Danh mục bài viết

Cập nhật 27/9/2016 - 4:21 - Lượt xem 1155

Linh mục với sứ mạng truyền giáo

Bài chia sẻ của cha Giuse Nguyễn Văn Tuyên trong ngày tĩnh tâm Linh mục Giáo phận Thái Bình (tháng 10 năm 2016)

Giáo phận Thái Bình

LINH MỤC VỚI SỨ MẠNG TRUYỀN GIÁO

Trọng kính Đức Cha Phêrô – Giám mục Giáo phận

Kính thưa cha Tổng đại diện, quý Đức Ông, quý Cha, quý Thầy Phó tế,

Theo sự sắp xếp của BTC, hôm nay con xin được chia sẻ với quý Đức Ông, Quý Cha, quý Thầy phó tế đề tài: “Linh mục với sứ mạng truyền giáo”.

Quả là khó cho con khi con mới chỉ là một linh mục trẻ, kinh nghiêm lại chưa nhiều, chưa kể còn nhiều hạn chế khác. Tuy nhiên, những gì con trình bày ở đây chỉ là những góp nhặt, sưu tầm, ghi nhận ở chỗ này, chỗ khác để rồi cùng đưa ra chia sẻ, bàn hỏi, chứ hoàn toàn không phải là một bài giảng Tĩnh Tâm. Kính mong quý đấng bậc cảm thông.

Kính thưa quý Đức Ông, quý Cha, quý Thầy,

Quả thật, khi đưa ra vấn đề “Truyền Giáo”, chắc hẳn nhiều người sẽ cho rằng, đây là điều xưa như trái đất rồi, chẳng có gì mới cả, vì Truyền giáo không chỉ là nhiệm vụ của các linh mục, tu sỹ, mà còn là sứ mạng của cả Giáo Hội, thậm chí còn là bản chất của Giáo Hội. Có thể nói một cách không sợ sai lầm rằng: Nếu như không truyền giáo, Giáo Hội không có lý do để tồn tại. Điều đó quá đúng, ngàn lần đúng. Thế nhưng, thực tế cho thấy, dường như vấn đề cấp thiết này lại chưa được quan tâm một cách đúng mức; có nơi nó mới chỉ dừng lại ở khẩu hiệu mà chưa thực sự được coi trọng.

Trong khi có biết bao nhà truyền giáo ở khắp nơi trên thế giới đang ngày đêm hăng say loan báo Tin Mừng nơi những bản làng hay nơi những lục địa xa xăm, thì cũng còn đó không ít người cứ ở yên một chỗ, tìm cách an phận.

Trong khi có biết bao người ngày đêm dâng những hy sinh, dâng những lời cầu nguyện lên Chúa để cầu cho công cuộc truyền giáo... thì vẫn còn đó một số người chưa xem trọng việc truyền giáo.

I - THỰC TRẠNG TRUYỀN GIÁO TẠI VIỆT NAM

Một con số thống kế về việc truyền giáo tại Việt Nam khiến chúng ta không khỏi quan ngại, đó là:

1 - Sau 50 năm nỗ lực truyền giáo, kết quả không tăng lên được 1%

* Từ năm 1960-2008, tỷ lệ dân số Công giáo Việt Nam so với dân số cả nước không tăng lên được 1%.

- Năm 1960: tổng số dân Việt Nam là 30,172,000 người. Công giáo là 2,094,540, chiếm tỷ lệ khoảng 6.93%.

- Năm 2000: tổng số dân Việt Nam là 77,635,400 người. Công giáo là 5,234,303, chiếm tỷ lệ 6.7%

- Năm 2008: tổng số dân Việt Nam là 86,160,000 người. Công giáo là 6,187,486, chiếm tỷ lệ 7.18% (x. Phụ lục, Thống kê Giáo hội Việt Nam 1933-2008, Bảng 12, tr. 19).

* Trong vòng 50 năm qua, số dân Công giáo Việt Nam tăng từ 2 triệu vào năm 1960 lên đến hơn 6 triệu vào năm 2008. Như thế là tăng gấp 3 lần. Nhưng số tăng này hầu như là kết quả tương ứng với số sinh tự nhiên nên chưa thể nói được là truyền giáo có kết quả tốt đẹp.

2 - Số người trở lại đạo không tương xứng với số nhân sự lo việc truyền giáo.

Nếu ta tổng cộng số linh mục, tu sĩ nam nữ, chủng sinh và giáo lý viên trong cả nước hay trong một giáo phận, ta sẽ thấy kết quả này là khá nhỏ bé.

Thí dụ: năm 2008, Giáo hội Việt Nam có 3,541 linh mục, 1,480 chủng sinh, 2,125 chủng sinh dự bị, 1,914 tu sĩ nam, 13,838 tu sĩ nữ, 56,698 giáo lý viên (x. Bảng 21, tr. 41) vậy mà chỉ thu hút được 41,444 người (x. Bảng 24, tr. 46). Ðây là số cao nhất trong mấy năm gần đây. Trung bình cứ 2 người tín hữu ưu tuyển mới thu hút được 1 người theo đạo. Ðó là chúng ta chưa nói đến cả triệu đoàn viên các hội đoàn Công giáo Tiến hành.

* Nhiều giáo phận có số người lớn trở lại đạo rất thấp. Thí dụ năm 2008:

- Cả giáo phận Huế chỉ có 106 người lớn trở lại đạo, trong khi tổng số giáo dân là 68,240 người, 131 linh mục, 44 chủng sinh, 86 tu sĩ nam, 916 tu sĩ nữ, 744 giáo lý viên

- Giáo phận Bùi Chu có 735 người lớn trở lại đạo, trong khi có 391,837 tín hữu, 159 linh mục, 54 chủng sinh, 609 tu sĩ nữ, 4,053 giáo lý viên

- Tổng Giáo phận Saigòn có 662,148 tín hữu, 604 linh mục triều và dòng, 87 chủng sinh, 317 tu sinh, 959 tu sĩ nam, 3,103 tu sĩ nữ (chưa kể 567 tu sĩ thuộc tu hội), 5,528 giáo lý viên. Số người lớn được Rửa Tội cả năm là 7,345 người

3 - So sánh hoạt động truyền giáo của vài giáo hội khác

Nếu nhìn vào Giáo hội Tin Lành ở Việt Nam, năm 1999: số tín hữu là 400,000 người (x. Thống kê Quốc gia 1999, tr.133). Năm 2008: con số này đã lên tới 1,500,000 người. Như thế, số tín hữu tăng gần 4 lần trong vòng 10 năm. Ðó mới chỉ là vài hệ phái chính, chưa kể các hệ phái khác như Pentecostist (Ngũ Tuần), Chứng nhân Yavê...

Nói đến thành công này, một số người giải thích rằng tại vì anh em Tin Lành có nhiều phương tiện như tiền bạc, thuốc men, phân phối sách Kinh Thánh, dạy Anh ngữ miễn phí... nên có thể giúp đỡ nhiều người và thu hút người khác theo đạo. Chúng ta không biết có phải đó là lý do chính yếu không hay còn những hoạt động tích cực nào khác cần phải tìm hiểu và học hỏi lẫn nhau? Nếu có dịp đến hớt tóc ở góc đường Kỳ Ðồng gần Nhà thờ Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp, TP. Saigòn, chúng ta sẽ thấy những người thợ vừa hớt tóc vừa giảng đạo, dù rằng chúng ta không muốn nghe nhưng họ vẫn cứ nói.

Nếu nhìn vào Giáo hội Hàn Quốc, vào năm 1949, người Công giáo xuất phát cùng với anh em Tin Lành ở mức 1% dân số, đến năm 2006, tổng kết của Hàn Quốc: Công giáo là 9.65% và anh em Tin Lành là 26% (x. Phụ lục, Thống kê Giáo hội Hàn Quốc 1999-2009, Bảng 28, tr. 50). Chương trình của Giáo hội Hàn Quốc cách đây nhiều năm là mỗi gia đình Công giáo nhận đỡ đầu cho một gia đình không Công giáo, và họ quyết tâm là trong 5 năm phải tăng gấp đôi số người tín hữu. Họ đã hoàn thành điều này chỉ trong vòng 3 năm! Còn Giáo hội Việt Nam sẽ có chương trình truyền giáo như thế không?

II - ĐÂU LÀ NGUYÊN NHÂN

Ðã có rất nhiều những hội nghị, hội thảo thuộc đủ các cấp, các miền, từ Giáo hội trung ương đến Giáo hội địa phương, được tổ chức để tìm hiểu và nghiên cứu sâu xa vấn đề truyền giáo của Giáo hội Công giáo nhưng kết quả chưa thu được là bao.

Theo các nhà nghiên cứu, thì nguyện nhân dẫn đến việc công cuộc truyền giáo cứ giậm chân tại chỗ là vì:

1 - Chưa có một nhận thức đầy đủ về việc loan báo Tin Mừng

Nhiều anh chị em giáo dân vẫn cho rằng, công việc truyền giáo là của các linh mục và tu sỹ, hay có chăng cũng chỉ là của một vài người chuyên trách, chứ họ không hề có nhiệm vụ hay bổn phận gì trong việc này.

2 - Thiếu nền tảng Kitô học vững chắc

Phần đa người giáo dân còn hổng kiến thức về giáo lý. Thậm chí họ thiếu hiểu biết về những điều rất căn bản trong Đạo. Hậu quả của một giai đoạn khá dài thiếu vắng bóng dáng của các mục tử coi sóc.

3 - Thực trạng sống đạo chưa đáp ứng với yêu cầu của Tin Mừng

Nhìn vào đời sống người Kitô hữu hiện nay, chúng ta thấy có một khoảng cách khá lớn giữa điều người ta hiểu và điều người ta sống. Ðời sống đạo tập trung vào các nghi lễ, các hoạt động bên ngoài hơn là vào niềm xác tín và cảm nghiệm bên trong.

Ở những giáo xứ quá ít người thì không dám xưng mình là người có đạo. Ở những vùng mà tỉ lệ người giáo dân đông, thì mọi sinh hoạt cùng với anh chị em lương dân, nhưng người có đạo lại chẳng sống tốt hơn những người ngoại...

Nếu chúng ta chỉ rao giảng Lời Chúa như một người tiếp thị, quảng cáo Tin Mừng mà chưa phải là chứng nhân thực sự của Tin Mừng Ðức Kitô với những hành động cụ thể trong đời sống thì việc truyền giáo vẫn khó đạt kết quả như lòng mong ước.

III - CÁC LINH MỤC PHẢI LÀM GÌ ?

1 - Tái Truyền giáo

Đối với miền Hưng Yên thì vấn đề quan tâm hơn lúc này là tái truyền giáo chứ không phải là chỉ là truyền giáo cho anh chị em lương dân.

Trước tiên, chúng con phải tri ân những đấng bậc tiền nhiệm của chúng con. Khi bước chân tới miền đất này, chúng con mới biết rằng, các đấng ngày trước đã phải vất vả, đã phải khổ công nhiều mới được như ngày hôm nay.

1.1 - Dạy Giáo lý

Mở những lớp giáo lý (ít là những lớp giáo lý cộng đồng trước mỗi thánh lễ) - Tạo cơ hội cho người giáo dân hiểu biết về Giáo lý, Phụng vụ - hy vọng họ sống đạo một cách trưởng thành hơn.

1.2 - Chấp nhận những hạn chế nơi anh chị em giáo dân

Câu chuyện về Phụng vụ: Tập hát lễ/ đi rước kiệu/ Ban trống đánh xong rồi về

2 - Để truyền giáo

2.1 - Tìm hiểu kỹ các văn hóa, phong tục địa phương

Động từ THỜ của văn hóa Việt Nam có nhiều nghĩa: Con THỜ cha là hiếu thảo với cha mẹ/ Gái THỜ chồng là chung thủy với chồng/ Tôi THỜ chúa là dân trung thành với vua.

2.2 - Đối thoại với các tôn giáo

Sống trong một châu lục với nhiều dân tộc có các nền văn hoá và tôn giáo khác nhau, ta cần trở lại với Ðức Kitô để thấy Người không phải là của riêng Kitô giáo nhưng là Ðấng Cứu Ðộ của toàn thể nhân loại và vũ trụ. Cha Trên Trời muốn cứu độ tất cả con cái mình nên đã ban Người Con Một cho chúng ta, và Chúa Thánh Thần vẫn đang chuẩn bị cho việc Ðức Kitô đến với mọi người cũng như không ngừng nói trong các tôn giáo (x. CÐ. Vat. II, Tuyên ngôn Nostra aetate, số 1; Giáo Hội tại châu Á, số 15,18).

+ Đức Phaolô VI trong Thông điệp Ecclesiam suam coi các tôn giáo lớn trên thế giới đều là những con đường dẫn đến Đức Giê-su là Chân lý tuyệt đối.

+ Cũng trong thông điệp của mình, Đức Phalô VI gọi Đức Phật Thích Ca cũng như những vị lập đạo khác là “những vị ân nhân vĩ đại của loài người” (Ecclesiam suam)

2.3 - Kể chuyện về Đức Giêsu

Như đề nghị của Ðại hội Truyền giáo châu Á được tổ chức tại Chiang Mai, Thái Lan, từ ngày 18 đến 22-10-2006. "Kể chuyện về Ðức Giêsu" - Ngôi Lời Thiên Chúa đã trở thành Ðức Giêsu Nazareth, đã đi vào dòng lịch sử con người, đã đón nhận những yếu tố của vũ trụ vật chất qua thân xác của mình.

2.4 - Theo mẫu gương của Chúa Giêsu, nhà truyền giáo mẫu mực

* Đức Giêsu dành toàn tâm, toàn lực cho việc truyền giáo: Ngài tất bật từ sáng sớm đến tối mịt để rao giảng Tin Mừng, chữa lành bệnh nhân, xua trừ ma quỷ cho con người.

* Đức Giêsu đề cao người ngoại:

  • Thời Ê-li-a, có biết bao nhiêu bà góa nghèo đói trong nước Israel, thế mà sứ ngôn không cứu, lại cứu một bà góa tại Xarepta
  • Thời sứ ngôn Êlixa, trong nước Do Thái có biết bao nhiêu người cùi, thế mà sứ ngôn không cứu; lại cứu ông Naaman là người nước Xiri.

• Đức Giê-su yêu người tội lỗi

  • Chúa vào ăn cơm nhà ông Matthêu, liền bị các ông Pharisêu thắc mắc và chê trách
  • Chúa vào trọ nhà ông Dakêu, thì bị giới hâm mộ đổi ý, xầm xì với nhau: “Ông nầy lại vào trọ nhà người tội lỗi!” (Lc 19,7)

• Đức Giê-su yêu người bệnh tật

• Chúa yêu người nghèo, nên đã dành cho họ quyền ưu tiên được nghe loan báo Tin Mừng. Ngoài ra, Chúa còn động viên người giầu chia cơm sẻ áo cho người nghèo. Kết quả là ông Dakêu tự nguyện chia một nửa gia tài cho người nghèo (Lc 19,8).

* Ngài hiểu và nắm rõ văn hóa, phong tục của người dân địa phương. Những câu chuyện dụ ngôn Ngài kể vừa cụ thể, lại vừa gần gũi, như: Người gieo giống, người thợ làm vườn nho hay người mục tử

* Đức Giêsu có nhiều sáng kiến trong việc truyền giáo

Ngài không để mình bị bó hẹp bởi hội đường, mà Ngài sẵn sàng đi ra, đi rong ruổi khắp nơi: Khi dân chúng chen lấn, xố đẩy, Ngài bèn xuống một chiếc thuyền, xin họ chèo ra xa.

Ngài truyền giáo cho dân nghèo, nhưng cũng không quên truyền giáo cho các bậc trí thức như ông Nicôđêmô, người quyền thế như ông Simon biệt phái, người giàu có như Giakêu ...

2.5 - Lời khuyên của Đức Thánh Cha Phanxico

Đức Phanxicô đã tiếp 154 tân giám mục ở sảnh phòng Clementine của Dinh Tông Tòa, các tân giám mục này đã được thụ phong trong 12 tháng gần đây, Đức Phanxicô đặc biệt đưa ra ba yêu cầu để “làm mục vụ của lòng thương xót”.

Yêu cầu thứ nhất: Linh mục là người “có khả năng vui thích và lôi cuốn” để làm cho sứ vụ của mình là “biểu tượng của lòng thương xót”. Nhưng cẩn thận đừng “lôi cuốn về mình” nhưng về với một Thiên Chúa gần gũi và giàu lòng thương xót. “Giáo dân ‘đánh hơi’ và bỏ đi khi họ thấy những người tự yêu mình, những người mưu mô, những người bảo vệ cho lợi ích riêng của mình, những người trục lợi cho các cuộc vận động huyênh hoang”, ngài cảnh báo.

Yêu cầu thứ nhì: Các linh mục phải có “khả năng khơi tâm cho những người được giao phó cho mình”.

Yêu cầu thứ ba: Các linh mục là người có khả năng tháp tùng, “chạm đến da thịt bị thương tổn”. Các linh mục hãy để tâm đến các gia đình, “nhất là những gia đình bị thương tổn” cần một sự tháp tùng đặc biệt. Hãy đồng hành với họ với nhận định và với thông cảm.

Cũng theo lời của Đức Thánh Cha Phanxico: Hãy cẩn thận canh chừng để tất cả những hoạt động truyền giáo và các hoạt động mục vụ khác mà anh em xúc tiến không bị thiệt hại hoặc thất bại vì những chia rẽ hiện có hoặc những chia rẽ có thể xảy ra. Chia rẽ là vũ khí mà ma quỷ có trong tay nhiều nhất để tiêu diệt Giáo hội từ bên trong. Ma quỷ có hai thứ vũ khí, nhưng chia rẽ là vũ khí chính, vũ khí kia là tiền bạc. Ma quỷ đi vào qua những cái túi và dùng miệng lưỡi để tàn phá, với thói ngồi lê đôi mách gây chia rẽ, và thói xấu ấy là một thói quen “khủng bố”. 

Kính thưa quý Đấng bậc,

Trên đây chỉ là một vài gợi ý mà con góp nhặt và tổng hợp, trước tiên để chính con nhìn lại sứ vụ của mình trong công cuộc truyền giáo, thứ đến để trình bày với quý đấng bậc như một sự gợi ý, nếu có điều gì không phải, kính mong quý đấng bậc lượng thứ.

Con xin chân thành cảm ơn!

Lm Giuse Nguyễn Văn Tuyên


Tin cùng chuyên mục

Sinh hoạt khác

Tin Giáo Hội

Mục Tổng Hợp

» Xem tất cả Video

Liên kết website

Bài viết được quan tâm