Danh mục bài viết

Cập nhật 11/7/2016 - 11:2 - Lượt xem 1783

Lòng nhẫn nại của Thiên Chúa đối với nhân loại

Đây là bài chia sẻ của Cha Đaminh Trương Văn Thuỵ - chánh xứ Đồng Quan, dịp tĩnh tâm linh mục giáo phận, ngày 7 tháng 7 năm 2016

LÒNG NHẪN NẠI CỦA THIÊN CHÚA ĐỐI VỚI NHÂN LOẠI

(Bài chia sẻ dịp tĩnh tâm linh mục giáo phận, ngày 7 tháng 7 năm 2016)

Trọng kính Đức Cha, cha Tổng đại diện, quý Đức ông, quý cha và quý thầy phó tế.

Trong Tông Sắc “Dung mạo Lòng Thương Xót”, Đức Thánh Cha viết: “Sứ mạng của Giáo hội là loan báo Lòng thương xót của Thiên Chúa, là trái tim sống động của Tin Mừng, đang muốn nhờ lòng thương xót để chạm được đến con tim và khối óc của con người” (số 12).

Thật vậy, Thiên Chúa luôn lắng nghe con người và đến với con người. Ngài chạm đến con người bằng tình thương vô hạn với một lòng nhẫn nại và khoan dung, mặc dù con người bất trung, mà đại diện là Israel, một dân được tuyển chọn. Từ thuở bình minh của nhân loại và cho đến ngàn sau, Thiên Chúa vẫn tín trung với kế hoạch cứu rỗi của Ngài để cứu độ con người; cho dù con người có quay lưng lại với ơn cứu độ đến “bảy mươi lần bảy” và khi quay đã trở lại, “Thiên Chúa vẫn không biết mệt mỏi tha thứ cho chúng ta”.

Trong khung cảnh thời gian không cho phép con xin được có đôi chút tâm tình giới hạn của con, hướng theo đề tài về lòng nhẫn nại của Thiên Chúa biểu lộ qua sứ mạng của người linh mục

Nói tới “nhẫn” là nói tới sự kiên trì nhọc nhằn của bản tính nhân loại. Trong ngôn ngữ Á Đông có đề cập tới chữ NHẪN. Chữ “Nhẫn” được ghép từ hai chữ: Đao ở trên và Tâm ở dưới. Tâm (tức là trái tim) mà không chịu nằm yên thì Đao (tức con dao) sẽ phập xuống tức thì. Vậy đấy, tự mình mà nhẫn nhịn được thì đao kề cổ vẫn bình yên vô sự, bằng không thì tai họa sẽ giáng xuống đầu mình trước tiên.

“Nhẫn” trở thành cách cư xử trong mối quan hệ giữa con người với con người và mối quan hệ giữa con người với mục đích, lý tưởng. Trong mối quan hệ giữa con người với con người, nhẫn là nhẫn nhịn. Trong mối quan hệ giữa con người với mục đích, lý tưởng, nhẫn trở thành nhẫn nại. Nhẫn chính là sự tu dưỡng đạo đức và tu dưỡng phẩm hạnh. (Sưu tầm).

Nhẫn nại là một nhân đức để kiềm chế hành động tức thì, đây là hành vi không dễ dàng, nhất là đứng trước những áp lực của công việc. Linh mục là những con người luôn mang trong mình những yếu đuối, tránh sao được những nóng nảy trước giáo dân của mình khi mà họ không hiểu cho ngài.

Tuy nhiên, người linh mục vẫn có thể thi hành sứ mạng được một cách cần mẫn với lòng bao dung, nhân từ, nhẫn nại, khi Chúa Kitô là tác nhân chính trong công việc của người linh mục: “Tôi sống không phải là tôi sống mà là Chúa Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20), tức theo gương Chúa Giêsu.   

Đại năm Thánh 2000, Đức Thánh Cha Gioan – Phaolo II (nay là Thánh Giáo hoàng Gioan – Phaolo II) đã chỉ định Đức Hồng Y Fx. Nguyễn Văn Thuận giảng tĩnh tâm cho giáo triều. Trong bài giảng, Đức Hồng y đã dí dỏm diễn tả về lòng nhẫn nại và bao dung của Thiên Chúa trong Tin Mừng qua dụ ngôn 100 con chiên mà lạc mất một con, hay bà góa đánh mất đồng tiền. Ngài gọi ông chủ trong các dụ ngôn này là người không biết tính toán và hay quên: mất một con có là chi so với 99 con còn lại, mất một đồng đáng là gì để phải mất cả một bữa tiệc mời bà con đến chia vui chỉ vì đồng tiền đã được tìm thấy. Tiếp đến, trong dụ ngôn “người cha nhân hậu”, tác giả Luca kết thúc với giai thoại của người cha: chúng ta phải ăn mừng vì em con đây đã chết nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy.

Thiên Chúa là như vậy, vì Ngài là Tình Yêu (1Ga 4,8). Ngài không tính toán theo kiểu con người. Điều con người cho là thua thiệt, là điên rồ thì lại là điều Thiên Chúa lựa chọn, như lời thánh Phaolô : “Những gì thế gian cho là điên dại, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ khôn ngoan, và những gì thế gian cho là yếu kém, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ hùng mạnh; những gì thế gian cho là hèn mạt không đáng kể, là không có, thì Thiên Chúa đã chọn để hủy diệt những gì hiện có” 1Cr 1, 27-28). Và ngược lại, “Cái điên rồ của Thiên Chúa, còn hơn cái khôn ngoan của loài người và cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người” (1Cr 1,25).

Linh mục là người cần diễn tả cách sống động dung mạo của một Đức Kitô, hiện thân của Chúa Cha, Đấng giàu lòng thương xót, nhân hậu, nhẫn nại và đầy lòng khoan dung, bằng chính đời sống mình và rập khuân "theo gương phục vụ của Thầy Chí thánh, Đấng đến để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người, người linh mục được mời gọi “đi từ sự ham hố quyền hành đến niềm vui được ẩn mình và phục vụ”(Marco Potini: Đức Thánh Cha Phanxico, Khuôn mặt người linh mục hôm nay).

Bởi vậy, mục vụ các bí tích mà linh mục cử hành diễn tả dung mạo ấy, xin được đơn cử về bí tích Giao hòa mà linh mục thường xuyên phải lắng nghe với một lòng đầy kiên nhẫn.

 

  1. Lắng nghe qua mục vụ về bí tích Giao hòa

Dung mạo của lòng thương xót Chúa được cảm nhận rõ nét nơi bí tích giao hòa. Chính nơi đây tội nhân nhận được tình thương tha thứ của Thiên Chúa. Khi rời tòa giải tội, tâm hồn họ được bình an.

Đức Thánh Cha nhấn mạnh, người linh mục “hãy trở thành khí cụ của ơn tha thứ chúng ta đã lãnh nhận từ Thiên Chúa” (Số 13). Và ngài viết tiếp “các vị giải tội là dấu chỉ đích thực cho lòng thương xót của Chúa Cha. Không ai trong phút chốc trở thành vị giải tội như thế... Đừng bao giờ quên rằng, trở nên người giải tội có nghĩa là thông dự vào chính sứ mạng của Chúa Giêsu và trở thành dấu chỉ chắc chắn cho sự trao ban liên lỉ của tình yêu Thiên Chúa, tình yêu luôn ban ơn tha thứ và cứu độ. Mỗi chúng ta lãnh nhận ơn ban Chúa Thánh Thần để tha tội; chúng ta có trách nhiệm về ân huệ này. Không ai trong chúng ta là chủ nhân của bí tích này, mà chỉ là người phục vụ trung thành cho ơn tha thứ của Thiên Chúa qua bí tích ấy.” (số 17)

Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo trình bày tòa giải tội như là nơi sự thật làm chúng ta được tự do để gặp gỡ. "Khi cử hành bí tích giải tội, linh mục hoàn thành thừa tác vụ của Đấng Chăn Chiên Lành trên đường tìm con chiên lạc, của người Samaria Nhân Hậu đang băng bó các vết thương, của Người Cha đang chờ đợi đứa con trai hoang đàng và chào đón anh trên đường trở về, và của Thẩm Phán công minh và vô tư phán xử vừa công chính vừa thương xót. Linh mục là dấu chỉ và khí cụ của tình yêu thương xót của Thiên Chúa đối với tội nhân" (số 1465).

Đến đây con nhớ lại câu chuyện, tại một nhà thờ bên Tây Ban Nha có một tượng Thánh Giá rất đặc biệt. Chuyện kể rằng: Một lần kia, khi một linh mục đang ngồi tòa thì một tội nhận vào xưng tội. Vị linh mục ngồi tòa nổi tiềng là nghiêm khắc đối với những tội nhân không chịu chừa cải. Anh chàng vào tòa xưng tội lần này đã nhiều lần phạm tội ngoại tình và cha giải tội cũng nhiều lần ngăm đe. Nhưng chứng nào tật đó, cứ ra khỏi tòa giải tội được ít ngày, anh ta lại tiếp tục sa ngã phạm tội mới xưng. Sau nhiều lần tha thứ, cuối cùng trong lần xưng tội mới đây cha giải tội đã phải nói với anh: “Đây là lần cuối cùng ta tha tội cho anh”. Chàng thanh niên ra khỏi tòa giải tội trong tâm trạng nặn trĩu u buồn. Được vài tháng sau, anh ta lại đến xưng tội và lần này anh ta lại vẫn xưng tội đã dốc lòng chừa như mấy lần trước. Nhưng lần này vị linh mục đã từ chối giải tội cho anh như sau: “Anh đừng có đùa với Chúa! Lần này ta không tha cho anh”. Nhưng một điều kỳ diệu đã xảy ra: Cha giải tội và hối nhân trong tòa đều nghe thấy có tiếng của Chúa Giêsu phán ra từ trên cây thập giá phía trên tòa giải tội: “Nhưng Ta tha tội cho hối nhân này!”. Rồi Chúa còn nói riêng với vị linh mục: “Chính Ta mới chịu đổ máu ra để rửa sạch mọi vết nhơ tội lỗi của loài người chứ không phải con!”

Cũng từ ngày đó, người ta thấy trên cây thánh giá tại tòa giải tội trong nhà thờ nói trên, cánh tay phải của Chúa Giêsu không còn gắn vào cây thập giá, nhưng bị bung ra trong tư thế đang cúi xuống ban phép lành cho hối nhân trong tòa giải tội, như một lời mời gọi mọi người mau ăn năn sám hối: “Hãy cứ trở về với Ta, thì các con sẽ được ơn tha thứ”.

Con còn nhớ vào năm 2006 có người nói với con rằng, có một hối nhân đang mắc bệnh do tai nạn, trí não không còn minh mẫn như trước, lúc nhớ lúc không, khi vào tòa giải tội cứ quì đó không nói được lời nào, đợi lâu không thấy nói gì, cha giải tội liền la mắng rồi đuổi xuống (mặc dù trước đó người thân của gia đình cũng đã trình với cha trước rồi). Từ đó hối nhân này không dám đến tòa giải tội nữa cho đến khi gần qua đời.

Thực sự, lắng nghe trong Tòa Giải tội là cả một vấn đề đối với một linh mục giải tội, nếu không có đức nhẫn nại thì khó có thể chịu được muôn điều phức tạp, nhiều khi không đúng với mục đích của bí tích Hòa giải. Rất dễ sinh cáu gắt, thậm chí là to tiếng.

Tận dụng tối đa để hối nhân có được cơ hội giao hòa với Thiên Chúa là điều cần có nơi trái tim mục tử. Trong cuộc đối thoại của Đức Thánh Cha với Andrea Tornielli, ngài nói “những cố gắng mà Thiên Chúa làm để đi vào trái tim con người, để tìm khe hở cho phép ân sủng của Ngài hoạt động. Ngài không muốn một ai phải hư mất ... Thiên Chúa để tâm đến chúng ta, Ngài đợi chúng ta đồng ý đến với Ngài, dù chỉ với một khe hở nhỏ nhất, để Ngài có thể hành động nơi chúng ta, với sự tha thứ và ân sủng của Ngài.”

Và “Sự toàn vẹn của phép xưng tội không phải là một vấn đề toán học. Đôi khi người ta cảm thấy ít xấu hổ khi xưng thú một tội hơn là phải nêu rõ số lần họ vi phạm tội đó. Chúng ta phải để mình được đánh động bởi tình huống của người ta, một tình huống có khi hỗn tạp, gồm cả việc làm riêng của họ, lẫn sự yếu đuối của con người, tội lỗi và những giới hạn không thể nào vượt qua được.” (Đức Thánh Cha cử hành Thánh Lễ ngày Năm Thánh cho linh mục)

 

2-Đồng hành và Chia sẻ qua các vấn đề mục vụ khác trong đời thường

“Anh em hãy đến cùng chiên lạc nhà Israel.” Chúa Giêsu đã sai các môn đệ đến với những mảnh đời cần được soi sáng trở lại với con đường chính lộ mà Thiên Chúa đã dẫn họ bước đi. Ngài muốn các môn đệ cần áp dụng một đường hướng cụ thể với một con người thanh thoát (x. Lc 9,1-6). Chúa Giêsu đã cụ thể hóa điều con người không thể hiểu thấu bằng những hình ảnh và việc làm cụ thể. Bởi vậy, giáo huấn của Chúa đã thu hút được mọi người, đến độ thấy cảnh tượng đám đông diễn ra trước mắt mình thì Chúa “chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt” (Mt 9,36). “Trong đời phục vụ,  người linh mục nhìn lên vị Mục tử Giêsu nhân lành, Đấng xót thương nhân loại. Đấng đã không thực hiện sứ mạng cứu độ theo con đường quyền lực mà theo con đường phục vụ và hiến dâng mạng sống mình cho đến chết trên thập giá (Tĩnh tâm tháng 6)”.

Thực tế, giáo dân vẫn cần và luôn cần tới các linh mục là chỗ dựa cho đời sống tinh thần của họ. Dù ở tại các vùng nguội lạnh nhất, họ vẫn có một trân trọng với con người linh mục. Ở Việt nam, giáo dân luôn coi trọng các linh mục, họ nhìn linh mục là con người thanh thoát trong mọi sự. Họ sẵn sàng hy sinh giúp đỡ các linh mục về đời sống vật chất và cũng sẵn sàng cộng tác với linh mục trong các vấn đề mục vụ. Tuy nhiên, cuộc sống của họ đôi lúc lâm vào cảnh bế tắc, không biết chia sẻ cùng ai, họ chạy đến với linh mục để được lắng nghe, chia sẻ và đồng hành. Cần đặt mình vào điều kiện và hoàn cảnh của họ, chắc chắn sẽ hiểu được những tâm trạng và những nỗi ưu tư của họ để cảm thông, chia sẻ, nâng đỡ và đồng hành.

Thật vậy, với trái tim người mục tử, Đức Thánh Cha mời gọi “Với cái nhìn yêu thương và con tim của người cha, linh mục đón nhận, hội nhập và khi phải sửa chữa, linh mục luôn hành động để đến gần; không coi rẻ một ai, nhưng luôn sẵn sàng chịu bẩn tay. Là thừa tác viên hiệp thông mà linh mục cử hành và sống, linh mục không chờ đợi những lời chào hay những lời khen ngợi của người khác, nhưng là người đầu tiên giơ tay ra, loại bỏ những lời nói hành nói xấu, những xét đoán và độc dược. Linh mục kiên nhẫn lắng nghe những vấn đề và tháp tùng những bước đi của con người, ban phát ơn tha thứ của Chúa với lòng cảm thông quảng đại. Linh mục không trách mắng người rời bỏ hoặc lạc đường, nhưng luôn sẵn sàng giúp họ tái hội nhập và giàn xếp những tranh tụng (Đức Thánh Cha cử hành Thánh Lễ ngày Năm Thánh cho linh mục).

Thật sự, khi làm linh mục và làm mục vụ giáo xứ, con cảm phục các đấng tiền bối đã cháy hết mình cho sứ vụ của người linh mục trong một giai đoạn vô cùng khắc nghiệt: xã hội thì o ép, phương tiện thì thô sơ, giao thông thì gập ghềnh; trước một khung cảnh linh mục thiếu trầm trọng trong giáo phận, rồi phải đối mặt với nhiều vấn đề từ bên ngoài, mà các ngài  vẫn luôn chăm sóc cho đoàn chiên của mình một cách cần mẫn và chăm chút từng tí. Không chỉ có vấn đề mục vụ Bí tích mà cả các vấn đề cuộc sống của mỗi người trong cộng đoàn, từ việc nhỏ nhất cũng chạy đến với cha xứ (không biết có phải vậy mà gọi các cha là “thầy cả” không ??? vì theo họ việc gì cha cũng biết).

Kể cả cho đến ngày hôm nay, chúng con là những hậu sinh, mặc dù không phải trông coi một vùng rộng lớn nữa, nhưng đôi lúc chúng con vẫn thấy có những áp lực: Áp lực từ những đòi hỏi từ phía giáo dân: cha phải thế này phải thế kia, áp lực từ đáy lòng mình phải chu toàn nhiệm vụ theo sứ vụ. Bản thân chúng con, những người đến sau còn phải học hỏi rất nhiều nơi các cha tiền bối về đời sống thiêng liêng cũng như kinh nghiệm mục vụ.

Ngày trước thường hay nói, giáo dân đến với linh mục; còn ngày nay thì ngược lại, linh mục cần đến với giáo dân. Trước một khung cảnh của nền kinh tế toàn cầu, giáo dân không có nhiều thời gian để đến nhà thờ, để sinh hoạt các đoàn thể, để gặp gỡ và chia sẻ; thay vào đó là những chuỗi ngày lo toan cho công việc làm ăn kinh tế. Nhiều khi số giáo dân trong xứ thì có, nhưng sinh hoạt thì chẳng còn đáng là bao, không phải vì họ lười biếng, mà vì số người trẻ thoát ly để đi tìm một cuộc sống mới dễ thở hơn. Cuối cùng thì ở giáo xứ chỉ còn lại những người già yếu, những người không thể tiếp tục vì sức khỏe suy giảm và trẻ em đang độ tuổi đến trường ... Cuộc sống thay đổi, con người cũng thay đổi theo. Những thách đố đang đặt lên vai những người được sai đi, cụ thể là các linh mục.

Ước mong sao, dịp năm thánh Lòng Thương xót khởi đầu cho một chuỗi ngày dài về sau để lòng thương xót của Chúa được tiếp tục phát huy nơi tâm hồn mỗi con người, không chỉ những người ki tô hữu mà cả tới những con người đang khát khao tìm kiếm chân lý, như lời Đức Thánh Cha mời gọi “đó là Giáo hội nhất thiết phải ra đi, đi ra khỏi nhà thờ và khỏi giáo xứ, đi ra và đi đến để tìm kiếm con người, nơi mà họ sống, nơi họ đau khổ, nơi họ hy vọng”.

Xin Thiên Chúa, Đấng giàu lòng xót thương đồng hành cùng Đức Cha, cha Tổng đại diện, quý Đức Ông, quý cha và quý thầy trên con đường phục vụ tha nhân.

Con xin chân thành cảm ơn.

Lm. Đaminh Trương Văn Thuỵ


Bài viết mới

Sinh hoạt khác

Tin Giáo Hội

Mục Tổng Hợp

» Xem tất cả Video

Liên kết web

Bài viết được quan tâm