trong nhà thờ Thánh Phanxicô miền Trung nước Ý.

Và cuộc phân chất đã đi đến kết quả: Máu được chứa đựng trong chén thánh thuộc nhóm AB, Thịt được chứa đựng trong chén cũng thật là thịt người, với tất cả đặc tính của máu thịt một người đang sống, mặc dù máu thịt nầy chỉ được cất giữ trong tình trạng tự nhiên không cần hóa chất hoặc kỹ thuật ướp xác nào.

Đó là phép lạ Thánh thể xảy ra tại tu viện Thánh Phanxicô. Sự kiện như sau: một linh mục không có lòng tin mạnh mẽ. Càng ngày ông càng nghi ngờ bánh rượu được truyền phép không thực sự trở thành Mình Máu Thánh Chúa Giêsu.

Một buổi sáng, sau khi đọc lời truyền phép, ông thấy bánh rượu biến thành Mình Máu Chúa. Trong cơn xúc động sâu thẳm, vị linh mục thét lên:

- Để đánh bại lòng cứng tin của tôi, Chúa đã tự tỏ mình trong Bí tích Cực Thánh nầy. 

Và từ đó Máu và Thịt Chúa Giêsu do phép lạ này đã được cất giữ, để củng cố lòng tin cho những ai nghi ngờ việc bánh rượu trở thành Mình Máu Chúa Giêsu.

Hôm nay Chúa Giêsu lập Bí tích Thánh Thể để ở lại vớichúng ta, làm lương thực bổ dưỡng tâm hồn chúng ta. Bánh rượu được biến thành Mình Máu Thánh Người, mắt phàm không thấy được phải lấy đức tin bù lại

Muốn được sống và sống muôn đời, mỗi người cần lãnh nhận thần lương Chúa ban. Và xin Chúa cũng biến cuộc đời chúng ta trở thành một cử hành Thánh Thể bằng sự phục vụ quảng đại, hy sinh quên mình của chúng ta. (Theo Phút cầu nguyện cuối ngày tập II).

8/ Chúa muốn canh chừng chúng ta

Theo phong tục nhiều dân tộc Phi Châu, trước khi một đứa trẻ được công nhận vào tuổi thanh niên, nó phải trải qua một cuộc thừ thách vào dịp ngừng sinh nhật thứ 13 của nó.

Bởi đó, khi cậu Kitty lên 13 tuổi, cậu phải ở một mình trong rừng vắng suốt một đêm để chịu thử thách. Đây là lần đầu tiên Kitty phải ở một mình trong đêm tối vắng vẻ. Cậu cảm thấy nó dài vô tận. Mỗi tiếng động nhỏ thư là tiếng bom nổ kinh khủng. Cả tiếng lá rụng, cành cây gãy cũng đều làm cho cậu rỡn tóc gáy nổi da ga ø?...

Cuối cùng ánh bình minh cũng rọi qua cành cây kẻ lá. Cậu giật mình hoảng sợ khi thấy lờ mờ có bóng ai đứng sau một cây cổ thậu gần đó. Cậu rón rén bước lại gần và hết sức vui mừng khi thấy cái bóng đó chính là cha của cậu. Ông đã đứng đó canh chừng cậu suốt đêm qua. 

Đời sống người Kitô hữu cũng trải qua đêm tối đầy nguy hiểm, sợ hãi. Nhưng họ tin chắc có Chúa Giêsu Thánh Thể luôn ở với họ, chăm nom săn sóc họ từng giây phút đến suốt đời họ, như người Cha luôn canh chừng đứa con suốt đêm trong câu chuyện trên đây. 

Chúa Giêsu lập bí tích Thánh Thể vì thương loài người, nên thần lưng bổ dưỡng tâm hồn tín hữu Người, đồng thời ở lại gầân gũi chăm sóc hồn xác mọi người. Cả những khi Người cho phép đau khổ thử thách xảy ra cũng chỉ là để chúng ta có cơ hội củng cố niềm tin. (Theo Aùnh Sáng thế gian)

9/ Cha thương con

Nhiều người Hoa kỳ biết tên ông Bim. Người ta thường gọi là: ông Bim quảng đại.

Là một chủ nông trại giàu nhất vùng, nhưng ông sống gần gũi mọi người, sẵn sàng giúp đỡ những ai nghèo khổ bệnh tật. Ông chỉ có một đứa con trai duy nhất. Nhưng rủi thay, trong một chuyến đi nghỉ cuối tuần, vợ con ông đã bị tai nạn chết hết !..

Trong những ngày buồn thảm đó, ông lại gặp  một đứa trẻ ăn mặc rách rưới lang thang. Ông gọi nó đến hỏi thăm, mới biết nó là đứa trẻ mồ côi cha mẹ từ nhỏ, sống rày đây mai đó nhờ những người hảo tâm trong vùng. Tên nó là Juni. Oâng dẫn Juni về nhà, nhận em làm con nuôi, và làm chúct hư cho nó:

Nếu ông qua đời thì moiï tài sản của ông để lại cho Juni.

Các bạn ông ngạc nhiên hỏi sao ông làm thế. Ông trả lời: 

- Tôi thương nó.

Thiên Chúa là tình yêu. Người thương chúng ta đến nỗi ban Con Một Người cho chúng ta. Và Con Một của Người cũng vì thương chúng ta, đã lấy Thịt Máu Thánh Người làm thần lương bổ dưỡng tâm hồn,gần gũi  chăm sóc chúng ta hằng ngày, để chúng ta đáp lại tình thương của Người, kính mến Người, yêu thương tha nhân. (Theo Phút cầu nguyện cuội ngày, tập II).

l0/ Chia sẻ

Mẹ Têrêsa Calcutta, người được giải thưởng Nobel hòa bình năm 1979 đã kể lại câu chuyện sau đây: Ngày nọ, có một thiếu phụ dẫn 8 đứa con đến xin gạọ, vì mấy ngày qua không có hột cơm ăn. Mẹ trao cho chị ta một túi gạo. Chị mừng rỡ cám ơn rồi chia ra hai phần. Thấy thế mẹ Têrêsa ngạc ngạc nhiên hỏi:

- Sao chị phân ra làm hai?

- Tôi dành một phần cho gia đình người Hồi giáo bên cạnh thà tôi, vì mấy ngày qua cũng chẳng có cơm ăn.

Mẹ Têrêsa kết luận: 

- Thế giới nầy sẽ hết nghèo khó, nếu người ta biết chia sẻ cho nhau như thiếu phụ nầy. Nhưng càng giàu, chúng ta càng muốn tích lũy thêm. Ngược lại càng nghèo, chúng ta càng dễ chia sẻ cho nhau. 

Chúa Giêsu lập Bí tích Thánh Thể lấy Thịt Máu Người bổ dưỡng tâm hồn chúng ta, bao lâu chúng ta trải qua cõi sống tạm bợ nầy để về đến Quê Hưg thật Thiên Quốc, như dân Do thái xưa trong sa mạc nhờ ăn bánh man na Chúa ban mà đủ sức đi tới dất Chúa hứa.

Chúa nêu gương cho chúng ta, dể chúng ta cũng biết thương yêu chia sẻ cho anh chị em chúng ta như túi bạo được người thiếu phụ chia hai. Chúng ta đói có người đói hơn chúng ta. Chúng ta khổ, có người khổ hơn chúng ta. Chúng ta bệnh tật, có người bệnh tật hơn chúng ta. Cần biết nhìn xung quanh sẽ thấy nhu cầu của người khác để mở rộng tâm hồn trước những nhu cầu đó của anh chị em chúng ta. (Theo Tất cả là hồng ân).

11/ Vương quốc ta đã suy đồi

Chuyện cổ Aán Độ có kể lại: Một vị vua muốn biết lòng dân có thương yêu phục vụ nhau không. Ông ta cải trang làm người nghèo ăn xin. Nhưng ông đi khắp nước mà không được ai màng tới cũng chẳng giúp đỡ gì. Ông ta buồn bả trở về hoàng cung, than thở với các quan cận thần. 

- Vương quốc của ta quá suy đồi, không ai biết yêu thương giúp đỡ kẻ nghèo khó. Người giàu có thì họ trọng vọng bợ đỡ, còn kẻ bần cùng thì họ khinh dể bỏ bê, như ta thử đi ăn mày thì không ai nhìn tới?...

Nếu Chúa Giêsu đến với chúng ta trong lòng mạo người nghèo khó ăn mày, chúng ta có tiếp đón, yêu thương giúp đỡ không? hay cũng khinh thường bỏ bê như dân quốc của ông vua đó?

Là đồ đệ Chúa, chúng ta ai cũng biết lời Chúa dạy: Người ta cứ dấu nầy mà nhận biết các con là môn đệ Thầy, là các con thương yêu nhau.

Hơn nữa, Chúa còn đồng hóa mình với kẻ nghèo khó bệnh tật: Những gì các con làm cho một trong những kẻ bé mọn nhất là các con làm cho chính Ta

Và trong bữa Tiệc ly, Chúa Giêsu đã rửa chân cho các tông đồ, đã lập Bí tích Thánh Thể để dạy chúng ta yêu thương phục vụ nhau. 

Ước gì mỗi người tín hữu chúng ta biết noi gương Chúa, biết làm theo Lời Chúa dạy để xứng đáng làm môn đệ Chúa và làm công dân Nước Trời. (Theo Anh Sáng thế gian)

12/ Phục vụ tha nhân.

Một hôm khách đi đường lấy làm lạ, khi thấy một triết gia Hy lạp đứng cười nắc nẻ một mình. Ai cũng tưởng ông ta điên, nên chẳng để ý tới.

Sau cùng có một người tọc mạch muốn biết rõ sự thật. Anh đến gần triết gia và hỏi:

- Sao ông đứng cười một mình mãi thế? Ông ta lấy tay chỉ hòn đá nằm trên đương và nói:

- Anh có thấy hòn đá nằm giữa đường đó không? Từ sáng tới giờ không biết bao nhiêu người đã vấp vào hòn đá đó té ngã, và họ bực tức chửi bới, nhưng không ai cúi xuống nhặt hòn đá vứt khỏi lối đi để người khác khỏi vấp ngã...

Nhặt hòn đá vứt khỏi lối đi để người anh em mình khỏi bị vấp ngã.

Thật là một việc làm hết sức giản đơn nhẹ nhàn, nhưng không ai làm. Phải chăng vì nó quá tầm thường không cần đếm xỉa tới? Đúng ra là vì con người ích kỷ, không biết nghĩ đến anh em mình, thiếu tình thương phục vụ kẻ khác.

Nếu mọi người biết nhìn biết nghĩ như nhà hiền triết Hy-lạp đó thì thêm gian nầy đã trở thành thiên đàng. Khi con người biết thưng yêu phục vụ nhau thì sẽ không còn khốn khổ, chiến tranh, hận thù, kỳ thị, đóùi khát nữa.

Chúa Giêsu đã yêu thưng phục vụ, và phục vụ đến chết trên khổ giá, đến lấy Máu Thịt Mình nuôi âưỡng mọi người.

Đó chính là tấm gương cao cả nhất cho mọi người, nhất là người Kitô hữu chúng ta. (Theo Như lòng Chúa khoan dung)

 

 

11. NGHỊCH LÝ CUỘC TÌNH - Lm. DĐH.

Biết nhiều khổ nhiều, có yêu mới khổ vì yêu, làm phúc phải tội, chắc không phải là những lời “than thân trách phận” vu vơ, đôi khi vì tình đời trái ngang mà ta thốt lên: thật mấy ai học được “chữ ngờ” ! Có những sự lạ tưởng đang mơ, anh hàng xóm của tôi quá túng nghèo bỗng trở nên giầu khác thường, người xưa gọi với mỹ danh là: lên như diều gặp gió. Có những đôi vợ chồng trong héo ngoài tươi, chỉ vì không muốn ảnh hưởng đến việc học tập của con cái, do đó họ phải hy sinh, phải khổ đau nhiều mà con cái không hề hay biết.

Cha ông chúng ta nói rằng: trời đánh còn tránh bữa ăn, vậy đó, Đức Giêsu năm xưa đã đi ra ngoài quy luật, đang khi ăn Ngài đứng dậy cởi áo ngoài, thắt lưng cho gọn lại, lấy nước rửa chân cho các học trò. Đã vậy, tại sao Ngài không rửa đôi tay cho sạch mà lại rửa chân ? Nghịch lý mà ngay người trong cuộc không thể hiểu nổi hành động của Thầy mình: uống rượu mà không say, rửa chân nhưng sẽ sạch cả tâm hồn ; không để Thầy rửa, các con sẽ không được thông phần với Thầy. Nếu các con không đón nhận tình yêu thương của Thầy, các con sẽ không biết yêu như Thầy yêu. Thầy Giêsu ăn tiệc với các học trò, nhưng không say rượu mà say tình, Thầy Giêsu không rửa mắt, hay rửa mặt cho các đệ tử, nhưng nhất định rửa đôi chân nhằm giúp các môn sinh đứng vững trước sứ mạng tông đồ được giao phó.

Tham dự vào “Đại tam nhật vượt qua”, phụng vụ không giới thiệu về sự cao siêu huyền bí nơi tình yêu cha mẹ, tình yêu quê hương, mà lưu ý chúng ta đến tính bất ngờ giữa tình thầy trò Giêsu. Các môn đệ hoảng hốt giật mình vì tình thầy lạ kỳ đến độ dám quỳ gối rửa chân cho các đệ tử, ngay trong bữa ăn. Ngài không cùng các học trò bày mưu lập kế để thu phục đám đông, để phát triển hài hòa tình làng nghĩa xóm, đúng hơn Ngài kêu gọi mọi người cùng xây dựng một tình yêu bền vững. Trong khi xã hội chủ trương né tránh khổ đau, tìm kiếm hạnh phúc trần thế, minh chứng cho mọi người biết thế nào là công thành danh toại, Đức Giêsu lại diễn tả cường độ yêu đến cùng tận. “Chết cho người mình yêu”.

Nâng cao mức độ hiểu biết cho các học trò, tăng khả năng miễn nhiễm do dự cho tinh thần phục vụ của các học trò tưởng là cần thiết. Nhưng không, Ngài cho biết: Thầy là Thầy, là Chúa mà còn rửa chân cho các con, vậy các con hãy thường xuyên rửa chân cho nhau. Một nghịch lý khiến các môn đệ xưa kia và các môn đệ hôm nay không khỏi hãi sợ, càng làm lớn, càng phải hy sinh hãm mình nhiều, hiểu biết nhiều thì phải chia sẻ nhiều, phục vụ nhiều. Thầy Giêsu không rửa đôi tay cho các môn đệ, nhằm giúp các ông đưa của ăn thức uống vào miệng cho vệ sinh, mà lại rửa đôi chân cho các ông. Một hành động, khiến Phêrô phải kêu lên: vậy “xin Thầy không những rửa chân, mà hãy rửa cả tay, cả đầu con nữa”.

Nghịch lý mà người đời vẫn cho rằng: ăn lúc đói, nói lúc say, hoặc như các chị em phụ nữ thường kêu ca: rượu vào lời ra, Đức Giêsu chưa ăn, chưa uống đã say rồi ! Và phải một thời gian, các môn đệ mới hiểu Thầy của họ say tình, tửu lượng của Thầy cao đến độ khiến các môn đệ, cả những ai yêu mến Ngài, rồi cũng say tình như Ngài. Mâu thuẫn của Đức Giêsu đến độ gọi là “bất thường”, Ngài rửa chân cho các học trò, nhưng là nhắm đến sẽ sạch tấm lòng, giải tỏa được những “lăn tăn” cho các môn đệ việc bán Chúa phản Thầy. Thứ tình mà người đời cho rằng: tình là tình nhiều lúc có nhưng không, thứ tình nơi Đức Giêsu không chỉ là tình tha thứ, tình “có mãi và tràn đầy” trong những ai yêu mến Ngài. Thứ tình lạ kỳ đến độ ngày hôm nay vẫn có biết bao nam thanh nữ tú, không ngần ngại bỏ tất cả để được xả thân phục vụ “say như Thầy đã say. Amen.

 

 

12. NGẬP TRÀN TÌNH YÊU THƯƠNG - Lm. Giuse Đỗ Đức Trí

Ngày 14/2 hằng năm được gọi là ngày Valentine, ngày Tình yêu, bởi vì phát xuất từ một tình yêu hy sinh quên mình vì hạnh phúc của người khác, do một linh mục tên là Valentino. Bất chấp lệnh cấm kết hôn đối với những người đang độ tuổi quân dịch, linh mục Valentino đã âm thầm chứng hôn cho một đôi bạn trẻ yêu nhau. Sự việc đến tai hoàng đế, ông đã ra lệnh bắt và tử hình vị linh mục can đảm này. Từ đó, ngày tử đạo của ông được gọi là ngày Valentine để tôn vinh những con người dám hy sinh tính mạng vì tình yêu và hạnh phúc của người khác.
Nếu như ngày Valentine được cả thế giới tổ chức, như một ngày của tình yêu, thì có thể nói ngày Thứ Năm Tuần Thánh phải là ngày ngập tràn tình yêu cho tất cả nhân loại. Vì trong ngày này, không phải là một người hy sinh cho một đôi tình nhân, nhưng chính Đức Giêsu – Thiên Chúa làm người, đã hy sinh, hiến dâng cả mạng sống, máu thịt mình cho hạnh phúc và sự sống đời đời của cả nhân loại. Vì thế, cho đến muôn đời, ngày hôm nay mãi mãi được gọi là Thứ Năm Thánh.
Bầu khí của buổi chiều hôm nay có vẻ trầm trầm nhưng không buồn bã u ám, mà là vẻ thâm trầm, sâu lắng, nhưng hùng tráng của một bản trường ca tình yêu Đức Giêsu dành cho nhân loại. Bản trường ca tình yêu này kể lại với nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau. Tin Mừng Gioan cho thấy, Chúa Giêsu hoàn toàn ý thức và chủ động thể hiện tình yêu của Ngài với tất cả mọi người hiện diện hôm đó. Chúa Giêsu biết giờ của Người đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Cha. Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng. Có lẽ không còn có thể có từ ngữ nào trong nhân loại để diễn tả tình yêu của Chúa Giêsu trong giờ phút này. Thánh Gioan chỉ có thể diễn tả bằng cụm từ: Người yêu thương họ đến cùng.
Yêu đến cùng, là tình yêu của cha mẹ dành cho con, của người thầy dành cho các học trò. Vì không muốn xa rời, nhưng phải chia tay, vì vậy, tâm trạng của Chúa Giêsu lúc này thật khó tả. Chúa Giêsu đã làm tất cả những gì có thể làm trong những giờ phút còn lại, để thể hiện tình yêu thương tột cùng dành cho các môn đệ. Chúa Giêsu và các môn đệ cùng tham dự bữa tiệc Vượt qua là bữa tiệc thánh theo truyền thống đạo Do Thái, để tưởng niệm việc Thiên Chúa giải thoát dân Do Thái khỏi cảnh nô lệ Ai Cập. Trong bữa ăn này, Chúa Giêsu còn đi xa hơn và sâu hơn ý nghĩa của việc giải thoát, khi Ngài biến bánh và rượu trở nên thịt và máu của Ngài để làm của ăn cho nhân loại và để tẩy rửa tội lỗi và giải thoát nhân loại khỏi ách nô lệ của ma quỷ và tội lỗi.
Ngày cầm bánh và rượu, tạ ơn, bẻ ra, trao cho các môn đệ và nói: Đây là mình Thầy, anh em hãy cầm lấy mà ăn. Đây là máu Thầy, anh em hãy cầm lấy mà uống, máu đổ ra để muôn người được tha tội. Với việc lập Bí tích Thánh Thể, trao ban thịt máu mình làm của ăn của uống cho nhân loại, Chúa Giêsu đã chấp nhận sự hy sinh đến cùng, hy sinh đến độ trao ban tất cả con người, mạng sống, hơi thở, máu thịt cho những người mình yêu thương. Hơn nữa, biến mình thành của ăn của uống, Chúa Giêsu muốn được các môn đệ hằng ngày nhớ đến Ngài, ăn Ngài, để cho Ngài được đi vào trong thể xác và tâm hồn, nên một với mỗi người và làm nên chất dinh dưỡng nuôi sống cả xác hồn nhân loại. 
Biến bánh và rượu nên máu thịt của mình, đồng thời lại làm cho máu thịt vẫn giữ nguyên hình dàng bánh và rượu, Chúa Giêsu muốn thực hiện phép lạ kỳ diệu này, để được ở lại với nhân loại cho đến ngày tận thế. Để có thể hiện diện mãi với những kẻ mình yêu thương, Chúa Giêsu đã có một sáng kiến vượt sức tưởng tượng, đó là trao cho các môn đệ của mình quyền năng của chính Ngài khi nói với các ông: Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy. Với mệnh lệnh lênh này, Chúa Giêsu lập nên chức Linh Mục và trao ban cho các linh mục được quyền nhân danh Chúa tiếp tục cử hành màu nhiệm Thánh Thể và nối dài sự hy sinh và tình yêu đến cùng của Chúa mỗi ngày nơi bàn thờ. 
Chúa Giêsu trao cho các học trò một nhiệm vụ vô cùng cao trọng đó là tiếp tục nhân danh Ngài cử hành và sống màu nhiệm tình yêu tự hiến của Chúa cho đến ngày tận thế. Chúa thừa biết rằng, các môn đệ của Chúa là những người bất toàn, Chúa biết các ông hèn nhát, sẽ bỏ chạy khi gặp kháo khăn, sẽ phản bội khi gặp thử thách, nhưng Chúa vẫn hết mực tin tương nơi các ông. Cho đến ngày hôm nay, các giám mục, các linh mục vẫn mãi là những người trần mắt thịt, yếu đuối, tội lỗi sai lầm, nhưng Thiên Chúa vẫn muốn sử dụng những con người này, để cử hành màu nhiệm tình yêu của Thiên Chúa và cũng để nhân danh Thiên Chúa tiếp tục yêu thương nhân loại cho đến cùng theo gương của Chúa Giêsu.
Để cụ thể bài học yêu cho đến tận cùng, Chúa Giêsu đã làm một việc, mà các tông đồ không thể chấp nhận được. Simon Phêrô đã phản ứng quyết liệt: Thưa Thầy, không thể như thế được, Thầy không thể rửa chân cho con như thế được. Thánh Gioan kể lại: Chúa Giêsu chỗi dậy, rời khỏi bàn ăn, cởi áo ngoài ra, lấy khăn thắt lưng, đổ nước vào chậu và cúi xuống rửa chân cho các môn đệ. Từng động tác của Chúa Giêsu được tác giả Tin Mừng cảm nhận và ghi lại chi tiết. Ngài đã chỗi dậy, không chỉ rời khỏi bàn ăn, mà còn rời bỏ địa vì là Thầy, là chủ và là Chúa, để bước đến với những con người thấp hèn bé nhỏ. Ngài cởi áo choàng ra, lấy khăn thắt lưng: Đây là một sự cởi bỏ khỏi sự tự ái khỏi cái tôi, giũ bỏ cả địa vị cao trọng để lấy khăn thắt lưng, chấp nhận biến mình trở thành một người hầu, người phục vụ, kẻ nô lệ cho học trò của mình.
Sau khi bài học về phục được được dạy bằng việc làm cụ thể cho các môn đệ, Chúa Giêsu trở về với vị trí của một người thầy, Ngài mặc áo lại, trở về chỗ và giải thích cho các môn đệ: Anh em gọi Thầy là Thầy, là Chúa. Nếu Thầy là Chúa, là Thầy mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau… Anh em hãy làm như Thầy đã làm cho anh em. Trăm nghe không bằng một thấy; Lời nói mau qua, gương lành lôi kéo. Chúa Giêsu đã dạy cho các môn đệ bài học yêu thương phục vụ một cách hết sức cụ thể. Để có thể phục vụ anh em giống như Chúa, đòi mỗi người cũng phải dám từ bỏ địa vị hiện tại của mình là ông nọ bà kia, dù mình là ai…, để có thể cúi xuống rửa chân cho anh em. Rửa chân cho anh em, là dám chấp nhận gạt bỏ mọi sự tự ái, cái tôi, kể cả danh dự, để cúi xuống phục vụ, không so bì tính toán thiệt hơn và không vì một mục đích nào khác là yêu thương và muốn người mình yêu được hạnh phúc.
Ngày Thứ Năm Thánh hôm nay phải là ngày mỗi chúng ta, dù là linh mục hay giáo dân, cảm nhận được niềm vui và hạnh phúc vì được ngụp lặn trong biển trời yêu thương của Chúa Giêsu. Chỉ khi mỗi người thực sự cảm nhận, thục sự đụng chạm được tình yêu của Chúa, thì mới có thể hiểu được một tình yêu vĩ đại Chúa Giêsu dành cho mỗi chúng ta. Hiểu và cảm nhận được tình yêu của Chúa, chúng ta sẽ được sống trong hạnh phúc ngay hôm nay vì biết rằng mình là người được Chúa yêu thương bằng một tình yêu đến cùng. Cũng đừng ngại ngùng và tự hào vì mình là người yêu của Chúa, được Chúa yêu, vì  sự tự hào này sẽ giúp chúng ta sống xứng đáng với tình yêu của Chúa và sống giống với tình yêu của Chúa. Sống xứng đáng và sống giống tình yêu của Chúa, có nghĩa là chúng ta được mời gọi để yêu thương vợ, chồng, con cái và mọi người bằng tình yêu đến cùng giống như Chúa; Chấp nhận sự hy sinh, thiệt thòi, sức khỏe, thời giờ kể cả mạng sống, cho vợ chồng con cái và cho anh chị em chung quanh. Mỗi người cần vun đắp và làm cho gia đình trở thành nơi ngập tràn tình yêu thương và sự linh thánh như căn phòng tiệc ly của Chúa Giêsu và các môn đệ. 
Hãy nhận lấy mà ăn; Hãy cầm lấy mà uống, là lời thiết tha Chúa đang mời gọi mỗi người. Xin Cho chúng ta luôn tin tưởng đến đón nhận tình yêu thương tận hiến của Chúa nới Bí Tích cực trọng này để chúng ta có đủ sức mạnh yêu thương, hy sinh tận hiến cho nhau. Amen.

 

 

13. DẤU TÌNH - Trầm Thiên Thu

Thứ Năm Tuần Thánh (Maundy Thursday) còn gọi là Thứ Năm Giao Ước, Thứ Năm Tuyệt Đối, hoặc Thứ Năm của các Mầu Nhiệm. Theo La ngữ, chữ Mandatum (Anh ngữ là Maundy) có nghĩa là “điều răn” hoặc “mệnh lệnh”. Thứ Năm Tuần Thánh muốn nói tới mệnh lệnh mà Chúa Giêsu truyền cho các môn đệ trong Bữa Tiệc Ly: “Hãy yêu thương nhau” (Ga 13:34; Ga 15:12; Ga 15:17). Đó là DẤU TÌNH được Chúa Giêsu “khắc ghi” qua Bí tích Thánh Thể (chân thành yêu thương) và Rửa Chân (khiêm nhường phục vụ). Và Ngài gọi đó là Điều Răn Mới. Có thể gọi Thứ Năm Tuần Thánh là Ngày Tình Yêu Thánh của các Kitô hữu.

Tuần Thánh khởi đầu, đỉnh cao là Tam Nhật Vượt Qua – ba ngày cao điểm của Phụng Vụ, với các sắc màu khác nhau: khởi đầu là Thứ Năm Tuần Thánh mang sắc màu Vui, tiếp theo là Thứ Sáu Tuần Thánh mang sắc màu Thương, và đêm Thứ Bảy Tuần Thánh mang sắc màu Mừng.

Như chúng ta biết, Thứ Năm Tuần Thánh là ngày Vui, buổi sáng là Thánh Lễ Truyền Dầu, rồi buổi chiều là Thánh Lễ kỷ niệm Chúa Giêsu thiết lập Bí tích Thánh Thể và chức linh mục, cũng là ngày tưởng nhớ Bữa Tiệc Ly. Trong niềm vui có lẫn nỗi buồn, tạo cảm giác rất khó tả, đặc biệt là trong đó có sự quyến luyến của cuộc chia tay giữa Thầy và trò.

Còn nữa, Thứ Năm Tuần Thánh còn là ngày Chúa Giêsu dạy bài học yêu thương độc đáo, vì Ngài không chỉ dạy bằng lời nói mà dạy bằng HÀNH ĐỘNG cụ thể, chứng minh lời Ngài đã nói: “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20:28; Mc 10:45). Yêu thương và Phục vụ là hai “điểm nhấn” của ngày Thứ Năm Tuần Thánh. Ai yêu thương thì sẵn sàng phục vụ, ai phục vụ là chứng tỏ yêu thương. Mối tương tác tất yếu tuyệt vời!

Khi còn sinh thời, Thánh GH Gioan Phaolô II đã nhấn mạnh đến chức vụ phục vụcủa mình là “Tôi Tớ của Các Tôi Tớ của Chúa – Servus Servorum Dei”. Ngài không tự xưng bằng đại danh từ “chúng tôi” như các giáo hoàng trước mà dùng đại danh từ “tôi”. Ngài chọn làm một lễ tấn phong đơn giản chứ không rườm rà, và không đội mũ giáo hoàng khi đảm nhiệm. Là giáo hoàng nhưng ngài không muốn được phục vụ, thể hiện đức khiêm nhường. Khi nhậm chức giáo hoàng, các hồng y quỳ gối trước ngài để tuyên hứa và hôn nhẫn, nhưng ngài đứng dậy khi ĐHY Stefan Wyszyński (người Ba Lan) quỳ gối, ngăn hồng y này hôn nhẫn và ôm hồng y này. ĐGH Phanxicô cũng đã thể hiện rõ nét khiêm nhường, nghèo khó, và cũng không muốn ai phục vụ mình. Đó là các tấm gương sáng về nhân đức khiêm nhường và tinh thần phục vụ.

Ngày xưa, Đức Chúa phán với ông Mô-sê và ông A-ha-ron trên đất Ai-cập: “Tháng này, các ngươi phải kể là tháng đứng đầu các tháng, tháng thứ nhất trong năm. Hãy nói với toàn thể cộng đồng Ít-ra-en: Mồng mười tháng này, ai nấy phải bắt một con chiên cho gia đình mình, mỗi nhà một con. Nếu nhà ít người, không ăn hết một con thì chung với người hàng xóm gần nhà mình nhất, tuỳ theo số người. Các ngươi sẽ tuỳ theo sức mỗi người ăn được bao nhiêu mà chọn con chiên. Con chiên đó phải toàn vẹn, phải là con đực, không quá một tuổi. Các ngươi bắt chiên hay dê cũng được. Phải nhốt nó cho tới ngày mười bốn tháng này, rồi toàn thể đại hội cộng đồng Ít-ra-en đem sát tế vào lúc xế chiều, lấy máu bôi lên khung cửa những nhà có ăn thịt chiên. Còn thịt, sẽ ăn ngay đêm ấy, nướng lên, ăn với bánh không men và rau đắng”(Xh 12:1-8).

Dân nào cũng có những phong tục khác nhau theo văn hóa của mình. Với dân Chúa, cách ăn uống cũng khác, họ làm theo lời Chúa căn dặn: “Các ngươi phải ăn thế này: lưng thắt gọn, chân đi dép, tay cầm gậy. Các ngươi phải ăn vội vã, Đó là lễ Vượt Qua mừng Đức Chúa” (Xh 12:11).

Đối với dân tộc Việt Nam, chúng ta không có tục lệ như vậy, nhưng vẫn không thấy lạ. Chiên hay dê một tuổi là con vật còn nhỏ, còn toàn vẹn và vô tư như đứa trẻ, máu của con vật tinh tuyền được bôi lên cửa làm dấu hiệu để gia đình đó được thoát tai họa: “Đêm ấy Ta sẽ rảo khắp đất Ai-cập, sẽ sát hại các con đầu lòng trong đất Ai-cập, từ loài người cho đến loài thú vật, và sẽ trị tội chư thần Ai-cập: vì Ta là Đức Chúa. Còn vết máu trên nhà các ngươi sẽ là dấu hiệu cho biết có các ngươi ở đó. Thấy máu, Ta sẽ vượt qua, và các ngươi sẽ không bị tai ương tiêu diệt khi Ta giáng hoạ trên đất Ai-cập. Các ngươi phải lấy ngày đó làm ngày tưởng niệm, ngày đại lễ mừng Đức Chúa. Qua mọi thế hệ, các ngươi phải mừng ngày lễ này. Đó là luật quy định cho đến muôn đời” (Xh 12:12-14).

Đã được báo trước về cách tránh tai họa như vậy thì thật là đại phước. Ai không làm theo là cố chấp, ai làm theo là biết vâng phục và tất nhiên được hưởng lợi ích. Đối với Thiên Chúa, chúng ta chẳng là gì cả, nhưng chúng ta vẫn không ngừng được Ngài ban tặng biết bao hồng ân. Thánh Vịnh gia cũng đã có kinh nghiệm đó nên tự hỏi và tự quyết định: “Biết lấy chi đền đáp Chúa bây giờ vì mọi ơn lành Người đã ban cho? Con xin nâng chén mừng ơn cứu độ và kêu cầu thánh danh Chúa” (Tv 116:12-13). Vâng, chắc chắn không lễ vật nào xứng đáng bằng những gì đến từ Thiên Chúa.

Thánh Vịnh gia thành tâm khấn hứa: “Lời khấn nguyền với Chúa, con xin giữ trọn, trước toàn thể dân Người. Đối với Chúa thật là đắt giá cái chết của những ai trung hiếu với Người. Vâng lạy Chúa, thân này là tôi tớ, tôi tớ Ngài, con của nữ tỳ Ngài, xiềng xích trói buộc con, Ngài đã tháo cởi” (Tv 116:15-16). Để phù hợp với Cựu ước, Chúa Giêsu cũng đã nói: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15:13).

Cuộc sống có nhiều cách chết, chúng ta cũng phải “chết” cho nhau hằng ngày, vì mọi người đều là “người yêu” của nhau. Trong ngày trọng đại này, mỗi chúng ta hãy cùng với Thánh Vịnh gia chân thành thân thưa với Thiên Chúa: “Con sẽ dâng lễ tế tạ ơn và kêu cầu thánh danh Chúa. Lời khấn nguyền với Chúa, con xin giữ trọn, trước toàn thể dân Người” (Tv 116:17-18). Lòng biết ơn rất quan trọng nhưng người ta lại hay quên – có khi vô tình, có lúc cố ý. Và vẫn còn đó gương mười người được ơn chữa lành nhưng chỉ có một người biết ơn, mà người này lại là người ngoại! (x. Lc 17:11-19).

Cũng với tâm tình tri ân, Thánh Phaolô nói: “Thật vậy, điều tôi đã lãnh nhận từ nơi Chúa, tôi xin truyền lại cho anh em: trong đêm bị nộp, Chúa Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng tạ ơn, rồi bẻ ra và nói: ‘Anh em cầm lấy mà ăn, đây là Mình Thầy, hiến tế vì anh em; anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy’. Cũng thế, cuối bữa ăn, Người nâng chén và nói: ‘Đây là chén Máu Thầy, Máu đổ ra để lập Giao Ước Mới; mỗi khi uống, anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy’. Thật vậy, cho tới ngày Chúa đến, mỗi lần ăn Bánh và uống Chén này, là anh em loan truyền Chúa đã chịu chết” (1 Cr 11:23-26).

Thánh Phaolô trình bày lại khung cảnh Bữa Tiệc Ly năm xưa đầy ắp thâm tình. Cách riêng, bữa dạ tiệc này có hai loại “món” vô cùng đặc biệt: Yêu Thương và Phục Vụ. Hai món này rất ngon, chắc chắn ai cũng thích dùng, thế nhưng lại rất khó chế biến.

Có một điều xác định rất lạ. Chết là buồn đau, là chiến bại, là cùng đường, vậy mà lại cần loan truyền ư? Đây là loại nghịch-lý-thuận sẽ không thể hiểu nếu không có đức tin Kitô giáo. Chết không như người ta lầm tưởng, chết ngỡ như thua thiệt, là thất bại ê chề, nhưng chính cái chết lại là biên giới qua Bến Phục Sinh, là nhịp cầu tới Miền Sự Sống, là cửa ngõ vào Cõi Trường Sinh. Vô cùng kỳ diệu!

Trước khi vào Cõi Sinh (vùng sống) phải qua Cõi Tử (miền chết), nhưng trước khi qua Vùng Chết phải trải nghiệm Ải Đau Khổ. Đó là loại Tam Giác đặc biệt: Tam-Giác-Sống-Chết.

Trình thuật Ga 13:1-15 cho biết: Trước lễ Vượt Qua, Đức Giêsu biết giờ của Ngài đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Ngài vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Ngài yêu thương họ đến cùng. Với nhân tính, chắc hẳn Ngài cũng lưu luyến lắm, nhất là với các đệ tử đã chia ngọt sẻ bùi suốt ba năm ròng. Nhưng điều gì đến sẽ đến, cuộc vui nào cũng tàn, sum họp rồi chia ly, đó