VERBUM  DOMINI

 

"TNG HUẤN LỜI CHA'' CỦA ĐỨC BNĐCT XVI

 

Ngy 11 thng 11 vừa qua, Đức Gio Hong Bnđct XVI đ ban hnh Tng Huấn "Lời Cha" dựa vo cc khuyến co của Cuộc Họp Thường Lệ Lần Thứ Mười Hai của Thượng Hội Đồng Gim Mục tại Vatican trong cc ngy 5-26 thng Mười năm 2008, năm knh Thnh Phaol. Chủ đề của cuộc họp đ l "Lời Cha trong Đời Sống v Sứ Mệnh của Gio Hội". Đy l một tng huấn quan trọng của Đức Bnđct XVI, khiến Đức Tổng Gim Mục Nikola Eterovc, Tổng Thư Ký Thượng Hội Đồng gọi ngi l "Gio Hong của Lời Cha" (Zenit, 12/11/2010). Thuật ngữ ny quả khng ngoa, v hẳn ai cũng r: ngi vốn l chủ tịch của Ủy Ban Gio Hong về Thnh Kinh, một Ủy Ban từng cho cng bố một ti liệu quan trọng về việc giải thch Thnh Kinh trong Gio Hội Cng Gio vo năm 1993. Ti liệu thng sng ny khng những được cc giới trong Gio Hội cho đn, m cn được nhiều học giả bn ngoi Gio Hội hoan nghnh (xem The Interpretation of The Bible In The Church, edited by J.L. Houlen, SCM Press Limited, London, 1995). Nhận thấy đy l một văn kiện quan trọng, chng ti sẽ lần lượt chuyển n sang tiếng Việt.

 

NHẬP ĐỀ

1. "Lời Cha tồn tại đến mun thuở mun đời. Lời ấy chnh l Tin Mừng đ được rao giảng cho anh em" (1 Pr 1:25; xem Is 40:8). Với lời quả quyết trch từ Thư Thứ Nhất của Thnh Phr, chng ta đang đứng trước mầu nhiệm Thin Cha, Đấng đ tự mạc khải bằng chnh ơn phc lời Người. Lời tồn tại mun đời ny đ bước vo thời gian. Thin Cha ni Lời Người theo ngn ngữ con người; Lời Người đ "trở thnh xc thịt" (Ga 1:14). Đ chnh l Tin Mừng. Đ chnh l lời cng bố đ từ bao thế kỷ qua truyền đến chng ta ngy nay. Phin Họp Ton Thể Thường Lệ Lần Thứ Mười Hai của Thượng Hội Đồng Gim Mục, tổ chức tại Vatican từ ngy 5 tới ngy 26 Thng Mười Năm 2008, đ lấy chủ đề: "Lời Cha trong Đời Sống v Sứ Mệnh của Gio Hội". Đ l một kinh nghiệm su sắc của cuộc gặp gỡ với Cha Kit, Lời của Cha Cha, Đấng vốn hiện diện tại nơi c 2 hay 3 người tụ họp nhau nhn danh Người (xem Mt 18:20). Với Tng Huấn Hậu Thượng Hội Đồng ny, ti muốn đp ứng lời thỉnh cầu của Cc Nghị Phụ Thượng Hội Đồng xin được cng bố cho Dn Cha cc thnh quả phong ph từng pht sinh từ cc buổi thảo luận tại Thượng Hội Đồng cũng như cc khuyến co do cc cố gắng chung của chng ta đưa ra.[1]Do đ, ti muốn duyệt lại cng trnh của Thượng Hội Đồng dựa vo cc văn kiện của n: Bản Sơ Đồ, Ti Liệu Lm Việc, Phc Trnh Trước v Sau Thảo Luận, cc bản gp ý, cả những bản được pht biểu tại phng Thượng Hội Đồng lẫn cc bản viết, phc trnh của cc nhm thảo luận nhỏ, Sứ Điệp Sau Cng gửi Dn Cha v trn hết, một số đề nghị đặc th được cc nghị phụ coi l c ý nghĩa đặc biệt. Qua đ, ti muốn chỉ ra cc phương thức căn bản để ti khm ph Lời Cha trong đời sống của Gio Hội như một nguồn suối bất tận lun lun đổi mới. Đồng thời, ti muốn ni ln niềm hy vọng rằng Lời Cha sẽ mỗi ngy một trở nn tm điểm trọn vẹn hơn của mọi sinh hoạt trong Gio Hội.

 

Để niềm vui của chng ta nn trọn

2. Trước hết, ti muốn nhắc tới vẻ đẹp v niềm sảng khoi của cuộc gặp gỡ đổi mới với Cha Gisu m tất cả chng ta đ cảm nghiệm được trong suốt cuộc họp của Thượng Hội Đồng. Do đ, hiệp nhất với cc Nghị Phụ Thượng Hội Đồng, ti xin ngỏ cng mọi tn hữu bằng lời của Thnh Gioan trong thư thứ nhất của ngi: "chng ti loan bo cho anh em sự sống đời đời: sự sống ấy vẫn hướng về Cha Cha v nay được tỏ by cho chng ti. Điều chng ti đ thấy v đ nghe, chng ti loan bo cho cả anh em nữa, để chnh anh em cũng được hiệp thng với chng ti, m chng ti th hiệp thng với Cha Cha v với Cha Gisu Kit, con của Người" (1 Ga 1:2-3). Thnh Tng Đồ ni với chng ta về việc "nghe, thấy, chạm đến v chim ngưỡng" (xem 1 Ga 1:1) Lời hằng sống, v chnh sự sống đ được tỏ by r rng nơi Cha Kit. Được mời gọi hiệp thng với Cha v với nhau, ta phải cng bố ơn phc ny. Theo quan điểm rao giảng, trước mặt Gio Hội v trước mặt thế giới, cuộc họp của Thượng Hội Đồng đ như một nhn chứng cho ta thấy vẻ đẹp khn thấu của cuộc gặp gỡ Lời Cha trong hiệp thng Gio Hội. Chnh v vậy, ti khuyến khch mọi tn hữu hy đổi mới cuộc gặp gỡ bản thn v cộng đon của họ với Cha Kit, Lời hằng sống đ trở nn hữu hnh, v trở thnh sứ giả của Người, để ơn phc sự sống v hiệp thng đầy thần linh ny được truyền b trọn vẹn hơn trn khắp thế giới. Thực thế, chia sẻ sự sống Thin Cha, tức Ba Ngi tnh yu, chnh l niềm vui trọn vẹn (xem 1 Ga 1:4). V Gio Hội được hồng n v c bổn phận nhất thiết phải truyền đạt niềm vui ấy, một niềm vui vốn pht sinh từ cuộc gặp gỡ với chnh ngi vị Cha Kit, Lời Thin Cha ở giữa chng ta. Trong một thế giới thường coi Thin Cha như dư thừa hay xa lạ, ta hy cng Thnh Phr tuyn xưng rằng chỉ một mnh Người mới "c lời hằng sống" (Ga 6:68). Khng c ưu tin no lớn hơn điều ny: gip con người thời nay c khả năng gặp gỡ Thin Cha nhiều hơn, Đấng Thin Cha đang ni với ta v đang chia sẻ tnh yu của Người để ta được sống sung mn (xem Ga 10:10).

 

Từ Hiến Chế "Lời Cha" tới Thượng Hội Đồng về Lời Cha

3. Theo một nghĩa no đ, với Cuộc Họp Thường Lệ Lần Thứ Mười Hai của Thượng Hội Đồng Gim Mục về Lời Cha, ta biết ta đang đề cập tới chnh trọng tm của đời sống Kit Gio, trong lin tục tnh với cuộc họp trước của Thượng Hội Đồng về Php Thnh Thể như Nguồn Suối v Tuyệt Đỉnh Đời Sống v Sứ Mệnh của Gio Hội. Thực thế, Gio Hội được xy dựng trn Lời Cha; Gio Hội được sinh ra v sống bằng Lời ấy.[2]Trong suốt lịch sử của mnh, Dn Cha lun tm được sức mạnh nơi Lời Thin Cha, v cả ngy nay nữa, cộng đồng Gio Hội cũng đang lớn ln nhờ nghe, cử hnh v học hỏi Lời ấy. Ta phải nhận rằng trong mấy thập nin gần đy, đời sống Gio Hội đ trở nn nhạy cảm hơn đối với chủ đề ny, nhất l đối với mạc khải Kit Gio, thnh truyền sống động v Sch Thnh. Bắt đầu với trriều đại của Đức Gio Hong L XIII, ta c thể ni: trong sinh hoạt Gio Hội, đ c nhiều can thiệp hơn nhằm thc đẩy người ta ý thức nhiều hơn tới tầm quan trọng của Lời Cha v việc học hỏi Thnh Kinh,[3]m đỉnh cao l Cng Đồng Vatican II, nhất l việc cng bố Hiến Chế Tn Lý về mạc khải Thin Cha, tức hiến chế "Lời Cha" (Dei Verbum). Hiến chế ny l dấu mốc lớn trong lịch sử Gio Hội: "Cc Nghị Phụ Thượng Hội Đồng... với lng biết ơn, nhn nhận ơn ch lớn lao m văn kiện ny đ đem đến cho đời sống Gio Hội trn bnh diện giải thch, thần học, tu đức, mục vụ v đại kết".[4]Cc năm giữa khoảng thời gian đ cũng đ chứng kiến sự gia tăng ý thức về "chiều kch Ba Ngi v lịch sử cứu độ của mạc khải" [5]căn cứ vo đ, Cha Gisu Kit đ được nhn nhận l "đấng trung gian v sự vin mn của mọi mạc khải". [6]Gio Hội khng ngừng cng bố cho mọi thế hệ biết rằng Cha Kit "hon tất v hon hảo ha mạc khải. Mọi sự c dnh dng tới sự hiện diện v sự tự mạc khải của Người đều can dự vo việc hon thnh điều ny: lời v việc, cc dấu lạ v php lạ của Người, nhưng trn hết l ci chết v sự phục sinh của Người v sau hết l việc người sai Thần Kh sự thật đến".[7]

Mọi người đều ý thức được sự thc đẩy lớn lao m Hiến Chế Tn Lý "Lời Cha" từng đem lại cho việc lm sống lại sự quan tm đối với Lời Cha trong đời sống Gio Hội, cho suy tư thần học đối với mạc khải Thin Cha v cho việc học hỏi Sch Thnh. Trong 40 năm qua, huấn quyền Gio Hội cũng đ ban hnh nhiều tuyn bố về cc vấn đề ny.[8]Khi cử hnh Thượng Hội Đồng ny, Gio Hội, v ý thức được cuộc hnh trnh lin tiếp của mnh dưới sự du dắt của Cha Thnh Thần, nn đ cảm thấy c bổn phận phải suy gẫm nhiều hơn nữa về chủ đề Lời Cha, để xem st lại việc thực thi cc chỉ thị của Cng Đồng, v để gip mặt với cc thch đố mới m thời hiện đại đang đặt ra cho cc tn hữu Kit Gio.

 

Thượng Hội Đồng Gim Mục về Lời Cha

4. Trong kỳ họp lần thứ mười hai, cc gim mục khắp thế giới đ tụ họp quanh Lời Cha v tượng trưng đặt bản văn Thnh Kinh lm tm điểm cho cuộc họp, ng hầu nhấn mạnh như mới điều m ta liều mnh coi như việc đương nhin trong cuộc sống hng ngy: đ l sự kiện Thin Cha ni v trả lời cc vấn nạn của ta.[9]Ta đ cng nhau lắng nghe v cử hnh Lời Cha. Ta thuật lại cho nhau mọi điều Thin Cha lm giữa Dn Người, v ta chia sẻ với nhau mọi hy vọng v quan tm của ta. Tất cả những việc ny gip ta nhận ra rằng ta chỉ c thể thm hậu ha mối lin hệ của ta với Lời Cha trong ci "chng ti" của Gio Hội, trong việc lắng nghe v chấp nhận lẫn nhau. Bởi đ, ta biết ơn nhiều lời chứng về đời sống Gio Hội tại nhiều nơi trn thế giới đ được pht biểu trong cc đng gp tại phng Thượng Hội Đồng. Cũng l điều cảm động được nghe cc vị đại biểu anh em từng nhận lời mời của chng ta đến đy tham dự cuộc họp thượng hội đồng ny. Ti đặc biệt nghĩ tới bi suy gẫm do Đức Bartholomaios I, Thượng Phụ Đại Kết của Constantinople, trnh by với chng ta, một bi suy gẫm m cc Nghị Phụ đnh gi rất cao.[10]Ngoi ra, lần đầu tin trong lịch sử, Thượng Hội Đồng Gim Mục cũng đ mời một gio sĩ Do Thi Gio tới để trnh by với ta lời chứng qy gi về Thnh Kinh Do Thi, vốn cũng l một phần trong Sch Thnh của ta.[11]

Nhờ thế, ta c thể vui mừng v biết ơn nhn nhận rằng "trong Gio Hội ngy nay cũng đang c một Lễ Hiện Xuống, ni cch khc, Gio Hội cũng đang ni bằng nhiều ngn ngữ khc nhau, khng phải chỉ l bề ngoi, theo nghĩa mọi ngn ngữ lớn trn thế giới đều c đại diện trong Gio Hội, nhưng một cch su sắc hơn, trong Gio Hội cn hiện diện nhiều cch cảm nghiệm Thin Cha v thế giới khc nhau, rất nhiều nền văn ha khc nhau, v chỉ c thế, ta mới nhn ra sự rộng lớn mnh mng của kinh nhgiệm nhn bản v do đ, sự rộng lớn mnh mng của Lời Cha..[12]Ta cũng c thể nhn thấy một lễ Hiện Xuống đang tiếp diễn; nhiều dn tộc vẫn cn đang mong chờ Lời Cha được cng bố trong chnh ngn ngữ v văn ha của họ.

Ti lm sao qun khng nhắc đến việc: trong suốt Thượng Hội Đồng, chng ta lun được chứng t Thnh Tng Đồ Phaol thp tng! Quả l một ơn quan phng khi Cuộc Họp Thường Lệ Lần Thứ Mười Hai diễn ra trong năm knh Thnh Tng Đồ vĩ đại của Cc Dn Tộc nhn kỷ niệm hai ngn năm ngy sinh của ngi. Cuộc sống của Thnh Phaol hon ton được đnh dấu bằng lng nhiệt thnh truyền b Lời Cha. Lm sao khng bị đnh động bởi những lời đầy khch lệ của ngi ni về chnh sứ mệnh rao giảng Lời Cha của mnh: "Ti lm mọi sự cho Tin Mừng" (1 Cor 9:23); hay, như ngi viết trong Thư Gửi Tn Hữu Rma: "Ti khng xấu hổ v Tin Mừng; n l sức mạnh Thin Cha dng để cứu rỗi bất cứ ai c lng tin" (1:16).

Bất cứ khi no ta suy niệm Lời Cha trong đời sống v sứ mệnh của Gio Hội, ta đều khng thể khng nghĩ tới Thnh Phaol v cuộc sống của ngi hiến mnh cho việc truyền b sứ điệp cứu rỗi trong Cha Kit cho mọi dn tộc.

 

Tự ngn trong Tin Mừng Thnh Gioan lm kim chỉ nam

5. Với tng huấn ny, ti muốn cng trnh của Thượng Hội Đồng c hiệu quả thực sự đối với đời sống Gio Hội: trong mối lin hệ bản thn với Sch Thnh, trong việc giải thch chng trong phụng vụ v gio lý, v trong việc tm ti c tnh khoa học, để Thnh Kinh khng phải chỉ l lời của qu khứ, m l lời đang sống v hợp thời. Để đạt được điều đ, ti muốn trnh by v khai triển cng kh của Thượng Hội Đồng bằng cch khng ngừng tham chiếu Tự Ngn trong Tin Mừng Thnh Gioan (Ga 1:1-18), l tự ngn gip ta hiểu căn bản đời sống ta: Ngi Lời, từ nguyn thủy vốn ở với Thin Cha, nay đ trở nn người phm v cư ngụ giữa chng ta" (xem Ga 1:14). Đy l một bản văn tuyệt vời, một bản văn mang đến cho ta một tổng hợp về ton bộ niềm tin Kit Gio. Từ chnh kinh nghiệm bản thn được gặp v bước theo Cha Kit, Thnh Gioan, m truyền thống vốn nhận diện như l "mn đệ được Cha Gisu yu thương" (Ga 13:23; 20:2; 21:7, 20), "đạt được một sự chắc chắn su xa: Cha Gisu l Sự Khn Ngoan nhập thể của Thin Cha, Người l Lời đời đời đ trở nn con người hay chết".[13]Ước chi Thnh Gioan, người "đ thấy v đ tin" (xem Ga 20:8) cũng gip chng ta biết tựa vo ngực Cha Kit (xem Ga 13:25), nguồn mu v nước (xem Ga 19:34) vốn l cc biểu tượng của cc b tch trong Gio Hội. Theo gương Thnh Tng Đồ Gioan v cc tc giả linh hứng khc, ước chi ta để Cha Thnh Thần dẫn ta tới một tnh yu lớn hơn đối với Lời Cha.

 

[1] Cf. Proposition 1

[2] Cf. XIIe ASSEMBLE GNRALE ORDINAIRE DU SYNODE DES VQUES, Instrumentum laboris, n. 27.

[3] Cf. LON XIII, Lett. enc. Providentissimus Deus (18 novembre 1893): ASS (1893-94), 269-292; BENOT XV, Lett. enc. Spiritus Paraclitus (15 septembre 1920): AAS 12 (1920), pp. 385-422; PIE XII, Lett. enc. Divino af ante Spiritu (30 septembre 1943): AAS 35 (1943), pp. 297-325.7

[4] Proposition 2.

[5] Ibidem.

[6] CONC. CUM. VAT. II, Const. dogm. sur la Rvlation divine Dei Verbum, n. 2 (Traduction franaise tire de Les Conciles cumniques, tome 2, Cerf, Paris, 1994).

[7] Ibidem, n. 4.

[8] Cf. Parmi les interventions de diverses natures on rappellera: PAUL VI, Lett. Apost. Summi Dei Verbum (4 novembre 1963): AAS 55 (1963), pp. 979-995; idem, Motu proprio Sedula cura (27 juin 1971) AAS 63 (1971), pp. 665-669; JEAN-PAUL II, Audience gnrale (1 mai 1985): L'Osservatore Romano en langue franaise (par la suite L'ORf ), 2-3 mai 1985, p. 12; ID., Discours sur l'interprtation de la Bible dans l'glise (23 avril 1993) AAS 86 (1994), pp. 232-242: La Documentation catholique (par la suite La DC ) n. 2073, p. 503; BENOT XVI, Audience au Congrs pour le 40me anniversaire de la Constitution dogmatique sur la Rvlation divine (16 septembre 2005): AAS 97 (2005), p. 957, L'ORf, 20 septembre 2005, p. 3; ID., Angelus (6 novembre 2005): L'ORf, 8 novembre 2005, p. 1. Il faut aussi rappeler les interventions de la COMMISSION BIBLIQUE PONTIFICALE, De sacra Scriptura et christologia (1984): Ench. Vat. 9. n. 1208-1339; Unit et diversit dans l'glise (11 avril 1988): Ench. Vat. 11. n. 544-643; L'interprtation de la Bible dans l'glise (15 avril 1993): Ench. Vat. 13. n. 2846-3150; Le peuple juif et ses Saintes critures dans la Bible chrtienne (24 mai 2001): Ench. Vat. 20. n. 733-1150; Bible et morale. Racines bibliques de l'agir chrtien (11 mai 2008), Citt del Vaticano 2008.

[9] Cf. BENOT XVI, Discours la Curie romaine (22 dcembre 2008): AAS 101 (2009), p. 49; L'ORf, 23/30 dcembre 2008, p. 3.

[10] Cf. Proposition 37.

[11] Cf. COMMISSION BIBLIQUE PONTIFICALE, Le peuple juif et ses Saintes critures dans la Bible chrtienne (24 mai 2001): Ench. Vat. 20. n. 733-1150.

[12] BENOT XVI, Discours la Curie romaine (22 dcembre 2008): AAS 101 (2009) p. 50; L'ORf, 23/30 dcembre 2008, p. 4.

[13] Cf. BENOT XVI, Angelus (4 janvier 2009): L'ORf, 6 janvier 2009, p. 7.

 

 

 

PHẦN MỘT: LỜI CHA

 

"Từ nguyn thủy đ c Ngi Lời, v Ngi Lời ở với Thin Cha, v Ngi Lời l Thin Cha... V Ngi Lời trở nn xc thịt" (Ga 1:1-14)

 

Thin Cha ln tiếng

Thin Cha trong đối thoại

6. Ci mới mẻ của mạc khải Thnh Kinh hệ ở sự kiện: Thin Cha đ trở thnh Đấng được biết tới nhờ cuộc đối thoại Người muốn c với chng ta (14). Hiến Chế Tn Lý "Lời Cha" đ diễn tả điều ấy khi nhn nhận rằng Thin Cha v hnh "do sự vin mn của tnh yu nơi Người, đ ni với con người như bằng hữu, v sống giữa họ, để mời gọi họ v tiếp nhận họ vo hng ngũ của Người" (15). Ấy thế nhưng, ta sẽ khng hiểu đầy đủ sứ điệp trong Tự Ngn của Thnh Gioan, nếu ta dừng lại ở sự kiện: Thin Cha đ bước vo sự hiệp thng đầy yu thương với chng ta. Thực vậy, Ngi Lời Thin Cha, nhờ Người "mọi sự được dựng nn" (Ga 1:3) v l Đấng "đ trở nn xc thịt" (Ga 1:14), cũng chnh l Ngi Lời đ c "từ nguyn thủy" (Ga 1:1). Nếu ta hiểu được rằng điều ấy m chỉ thuở nguyn thủy của Sch Sng Thế (xem St 1:1), ta sẽ thấy mnh gip mặt với một nguyn thủy tuyệt đối, một nguyn thủy ni với ta về sự sống bn trong của chnh Thin Cha. Tự ngn của Thnh Gioan gip ta nhận ra rằng Ngi Lời quả vĩnh cửu, v từ vĩnh cửu, vốn l chnh Thin Cha. Thin Cha khng bao giờ hiện hữu m lại khng c Ngi Lời. Ngi Lời hiện hữu trước sng thế. Thnh thử, tại tm điểm sự sống Thin Cha, c một hiệp thng, một hiến thn tuyệt đối. "Thin Cha l tnh yu" (1 Ga 4:16), cũng Thnh Gioan đ ni với ta điều đ tại một chỗ khc, v do đ hướng ta tới "hnh ảnh Kit Gio về Thin Cha v hnh ảnh từ đ m ra về nhn loại v số phận của họ" (16). Thin Cha tự mạc khải cho ta như một mầu nhiệm yu thương bất tận trong đ, Cha Cha, từ thuở đời đời, thốt ra Lời của Người trong Cha Thnh Thần. Do đ, Ngi Lời, Đấng ngay từ khởi thủy đ ở với Thin Cha v l Thin Cha, mạc khải chnh Thin Cha trong cuộc đối thoại yu thương giữa Ba Ngi Thin Cha, v mời gọi ta chia sẻ tnh yu ấy. Được dựng nn theo hnh ảnh v họa ảnh của Thin Cha tnh yu, ta chỉ c thể hiểu được mnh khi tiếp nhận Ngi Lời v chịu để Cha Thnh Thần lm việc. Dưới nh sng mạc khải của Ngi Lời Thin Cha, mọi kh hiểu trong thn phận con người đều được soi sng một cch dứt khot.

 

Loại suy lời Thin Cha

7. Dưới nh sng những xem st trn, những xem st vốn pht sinh từ việc suy niệm mầu nhiệm Kit Gio như đ được Tự Ngn Thnh Gioan pht biểu, giờ đy ta cần st xem cc Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đ khẳng định những g về cc cch thế khc nhau ta vốn dng để ni về "lời Thin Cha". Cc ngi hon ton đng khi nhắc tới cuộc ha tấu lời Cha, một lời duy nhất nhưng được pht biểu nhiều cch: "một bản thnh ca đa điệu" (17). Cc Nghị Phụ Thượng Hội Đồng nhấn mạnh rằng ngn ngữ con người hnh động một cch loại suy khi ni về lời Cha. Thực vậy, kiểu pht biểu kia, trong khi ni tới việc Thin Cha tự thng đạt, cũng cn c nhiều nghĩa khc nhau nữa cần được xem st v lin kết với nhau một cch thận trọng, xt theo cả quan điểm suy tư thần học lẫn quan điểm thực hnh mục vụ. Như Tự Ngn Thnh Gioan đ cho ta thấy r, Lời (Logos) trước nhất chỉ về Ngi Lời Hằng Hữu, Con Một Thin Cha, sinh bởi Cha Cha trước khi c thời gian v cng một bản thể với Người: Lời đ ở với Thin Cha, v Lời l Thin Cha. Nhưng Thnh Gioan cũng cho ta hay cũng Lời ny "đ trở nn xc phm" (Ga 1:14); bởi thế, Cha Gisu Kit, sinh bởi Trinh Nữ Maria, quả thực l Ngi Lời Thin Cha đ trở nn đồng bản thể với chng ta. Do đ, kiểu ni "lời Cha" ở đy m chỉ con người Cha Gisu Kit, Con hằng hữu của Cha Cha, đ sinh ra lm người.

D biến cố Cha Kit nằm ở tm điểm mạc khải Thin Cha, nhưng ta vẫn cần hiểu r rằng chnh tạo vật, chnh cuốn sch thin nhin (liber naturae), cũng l thnh phần chủ yếu của cuộc ha tấu đa điệu ny trong đ lời duy nhất được ni ln. Chng ta cũng tuyn xưng đức tin rằng Thin Cha đ ni lời của Người trong lịch sử cứu rỗi; Người đ lm cho lời của Người được nghe; bằng sức mạnh Cha Thnh Thần, "Người đ ni qua cc tin tri" (18). Như thế, lời Thin Cha đ được ni trong suốt lịch sử cứu rỗi, v được ni đầy đủ nhất trong mầu nhiệm nhập thể, chịu chết v sống lại của Con Thin Cha. Ngoi ra, lời Cha cũng l lời được cc Tng Đồ rao giảng, theo lệnh của Cha Gisu phục sinh: "Hy đi khắp thế gian v rao giảng Phc m cho mọi loi thụ tạo" (Mc 16:15). Như thế, lời Cha được lưu truyền trong truyền thống sống động của Gio Hội. Sau cng, lời Cha, lời được Thin Cha chứng thực v linh hứng, chnh l Sch Thnh, l Cựu v Tn Ước. Tất cả những điều trn gip chng ta thấy: d trong Gio Hội, chng ta rất tn knh Sch Thnh, nhưng đức tin Kit Gio khng phải l một "tn gio của sch vở": Kit Gio l "tn gio của lời Thin Cha", khng phải "l lời viết ra v cm nn, nhưng l Lời nhập thể v sống động" (19). Do đ, Sch Thnh phải được cng bố, lắng nghe, đọc, tiếp nhận v cảm nghiệm như l lời Thin Cha, trong ging Tng Truyền m n khng thể tch biệt được (20).

Như chnh cc Nghị Phụ Thượng Hội Đồng tuyn bố, kiểu ni "lời Cha" được dng một cch loại suy, v ta nn để ý điều đ. Cc tn hữu cần được gip đỡ nhiều hơn để nắm vững cc nghĩa khc nhau của kiểu ni ny, nhưng họ cũng cần hiểu nghĩa thống nhất của n nữa. Theo cả quan điểm thần học, ta cần phải học hỏi xa rộng hơn nữa để biết xem cc ý nghĩa khc nhau của kiểu ni ny c lin hệ với nhau ra sao, để sự thống nhất trong kế hoạch của Thin Cha v, với sự thống nhất ny, tnh trung tm của con người Cha Kit, được rạng ngời hơn nữa (21).

 

Chiều kch vũ trụ của lời

8. Khi xem xt ý nghĩa căn bản của lời Cha theo nghĩa Ngi Lời Hằng Hữu của Thin Cha lm người, Đấng Cứu Độ v Trung Gian duy nhất giữa Thin Cha v loi người (22), v khi lắng nghe lời ấy, ta được mạc khải Thnh Kinh dẫn dắt để thấy rằng đ l nền tảng của mọi thực tại. Tự Ngn Thnh Gioan ni về Lời thần linh rằng "Nhờ Người, vạn vật được tạo thnh, v khng c Người, th chẳng c g được tạo thnh" (Ga 1:3); cn thư gửi tn hữu Clx th ni về Cha Kit, "hoa quả đầu ma của mọi thụ tạo" (1:15), rằng "mun vật được tạo thnh nhờ Người v cho Người" (1:16). Tc giả Thư gửi tn hữu Do Thi cũng viết rằng: "Nhờ đức tin, chng ta hiểu rằng vũ trụ đ được hnh thnh bởi lời của Thin Cha" (11:3).

Đối với chng ta, lời cng bố đ chnh l lời tự do. Sch Thnh cho ta biết: mọi sự hiện hữu khng hiện hữu cch tnh cờ m l do ý Cha muốn v l một phần trong kế hoạch của Người, m ở tm điểm kế hoạch ny l lời mời gọi ta tham gia vo sự sống thin Cha trong Cha Kit. Sng thế do Logos, do Ngi Lời m ra v do đ mi mi mang dấu ấn của Lý Tr sng tạo vốn ra lệnh v điều hướng n; cc thnh vịnh đ ca ngợi với một niềm chắc chắn đầy hn hoan rằng: "một lời Cha phn lm ra chn tầng trời, một hơi Cha thở tạo thnh mun tinh t" (Tv 33:6); v một lần nữa, "V Người đ phn, v mun loi xuất hiện, Người ra lệnh truyền, tất cả được dựng nn" (TV 33:9). Mọi thực tại đều ni ln mầu nhiệm ny: "Trời xanh tường thuật vinh quang Thin Cha; khng trung loan bo việc tay Người lm" (Tv 19:1). Như thế, chnh Sch Thnh mời gọi chng ta nhn nhận Đấng Ha Cng bằng cch chim ngưỡng cng trnh sng tạo của Người (xem Kn 13:5; Rm 1:19-20). Truyền thống tư duy Kit Gio vốn khai triển yếu tố chủ chốt trong bản ha tấu lời ny. Như Thnh Bonaventura, chẳng hạn, người vốn theo truyền thống cc Gio Phụ Hy Lạp m nhn ra mọi khả thể sng thế trong Logos (23), đ ni rằng "mọi tạo vật đều l lời Cha, v n cng bố Người" (24). Hiến Chế Tn Lý "Lời Cha" đ tổng hợp cc dữ kiện ấy khi cho rằng "Thin Cha, Đấng tạo dựng v duy tr mọi vật bằng chnh lời của Người (xem Ga 1:3), đ cho ta chứng cớ mi mi về chnh Người ngay trong cc thực tại tạo dựng" (25).

-----

[14] Cf. XIIe ASSEMBLE GNRALE ORDINAIRE DU SYNODE DES VQUES, Relatio ante disceptationem, I: L'ORf, 4 novembre 2008, p. 9.

[15] Cf. CONC. CUM. VAT. II, Const. dogm. sur la Rvlation divine Dei Verbum, n. 2.

[16] BENOT XVI, Lett. enc. Deus caritas est (25 dcembre 2005), n. 1: AAS 98 (2006), pp. 217-218.

[17] XIIe ASSEMBLE GNRALE ORDINAIRE DU SYNODE DES VQUES, Instrumentum laboris, n. 9.

[18] Credo de Nice Constantinople: DS 150.

[19] SAINT BERNARD DE CLAIRVAUX, Homelia super Missus est, IV, 11: PL 183, 86 B.

[20] Cf. CONC. CUM. VAT. II, Const. dogm. sur la Rvlation divine Dei Verbum, n. 10.

[21] Cf. Proposition 3.

[22] Cf. CONGRGATION POUR LA DOCTRINE DE LA FOI, Dclaration sur l'unicit et l'universalit salvi que de Jsus Christ et de l'glise Dominus Iesus (6 aot 2000) nn. 13-15: AAS 92 (2000), pp. 754-756.

[23] Cf. In Hexaemeron, XX, 5: Opera Omnia, V, Quaracchi 1891, pp. 425-426; Breviloquium I, 8: Opera Omnia, V, Quaracchi 1891, pp. 216-217.

[24] SAINT BONAVENTURE, Itinerarium mentis in Deum, II, 12: Opera Omnia, V, Quaracchi, 1891, pp. 302-303; cf. Commentarius in librum Ecclesiastes, Chap. 1, vers. 11; Quaestiones, II, 3, Quaracchi 1891, p. 16.

[25] CONC. CUM. VAT. II, Const. dogm. sur la Rvlation divine Dei Verbum, n. 3; cf. CONC. CUM. VAT. I, Const. dogm. sur la foi catholique Dei Filius, chap. 2, De revelatione: DS 3004.

 

Việc tạo dựng con người

9. Như thế, thực tại l do lời sinh ra, l thụ tạo của Lời (creatura Verbi), v mọi sự đều được ku gọi phụng sự lời. Sng thế l khung cảnh trong đ ton bộ lịch sử yu thương giữa Thin Cha v tạo vật của Người diễn tiến; bởi thế, việc cứu rỗi con người chnh l lý do đứng đng sau mọi sự. Khi chim ngưỡng vũ trụ từ vọng nhn của lịch sử cứu rỗi, ta hiểu được vị thế độc đo v nổi bật của con người trong sng thế: "Thin Cha tạo nn con người theo hnh ảnh Người, theo hnh ảnh mnh, Người đ tạo ra họ: Người tạo ra họ c nam c nữ" (St 1:27). Điều ấy gip ta nhn nhận đầy đủ cc ơn phc qu gi nhận được từ Đấng Ha Cng: gi trị thn xc, ơn phc lý tr, tự do v lương tm. Cả ở đy, ta cũng khm ph ra điều được truyền thống triết học thường gọi l "luật tự nhin" (26). Thực vậy, "mọi hữu thể nhn bản c ý thức v trch nhiệm đều cảm nghiệm được từ nội tm lời mời gọi lm điều tốt" (27) v do đ xa lnh điều xấu. Như Thnh Tma Aquin từng ni, nguyn lý ny chnh l căn bản của mọi giới điều khc của luật tự nhin (28). Lắng nghe lời Cha sẽ dẫn ta trước nhất v trn hết tới việc biết trn qi nhu cầu phải sống theo luật vốn "viết sẵn trong tri tim con người" ny (xem Rm 2:15; 7:23) (29). Rồi, Cha Gisu Kit đ ban cho nhn loại một luật mới, luật Tin Mừng, một luật tiếp nối v hon tất luật tự nhin một cch ưu việt, bằng cch giải thot ta khỏi luật tội lỗi. Như Thnh Phaol từng ni, kết quả l "ti c thể muốn sự thiện, nhưng ti khng lm được điều đ" (Rm 7:18). Phải c ơn thnh, con người mới c khả năng tham dự vo sự sống Thin Cha v thắng vượt tnh vị kỷ của mnh (30).

 

Chủ nghĩa hiện thực về lời

10. Ai biết lời Cha cũng biết đầy đủ tầm ý nghĩa của từng tạo tạo vật. V nếu mọi loi "đều tồn tại" trong Đấng vốn "c trước mun loi" (xem Cl 1:17), th ai xy dựng cuộc sống mnh trn lời của Người quả đ xy n một cch chắc chắn v bền vững. Lời Cha gip ta thay đổi quan niệm của mnh về chủ nghĩa hiện thực: người theo chủ nghĩa hiện thực l người biết nhn nhận lời Cha chnh l nền tảng mọi sự (31). Chủ nghĩa hiện thực ny đặc biệt cần trong thời đại ta, khi nhiều sự vật được ta tin dng để xy dựng đời mnh, những sự vật ta muốn đặt hết hy vọng vo, đ chứng tỏ chỉ l ph du. Của cải, khoi lạc v quyền hnh, chng hay chầy, cũng sẽ tỏ ra bất lực, khng thể thỏa mn cc kht vọng su xa nhất của tri tim con người. Khi xy dựng đời sống mnh, ta cần c cc nền tảng vững chắc, những nền tảng vẫn tồn tại khi mọi chắc chắn nhn bản đều thất bại. Thực vậy, v "Mun lạy Cha, lời Ngi bền vững đến ngn đời, trn ci trời cao. Lng thnh tn Cha trải bao thế hệ, Ngi củng cố địa cầu, địa cầu tồn tại mi" (Tv 119:89-90), ai xy dựng trn lời ny l xy nh đời mnh trn đ (xem Mt 7:24). Ước chi tri tim ta biết thưa với Cha mỗi ngy: "Cha l nơi con ẩn nu, l thuẫn đỡ, con vẫn trng cậy ở lời Ngi" (Tv 119:114) v như Thnh Phr, ước chi, trong mọi hoạt động hng ngy, ta biết ph thc cho Cha Gisu Kit: "vng lời Thầy, con sẽ thả lưới" (Lc 5:5).

 

Kit học bằng lời

11. Từ ci thong nhn vo mọi thực tại như cng trnh bn tay Ba Ngi Ch Thnh qua lời Thin Cha trn đy, ta hiểu được cu viết của tc giả Thư gửi tn hữu Do Thi: "Thuở xưa, nhiều lần nhiều cch, Thin Cha đ phn dạy cha ng chng ta qua cc tin tri; nhưng vo thời sau hết ny, Người đ phn dạy chng ta qua Thnh Tử, Đấng Người đ chỉ định lm người thừa kế mọi sự, nhờ Đấng ny Người đ tạo dựng thế giới" (1:1-2). Đẹp đẽ biết bao khi thấy ton bộ Cựu Ước đối với chng ta chỉ l lịch sử trong đ Thin Cha thng đạt lời của Người: thực thế, "Sau khi ký giao ước với Abraham (x. St 15:18) v với dn Israel qua Misen (x. Xh 24:8), Người đ dng lời ni, việc lm mạc khải cho dn Người đ chọn để họ biết Người l Thin Cha độc nhất, chn thật v hằng sống, để Israel nghiệm thấy đu l đường lối Thin Cha đối xử với loi người, v để nhờ chnh Người phn dạy qua miệng cc Tin Tri, ngy qua ngy, họ thấu hiểu cc đường lối ấy cch su đậm v r rng hơn, để rồi đem phổ biến rộng ri nơi cc dn tộc (x. Tv 21,28-29; 95,1-3; Is 2,1-4; Gr 3,17) (32).

Sự "hạ cố" ny của Thin Cha được thể hiện một cch cao vời trong việc nhập thể của Ngi Lời. Lời hằng hữu, được pht biểu trong sng thế v được thng truyền trong lịch sử cứu rỗi, trong Cha Kit lm người, "sinh bởi người đn b" (Gl 4:4). Ở đy, lời được pht biểu chủ yếu khng bằng lời ni, quan niệm hay qui luật. Ở đy, ta đứng trước chnh con người của Cha Gisu. Lịch sử độc đo v nổi bật của Người l lời dứt khot Thin Cha ni với nhn loại. Bởi thế ta thấy được tại sao "lm Kit hữu khng phải l kết quả của một chọn lựa đạo đức hay một ý tưởng cao cả, nhưng l một gặp gỡ với một biến cố, một con người, một cuộc gặp gỡ mang lại sự sống cho một chn trời mới, một hướng đi mới" (33). Việc đổi mới khng ngừng cuộc gặp gỡ ny v ý thức về n lm tm hồn tn hữu trn ngập sự thn phục đối với sng kiến của Thin Cha, một sng kiến m những con người nhn bản, với một lý tr v một tr tưởng tượng hữu hạn, khng bao giờ dm mơ ước. Ta đang ni tới một sự mới mẻ v tiền khong hậu v tr khn con người khng thể no quan niệm nổi: "lời trở nn xc phm v cư ngụ giữa chng ta" (Ga 1:14a). Những lời ny khng phải l hnh tượng của lời ni nữa; chng dẫn ta tới một kinh nghiệm sống! Thnh Gioan, một chứng nhn tận mắt, ni với ta như thế: "Chng ti đ thấy vinh quang của Người, vinh quang của Con Một Cha Cha, đầy ơn thnh v sự thật" (Ga 1:14b). Đức tin tng truyền lm chứng rằng Lời vĩnh hằng đ trở nn một với chng ta. Lời Thin Cha thực sự đ được pht biểu bằng lời con người.

12. Truyền thống gio phụ v trung cổ, khi chim ngưỡng "Kit học bằng lời" ny, đ dng một kiểu ni kh gợi cảm: lời đ được "viết tắt" (abbreviated) (34). "Cc Gio Phụ thấy trong bản dịch Hy Lạp bộ Cựu Ước một đoạn từ sch tin tri Isaia m Thnh Phaol cũng c trch dẫn để người ta thấy đường lối mới mẻ của Thin Cha đ được Cựu Ước tin bo ra sao. Trong đoạn ấy, ta đọc thấy: 'Cha đ lm cho lời Người ngắn lại, Người đ "viết tắt" n'" (Is 10:23; Rm 9:28)... Cha Con l Lời, l Logos: lời vĩnh cửu ấy đ trở nn nhỏ mọn, nhỏ đến c thể vừa tầm với một mng cỏ. Người trở nn một con trẻ, để chng ta c thể nắm được lời ấy" (35). Giờ đy, lời khng những nghe được; khng những c một tiếng ni, m cn c một khun mặt, một khun mặt ta c thể nhn được: đ l khun mặt của Cha Gisu Thnh Nadart (36).

Đọc cc trnh thuật Tin Mừng, ta thấy nhn tnh của Cha Gisu đ xuất hiện ra sao với mọi nt độc đo của n trong tương quan với lời Thin Cha. Bằng nhn tnh hon hảo của mnh, Người thực hiện ý Cha Cha mọi lc; Cha Gisu nghe tiếng Người v vng theo tiếng ấy bằng trọn con người của mnh; Người biết Cha Cha v tun giữ lời Cha Cha (xem Ga 8:55); Người ni với chng ta về những g Cha Cha đ ni với Người (xem Ga 12:50); "Con đ cho chng những lời Cha đ cho con" (Ga 17:8). Như thế, Cha Gisu cho thấy Người l Lời Thin Cha được ban cho chng ta, nhưng đồng thời, Người l Adong mới, con người chn thực, khng bao giờ lm theo ý ring nhưng lun theo ý Cha Cha. Người "cng ngy cng thm khn ngoan, thm cao lớn v thm n nghĩa đối với Thin Cha v người ta" (Lc 2:52). Người lắng nghe, nhập thn v thng đạt cho ta một cch ton hảo lời của Thin Cha (xem Lc 5:1).

Sứ mệnh của Cha Gisu tối hậu đ được hon tất trong mầu nhiệm vượt qua: ở đy, ta đứng trước "lời thập gi" (1 Cor 1:18). Lời cm lặng; lời trở thnh im lặng chết người, v đ "ni" đến cng kiệt, chẳng cn giữ lại điều chi cần phải ni cho ta. Cc Gio Phụ, khi suy niệm mầu nhiệm ny, đ gn cho Mẹ Thin Cha cu ni cảm động sau đy: "V lời l Lời của Cha Cha, Đấng đ lm cho mọi tạo vật ni, v sinh l mắt của Đấng m lời ni v ci gật đủ lm mọi sinh vật cử động" (37). Ở đy, tấm tnh yu "lớn hơn" kia, tấm tnh yu hiến mạng sống mnh cho bằng hữu (xem Ga 15:13) quả l tấm tnh yu chia sẻ với chng ta.

Trong mầu nhiệm vĩ đại ny, Cha Gisu được mạc khải như lời của giao ước mới v trường cửu: tự do Thin Cha v tự do con người đ dứt khot gặp nhau trong thn xc bị đng đinh của Người, trong một thỏa hiệp bất khả tiu v c gi trị vĩnh viễn. Chnh Cha Gisu, trong Bữa Tiệc Ly, khi thiết lập B Tch Thnh Thể, đ ni tới một "giao ước mới v trường cửu" qua việc đổ mu mnh ra (xem Mt 26:28; Mc 14:24; Lc 22:20), v tự cho thấy Người l Chin hy sinh thật sự sẽ dứt khot giải thot ta khỏi n lệ (38).

Trong mầu nhiệm v cng rực rỡ của phục sinh, sự im lặng ny của lời được diễn tả bằng một ý nghĩa chn chnh v dứt khot. Cha Kit, Lời nhập thể, chịu đng đinh v sống lại của Thin Cha, l Cha Tể mọi loi; Người l Đấng chiến thắng, l Đấng Ton Năng (Pancrator), v do đ, mọi loi được triệu tập trong Người mi mi (xem Eph 1:10). Như thế, Cha Kit l "nh sng thế giới" (Ga 8:12), nh sng "chiếu trong bng tối" (Ga 1:5) v bng tối khng diệt được n (Ga 1:5). Ở đy ta hiểu được đầy đủ ý nghĩa cc lời sau đy của Thnh Vịnh 119: "Lời Ngi l đn soi cho con bước, l nh sng chỉ đường con đi" (cu 105); Lời phục sinh dứt khot l nh sng chỉ đường ta đi. Từ khởi thủy, Kit hữu đ hiểu r rằng trong Cha Kit, lời Thin Cha vốn hiện diện như một ngi vị. Lời Thin Cha quả l nh sng đch thực m con người cần đến. Trong phục sinh, Con Thin Cha thực sự xuất hiện như nh sng thế giới. Giờ đy, nhờ sống với Người v trong Người, ta c thể sống trong nh sng.

13. Ở đy, ở tm điểm của "Kit học bằng lời" ny, cũng như trước đy, điều quan trọng l cần nhấn mạnh đến tnh thống nhất của kế hoạch Thin Cha nơi Lời nhập thể: nghĩa l Tn Ước trnh by mầu nhiệm vượt qua như ph hợp với Sch Thnh v như sự nn trọn của Sch Thnh. Thnh Phaol, trong Thư thứ nhất gửi tn hữu Crint, quả quyết rằng Cha Kit chết v tội lỗi ta "đng như lời Thnh Kinh" (15:3), v Người trỗi dậy vo ngy thứ ba "đng như lời Thnh Kinh" (15:4). Như thế, Thnh Tng Đồ lin kết biến cố Cha chịu chết v sống lại với lịch sử của Giao Ước Cũ của Thin Cha với dn của Người. Thực vậy, ngi cho ta thấy: từ biến cố ấy, lịch sử nhận được luận lý nội tại v ý nghĩa đch thực của n. Trong mầu nhiệm vượt qua, "lời của Thnh Kinh" đ nn trọn; ni cch khc, ci chết diễn ra "đng như lời Thnh Kinh" ny l biến cố chứa một logos, một luận lý nội tại: ci chết của Cha Kit chứng thực rằng lời Thin Cha đ trở nn xc phm hon ton c tnh nhn bản, trở nn "lịch sử" thực sự nhn bản (39).

Tương tự như thế, sự phục sinh của Cha Gisu đ diễn ra "vo ngy thứ ba, đng như lời Thnh Kinh": v tn ngưỡng Do Thi vẫn cho rằng sau ngy thứ ba sự mục rữa sẽ xẩy ra, nn lời Thnh Kinh đ nn trọn nơi Cha Gisu, Đấng đ trỗi dậy khng mục rữa. Như thế, Thnh Phaol, khi trung thnh chuyển giao gio huấn của cc Tng Đồ (xem 1 Cor 15:3), đ nhấn mạnh rằng chiến thắng sự chết của Cha Kit xẩy ra nhờ quyền năng sng tạo của lời Thin Cha. Quyền năng thần linh ny mang lại niềm hy vọng v niềm vui: tm tắt, điều ny chnh l nội dung giải thot của mạc khải vượt qua. Trong Lễ Phuc Sinh, Thin Cha tự mạc khải chnh mnh v quyền năng của tnh yu Ba Ngi, một tnh yu ph tan tnh quyền lực xấu xa của sự c v sự chết.

Nhớ lại cc yếu tố chủ chốt của đức tin, ta c thể chim ngưỡng tnh thống nhất su sắc nơi Cha Kit giữa sng thế, tn sng thế v trọn lịch sử cứu rỗi. Như một th dụ, một th dụ m chnh Galileo cũng đ sử dụng, ta c thể so snh vũ trụ như một "cuốn sch" v coi n như "cng trnh của một tc giả muốn tự diễn tả về mnh qua bản 'ha tấu' của sng thế. Trong bản ha tấu ny, ở một điểm no đ, người ta sẽ thấy điều m ngn ngữ m nhạc quen gọi l 'độc tấu' (solo), tức một chủ đề dnh ring cho một nhạc cụ hay một giọng ht, một chủ đề quan trọng đến nỗi ý nghĩa của ton thể tc phẩm phải ty thuộc vo. 'Độc tấu' đ chnh l Cha Gisu... Con Người gồm tm trong mnh cả đất lẫn trời, cả sng thế lẫn Đấng Sng Tạo, cả xc phm lẫn Thần Kh. Người l trung tm của vũ trụ v lịch sử, v nơi Người, cả tc giả lẫn cng trnh đều hội tụ m khng lẫn lộn (40).

-------

[26] Cf. Proposition 13.

[27] COMMISSION THOLOGIQUE INTERNATIONALE, la recherche d'une thique universelle: un regard nouveau sur la loi naturelle, n. 39.

[28] Cf. Summa Theologiae, Ia-IIae, q. 94, a. 2.

[29] Cf. COMMISSION BIBLIQUE PONTIFICALE, Bible et morale, Racines bibliques de l'agir chrtien (11 mai 2008), nn. 13, 32 et 109.

[30] Cf. COMMISSION THOLOGIQUE INTERNATIONALE, la recherche d'une thique universelle: un regard nouveau sur la loi naturelle, n. 102.

[31] Cf. BENOT XVI, Mditation l'occasion de l'ouverture du Synode des vques (6 octobre 2008): ASS 100 (2008), 758-761, L'ORf, 14 octobre 2008, p. 11.

[32] CONC. CUM. VAT. II, Const. dogm. sur la Rvlation divine Dei Verbum, n. 14.

[33] BENOT XVI, Lett. enc. Deus caritas est (25 dcembre 2005), n. 1: AAS 98 (2006), pp. 217-218.

[34] "Ho Logos pachynetai (ou brachynetai)". Cf. ORIGNE, Pri Archon, I, 2, 8: Sources Chrtiennes (par la suite SC ) 252, p. 127-129.

[35] BENOT XVI, Homlie au cours de la Messe de la Nativit du Seigneur (24 dcembre 2006): AAS 99 (2007), p. 12, L'ORf, 2 janvier 2007, p. 2.

[36] Cf. XIIe ASSEMBLE GNRALE ORDINAIRE DU SYNODE DES VQUES, Message nal, II, 4-6.

[37] SAINT MAXIME LE CONFESSEUR, La vie de Marie, n. 89: CSCO 479, p. 77.

[38] Cf. BENOT XVI, Exhort. apost. post-synodale Sacramentum caritatis (22 fvrier 2007), n. 9-10: AAS 99 (2007), pp. 111-112.

[39] Cf. BENOT XVI, Audience Gnrale (15 avril 2009): L'ORf, 21 avril 2009, p. 2.

[40] Cf. BENOT XVI, Homlie en la solennit de l'piphanie du Seigneur (6 janvier 2009): L'ORf, 13 janvier 2009, p. 6.

 

 

Chiều kch cnh chung của lời Thin Cha

14. Trong tất cả cc điều trn, Gio Hội pht biểu r ý thức của mnh rằng với Cha Gisu Kit, Gio Hội đứng trước lời dứt khot của Thin Cha: Người l "trước hết v sau hết" (Kh 1:17). Người đ ban cho sng thế v lịch sử ý nghĩa dứt khot của chng; v do đ, ta được mời gọi sống trong thời gian v trong sng thế của Thin Cha theo nhịp điệu cnh chung của lời; "Do đ thời đại Kit Gio, v l giao ước mới v dứt khot, sẽ khng bao giờ qua đi; v trước cuộc xuất hiện vinh quang của Cha Gisu Kit, Cha chng ta, sẽ khng c một mạc khải cng khai mới no khc" (xem 1 Tm 6:14 v Tt 2:13) (41). Thực vậy, như cc Nghị Phụ từng ghi nhận tại Thượng Hội Đồng, "sự độc đo của Kit Gio được biểu lộ trong biến cố Cha Gisu Kit, vốn l đỉnh cao của mạc khải, l sự vin mn của cc lời Cha hứa v l Đấng Trung Gian của cuộc gặp gỡ giữa con người v Thin Cha. Người, Đấng 'mạc khải Thin Cha' (Ga 1:18), chnh l lời duy nhất v dứt khot được ban cho nhn loại" (42). Thnh Gioan Thnh Gi diễn tả chn lý ấy một cch tuyệt vời: "V Người đ ban cho ta Con của Người, lời duy nhất của Người, nn Người đ một lần ni hết mọi sự trong một lời duy nhất ny, v Người khng cn g khc để ni nữa... v những g Người ni trước đy từng phần cho cc tin tri, th nay Người ni một lần tất cả bằng cch ban cho ta ci Tất Cả ấy l chnh Con của Người. Bất cứ ai tra vấn Cha hay muốn được thị kiến hay mạc khải no đ nữa đều c tội khng những v hnh xử đin rồ m cn v đ xc phạm đến Người, khng chịu chăm nhn một mnh Cha Kit, m lại sống với lng thm thuồng muốn điều mới lạ" (43).

Thnh thử, Thượng Hội Đồng nhấn mạnh tới nhu cầu "gip đỡ cc tn hữu phn biệt được lời Cha với cc mạc khải tư" (44) l cc mạc khải c vai tr "khng phải l 'hon tất' mạc khải dứt khot của Cha Kit, m l gip người ta sống mạc khải ấy cch đầy đủ hơn trong một giai đoạn no đ của lịch sử" (45). Gi trị của cc mạc khải tư, xt theo yếu tnh, khc với gi trị của mạc khải cng c tnh duy nhất: mạc khải duy nhất ny đi c đức tin; trong mạc khải ny, chnh Thin Cha ni với ta qua ngn ngữ con người v nhờ sự trung gian của cộng đồng sống động l Gio Hội. Tiu chuẩn để phn đon sự thật của mạc khải tư l hướng nhắm của n về chnh Cha Kit. Nếu mạc khải tư lm ta quay mặt khỏi Người, th chắc chắn n khng pht sinh từ Cha Thnh Thần, Đấng lun dẫn ta đi vo Tin Mừng su hơn, chứ khng ra xa khỏi n. Mạc khải tư l một trợ gip cho đức tin. Tnh khả tn của n chỉ c khi n ti qui chiếu vo mạc khải cng duy nhất. Việc Gio Hội ph chuẩn một mạc khải tư chủ yếu c nghĩa: sứ điệp của n khng chứa một điều g đi ngược lại đức tin v lun lý; người ta được php cng khai ha n v cc tn hữu được php gắn b với n một cch khn ngoan. Một mạc khải tư c thể giới thiệu những nhấn mạnh mới, tạo ra cc hnh thức đạo đức mới, hay thm hậu ha cc hnh thức cũ. N c thể c một đặc điểm tin tri no đ (xem 1 Tx 5:19-21) v c thể l một trợ gip c gi trị gip ta hiểu v sống Tin Mừng tốt hơn trong một giai đoạn no đ; do đ, khng nn xử lý với n một cch coi thường. N l một trợ gip được đề nghị ra, chứ khng c tnh bắt buộc. D sao, n nn được coi như vấn đề nui dưỡng đức tin, đức cậy, đức mến vốn l con đường thường hằng của cứu rỗi dnh cho mọi người (46).

 

Lời Cha v Cha Thnh Thần

15. Sau khi suy niệm về lời sau cng v dứt khot của Thin Cha phn với thế giới, giờ đy ta cần nhắc tới sứ mệnh của Cha Thnh Thần trong tương quan với lời Thin Cha. Thực vậy, nếu khng c hoạt động của Đấng Bo Chữa (Paraclete), sẽ khng c sự hiểu biết chn chnh về mạc khải Kit Gio. Sở dĩ như thế v việc Thin Cha tự thng đạt chnh mnh lun bao gồm mối lin hệ của Cha Con v Cha Thnh Thần, Hai Ngi m Thnh Irn Thnh Lyon gọi l "hai cnh tay của Cha Cha" (47). Chnh Thnh Kinh cũng ni tới sự hiện diện của Cha Thnh Thần trong lịch sử cứu rỗi v nhất l trong cuộc đời của Cha Gisu: Người được chịu thai trong lng Trinh Nữ Maria nhờ quyền năng Cha Thnh Thần (xem Mt 1:18; Lc 1:35); lc khởi đầu sứ vụ cng khai của mnh, bn bờ sng Giođăng, Người thấy Cha Thnh Thần hiện xuống trn đầu Người dưới hnh chim bồ cu (xem Mt 3:16); trong cng một Thần Kh ny, Cha Gisu đ hnh động, ni năng v hn hoan (xem Lc 10:21); cũng trong Cha Thnh Thần, Người tự hiến mnh (xem Dt 9:14). Theo trnh thuật của Thnh Gioan, khi sứ vụ của Người sắp kết thc, Cha Gisu đ minh nhin lin kết việc Người tự hiến mạng sống mnh với việc phi Cha Thnh Thần xuống trn những kẻ thuộc về Người (Xem Ga 16:7). Cha Gisu phục sinh, vẫn mang trong thn xc cc dấu vết khổ nạn, đ tun đổ Cha Thnh Thần (xem Ga 20:22), gip cc mn đệ trở thnh những người chia sẻ sứ mệnh ring của mnh (xem Ga 20:21). Cha Thnh Thần c sứ mệnh dạy cc mn đệ mọi sự v lm cho cc ngi nhớ lại mọi điều Cha Gisu từng ni (xem Ga 14:26), v Cha Thnh Thần, Thần Kh Sự Thật (xem Ga 20:21) sẽ dẫn cc mn đệ vo mọi chn lý (xem Ga 16:13). Sau cng, trong Tng Đồ Cng Vụ, ta đọc thấy: Cha Thnh Thần hiện xuống trn nhm Mười Hai, lc ấy, đang tụ họp cầu nguyện với Đức Mẹ vo ngy Lễ Ngũ Tuần (xem 2:1-4) v thc đẩy họ tiếp nhận sứ mệnh cng bố Tin Mừng cho mọi dn tộc (48).

Như thế, lời Cha được pht biểu bằng lời con người nhờ hoạt động của Cha Thnh Thần. Sứ mệnh của Cha Con v của Cha Thnh Thần khng thể tch biệt được v đ tạo ra một nhiệm cục cứu rỗi duy nhất. Cũng một Cha Thnh Thần từng hnh động trong việc nhập thể của Ngi Lời trong lng Trinh Nữ Maria cũng l Thần Kh dẫn Cha Gisu trong suốt sứ vụ v được hứa ban cho cc mn đệ của Người. Cũng một Cha Thnh Thần từng ni qua cc tin tri đang nng đỡ v linh hứng cho Gio Hội trong nhiệm vụ cng bố lời Cha; sau cng, cũng chnh Thần Kh ny linh hứng cho cc tc giả Sch Thnh.

16. Ý thức được chiều kch thần kh ny, cc Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đ lm nổi bật tầm quan trọng của hoạt động Cha Thnh Thần trong đời sống Gio Hội v trong tm hồn cc tn hữu lin quan tới Sch Thnh (49): khng c hnh động hữu hiệu của "Thnh Thần Chn lý" (Ga 14:16), ta khng thể hiểu được lời Cha. Như Thnh Irn từng ni: "Những ai khng chia sẻ Cha Thnh Thần sẽ khng ht được thực phẩm nui sống từ lng mẹ [Gio Hội]; họ sẽ khng tiếp nhận được g từ nguồn suối trong lnh nhất từ thn thể Cha Kit tro ra" (50). Như lời Cha đ đến với ta từ thn thể Cha Kit, từ thn xc Thnh Thể của Người v từ thn thể Sch Thnh, nhờ hnh động của Cha Thnh Thần thế no, th n cũng chỉ c thể được tiếp nhận v hiểu biết thực sự nhờ cng một Cha Thnh Thần như thế.

Cc tc giả vĩ đại trong truyền thống Kit Gio đều đồng loạt ni về vị tr của Cha Thnh Thần trong tương quan của tn hữu với Sch Thnh. Thnh Gioan Kim Khẩu ni rằng Sch Thnh "cần sự mạc khải của Cha Thnh Thần, để nhờ khm ph ra ý nghĩa đch thực của sự việc trong đ, ta c thể gặt hi được cc lợi ch dồi do" (51). Thnh Girm cũng xc tn rằng "chng ta khng thể hiểu được Sch Thnh nếu khng c sự trợ gip của Cha Thnh Thần, Đấng đ linh hứng n" (52). Thnh Grgri Cả nhấn mạnh một cch đẹp đẽ cng trnh của Cha Thnh Thần trong việc soạn thảo v giải thch Sch Thnh: "Chnh Người đ sng tạo ra ngn từ của Sch Thnh, chnh Người mạc khải ý nghĩa của chng" (53). Richard của (đan viện) Saint Victor nhấn mạnh rằng ta cần "đi mắt bồ cu", nghĩa l đi mắt được Cha Thnh Thần soi dẫn v dạy bảo, để c thể hiểu được bản văn Sch Thnh (54).

Cả ở đy nữa, ti cũng muốn nhấn mạnh tới chứng t hết sức c ý nghĩa đối với mối lin hệ giữa Cha Thnh Thần v Sch Thnh m ta thấy trong cc bản văn phụng vụ, trong đ, lời Cha được cng bố, được nghe v được giải thch cho tn hữu. Ta thấy một chứng t cho việc ấy trong cc kinh nguyện cổ xưa, những kinh nguyện, dưới hnh thức kinh epiclesis, tức kinh khẩn cầu Cha Thnh Thần trước khi cng bố cc bi đọc: "Lạy Thin Cha, Đấng Cứu Độ chng con... chng con khẩn cầu Cha cho dn ny: xin Cha sai Cha Thnh Thần xuống trn họ; Xin Cha Gisu đến viếng thăm họ, ni với tm tr mọi người, định hướng lng họ về đức tin v dẫn đưa linh hồn chng con về với Cha, lạy Cha mọi xt thương" (55). Điều ấy cho thấy r ta khng thể hiểu được ý nghĩa lời Cha ngoại trừ mở lng ra cho Cha Thnh Thần hnh động trong Gio Hội v trong tm hồn tn hữu.

 

Thnh Truyền v Thnh Kinh

17. Khi ti khẳng định mối lin kết su xa giữa Cha Thnh Thần v lời Cha, ta cũng đặt căn bản cho việc hiểu tầm quan trọng v gi trị quyết định của Thnh Truyền sống động v của Sch Thnh trong Gio Hội. Thực vậy, v Thin Cha "yu thương thế giới đến độ ban Con Một của Người cho họ" (Ga 3:16), nn lời Cha, ln tiếng trong thời gian, đ được ban cho v "được ủy thc" cho Gio Hội một cch dứt khot, để việc cng bố ơn cứu độ c thể được thng truyền một cch hữu hiệu ở mọi thời v mọi nơi. Như Hiến Chế Tn Lý "Lời Cha" đ nhắc nhở, chnh Cha Gisu Kit "đ truyền cho cc Tng Đồ rao giảng Tin Mừng, một Tin Mừng vốn được cc tin tri loan bo trước, được nn trọn trong chnh con người của Người v được chnh mi miệng Người cng bố, cho mọi người như nguồn mọi sự thật v lề luật cứu rỗi, vốn thng truyền ơn phc của Cha cho họ. Lệnh truyền đ đ được thi hnh một cch trung thnh; n được thực thi bởi cc Tng Đồ, những người đ truyền lại bằng lời rao giảng, bằng gương sng, bằng cc huấn lệnh, m chnh cc ngi đ tiếp nhận, hoặc từ chnh mi miệng Cha Kit, từ lối sống v cng việc Người lm, hay từ việc cc ngi nhận ra n nhờ ơn soi sng của Cha Thnh Thần; n được thực thi bởi cc Tng Đồ v nhiều người khc c quan hệ với cc ngi, những người nhờ được Cha Thnh Thần linh hứng, đ nhất quyết viết sứ điệp cứu độ thnh văn" (56).

Cng Đồng Vatican II cũng tuyn bố rằng Thnh Truyền c nguồn gốc tng đồ ny l một thực tại sống động v đầy năng động: n "thực hiện nhiều tiến bộ trong Gio Hội, với ơn trợ gip của Cha Thnh Thần"; nhưng khng theo nghĩa thay đổi sự thật c trong n, một sự thật trường cửu. Đng hơn, "đ l việc gia tăng sự hiểu biết thng sng đối với cc thực tại v ngn từ được chuyển giao", chờ chim niệm v học hỏi, với sự hiểu biết c được từ một kinh nghiệm linh đạo su sắc hơn v từ "lời rao giảng của những người, nhờ kế nhiệm chức gim mục, đ lnh nhận được đặc sủng chn lý chắc chắn" (57).

Truyền Thống sống động l điều chủ yếu gip Gio Hội tăng trưởng qua thời gian trong việc hiểu chn lý mạc khải của Thnh Kinh; thực vậy, "nhờ cng một truyền thống ny, trọn bộ qui điển cc Sch Thnh đ được Gio Hội biết đến v chnh Thnh Kinh cũng được hiểu cch thấu đo hơn v khng ngừng trở thnh hữu hiệu trong Gio Hội" (58). Cuối cng, chnh Truyền Thống sống động của Gio Hội đ gip chng ta hiểu một cch thoả đng Thnh Kinh chnh l lời của Thin Cha. Mặc d lời Thin Cha đi trước v vượt qu Sch Thnh, nhưng Sch Thnh ny, v được Thin Cha linh hứng, quả chứa đựng lời Thin Cha (xem 2 Tm 3:16) "một cch hết sức độc đo" (59).

18. Như thế, ta thấy r quan trọng biết bao việc Dn Cha được giảng dạy v huấn luyện để tiếp cận với cc Sch Thnh trong lin hệ với Truyền Thống sống động của Gio Hội v nhận ra trong cc sch ấy chnh lời của Thin Cha. Cổ vũ cch tiếp cận như thế nơi tn hữu l điều rất quan trọng xt theo quan điểm đời sống thing ling. Ở đy, tưởng rất hữu ch khi nhắc lại sự loại suy m cc Gio Phụ vốn đưa ra giữa lời Cha đ thnh xc phm v lời đ thnh "sch" (60). Hiến Chế Tn Lý "Lời Cha" tiếp nhận truyền thống cổ knh ny, một truyền thống, như thnh Ambrsi (61), vốn cho rằng: "Thn thể Cha Con chnh l Sch Thnh ta đ tiếp nhận" v sau đ tuyn bố rằng "Lời Cha, pht biểu bằng ngn ngữ con người, giống ngn ngữ con người mọi cch, y hệt như lời của Cha Cha mun thuở, khi mặc lấy thn xc yếu đuối của con người nhn bản, đ trở nn giống như họ" (62). Hiểu cch đ, Sch Thnh xuất hiện với ta như một thực tại đơn nhất, d dưới nhiều hnh thức v nội dung khc nhau. Thực vậy, "Qua mọi lời của Sch Thnh, Thin Cha chỉ ni một lời duy nhất, do chnh Người phn ra, trong đ, Người tự pht biểu về mnh một cch trọn vẹn (xem Dt 1:1-3)" (63). Thnh Augustin đ minh xc về điều ny như sau: "Hy nhớ rằng Thin Cha chỉ ni một lời; lời ấy đ diễn biến trong ton bộ Thnh Kinh, v lời duy nhất đ đ vang dội trn mi miệng mọi tc giả thnh" (64).

Ni tm lại, nhờ hnh động của Cha Thnh Thần v dưới sự hướng dẫn của huấn quyền, Gio Hội đ chuyển giao cho mọi thế hệ tất cả những điều đ được mạc khải trong Cha Kit. Gio Hội sống trong sự chắc chắn rằng Cha của mnh, Đấng đ ni trong qu khứ, ngy nay vẫn tiếp tục thng đạt lời Người trong Truyền Thống sống động của mnh v trong Sch Thnh. Thực vậy, lời Cha được ban cho ta trong Sch Thnh như chứng t linh hứng của mạc khải; cng với Truyền Thống sống động của Gio Hội, n cấu thnh qui luật tối cao của đức tin (65).

 

Sch Thnh, sự linh hứng v sự thật

19. Một ý niệm chủ chốt để hiểu bản văn thnh như chnh lời Cha trong ngn ngữ con người chắc chắn l ý niệm linh hứng. Ở đy nữa, ta cũng c thể gợi ra một loại suy: như lời Thin Cha đ trở thnh xc phm bởi quyền năng Cha Thnh Thần trong lng Trinh Nữ Maria thế no, th Sch Thnh cũng sinh ra từ lng Gio Hội nhờ quyền năng của cng một Cha Thnh Thần như vậy. Sch Thnh l "lời Cha được viết ra dưới sự linh hứng của Cha Thnh Thần" (66). Do cch ny, người ta nhận ra tầm quan trọng trọn vẹn của tc giả nhn bản, người đ viết ra bản văn linh hứng, v nhận ra chnh Thin Cha mới l tc giả thật sự.

Như cc Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đ quả quyết, chủ đề linh hứng r rng c tnh quyết định cho một lối tiếp cận thoả đng đối với Sch Thnh v việc giải thch chng cch đng đắn (67), một việc phải được thực hiện trong cng một Cha Thnh Thần m trong Người cc bản văn thnh kia đ được viết ra (68).

Bất cứ khi no ý thức về sự linh hứng kia yếu đi, ta sẽ liều mnh đọc Sch Thnh như một đồ hiếm họa c tnh lịch sử, chứ khng phải l cng trnh của Cha Thnh Thần trong đ, ta nghe chnh Cha ni v nhận ra sự hiện diện của Người trong lịch sử.

Cc Nghị Phụ Thượng Hội Đồng cũng nhấn mạnh tới mối lin kết giữa chủ đề linh hứng v chủ đề sự thật của Sch Thnh (69). Một nghin cứu su hơn về diễn trnh linh hứng chắc chắn sẽ dẫn tới một hiểu biết lớn hơn về sự thật chứa đựng trong cc Sch Thnh. Như gio huấn của Cng Đồng vốn ni về phương diện ny, cc sch linh hứng dạy ta sự thật: "Cho nn, v mọi sự được cc tc giả linh hứng, hay cc nh truớc tc thnh, quả quyết phải được coi như chnh Cha Thnh Thần quả quyết, nn ta phải nhn nhận rằng cc sch của bộ Thnh Kinh đ dạy một cch chắc chắn, trung thnh v khng sai lầm sự thật m Thin Cha, v để cứu vớt ta, đ muốn thấy n được giao ph cho Sch Thnh. Do đ, 'mọi sch thnh đều được Thin Cha linh hứng v hữu ch cho việc giảng dạy, biện bc, sửa dạy v huấn luyện về đng chnh trực, hầu người của Cha nn thập ton, được trang bị đầy đủ để lm việc lnh" (2Tm 3:16-17, bản Hy Lạp) (70).

Chắc chắn, suy tư thần học lun coi sự linh hứng v sự thật như hai ý niệm chủ chốt đối với khoa ch giải Thnh Kinh trong Gio Hội. Tuy thế, người ta phải nhn nhận nhu cầu ngy nay muốn học hỏi một cch trọn vẹn v thoả đng hơn cc thực tại ny, ng hầu đp ứng tốt hơn nhu cầu giải thch cc bản văn thnh theo bản chất của chng. Ở đy, ti tha thiết hy vọng rằng việc tm ti trong phạm vi ny sẽ c tiến bộ v đem lại thnh quả cho cả ngnh khoa học Thnh Kinh lẫn đời sống thing ling của tn hữu.

 

Thin Cha Ngi Cha, suối v nguồn của lời

20. Nhiệm cục mạc khải c khởi nguyn v nguồn gốc nơi Thin Cha Ngi Cha. Qua lời Người "một lời Cha phn lm ra chn tầng trời, một hơi Cha thở tạo thnh mun tinh t" (Tv 33:6). Chnh Người đ ban cho ta "nh sng để hiểu biết vinh quang Thin Cha nơi khun mặt Cha Kit" (2 Cor 4:6; xem Mt 16:17; Lc 9:29).

Nơi Cha Con, "Lời thnh xc phm" (xem Ga 1:14), Đấng đến để thực hiện ý Đấng đ sai mnh đến (xem Ga 4:34), Thin Cha, suối nguồn mọi mạc khải, đ tự tỏ mnh ra như Cha Cha v hon tất khoa sư phạm thần linh từng được chuyển tải qua lời cc tin tri v cc cng trnh kỳ diệu thể hiện trong sng thế v trong lịch sử của dn Người v của ton thể nhn loại. Việc mạc khải của Thin Cha Ngi Cha đạt tới đỉnh cao ở sự kiện Cha Con ban Đấng Bo Chữa (xem Ga 14:16), tức Thnh Thần của Cha Cha v Cha Con, Đấng dẫn ta "vo mọi sự thật" (Ga 16:13).

Mọi lời Thin Cha hứa đều tm thấy chữ "đng" (yes) của chng nơi Cha Gisu Kit (xem 2 Cor 1:20). Như thế, mọi người chng ta được ban cho khả năng ln đường về với Cha Cha (xem Ga 14:6), ng hầu, kết cục, "Thin Cha l mọi sự cho mọi người" (1 Cor 15: 28).

21. Như thập gi Cha Kit Đ chứng tỏ, Thin Cha cũng ni trong sự im lặng của Người. Sự im lặng ny, tức cảm nghiệm về khoảng cch với Cha Cha ton năng, l giai đoạn quyết định trong hnh trnh dương thế của Thin Cha Ngi Con, của Ngi Lời nhập thể. Bị treo trn cy thập gi, Người than vn về sự đau khổ do sự im lặng kia tạo ra: "Lạy Cha, lạy Cha, sao Cha bỏ con?" (Mc 15:34; Mt 27:46). Tiến tới vng lời cho tới hơi thở cuối cng, trong ci m u của sự chết, Cha Gisu đ ku tới Cha Cha. Nhưng rồi, Người ph mnh cho Cha Cha ở ngay thời khắc vượt qua ny, từ ci chết vượt qua sự sống đời đời: "Lạy Cha, con ph linh hồn con trong tay Cha" (Lc 23:46).

Cảm nghiệm trn của Cha Gisu phản ảnh hon cảnh của tất cả những ai, sau khi nghe v nhn nhận lời Cha, cũng phải gip mặt với sự im lặng của Thin Cha. Đ vốn l cảm nghiệm của mun vn thnh nhn v nh huyền nhiệm, v cả nay nữa n vẫn l một phần trong cuộc hnh trnh của nhiều tn hữu. Sự im lặng của Thin Cha nối di những lời trước đ của Người. Trong những giờ pht đen tối ấy, Người ni bằng mầu nhiệm im lặng của Người. Bởi thế, trong ci năng động của mạc khải Kit Gio, im lặng xuất hiện như một biểu thức quan trọng của lời Thin Cha.

[41] CONC. CUM. VAT. II, Const. dogm. Sur la Rvlation divine Dei Verbum, n. 4.

[42] Proposition 4.

[43] Cf. SAINT JEAN DE LA CROIX, Monte du Carmel, II, 22.

[44] Proposition 47

[45] Catchisme de l'glise Catholique, n. 67.

[46] Cf. CONGRGATION POUR LA DOCTRINE DE LA FOI, Le message de Fatima, (26 juin 2000): Ench. Vat. 19, n. 974-1021.

[47] Adversus haereses, IV, 7, 4; SC 100, p. 465; V, 1, 3: SC 153, p. 73; V, 28,4: SC 153, p. 361.

[48] Cf. BENOT XVI, Exhort. apost. post-synodale Sacramentum caritatis (22 fvrier 2007), n. 12: AAS 99 (2007), pp. 113-114.

[49] Cf. Proposition 5.

[50] Adversus haereses, III 24, 1: SC 34, p. 401.

[51] Homeliae in Genesim, XXI, n. 1; PG 53, 175.

[52] Epistula 120, 10: CSEL 55, pp. 500-506.

[53] Homiliae Ezechielem I. VII. 17: CC 142, p. 94.

[54] "Oculi ergo devotae animae sunt columbarum quia sensus eius per Spiritum sanctum sunt illuminati et edocti, spiritualia sapientes... Nunc quidem aperitur animae talis sensus, ut intellegat Scripturas": RICHARD DE SAINT-VICTOR, Explicatio in Cantica canticorum, 15: PL 196, 450 B et D.

[55] Sacramentum Serapionis, II (XX), Didascalia et Constitutiones apostolorum, ed. F. X. FUNK II, Paderborn 1906, p. 161.

[56] CONC. CUM. VAT. II, Const. dogm. sur la Rvlation divine Dei Verbum, n. 7.

[57] Ibidem, n. 8.

[58] Ibidem.

[59] Cf. Proposition 3.

[60] Cf. XIIe ASSEMBLE GNRALE ORDINAIRE DU SYNODE DES VQUES, Message nal, n. 5.

[61] Expositio Evangelii secundum Lucam 6, 33: SC 45, p. 240.

[62] CONC. CUM. VAT. II, Const. dogm. sur la Rvlation divine Dei Verbum, n. 13.

[63] Catchisme de l'glise Catholique n. 102. Cf. aussi RUPERT DE DEUTZ, De operibus Spiritus Sancti, I, 6: SC 131, pp. 72-74.

[64] Enarrationes in Psalmos, 103, IV, 1: PL 37, 1378. Afrmations analogues chez ORIGNE, In Ioannem V, 5-6: SC 120, pp. 380-384.

[65] Cf. CONC. CUM. VAT. II, Const. dogm. sur la Rvlation divine Dei Verbum, n. 21.

[66] Ibidem n. 9.

[67] Cf. Propositions 5 et 12.42

[68] Cf. CONC. CUM. VAT. II, Const. dogm. sur la Rvlation divine Dei Verbum, n. 12.

[69] Cf. Proposition 12.

[70] CONC. CUM. VAT. II, Const. dogm. sur la Rvlation divine Dei Verbum, n. 11.

 

 

Đp ứng Vị Thin Cha đang ni với ta

Ta được mời gọi bước vo giao ước với Thin Cha

22. Khi nhấn mạnh tới nhiều hnh thức của lời, ta đ c thể chim ngưỡng được một số cch Thin Cha dng để ni v gặp gỡ con người, lm cho Người được biết đến trong đối thoại. Như cc Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đ tuyn bố, điều chắc l "cuộc đối thoại ny, khi ni tới mạc khải, ko theo tnh tối thượng của lời Cha được ngỏ với con người" (71). Mầu nhiệm của Giao Ước ni ln mối lin hệ giữa Thin Cha, Đấng ln tiếng mời gọi con người bằng chnh lời của Người, v con người, kẻ đp ứng, d n cho thấy r đy khng phải l vấn đề gặp gỡ giữa hai người đồng trang lứa; điều ta gọi l Cựu Ước v Tn Ước khng hề l một khế ước giữa hai bn ngang hng, nhưng đơn thuần l một hồng n của Thin Cha. Với hồng n đầy yu thương ny, Thin Cha bắc nhịp cầu qua mọi phn cch v lm chng ta trở nn cc "bạn tnh" (partners) của Người, hầu tạo nn mầu nhiệm hn phối đầy yu thương giữa Cha Kit v Gio Hội. Trong viễn tượng ny, mỗi người trong chng ta xuất hiện như một chủ thể được lời ni với, thch thức v mời gọi bước vo cuộc đối thoại yu thương bằng một đp ứng tự do. Như thế, mỗi người chng ta đều được Thin Cha ban cho khả năng biết nghe v đp ứng lời Người. Ta được tạo dựng trong lời v ta sống trong lời; ta khng thể hiểu được chnh ta nếu ta khng chịu cởi mở đn nhận cuộc đối thoại ny. Lời Thin Cha cho ta thấy bản chất hiếu tử v c tương quan của cuộc hiện hữu nhn bản. Thực vậy, ta được ơn thnh mời gọi trở nn đồng hnh đồng dạng với Cha Kit, Con Một Cha Cha, v được biến đổi trong Người.

 

Thin Cha nghe ta v trả lời cc vấn nạn của ta

23. Trong cuộc đối thoại với Thin Cha ny, ta hiểu được chnh ta v tm được cu trả lời cho cc vấn nạn su xa nhất của tri tim ta. Lời Cha thực sự khng th nghịch đối với ta; n khng lm ngột ngạt cc kht vọng của ta, nhưng đng hơn soi sng chng, thanh tẩy chng v đem chng đến thỏa mn hon ton. Trong thời đại ta, việc nhận ra chỉ c Cha mới đp ứng cc kht vọng trong tri tim mỗi người chng ta l việc quan trọng biết bao nhiu! Điều đng buồn cần phải ni l ngy nay, ở Ty Phương, người ta đang c ý niệm phổ biến cho rằng Thin Cha đứng ngoi cuộc sống v cc vấn nạn của con người, v sự hiện diện của Người chỉ c thể l một đe dọa đối với quyền tự lập của họ. Ấy thế nhưng, ton bộ nhiệm cục cứu rỗi đều chứng minh rằng Thin Cha ln tiếng v hnh động trong lịch sử v thiện ch ta v để cứu vớt ta một cch ton diện. Như thế, đứng trn quan điểm mục vụ, điều c tnh quyết định l trnh by lời Cha trong khả năng n c thể bước vo đối thoại với cc vấn nạn thường ngy m con người gặp phải. Chnh Cha Gisu đ ni rằng Người tới để chng ta được sống dồi do (xem Ga 10:10). Thnh thử, ta cần hết sức cố gắng chia sẻ lời Cha như một cởi mở đối với cc vấn nạn của ta, một trả lời cho cc cu hỏi của ta, một mở rộng đối với cc gi trị của ta v một thoả mn hon ton đối với cc hoi mong của ta. Hoạt động mục vụ của Gio Hội cần phải lm r việc Thin Cha lắng nghe cc nhu cầu v yu cầu xin gip đỡ của ta ra sao. Như Thnh Bonaventura từng ni trong cuốn Breviloquium (Đoản Thoại?): "Hoa tri của Thnh Kinh khng phải l bất cứ hoa tri no, m l chnh sự vin mn của hạnh phc đời đời. Thnh Kinh l sch chứa đựng lời ban sự sống đời đời, đến nỗi, ta khng phải chỉ tin m cn c sự sống đời đời nữa, một sự sống trong đ ta sẽ thấy v sẽ yu, v mọi kht vọng của ta đều được thoả mn hon ton" (72).

 

Đối thoại với Thin Cha bằng chnh lời của Người

24. Lời Cha li cuốn mỗi người chng ta bước vo cuộc đm thoại với Cha: Đấng Thin Cha đang ni dạy ta cch để ni với Người. Ở đy, dĩ nhin ta nghĩ tới Sch Thnh Vịnh, trong đ, Thin Cha ban cho ta lời dng để ni với Người, để đặt đời sống ta trước mặt Người, v do đ, biến chnh đời sống trở thnh nẻo đường đưa ta tới Thin Cha (73). Trong cc Thnh Vịnh, mọi tm tnh nhn bản c thể c đều được ni tới, được trnh by một cch tuyệt vời trước nhan thnh Cha; niềm vui v nỗi đau, nỗi sầu muộn v niềm hy vọng, nỗi sợ sệt v nỗi lắng lo: tất cả đều được ni tới ở đy. Cng với cc Thnh Vịnh, ta cũng thấy nhiều đoạn khc của Sch Thnh ni ln việc ta hướng về Thin Cha trong lời kinh chuyển cầu (xem Xh 33:12-16), trong bi ca chiến thắng hn hoan (xem Xh 15) hay trong cơn buồn sầu v gặp kh khăn trn đường thi hnh sứ vụ (xem Gr 20:7-18). Theo cch đ, lời ta thưa với Cha trở thnh chnh lời Cha, v như thế củng cố bản chất đối thoại của mọi mạc khải Kit Gio (74), v trọn hiện sinh của ta trở nn một cuộc đối thoại với Thin Cha, Đấng ni v nghe, Đấng mời gọi ta v hướng dẫn đời ta. Ở đy, lời Cha cho ta thấy: trọn cuộc sống ta diễn ra dưới lời mời gọi của Người (75).

 

Lời Cha v đức tin

25. "'Vng tin' (Rm 16:26; xem Rm 1:5; 2 Cor 10: 5-6) phải l đp ứng của ta với Thin Cha, Đấng mạc khải. Bằng đức tin, ta tự ý tn thc hon ton nơi Cha, 'tm tr v ý ch ta hon ton vng phục Thin Cha, Đấng mạc khải' v sẵn sng đồng thuận mạc khải của Thin Cha" (76). Qua những lời ny, Hiến Chế Tn Lý "Lời Cha" muốn ni ln tư thế chnh xc m ta phải c đối với Thin Cha. Đp ứng nhn bản thch đng đối với vị Thin Cha đang ni chnh l đức tin. Ở đy, ta thấy r điều ny "để chấp nhận mạc khải, con người phải mở tm tr của mnh ra đn nhận hoạt động của Cha Thnh Thần, Đấng gip họ c khả năng hiểu lời Cha hiện diện trong Sch Thnh" (77). Sự thực, chnh việc rao giảng lời Cha đ pht sinh ra đức tin, nhờ đ, ta đồng tm nhất tr với chn lý đ được mạc khải cho ta v ta hon ton tn thc vo Cha Kit: "Đức tin đến từ điều nghe được, v điều nghe được đến từ lời Cha Kit" (Rm 10:17). Trọn lịch sử cứu rỗi đ lần hồi chứng minh cho mối lin kết su xa giữa lời Cha v đức tin, một đức tin vốn pht xuất từ cuộc gặp gỡ với Cha Kit. Như thế, đức tin mang dng dấp một cuộc gặp gỡ với Đấng ta tn thc trọn đời ta cho Người. Cha Gisu Kit vẫn hiện diện trong lịch sử hm nay, trong nhiệm thể Người l Gio Hội; v thế, hnh vi đức tin của ta cng một lc vừa c tnh bản thn vừa c tnh gio hội.

 

Tội lỗi l khước từ khng nghe lời Cha

26. Lời Cha cũng khng thể khng mạc khải khả thể bi thảm ny l tự do con người c thể lm họ rt chn ra khỏi cuộc đối thoại giao ước với Thin Cha, cuộc đối thoại m v n ta đ được dựng nn. Lời Cha cũng cho thấy tội lỗi vốn rnh rập trong tri tim con người. Trong cả Cựu Ước v Tn Ước, ta thường đọc thấy tội lỗi được diễn tả l việc từ khước khng nghe lời, l bẻ gẫy giao ước v do đ l đng cửa với Thin Cha, Đấng vốn mời gọi ta hiệp thng với Người (78). Sch Thnh cho thấy tội lỗi con người, trong yếu tnh, vốn l sự bất tun v từ khước khng nghe. Sự vng lời căn để của Cha Gisu cho đến chết trn thập gi (xem Pl 2:8) đ hon ton lột mặt nạ tội lỗi ấy. Sự vng lời của Người đ pht sinh ra Giao Ước Mới giữa Thin Cha v con người, v ban cho ta khả thể giao ha. Cha Gisu được Cha Cha sai đến lm của lễ đền v tội lỗi ta v tội lỗi ton thế giới (xem 1 Ga 2:2; 4:10; Dt 7:27). Như thế, ta được hiến tặng khả thể cứu chuộc đầy nhn từ v việc khởi đầu một sự sống mới trong Cha Kit. V lý do đ, điều quan trọng l phải dạy tn hữu biết nhn nhận rằng cội rễ của tội chnh l việc từ khước khng nghe lời Thin Cha v chấp nhận nơi Cha Gisu, Ngi Lời Thin Cha, sự tha thứ vốn c đ để ta bước vo cứu độ.

 

Đức Maria, "Mẹ Lời Cha" v "Mẹ đức tin"

27. Cc Nghị Phụ Thượng Hội Đồng tuyn bố rằng mục tiu căn bản của Cuộc Họp Thứ Mười Hai ny l "đổi mới đức tin của Gio Hội đối với lời Thin Cha". Để lm được điều đ, ta cần nhn ln đấng m nơi ngi hnh động qua lại giữa lời Cha v đức tin đ trở thnh hon hảo, đ chnh l Trinh Nữ Maria, "đấng, bằng tiếng 'xin vng' đối với lời giao ước v sứ mệnh của mnh, đ lm trọn một cch hon hảo lời mời gọi nhn loại của Thin Cha" (79). Thực tại nhn bản, do lời tạo ra, tm được hnh ảnh hon hảo nhất của n trong đức tin vng lời của Đức Maria. Từ Truyền Tin đến Hiện Xuống, ngi lun tỏ ra l một người phụ nữ hon ton cởi mở đn nhận ý Thin Cha. Ngi l V Nhiễm Thai, l đấng được Thin Cha lm cho "đầy ơn phc" (xem Lc 1:28) v vng phục lời của Người v điều kiện (xem Lc 1:38). Đức tin vng lời của ngi đ ln khun cho cuộc đời ngi mọi giy mọi pht trước kế hoạch của Thin Cha. L một Trinh Nữ lc no cũng chăm ch lắng nghe lời Cha, ngi sống ho điệu hon ton với lời ấy; ngi trn qi trong lng mọi biến cố của Con mnh, nối kết chng lại với nhau thnh như một bức tranh ghp duy nhất (xem Lc 2:19, 51) (80).

Thời ta, tn hữu cần được gip đỡ để thấy r hơn sợi dy nối kết giữa Đức Maria Thnh Nadart v việc nghe lời Cha với niềm tin trọn vẹn. Ti cũng khuyến khch cc học giả hy nghin cứu mối lin hệ giữa Thnh Mẫu Học v nền thần học về lời. Điều ny r rng hết sức c ch đối với cả đời sống thing ling lẫn việc nghin cứu thần học v Thnh Kinh. Thực thế, điều m sự hiểu biết của đức tin đ gip ta biết được về Đức Maria nằm ngay ở tm điểm chn lý Kit Gio. V người ta sẽ khng thể no quan niệm được sự nhập thể của lời nếu tch biệt n khỏi sự tự do của người phụ nữ trẻ ny, người, nhờ sự đồng thuận của mnh, đ nhất quyết hợp tc với việc bước vo thời gian của Đấng Trường Cửu. Đức Maria l hnh ảnh của Gio Hội đang chăm ch lắng nghe lời Thin Cha, một lời đang ln xương thịt trong ngi. Đức Maria cũng tượng trưng cho sự cởi mở với Thin Cha v tha nhn; cho sự lắng nghe đầy tch cực, một sự lắng nghe biết nội tm ha v thẩm thấu, một sự lắng nghe trong đ lời trở thnh một lối sống.

28. Ở đy, ti muốn nhắc đến sự thn quen của Đức Maria đối với lời Cha. Điều ny thấy r trong Kinh Ngượi Khen (Magnificat). Trong kinh ny, theo một nghĩa no đ, ta thấy ngi đ đồng nhất ha với lời, nhập hẳn vo lời; trong ca khc đức tin đầy kỳ diệu ny, Trinh Nữ đ ca bi tn tụng Cha bằng chnh lời của Người: "Kinh Ngượi Khen, bức chn dung vẽ chnh linh hồn ngi, c thể ni như vậy, hon ton đ được dệt bằng cc sợi chỉ trong Thnh Kinh, những sợi chỉ rt ra từ lời Cha. Ở đy, ta thấy Đức Maria đ hon ton thn thuộc ra sao đối với lời Cha, ngi thoải mi vo ra lời ấy. Ngi ni v suy nghĩ bằng lời Cha; lời Cha trở thnh lời ngi, v lời ngi pht xuất từ lời Cha. Ở đy, ta thấy tư tưởng của ngi ha điệu ra sao đối với tư tưởng Thin Cha, ý ch của ngi l một với ý Cha như thế no. V Đức Maria hon ton thấm nhuần lời Cha, nn ngi c khả năng trở thnh Mẹ của Lời Nhập Thể (81).

Đng khc, nhn ln Mẹ Thin Cha, ta thấy hoạt động của Thin Cha trn thế giới lun mời gọi tự do của ta cam kết như thế no, v nhờ đức tin, lời Cha biến đổi chng ta. Cng việc tng đồ v mục vụ của ta khng bao giờ hữu hiệu nếu khng học nơi Đức Mẹ cch để Thin Cha ln khun ta trong ta: "việc lấy lng sốt sắng v tin yu lấy Đức Mẹ lm khun mẫu v nguyn mẫu cho đức tin của Gio Hội c một tầm quan trọng hng đầu trong việc tạo ra trong thời ta một thay đổi điển hnh cụ thể trong mối tương quan của Gio Hội với lời, cả trong việc lắng nghe trong cầu nguyện lẫn trong việc dấn thn một cch quảng đại vo sứ vụ v rao giảng" (82).

Khi chim ngưỡng nơi Mẹ Thin Cha một cuộc đời hon ton do lời ln khun, ta hiểu được rằng cả ta nữa cũng được mời gọi bước vo mầu nhiệm đức tin, nhờ đ, Cha Kit tới cư ngụ trong đời ta. Thnh Ambrsi nhắc nhở ta rằng xt theo một phương diện no đ, mọi tn hữu Kit đều tượng thai v sinh hạ lời Thin Cha: mặc d chỉ c Mẹ Thin Cha l tượng thai bằng xương bằng thịt, cn chng ta, Cha Kit l con ci của mọi người chng ta trong đức tin (83). Như thế, điều xẩy ra cho Đức Maria cũng hng ngy xẩy ra nơi mỗi người chng ta, trong việc nghe lời Cha v trong việc cử hnh cc b tch.

------

[71] Proposition 4.

[72] Prol. Opera omnia V, Quaracchi 1891, pp. 201-202.

[73] Cf. BENOT XVI, Discours au monde de la Culture au Collge des Bernardins Paris (12 septembre 2008): AAS 100 (2008), pp. 721-730.

[74] Cf. Proposition 4.

[75] Cf. XIIe ASSEMBLE GNRALE ORDINAIRE DU SYNODE DES VQUES, Relatio post disceptationem, n. 12.

[76] CONC. CUM. VAT. II, Const. dogm. Sur la Rvlation divine Dei Verbum, n. 5.

[77] Proposition 4.

[78] Par exemple Dt 28,1-2.15.45; 32,1; dans les prophtes cf. Jr 7,22-28; Is 2,8; 3,10; 6,3; 13,2; jusqu'aux derniers: cf. Za 3,8. Chez saint Paul cf. Rm 10,14-18; 1Th 2,13.

[79] Proposition 55.

[80] Cf. BENOT XVI, Exhort. apost. post-synodale Sacramentum caritatis (22 fvrier 2007), n. 33: AAS 99 (2007), pp. 132-133).

[81] Idem, Deus caritas est (25 dcembre 2005), 41: AAS 98 (2006), p. 251.

[82] Proposition 55.

[83] Cf. Expositio Evangelii secundum Lucam 2, 19: PL 15, pp. 1559-1560.

 

 

Việc giải thch Thnh Kinh trong Gio Hội

Gio Hội l khung cảnh đệ nhất của khoa ch giải Thnh Kinh

29. Một chủ đề chnh nữa pht sinh trong Thượng Hội Đồng m giờ đy ti muốn lưu ý l việc giải thch Thnh Kinh trong Gio Hội. Sợi dy lin kết nội tại giữa lời v đức tin cho ta thấy r:khoa ch giải Thnh Kinh chn chnh chỉ c thể c bn trong đức tin của Gio Hội, một đức tin c khun mẫu nơi lời 'xin vng' của Đức Maria. Thnh Bonaventura ni rằng khng c đức tin, sẽ khng c cha kha để mở tung bản văn thnh: "Đy l kiến thức về Cha Gisu Kit, từ Người, như từ một nguồn suối, chẩy ra sự chắc chắn v sự hiểu biết ton bộ Thnh Kinh. Do đ, khng ai c thể đạt được kiến thức về chn lý ấy nếu khng trước nhất c đức tin dấn thn vo Cha Kit, vốn l ngọn đn, l cửa v l nền tảng của mọi Sch Thnh" (84). Cn Thnh Tma Aquin, khi trch dẫn Thnh Augustin, đ nhấn mạnh rằng "chữ nghĩa, d l chữ nghĩa của Tin Mừng, cũng chỉ st hại, nếu khng c ơn thnh bn trong của đức tin chữa lnh" (85).

Ở đy, ta c thể chỉ ra tiu chuẩn căn bản của khoa ch giải Thnh Kinh: khung cảnh đệ nhất để giải thch Thnh Kinh l đời sống Gio Hội. Điều ny khng c nghĩa coi ngữ cảnh Gio Hội như qui luật ngoại tại m nh ch giải phải tun phục, nhưng đng hơn n l một điều được chnh bản chất của Thnh Kinh cũng như phương thức dần dần thnh hnh của n đi hỏi. "Cc truyền thống đức tin hnh thnh ra ngữ cảnh sống động cho sinh hoạt văn chương của cc tc giả Sch Thnh. Việc cc truyền thống trn được lồng vo ngữ cảnh ny cũng bao hm việc chia sẻ cả đời sống phụng vụ v đời sống bn ngoi của cc cộng đon, lẫn thế giới tr thức, thế giới văn ha v những thăng trầm trong lịch sử cc định chế ny. Cũng một cch tương tự như thế, việc giải thch Thnh Kinh đi cc nh ch giải phải tham gia vo đời sống v đức tin của cộng đon tn hữu thời họ" (86).

Thnh thử, "v Sch Thnh phải được đọc v giải thch dưới sự soi sng của cng một Thần Kh nhờ đ n đ được viết ra" (87), nn cc nh ch giải, cc thần học gia v ton bộ dn Cha phải tiếp cận n trong bản chất thực sự của n, tức lời Thin Cha được chuyển tải tới ta bằng ngn ngữ con người (xem 1 Tx 2:13). Đ l dữ kiện thường hằng hm chứa trong chnh Thnh Kinh: "Khng ai được tự tiện giải thch một lời tin tri no trong Sch Thnh, v lời tin tri khng bao giờ do ý muốn người phm, nhưng chnh nhờ Thnh Thần thc đẩy m c những người đ ni theo lệnh của Thin Cha" (2 Pr 1:20-21). Hơn nữa, chnh đức tin của Gio Hội nhận ra lời Cha trong Thnh Kinh; như Thnh Augustin đ ni cu đng nhớ: "Ti sẽ khng tin Tin Mừng, nếu thẩm quyền Gio Hội Cng Gio khng hướng dẫn ti lm như thế" (88). Cha Thnh Thần, Đấng ban sự sống cho Gio Hội, đ gip ta khả năng giải thch Thnh Kinh một cch c thế gi. Thnh Kinh l sch của Gio Hội, v vị tr chủ yếu của n trong đời sống Gio Hội pht sinh ra việc giải thch n một cch chn chnh.

30. Thnh Girm nhắc ta rằng ta khng bao giờ được đọc Sch Thnh theo ý ring mnh. Lm như thế, ta sẽ gặp rất nhiều chiếc cửa khp kn v chắc chắn sẽ dễ dng rơi vo lầm lạc. Thnh Kinh được Dn Cha viết cho Dn Cha, dưới sự linh hứng của Cha Thnh Thần. Chỉ trong sự hiệp thng ấy với Dn Cha, ta mới c thể thực sự, như một "chng ti", bước vo tm điểm sự thật m Thin Cha muốn chuyển tải cho ta (89). Thnh Girm, người từng ni rằng "khng biết Thnh Kinh l khng biết Cha Kit" (90), đ quả quyết rằng chiều kch Gio Hội trong việc giải thch Thnh Kinh khng phải l một đi hỏi được p đặt từ bn ngoi: Sch ấy l chnh tiếng ni của Dn lữ hnh Thin Cha, v chỉ bn trong đức tin của Dn ny, ta mới c cng một cung điệu để hiểu Sch Thnh, c thể ni như thế. V thế, một giải thch chn chnh về Thnh Kinh lun lun phải ho điệu với đức tin của Gio Hội Cng Gio. Chnh v thế, ngi đ viết cho một linh mục: "Hy bm chặt lấy học lý truyền thống m cha đ được giảng dạy, để cha c thể giảng giải người ta theo học lý lnh mạnh v đnh bại những kẻ ni ngược lại n" (91).

Tch khỏi đức tin, bất cứ cch tiếp cận bản văn thnh no cũng chỉ c thể gợi ý cho ta một số yếu tố đng lưu tm về bnh diện cấu trc v hnh thức bản văn, nhưng người ta đ chứng minh một cch chắc chắn rằng cc yếu tố ny chỉ l những cố gắng bất ton về phương diện cấu trc. Như Ủy Ban Gio Hong về Thnh Kinh, khi lặp lại nguyn tắc đ được khoa giải thch thnh kinh hiện đại chấp nhận, đ quả quyết rằng: "việc đạt tới sự hiểu biết thch đng cc bản văn thnh chỉ dnh cho ai biết lưu tm đến điều Thnh Kinh ni trn căn bản kinh nghiệm sống" (92). Tất cả những điều ny gip lm r mối lin hệ giữa đời sống thing ling v khoa giải thch Thnh Kinh. "Như độc giả trưởng thnh trong sự sống Cha Thnh Thần thế no, th khả năng hiểu cc thực tại được Thnh Kinh ni tới của họ cũng tăng trưởng như thế" (93). Cường độ trong kinh nghiệm chn chnh của Gio Hội chỉ c thể dẫn tới sự tăng trưởng trong hiểu biết đức tin; ngược lại, đọc Thnh Kinh bằng đức tin cũng sẽ dẫn tới việc tăng trưởng trong chnh đời sống Gio Hội. Ở đy, một lần nữa, ta c thể nhận ra sự thật của cu ni thời danh của Thnh Grgri Cả: "Lời Cha tăng trưởng cng với người đọc chng" (94). Việc lắng nghe lời ny dẫn nhập v gia tăng sự hiệp thng gio hội với tất cả những người đang tiến bước trong đức tin.

 

"Linh hồn của thần học thnh"

31. "Việc nghin cứu Sch Thnh phải l chnh linh hồn của thần học, c thể ni như thế" (95). Cu trch dẫn từ Hiến Chế Tn Lý "Lời Cha" ny, với thời gian, cng ngy cng trở nn thn quen hơn. Trong thời kỳ sau Cng Đồng Vatican II, khoa nghin cứu thần học v ch giải hay nhắc tới kiểu ni trn như một biểu tượng cho việc lưu tm mới mẻ đối với Sch Thnh. Cuộc Họp Lần Thứ Mười Hai của Thượng Hội Đồng Gim Mục cũng hay nhắc tới cu ni thời danh ny để diễn tả mối lin hệ giữa việc tm ti lịch sử v việc giải thch đức tin lin quan tới bản văn thnh. Cc Nghị Phụ vui mừng nhn nhận rằng việc nghin cứu lời Cha trong Gio Hội đ lớn mạnh trong mấy thập nin qua, v cc ngi tỏ lng biết ơn su xa đối với nhiều nh ch giải v thần học gia đ tận tụy, dấn thn v đầy khả năng tiếp tục đng gp đng kể vo việc hiểu su sắc hơn ý nghĩa của Thnh Kinh, khi đề cập tới những vấn đề phức tạp m khoa nghin cứu Thnh Kinh gặp phải trong thời đại ta (96). Lời cm ơn chn thnh cũng đ được ngỏ với cc thnh vin của Ủy Ban Gio Hong về Thnh Kinh, cả qu khứ lẫn hiện tại, trong hợp tc gần gũi với Thnh Bộ Gio Lý Đức Tin, đ tiếp tục cung hiến khả năng chuyn mn của mnh để khảo st nhiều vấn nạn đặc th do khoa nghin cứu Thnh Kinh nu ra. Tương tự như thế, Thượng Hội Đồng cũng cảm thấy c nhu cầu phải nhn vo tnh trạng nghin cứu Thnh Kinh hiện nay v thế đứng của n trong lnh vực thần học. Sự hữu hiệu về mục vụ trong sinh hoạt của Gio Hội cũng như đời sống thing ling của tn hữu ty thuộc phần lớn vo thnh quả của mối tương quan giữa ngnh ch giải v thần học. V thế, ti thấy trnh by ra đy một số suy niệm từng pht sinh ra từ cuộc thảo luận về chủ đề ny tại cc phin họp của Thượng Hội Đồng l điều quan trọng.

 

Khai triển việc nghin cứu Thnh Kinh v huấn quyền của Gio Hội

32. Trước hết, ta cần nhn nhận cc lợi ch m ngnh ch giải ph bnh lịch sử v một số phương php phn tch bản văn mới được khai triển gần đy từng đem lại cho đời sống Gio Hội (97). Muốn c ci hiểu Cng Gio về Thnh Kinh, việc lưu tm tới cc phương php như thế l điều nhất thiết, v việc ny vốn c lin hệ đến chủ nghĩa hiện thực về Nhập Thể: "Việc nhất thiết ny l hậu quả của nguyn lý Kit Gio từng được pht biểu trong Tin Mừng Thnh Gioan 1:14: Ngi Lời đ thnh xc phm. Sự kiện lịch sử ny chnh l chiều kch 'hiến định' của đức tin Kit Gio. Lịch sử cứu rỗi khng phải l thần thoại học, m l lịch sử đch thực, v do đ, phải được nghin cứu bằng cc phương php tm ti c tnh lịch sử nghim tc" (98). Việc nghin cứu Thnh Kinh đi hỏi ta phải biết cc phương php tm ti ny v cc p dụng thực tiễn của chng. Đ đnh, trong thời hiện đại, người ta đ đnh gi cao hơn nhiều cc phương php tm ti đ, d khng phải nơi no cũng cng một mức độ như nhau, song truyền thống lnh mạnh của Gio Hội vẫn lun tỏ ra qu mến việc nghin cứu "chữ nghĩa" loại ny. Ở đy, ta chỉ cần nhắc tới nền văn ha đan viện vốn tạo nền tảng tối hậu cho văn ha u Chu; ở gốc rễ nền văn ha đ, ta thấy c mối quan tm tới lời. Lng khao kht Cha hm chứa lng yu mến đối với lời trong mọi chiều kch của n: "v trong lời Thnh Kinh, Thin Cha đến với chng ta v chng ta đến với Người, nn ta phải học cch đo su b ẩn của ngn ngữ, cch hiểu cấu trc của n v phương thức pht biểu của n. Do đ, v cuộc tm kiếm Thin Cha, khoa học thế tục no dẫn tới việc hiểu ngn ngữ nhiều hơn đều trở thnh quan trọng" (99).

33. Huấn quyền sống động của Gio Hội, một huấn quyền vốn c nhiệm vụ "cung cấp việc giải thch chn chnh lời Cha, bất kể dưới hnh thức chữ viết hay hnh thức truyền khẩu" (100), từng can thiệp một cch khn ngoan v qun bnh lin quan tới đp ứng đng đắn đối với việc dẫn nhập cc phương php mới của ngnh phn tch lịch sử. Ti nghĩ cch ring tới cc thng điệp Providentissimus Deus của Đức Gio Hong L XIII v Divino Afflante Spiritu của Đức Gio Hong Pi XII. Vị tiền nhiệm đng knh của ti l Gioan Phaol II c nhắc lại tầm quan trọng của cc văn kiện ny nhn kỷ niệm 100 năm v 50 năm ngy chng được lần lượt cng bố (101). Sự can thiệp của Đức Gio Hong L XIII đ c cng bảo vệ việc giải thch Thnh Kinh của Cng Gio khỏi rơi vo cc tấn kch của chủ nghĩa duy lý, tuy nhin, khng khỏi rơi vo việc đi tm an ổn nơi ý nghĩa thing ling nhưng xa rời lịch sử. Khng hề n trnh phương php ph bnh khoa học, Gio Hội chỉ lo ngại trước "những định kiến tự cho l c căn bản khoa học, nhưng thực tế đ ln lt lm cho khoa học đi ra ngoi lnh vực của n" (102). Về phần ngi, Đức Gio Hong Pi XII phải đương đầu với nhiều tấn kch từ pha những người chủ trương một lối ch giải tự gọi l huyền nhiệm, một lối ch giải bc bỏ bất cứ hnh thức tiếp cận c tnh khoa học no. Thng điệp Divino Afflante Spiritu rất thận trọng trnh n bất cứ gợi ý no về một lưỡng phn giữa "ch giải khoa học" dng cho khoa hộ gio v "ch giải thing ling dng cho nội bộ"; đng hơn, thng điệp ny khẳng định cả "ý nghĩa thần học của nghĩa đen, được định nghĩa một cch c phương php" lẫn sự kiện "chnh việc xc định nghĩa thing ling... cũng thuộc phạm vi ch giải khoa học" (103). Bằng cch đ, cả hai văn kiện cng bc bỏ "sự chia cắt giữa nhn bản v thần linh, giữa tm ti khoa học v việc tn knh đức tin, giữa nghĩa đen v nghĩa thing ling" (104). Sự qun bnh ny sau đ được ti liệu năm 1993 của Ủy Ban Gio Hong về Thnh Kinh tiếp tục duy tr: "trong cng trnh giải thch của họ, cc nh ch giải Cng Gio khng bao giờ được qun rằng điều họ đang giải thch chnh l lời Thin Cha. Trch vụ chung của họ sẽ khng chu ton nếu họ mới chỉ xc định được cc nguồn, định nghĩa được cc hnh thức hay giải thch được cc thủ tục văn chương. Họ chỉ đạt tới mục tiu thực sự trong cng việc của mnh khi giải thch được ý nghĩa của bản văn Thnh Kinh như l lời Thin Cha nhắn gửi thời đại ngy nay" (105).

 

Việc giải thch Thnh Kinh theo Cng Đồng: một chỉ thị cần lnh nhận

34. Trong bối cảnh trn, người ta c thể đnh gi tốt hơn cc nguyn tắc lớn trong việc giải thch đng đắn dnh cho ngnh ch giải Cng Gio do Cng Đồng Vatican II đưa ra, nhất l trong Hiến Chế Tn Lý "Lời Cha": "Xt v trong Sch Thnh, Thin Cha ni qua những con người nhn bản theo lối con người, nn cc nh giải thch Sch Thnh, nếu muốn quả quyết điều Thin Cha c ý định thng đạt cho ta, nn cẩn thận tm cho ra ý nghĩa m cc soạn giả thnh thực sự c trong đầu, tức ý nghĩa m Thin Cha c ý định mạc khải qua việc dng cc lời ni của họ" (106). Một đng, Cng Đồng muốn nhấn mạnh tới việc nghin cứu cc văn thể (literary genres) v ngữ cảnh lịch sử như cc yếu tố căn bản để hiểu ý nghĩa thực sự của tc giả thnh. Đng khc, v Thnh Kinh phải được giải thch trong cng một Thnh Thần m trong Người n đ được viết ra, nn Hiến Chế Tn Lý đưa ra 3 tiu chuẩn nền tảng để lượng gi chiều kch thần linh của Sch Thnh: 1) bản văn phải được giải thch bằng cch ch ý tới tnh thống nhất của ton bộ Sch Thnh; ngy nay, người ta gọi tiu chuẩn ny l giải thch theo qui điển (canonical exegesis); 2) trnh thuật phải lấy từ Truyền Thống sống động của ton thể Gio Hội; v cuối cng, 3) phải tỏ ra tn trọng nguyn tắc loại suy của đức tin. "Chỉ khi no biết tn trọng cả bnh diện phương php ph bnh lịch sử lẫn bnh diện thần học, người ta mới c thể ni tới một ch giải thần học, tức một ch giải xứng đng với Sch ny" (107).

Cc Nghị Phụ Thượng Hội Đồng rất đng khi tuyn bố rằng hoa tri tch cực pht sinh từ việc sử dụng phương php tm ti c tnh ph bnh lịch sử l điều khng thể chối ci được. Nhưng d ngnh giải thch bc học hiện nay, trong đ c cc học giả Cng Gio, rất c khả năng trong lnh vực phương php ph bnh lịch sử, nhưng ta vẫn phải ni rằng một ch tm tương tự cần phải được dnh cho chiều kch thần học trong cc bản văn thnh, để chng được hiểu su sắc hơn, ph hợp với 3 yếu tố đ được Hiến Chế Tn Lý "Lời Cha" nu ra (108).

------

[84] Breviloquium, Prol. Opera Omnia, V, Quaracchi 1891, pp. 201-202.

[85] Somme Thologique, Ia-IIae, q.106, art.2.

[86] COMMISSION BIBLIQUE PONTIFICALE, L'interprtation de la Bible dans l'glise (15 avril 1993), III, A, 3: Ench. Vat. 13, n. 3035. Dans l'dition du Cerf, Paris, 2010 (cite par la suite), p. 83.

[87] CONC. CUM. VAT. II, Const. dogm. sur la Rvlation divine Dei Verbum, n. 12.

[88] Contra epistulam Manichaei quam vocant fundamenti, V, 6: PL 42,176.

[89] Cf. BENOT XVI, Audience gnrale (14 novembre 2007): L'ORf, 20 novembre 2007, p. 12.

[90] Commentariorum in Isaiam libri, Prol.: PL 24,17.

[91] Epistula 52, 7: CSEL 54, p. 426.

[92] COMMISSION BIBLIQUE PONTIFICALE, L'interprtation de la Bible dans l'glise (15 avril 1993), II, A, 2: Ench. Vat. 13, n. 2988.

[93] Ibidem, II, A, 2: Ench. Vat. 13, n. 2991.

[94] Homiliae in Ezechielem, I, VII, 8: CCL 142, 87 (PL 76, 843 D).

[95] CONC. CUM. VAT. II, Const. dogm. sur la Rvlation divine Dei Verbum, n. 24; cf. LEON XIII, Lett. enc. Providentissimus Deus (18 novembre 1893), Pars II, sub ne: AAS 26 (1893-94), pp. 269-292; BENOT XV, Lett.enc. Spiritus Paraclitus (15 septembre 1920), Pars III: AAS 12(1920), pp. 285-422.

[96] Cf. Proposition 26.

[97] Cf. COMMISSION BIBLIQUE PONTIFICALE, L'interprtation de la Bible dans l'glise (15 avril 1993), A-B: Ench. Vat. 13, nn. 2846-3150.

[98] BENOT XVI, Intervention orale durant la XIVe Congrgation Gnrale du Synode des vques (14 octobre 2008); La DC n. 2412, p. 1015; cf. Proposition 25.

[99] Idem BENOT XVI, Discours au monde de la Culture au Collge des Bernardins Paris (12 septembre 2008): AAS 100 (2008), pp. 721-730.

[100] CONC. CUM. VAT. II, Const. dogm. sur la Rvlation divine Dei Verbum, n. 10.

[101] Cf. JEAN-PAUL II, Discours l'occasion du 100e anniversaire de Providentissimus Deus et du 50e anniversaire de Divino af ante Spiritu (23 avril 1993): AAS 86 (1994), pp. 232-243.

[102] Ibid. n. 4: AAS 86 (1994), p. 235; La DC n. 2073, p. 504.

[103] Ibid. n. 5: AAS 86 (1994), p. 235; La DC n. 2073, p. 505.

[104] Ibid. n. 5: AAS 86 (1994), p. 236; La DC n. 2073, p. 505.

[105] COMMISSION BIBLIQUE PONTIFICALE, L'interprtation de la Bible dans l'glise (15 avril 1993), III, C, 1: Ench. Vat. 13, n. 3065.

[106] N. 12.

[107] BENOT XVI, Aux participants de la XIVe Congrgation Gnrale du Synode des vques (14 octobre 2008); La DC n. 2412, p. 1015; cf. Proposition 25.

[108] Cf. Proposition 26.

 

Sự nguy hiểm của chủ nghĩa nhị nguyn v khoa ch giải bị thế tục ha

35. Về phương diện ny, ta nn nhắc tới nguy cơ trầm trọng hiện nay của cch tiếp cận duy nhị nguyn đối với Sch Thnh. Phn biệt hai bnh diện tiếp cận Sch Thnh khng hề c nghĩa tch biệt chng hay đặt chng thnh đối lập, cũng khng đơn thuần đặt chng bn cạnh nhau. Chng chỉ hiện hữu trong hỗ tương m thi. Chẳng may, đi khi người ta d tch biệt chng một cch v bổ, v do đ, đ tạo ra cc hng ro phn rẽ giữa ch giải v thần học, v điều ny "diễn ra cả ở bnh diện cao nhất của học thuật" (109). Ở đy, ti muốn nhắc tới cc hậu quả đng lo ngại nhất cần phải trnh. Trước nhất v trn hết, nếu cng trnh ch giải chỉ giới hạn ở bnh diện thứ nhất m thi, th kết cục Thnh Kinh chỉ l một bản văn thuộc qu khứ: "Người ta c thể rt ra được cc hệ luận lun lý từ đ, họ c thể học biết lịch sử, nhưng một Sch như thế chỉ ni về qu khứ, v ch giải khng cn tnh cch thần học thực sự nữa, m trở thnh lịch sử học thuần ty hay lịch sử văn chương" (110). R rng, lối tiếp cận c tnh giản lược ấy khng bao giờ c khả năng lm ta hiểu được biến cố mạc khải của Thin Cha bằng lời của Người, sự mạc khải đ được truyền lại cho ta trong Truyền Thống sống động v trong Thnh Kinh.

Việc thiếu một nền ch giải đức tin lin quan tới Thnh Kinh khng phải chỉ ko theo một sự trống vắng; thay vo chỗ của n nhất thiết sẽ c một lối giải thch khc, tức lối giải thch duy nghiệm (positivistic) v thế tục ha, một lối giải thch xt cho cng đ dựa trn xc tn cho rằng Đấng Thần Linh khng hề can thiệp vo lịch sử con người. Theo lối giải thch ny, bất cứ chỗ no xem ra c sự hiện diện của thần linh, th đều phải giải thch cch khc, phải giản lược mọi sự thnh yếu tố nhn bản. Điều ny dẫn tới một lối giải thch hon ton bc bỏ tnh lịch sử của yếu tố thần linh (111).

Người ta đ chứng minh được rằng một chủ trương như thế chỉ c hại cho đời sống Gio Hội, v n khiến người ta hoi nghi mọi mầu nhiệm nền tảng của Kit Gio v lịch sử tnh của chng, th dụ như việc thiết lập Php Thnh Thể v việc phục sinh của Cha Kit. Như thế, người ta đ p đặt một lối giải thch triết học, tức lối giải thch bc bỏ khả thể Đấng Thần Linh c thể bước vo v hiện diện trong lịch sử. Chấp nhận lối giải thch ny trong cc nghin cứu thần học nhất thiết sẽ pht sinh ra một lưỡng phn r nt giữa một khoa ch giải chỉ giới hạn ở bnh diện thứ nhất v nền thần học chỉ nhằm thing ling ha ý nghĩa của Sch Thnh, một việc khiến người ta khng cn tn trọng đặc điểm lịch sử của mạc khải nữa.

Tất cả những điều ấy nhất thiết cũng sẽ c một tc động tiu cực trn đời sống thing ling v trn sinh hoạt mục vụ; "như một hậu quả của việc thiếu vắng bnh diện thứ hai về phương php, một hố phn cch su thẳm sẽ mở ra giữa việc ch giải c tnh khoa học v việc đọc lời Cha (lectio divina). Việc ấy sẽ pht sinh ra sự thiếu trong sng trong việc soạn bi giảng lễ (112). Cũng cần phải ni rằng sự lưỡng phn ny c thể tạo ra mơ hồ lẫn lộn v thiếu ổn định trong việc đo luyện tr thức cho cc ứng vin đảm nhiệm cc thừa tc vụ trong Gio Hội (113). Tm lại, "nơi no ch giải khng phải l thần học, Thnh Kinh khng thể l linh hồn của thần học, v ngược lại, nơi no thần học khng chủ yếu giải thch Thnh Kinh của Gio Hội, thần học ấy sẽ khng cn căn bản nữa" (114). Bởi thế, ta cần xem st cẩn thận hơn nữa cc định chuẩn m Hiến Chế Tn Lý "Lời Cha" đ cung cấp về phương diện ny.

 

Đức tin v lý tr trong việc tiếp cận Thnh Kinh

36. Ti tin rằng điều Đức Gio Hong Gioan Phaol II viết về vấn đề ny trong thng điệp Fides et Ratio của ngi c thể dẫn ta tới một hiểu biết đầy đủ hơn về ch giải v mối tương quan của n với ton bộ thần học. Ngi viết rằng ta khng nn đnh gi thấp "sự nguy hiểm cố hữu trong việc cố gắng rt tỉa chn lý Thnh Kinh bằng cch chỉ sử dụng một phương php, m bỏ qua nhu cầu cần một lối giải thch c tnh ton bộ hơn, l lối gip nh ch giải, cng với ton thể Gio Hội, đạt được một nghĩa đầy đủ hơn về bản văn. Những ai tận tụy với việc nghin cứu Sch Thnh lun nn nhớ rằng cc phương thức giải thch khc nhau đều c cơ sở triết học ring của chng, những cơ sở m ta cần phải lượng gi cẩn thận trước khi đem p dụng vo cc bản văn thnh" (115).

Suy tư su rộng ấy gip ta thấy r một phương thức giải thch Thnh Kinh nhất thiết sẽ đụng đến mối tương quan thch đng giữa đức tin v lý tr ra sao. Thực vậy, lối giải thch Thnh Kinh bị thế tục ha chnh l sản phẩm của một lý tr toan tnh c hệ thống nhằm loại bỏ bất luận khả thể no cho rằng Thin Cha c thể bước vo cuộc sống ta v ni với ta bằng ngn ngữ con người. Cả ở đy, ta cũng cần phải nhấn mạnh tới việc mở rộng phạm vi của lý tr (116). Khi p dụng cc phương php phn tch lịch sử, ta khng được chọn bất cứ tiu chuẩn no tin thin loại bỏ việc Thin Cha tự tỏ mnh ra trong lịch sử con người. Tm lại, tnh thống nhất của hai bnh diện đang dng để giải thch Sch Thnh giả thiết phải c sự ho điệu giữa đức tin v lý tr. Một đng, tnh thống nhất đ đi phải c một đức tin, một đức tin m để duy tr được mối tương quan đng đắn với lý tr đng đắn, khng bao giờ được thoi ha trở thnh duy tn (fideism), một thứ chủ nghĩa m trong lnh vực Thnh Kinh sẽ kết cục trở thnh chủ nghĩa cực đoan. Đng khc, tnh thống nhất ấy cn đi một lý tr, khi tm ti cc yếu tố lịch sử c trong Thnh Kinh, biết cởi mở v khng tin thin bc bỏ bất cứ điều g khng thuộc tham chiếu của mnh. Trong bất cứ trường hợp no, tn gio của Lời nhập thể cũng tỏ ra hợp lý một cch su sắc đối với bất cứ ai thnh thực đi tm chn lý v ý nghĩa tối hậu của đời mnh v lịch sử của mnh.

 

Nghĩa chiểu tự v nghĩa thing ling

37. Như Thượng Hội Đồng đ quả quyết, đng gp c ý nghĩa đối với việc phục hồi lối giải thch Thnh Kinh cch thỏa đng cũng c thể pht sinh từ một ch tm đổi mới đối với cc Gio Phụ v phương thức giải thch của cc ngi (117). Cc Gio Phụ trnh by với ta một nền thần học vẫn cn gi trị với ta ngy nay v ở tm điểm nền thần học ny, ta thấy c vic nghin cứu Sch Thnh như l một ton bộ. Thực vậy, chủ yếu v trong yếu tnh, cc Gio Phụ chnh l "những nh ch giải Sch Thnh" (118). Gương sng của cc ngi c thể "dạy cc nh ch giải hiện đại một lối tiếp cận thực sự c tnh tn gio đối với Thnh Kinh, v cũng thế, một lối giải thch lun lun ho điệu với tiu chuẩn hiệp thng vo cảm nghiệm của Gio Hội, l định chế đang lữ hnh qua lịch sử dưới sự hướng dẫn của Cha Thnh Thần" (119).

D hiển nhin khng c được cc ti nguyn triết học v lịch sử m cc nh ch giải hiện đại đang sử dụng, nhưng truyền thống gio phụ v trung cổ vẫn c thể nhận ra những nghĩa khc nhau của Sch Thnh, bắt đầu l nghĩa đen, nghĩa chiểu tự, tức "nghĩa do chnh lời Sch Thnh chuyển tải v khoa ch giải khm ph ra, theo cc qui luật của khoa giải thch lnh mạnh" (120). Thnh Tma Aquin, chẳng hạn, viết rằng "mọi nghĩa của Sch Thnh đều đặt căn bản trn nghĩa chiểu tự" (121). Tuy nhin, cần phải nhớ rằng thời cc gio phụ v thời trung cổ, mọi hnh thức ch giải, kể cả hnh thức chiểu tự, cũng đều được tiến hnh trn căn bản đức tin, m khng nhất thiết phải phn biệt giữa nghĩa chiểu tự v nghĩa thing ling. Về phương diện ny, người ta c thể nhắc tới 2 cu thơ trung cổ diễn tả mối tương quan giữa cc nghĩa khc nhau của Sch Thnh:

"Littera gesta docet, quid credas allegoria,

Moralis quid agas, quo tendas anagogia".

(Chữ đen ni tới việc lm; ẩn dụ ni về đức tin;

Lun lý ni tới hnh động; loại suy ni về số phận ta) (122).

Ở đy, ta ghi nhận sự thống nhất v mối tương quan qua lại giữa nghĩa đen v nghĩa thing ling, m ta c thể ti phn thnh 3 nghĩa, tức nghĩa ni tới nội dung đức tin, nghĩa ni tới đời sống lun lý v nghĩa ni tới hoi mong cnh chung của ta.

Tm lại, d vẫn nhn nhận gi trị v sự cần thiết, cũng như cc giới hạn, của phương php ph bnh lịch sử, ta vẫn học được từ cc Gio Phụ điều ny: việc ch giải chỉ "thực sự trung thnh với ý định của chnh cc bản văn thnh khi n khng những đi vo tri tim của cu ni để tm ra thực tại đức tin được diễn tả ở đ, m cn tm cch nối kết thực tại ny với kinh nghiệm đức tin trong thế giới ngy nay của ta" (123). Chỉ trong viễn tượng ny, ta mới c thể nhận ra lời Cha đang sống động v đang ni với mỗi người chng ta ngay tại đy v lc ny trong đời sống ta. Theo nghĩa ny, định nghĩa của Ủy Ban Gio Hong về Thnh Kinh dnh cho nghĩa thing ling, theo ci hiểu của đức tin Kit Gio, vẫn cn hon ton gi trị: n l "nghĩa được bản văn thnh pht biểu khi đọc, dưới tc động của Cha Thnh Thần, trong ngữ cảnh mầu nhiệm vượt qua của Cha Kit v sự sống mới pht sinh từ ngữ cảnh kia. Ngữ cảnh ny thực sự hiện hữu. Trong đ, Tn Ước nhn nhận sự nn trọn của Sch Thnh. Bởi thế, ta được php đọc lại Thnh Kinh dưới nh sng của ngữ cảnh mới ny, một ngữ cảnh của sự sống trong Cha Thnh Thần" (124).

-----

[109] Proposition 27.

[110] BENOT XVI, Aux participants de la XIVe Congrgation Gnrale du Synode des vques (14 octobre 2008); La DC n. 2412, pp. 1015-1016; Proposition 26.

[111] Cf. Ibid.

[112] Ibid.

[113] Cf. Proposition 27.

[114] BENOT XVI, Aux participants de la XIVe Congrgation Gnrale du Synode des vques (14 octobre 2008); La DC n. 2412, pp. 1015-1016.

[115] JEAN-PAUL II, Lett. enc. Fides et ratio (14 septembre 1998), n. 55: AAS 91 (1999), pp. 49-50.

[116] Cf. BENOT XVI, Discours au 4eme Congrs national ecclsial d'Italie (19 octobre 2006): AAS 98 (2006), pp. 804-815; L'ORf, 24 octobre 2006, p. 3-4.

[117] Cf. Proposition 6.

[118] Cf. SAINT AUGUSTIN, De libero arbitrio, III, XXI, 59: PL 32, 1300; De Trinitate, II, I, 2: PL 42, 845.

[119] CONGRGATION POUR L'DUCATION CATHOLIQUE, Instr. Inspectis dierum (10 novembre 1989), n. 26: AAS 82 (1990), p. 618.

[120] Catchisme de l'glise Catholique, n. 116.

[121] Summa Theologiae, I, q.1, a.10, ad 1.

[122] Catchisme de l'glise Catholique, n. 118.

[123] COMMISSION BIBLIQUE PONTIFICALE, L'interprtation de la Bible dans l'glise (15 avril 1993), II, A, 2: Ench. Vat. N. 2987.

[124] Ibid., II, B, 2: Ench. Vat. 13, n. 3003.

 

 

Cần phải vượt qu "chữ viết"

38. Như thế, muốn ti khm ph hnh động qua lại giữa cc nghĩa khc nhau của Sch Thnh, điều chủ yếu l phải nắm chắc việc bước từ chữ viết qua tinh thần. Đy khng phải l một bước tự động, tự pht; đng hơn, cần phải vượt qu (transcended) chữ viết: "lời Cha khng bao giờ đơn thuần l một với chữ viết trong bản văn. Muốn nắm được lời của Người, phải c một sự vượt qu (chữ viết) v một diễn trnh tm hiểu, được hướng dẫn bởi chuyển động bn trong của ton bộ tc phẩm, v do đ, phải trở thnh một diễn trnh sống" (125). Ở đy, ta nhận ra lý do tại sao diễn trnh giải thch chn chnh khng bao giờ đơn thuần chỉ l một diễn trnh tri thức m cn l một diễn trnh sống nữa, một diễn trnh đi ta phải dấn thn vo đời sống của Gio Hội, tức đời sống sống "theo Thần Kh" (Gl 5:16). Như thế, tiu chuẩn đưa ra tại số 12 của Hiến Chế Tn Lý "Lời Cha" trở nn r rng hơn: việc vượt qu (chữ viết) kia khng thể xẩy ra nếu chỉ nhn từng mảnh văn c thể, tri lại phải nhn chng trong tương quan với ton bộ Thnh Kinh. Thực vậy, mục tiu m ta nhất thiết phải tiến tới l Lời duy nhất. Trong diễn trnh ny, ta thấy một diễn biến bn trong, v cuộc qu độ diễn ra trong quyền lực của Cha Thnh Thần ny nhất thiết can dự tới tự do của mỗi người chng ta. Thnh Phaol từng sống cuộc qu độ ny một cch trọn vẹn trong cuộc sống của ngi. Trong cu của chnh ngi: "Chữ viết st hại, cn Thần Kh th ban sự sống" (2 Cor 3:6), Thnh Phaol đ diễn tả bằng những ngn từ triệt để ý nghĩa của diễn trnh vượt qu chữ viết ấy v việc ngi đạt tới chỗ chỉ hiểu n theo ci ton bộ. Ngi thấy rằng "Thần Kh tự do c tn ring, v do đ, tự do ấy c một tiu chuẩn nội tại: 'Cha l Thần Kh v ở đu c Thần Kh Cha, ở đấy c tự do' (2 Cor 3:17). Thần Kh tự do khng phải đơn thuần chỉ l ý niệm ring của nh ch giải, khng phải l cch nhn ring của họ. Thần Kh ấy l Cha Kit, v Cha Kit l Cha chỉ đường cho ta" (126). Ta biết rằng với cả Thnh Augustin nữa, cu đ vừa gy ấn tượng vừa c tnh giải thot; ngi tin rằng Thnh Kinh, m thoạt nhn ngi cho l lỏng lẻo v c chỗ th thiển hết sức, nhưng nhờ diễn trnh vượt qu chữ viết m ngi học được nơi Thnh Ambrsi trong việc giải thch loại hnh (typological interpretation), nn ton bộ Cựu Ước đ trở thnh đường dẫn tới Cha Gisu Kit. Đối với Thnh Augustin, việc vượt qu nghĩa chiểu tự khiến chữ viết trở thnh khả tn, v gip ngi sau cng tm được cu trả lời cho nỗi khắc khoải nội tm su thẳm v lng thm kht chn lý của ngi (127).

 

Tnh thống nhất nội tại của Thnh Kinh

39. Trong cuộc qu độ từ chữ viết qua tinh thần v trong truyền thống vĩ đại của Gio Hội, ta cũng học được cch nhn ra tnh thống nhất của mọi Sch Thnh, một sự thống nhất đặt cơ sở trn sự thống nhất của lời Cha, vốn thch thức cuộc sống ta v khng ngừng mời gọi ta hồi tm (128). Ở đy, lời của Hugh thuộc (đan viện) Thnh Victor vẫn l một hướng dẫn chắc chắn: "Tất cả cc Sch Thnh đều chỉ l một Cuốn Sch. Cuốn Sch duy nhất đ l chnh Cha Kit, ni về Cha Kit v được nn trọn trong Cha Kit" (129). Dĩ nhin, nếu chỉ đơn thuần nhn theo phương diện lịch sử hay văn chương, th Thnh Kinh khng thể no l một cuốn sch duy nhất được, m l một hợp tuyển cc bản văn đa dạng được soạn tc trong một ngn năm hay hơn, v ngay những cuốn c thể cũng khng dễ g cho thấy một sự thống nhất bn trong; tri lại, ta thấy nhiều chỗ bất nhất r rng giữa chng với nhau. Đy đương nhin l trường hợp của Sch Thnh Do Thi m Kit hữu chng ta quen gọi l Cựu Ước. Nhưng cn hơn thế nữa, khi Kit hữu chng ta coi Tn Ước v cc sch của n như một thứ cha kha giải thch Sch Thnh Do Thi, coi n như đường dẫn tới Cha Kit. Xt chung, Tn Ước khng sử dụng hạn từ "sch thnh" (Xem Rm 4:3; 1 Pr 2:6) m l "cc sch thnh" (xem Mt 21:43; Ga 5:39; Rm 1:2, 2 Pr 3:16), ấy thế nhưng chng vẫn được nhn trong ci ton bộ của chng như lời duy nhất Thin Cha dng ni với chng ta (130). Điều ấy chứng tỏ: chnh ngi vị Cha Kit đ đem lại sự thống nhất cho mọi "Sch Thnh", lm chng nn một "Lời". Với cch đ, ta hiểu được lời lẽ của Số 12 trong Hiến Chế Tn Lý "Lời Cha" nhắc đến tnh thống nhất bn trong của ton bộ Thnh Kinh như tiu chuẩn quyết định của việc giải thch chnh xc bằng đức tin.

 

Mối tương quan giữa Tn Ước v Cựu Ước

40. Trước tấm phng thống nhất mọi Sch Thnh trong Cha Kit, cc nh thần học v cả mục tử nữa đều cần phải ý thức được mối tương quan giữa Cựu Ước v Tn Ước. Trước nhất, Tn Ước hiển nhin nhn nhận Cựu Ước l lời Cha v do đ chấp nhận thẩm quyền của Sch Thnh Do Thi (131). Tn Ước mặc nhin nhn nhận Cựu Ước bằng cch sử dụng cng một ngn ngữ như nhau v thường hay trch dẫn cc đoạn trong Sch Thnh ấy. N minh nhin thừa nhận Sch Thnh Do Thi ở chỗ đ trưng dẫn nhiều phần trong đ lm căn bản cho luận chứng của mnh. Trong Tn Ước, một luận chứng đặt căn bản trn Cựu Ước như thế c một gi trị dứt khot, cao hơn gi trị cc luận chứng chỉ c tnh nhn bản. Trong Tin Mừng thứ bốn, Cha Gisu ni rằng "Khng thể bc bỏ Thnh Kinh" (Ga 10:35). Thnh Phaol th đặc th tuyn bố r: mạc khải của Cựu Ước vẫn c gi trị đối với Kit hữu chng ta (xem Rm 15:4; 1 Cor 10:11) (132). Ta cũng quả quyết rằng "Cha Gisu Nadart l một người Do Thi v Đất Thnh l qu mẹ của Gio Hội" (133): gốc rễ Kit Gio l ở nơi Cựu Ước, v Kit Gio lin tục rt tỉa được của nui dưỡng từ cc gốc rễ ny. Do đ, học lý lnh mạnh của Kit Gio lun lun chống lại mọi hnh thức của chủ nghĩa Marcion (nhị nguyn luận) vốn chủ trương đặt Cựu Ước đối nghịch với Tn Ước trong nhiều phương diện (134).

Hơn nữa, chnh Tn Ước cũng cho l mnh nhất qun với Cựu Ước v tuyn xưng rằng trong mầu nhiệm sống, chết v phục sinh của Cha Kit, Sch Thnh của Dn Do Thi đ tm được sự nn trọn hon ton của chng. Tuy nhin, cần nhận xt điều ny ý niệm nn trọn của Sch Thnh l một ý niệm phức tạp, v n c tới ba chiều kch: chiều kch lin tục về căn bản với mạc khải Cựu Ước, chiều kch gin đọan v chiều kch nn trọn v vượt qu. Mầu nhiệm Cha Kit lun lin tục về ý hướng với tn ngưỡng hy lễ của Cựu Ước, nhưng lại diễn ra một cch khc hẳn, ph hợp với một số lời tuyn bố tin tri v do đ đạt tới sự ton hảo chưa bao giờ c. Cựu Ước th đầy những căng thẳng giữa hai kha cạnh định chế v tin tri. Mầu nhiệm vượt qua của Cha Kit hon ton ph hợp với cc lời tin tri v tin đon của Sch Thnh Do Thi, d bằng một cch t ai dự ứng được; ấy thế nhưng n lại cho thấy những kha cạnh r rng của một gin đoạn đối với cc định chế của Cựu Ước.

41. Những xem xt đ cho thấy tầm quan trọng độc đo của Cựu Ước đối với Kit hữu, d cng một lc chng cho ta thấy sự mới lạ trong lối giải thch c tnh Kit học. Từ thời cc Tng Đồ v trong Truyền Thống sống động của mnh, Gio Hội vốn nhấn mạnh tới tnh thống nhất của kế hoạch của Thin Cha trong hai Giao Ước, qua việc sử dụng hnh loại học (typology); thủ tục ny khng hề c tnh v đon, nhưng n nội tại ngay trong cc biến cố được cc bản văn thnh thuật lại v do đ bao gồm ton bộ Thnh Kinh. Hnh loại học "trong cng trnh của Thin Cha thời Giao Ước cũ, biện phn được những hnh ảnh bo trước điều Người sẽ hon thnh vo thời vin mn trong con người của Con nhập thể của Người" (135). Nhờ thế, cc Kit hữu đ đọc Cựu Ước dưới nh sng Cha Kit chịu đng đinh v sống lại. D việc giải thch theo hnh loại học cho ta thấy nội dung khn d của Cựu Ước theo quan điểm Tn Ước, ta đừng qun rằng Cựu Ước vẫn duy tr được gi trị tự tại của n trong tư cch mạc khải, như chnh Cha chng ta đ ti khẳng định (xem Mc 12:29-31). Thnh thử, "Phải đọc Tn Ước dưới nh sng Cựu Ước. Nền gio lý Kit Gio ban sơ lun lun sử dụng Cựu Ước (xem 1 Cor 5:6-8; 1 Cor 10:1-11)" (136). V lý do đ, cc Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đ khẳng định rằng: "Ci hiểu Thnh Kinh của người Do Thi Gio tỏ ra hữu ch đối với Kit hữu để họ hiểu v nghin cứu Sch Thnh" (137).

Thnh Augustin từng ni một cch thng sng rằng "Tn Ước dấu ẩn trong Cựu Ước v Cựu Ước được tỏ lộ trong Tn Ước" (138), Cho nn, điều quan trọng l trong cả hai khung cảnh mục vụ v học thuật, mối tương quan gần gũi giữa hai Giao Ước phải được chỉ ra cch r rng, hợp với cu ni của Thnh Grgri Cả: "Điều Cựu Ước hứa, Tn Ước phải biến thnh hữu hnh; điều Cựu Ước cng bố một cch b nhiệm, Tn Ước phải cng bố cng khai như đang xẩy ra. Cho nn, Cựu Ước l tin tri của Tn Ước; v bản ch giải tốt nhất về Cựu Ước chnh l Tn Ước" (139).

 

Những đoạn "tối" của Thnh Kinh

42. Khi thảo luận mối tương quan giữa Cựu Ước v Tn Ước, Thượng Hội Đồng cũng xem st cc đoạn trong Thnh Kinh m v tnh bạo lực v v lun thỉnh thoảng c trong chng, cho nn tỏ ra tối nghĩa v kh hiểu. Ở đy, trước hết v trn hết, ta cần nhớ rằng mạc khải Thnh Kinh bắt rễ su trong lịch sử. Chương trnh của Thin Cha được tỏ lộ một cch tiệm tiến v được hon thnh một cch chậm chạp, qua nhiều giai đoạn tiếp nối nhau v bất kể cc chống đối của con người. Thin Cha chọn một dn tộc v kin nhẫn hướng dẫn v gio dục họ. Mạc khải vừa với trnh độ văn ha v lun lý của thời xa xưa v do đ diễn tả cc sự kiện v phong tục, như gian lận v đnh lừa, v cc hnh vi bạo lực v tn st, m khng minh nhin ln n tnh v lun của những điều ấy. Điều ấy c thể giải thch bằng ngữ cảnh lịch sử, ấy thế nhưng n c thể khiến độc giả hiện đại sửng sốt, nhất l nếu họ khng chịu tnh đến nhiều việc "tối tăm" đ diễn ra trong nhiều thế kỷ trước v cả ngy nay nữa. Nhưng cũng trong Cựu Ước, lời rao giảng của cc tin tri lun mạnh mẽ thch thức bất cứ thứ bất cng v bạo lực no, bất kể l của tập thể hay của c nhn, v do đ, trở thnh cch Thin Cha dng để huấn luyện dn Người chuẩn bị đn nhận Tin Mừng. Bởi thế, sẽ l một lầm lẫn khi bỏ qua những đoạn Thnh Kinh đối với chng ta c vấn đề. Đng hơn, ta nn biết rằng giải thch đng đắn cc đoạn văn đ đi phải c một trnh độ chuyn mn, chỉ c được nhờ một cuộc huấn luyện để giải thch bản văn theo ngữ cảnh văn chương lịch sử v trong viễn tượng Kit Gio, một viễn tượng vốn lấy "Tin Mừng v giới răn mới m Cha Gisu Kit đ đưa ra trong mầu nhiệm vượt qua" lm cha kha giải thch (140). Ti khuyến khch cc học giả v mục tử gip mọi tn hữu tiếp cận cc đoạn văn đ bằng một sự giải thch sao cho ý nghĩa của chng xuất hiện dưới nh sng mầu nhiệm Cha Kit.

 

Kit hữu, người Do Thi Gio v Sch Thnh

43. Sau khi đ xem st mối tương quan gần gũi giữa Tn Ước v Cựu Ước, dĩ nhin by giờ ta sẽ nhn tới sợi dy nối kết đặc biệt m mối tương quan kia pht sinh ra giữa Kit hữu v tn hữu Do Thi Gio, một sự nối kết khng bao giờ được bỏ qua. Đức Gio Hong Gioan Phaol II, khi ni tới người Do Thi Gio, đ gọi họ l " người 'anh em thn yu' của chng ta trong đức tin praham, tổ phụ của chng ta" (141). Nhn nhận sự kiện ny khng hề coi thường cc điển hnh gin đoạn lin quan tới cc định chế của Cựu Ước từng được Tn Ước quả quyết, cng khng coi thường sự nn trọn của Sch Thnh trong mầu nhiệm Cha Gisu Kit, vốn được nhn nhận l đấng Mxia v l Con Thin Cha. Tuy nhin, sự khc biệt su xa v căn để ny khng hề hm nghĩa một sự th địch hỗ tương. Tri lại, th dụ của Thnh Phaol (xem Rm 9-11) cho ta thấy "thi độ tn trọng, qu mến v yu thương đối với dn tộc Do Thi l thi độ duy nhất c tnh Kit Gio thực sự trong tnh thế hiện nay, một tnh thế vốn l một phần đầy mầu nhiệm trong kế hoạch hon ton tch cực của Thin Cha" (142). Thực vậy, Thnh Phaol ni về người Do Thi như sau: "theo ơn tuyển chọn, họ l những người được yu thương, v đ l nhờ cc tổ phụ, v khi Thin Cha đ ban ơn, th Người khng hề đổi ý" (Rm 11:28-29).

Thnh Phaol cũng dng hnh ảnh đng yu của cy liu để diễn tả mối lin hệ gần gũi giữa Kit hữu v người Do Thi: Gio Hội của Dn Ngoại giống như nhnh liu dại được thp vo cy liu tốt l Dn của Giao Ước (xem Rm 11:17-24). Ni cch khc, ta ht được của nui dưỡng từ cng một gốc rễ thing ling. Ta gặp nhau như anh chị em m trong một lc no đ của lịch sử đ c những mối lin hệ căng thẳng, nhưng hiện nay đang cam kết bắc cc nhịp cầu thn i bền vững (143). Như Đức Gio Hong Gioan Phaol II từng ni vo một dịp khc: "Chng ta c nhiều điều chung với nhau. Cng với nhau, chng ta c thể đng gp nhiều cho ha bnh, cng lý v một thế giới huynh đệ v nhn đạo hơn" (144).

Ti muốn một lần nữa tuyn bố rằng Gio Hội hết sức trn qi cuộc đối thoại của mnh với người Do Thi. Bất cứ nơi no thch hợp, ta nn tạo cơ hội để gặp gỡ v trao đổi, cng khai cũng như tư ring, v nhờ thế pht huy sự gia tăng hiểu biết lẫn nhau, qu mến v hợp tc hỗ tương, cũng như nghin cứu Sch Thnh.

------

[125] BENOT XVI, Rencontre avec le monde de la culture au Collge des Bernardins de Paris (12 septembre 2008): AAS 100 (2008), p. 726.

[126] Ibidem.

[127] Cf. BENOT XVI, Audience gnrale (9 janvier 2008): L'ORf, 15 janvier 2008, p. 12.

[128] Cf. Proposition 29.

[129] De arca Noe, 2, 8: PL 176, 642 C-D.

[130] Cf. BENOT XVI, Rencontre avec le monde de la culture au Collge des Bernardins de Paris (12 septembre 2008): AAS 100 (2008), p. 725.

[131] Cf. Proposition 10; COMMISSION BIBLIQUE PONTIFICALE, Le peuple juif et ses critures saintes dans la Bible chrtienne (24 mai 2001), n. 3-5: Ench. Vat. 20, nn. 748-755.

[132] Cf. Catchisme de l'glise catholique, n. 121-122.

[133] Proposition 52.

[134] Cf. Prface COMMISSION BIBLIQUE PONTIFICALE, Le peuple juif et ses critures saintes dans la Bible chrtienne (24 mai 2001), 19: Ench. Vat. 20, nn. 799-801; cf. ORIGNE, Homlies sur les Nombres 9, 4: SC 415, p. 238-242.

[135] Catchisme de l'glise catholique, 128.

[136] Ibidem, 129.

[137] Proposition 52.

[138] Questiones in Heptateuchum, 2, 73: PL 34, 623.

[139] Homiliae in Ezechielem, I, VI, 15: PL, 76, 836 B.

[140] Proposition 29.

[141] JEAN-PAUL II, Message au Grand Rabbin de Rome (22 mai 2004). La DC n. 2316, p. 553.

[142] COMMISSION BIBLIQUE PONTIFICALE, Le peuple juif et ses critures saintes dans la Bible chrtienne (24 mai 2001), n. 87: Ench. Vat. 20, n. 1150.

[143] Cf. BENOT XVI, Discours de cong l'aroport international Ben Gourion de Tel Aviv (15 mai 2009): L'ORf, 26 mai 2009, p. 13.

[144] JEAN-PAUL II, Discours aux grands rabbins d'Isral (23 mars 2000), La DC n. 2224, p. 372.

 

 

Giải thch Sch Thnh một cch cực đoan

44. Việc chng ta lưu tm tới cc kha cạnh khc nhau trong đề ti giải thch Sch Thnh, giờ đy, gip ta xem st một chủ đề từng xuất hiện nhiều lần trong Thượng Hội Đồng: đ l chủ đề giải thch Sch Thnh theo quan điểm cực đoan (145).

Ủy Ban Gio Hong về Thnh Kinh, trong ti liệu "Giải Thch Thnh Kinh trong Gio Hội, đ đưa ra một số hướng dẫn quan trọng. Ở đy, ti muốn đặc biệt nhắc tới cc cch tiếp cận khng biết tn trọng sự chn xc của bản văn Thnh Kinh, m đi cổ vũ cc lối giải thch chủ quan v v đon. Chủ nghĩa "duy chiểu tự" (literalism) do cch tiếp cận duy cực đoan cổ vũ thực ra đại biểu cho sự phản bội cả nghĩa chiểu tự lẫn nghĩa thing ling v mở đường cho nhiều hnh thức thao tng như phổ biến cc lối giải thch Thnh Kinh chống lại Gio Hội. "Vấn đề căn bản của lối giải thch duy cực đoan l: v từ khước khng chịu lưu tm tới đặc điểm lịch sử của mạc khải Thnh Kinh, nn n tự lm cho mnh khng c khả năng nhn nhận trọn vẹn chn lý về chnh sự nhập thể. Về mối tương quan với Thin Cha, chủ nghĩa cực đoan tm cch xa lnh bất cứ sự gần gũi no giữa thần thing v nhn bản... v lý do ny, họ thường coi bản văn thnh như đ được Cha Thnh Thần đọc từng lời. N khng chịu thừa nhận rằng lời Thin Cha đ được trnh by bằng ngn ngữ v biểu thức do nhiều thời kỳ khun định" (146). Mặt khc, trong lời, Kit Gio nhận ra chnh Lời Thin Cha, tức Ngi Lời, Đấng đ tỏ lộ mầu nhiệm của mnh qua sự phức tạp v thực tại của lịch sử con người (147). Cu trả lời đng sự thực cho lối tiếp cận duy cực đoan chnh l "lối giải thch Thnh Kinh đầy đức tin". Lối giải thch, "từng được thực hnh từ thời cổ xưa trong Truyền Thống Gio Hội ny, mưu tm chn lý cứu rỗi cho cuộc sống cc Kit hữu c thể v cho ton thể Gio Hội. N nhn nhận gi trị lịch sử của truyền thống Thnh Kinh. Chnh nhờ gi trị của Thnh Kinh như một nhn chứng lịch sử, lối đọc ny tm cch khm ph ra ý nghĩa sống động của Thnh Kinh đối với cuộc sống cc tn hữu ngy nay" (148), tuy nhin vẫn khng qun sự trung gian nhn bản của bản văn linh hứng v cc văn thể của n.

 

Đối thoại giữa cc mục tử, thần học gia v nh ch giải

45. Lối giải thch chn chnh bằng đức tin mang lại nhiều hệ quả quan trọng đối với sinh hoạt mục vụ của Gio Hội. Th dụ, chnh cc Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đ khuyến co phải c một mối tương quan lm việc gần gũi giữa cc vị mục tử, cc thần học gia v cc nh ch giải. Cc Hội Đồng Gim Mục nn cổ vũ những cuộc gặp gỡ như thế với "mục tiu pht huy sự hiệp thng lớn lao hơn để phục vụ lời Cha" (149). Sự hợp tc loại ny sẽ gip mọi người chu ton việc lm của mnh một cch hữu hiệu hơn v lợi ch của ton thể Gio Hội. Đối với cc học giả cũng thế, xu hướng mục vụ ny bao gồm việc tiếp cận bản văn thnh với ý thức rằng đ l sứ điệp m Cha muốn ngỏ với ta để cứu rỗi ta. Theo lời của Hiến Chế Tn Lý "Lời Cha", th "cc nh ch giải Cng Gio v những người khc đang lm việc trong lnh vực thần học thnh nn chuyn chăm lm việc chung với nhau, dưới sự quan tm của huấn quyền thnh. Nhờ sử dụng cc kỹ thuật thch đng, họ nn cng nhau bắt tay xem st v giải thch cc bản văn thnh một cch no đ để cng nhiều thừa tc vin lời Cha cng hay biết phn pht một cch sung mn chất nui dưỡng của Thnh Kinh cho dn Cha. Chất nui dưỡng ny soi sng tm tr, tăng cường ý ch v hun đốt tri tim mọi người bằng tnh yu của Thin Cha" (150).

 

Thnh Kinh v việc đại kết

46. Ý thức rằng Gio Hội xy nền trn Cha Kit, Lời nhập thể của Thin Cha, nn Thượng Hội Đồng muốn nhấn mạnh tnh trung tm của việc nghin cứu Thnh Kinh bn trong cuộc đối thoại đại kết nhằm diễn đạt trọn vẹn sự hợp nhất của mọi tn hữu trong Cha Kit (151). Chnh trong Thnh Kinh đ c lời cầu nguyện cảm động của Cha Gisu ngỏ cng Cha Cha xin cho cc mn đệ nn một, để thế gian tin (xem Ga 17:21). Tất cả những điều ny nhằm tăng cường xc tn của ta rằng chỉ nhờ cng lắng nghe v suy niệm Thnh Kinh, ta mới cảm nghiệm được sự hiệp thng chn thực, d vẫn chưa trọn vẹn (152); "cng nhau lắng nghe Thnh Kinh như thế sẽ thc đẩy ta hướng tới đối thoại trong bc i v gip cho cuộc đối thoại chn lý ấy tiến triển" (153). Cng nhau lắng nghe lời Cha, tham gia đọc lời Cha (lectiona divina) trong Thnh Kinh, để lng mnh cảm kch trước sự tươi mt của lời Cha, một lời khng bao giờ gi nua xưa cũ, thắng vượt cm điếc đối với những lời khng hợp với ý kiến hay định kiến ring của ta, lắng nghe v học hỏi bn trong việc hiệp thng với cc tn hữu mọi thời: tất cả những việc ấy ni ln cch ta tiến tới hợp nhất trong đức tin như một đp trả đối với việc nghe lời Cha" (154). Lời của Cng Đồng Vatican II kh r rng về phương diện ny: "trong chnh cuộc đối thoại (đại kết), Sch Thnh l dụng cụ qu gi trong bn tay quyền năng của Thin Cha để đạt được sự hợp nhất kia, một sự hợp nhất m Đấng Cứu Thế muốn dnh cho mọi người" (155). Thnh thử, nn c sự gia tăng về nghin cứu, thảo luận v cử hnh đại kết lời của Thin Cha, trong khi vẫn tn trọng một cch thch đng cc qui định hiện thời v sự đa dạng về truyền thống (156). Cc cử hnh ny đẩy mạnh chnh nghĩa của phong tro đại kết v khi được thi hnh một cch thch đng, chng c thể ni ln những giờ pht c đọng của cầu nguyện chn chnh nhằm xin Cha lm cho mau tới ngy ta c thể ngồi cng bn với nhau v uống chung một chn. Tuy nhin, d việc cổ vũ cho những buổi cầu nguyện như thế l điều đng khen v đng đắn, nhưng ta nn cẩn thận, đừng giới thiệu cc cử hnh đ như cc hnh thức thay thế cho việc cử hnh Thnh Lễ vo Cha Nhật hay lễ buộc.

Trong việc nghin cứu v cầu nguyện ny, ta thanh thản nhn nhận cc kha cạnh vẫn cn cần được thăm d một cch su xa hơn v những kha cạnh ta vẫn cn khc nhau, như việc tm hiểu chủ thể giải thch c thẩm quyền trong Gio Hội v vai tr quyết định của huấn quyền (157).

Cuối cng, ti muốn nhấn mạnh tới lời tuyn bố của cc Nghị Phụ Thượng Hội Đồng về tầm quan trọng đại kết của cc bản dịch Thnh Kinh ra cc ngn ngữ khc nhau. Ta biết rằng phin dịch một bản văn khng hề l một trch vụ chỉ c tnh kỹ thuật my mc, nhưng, theo một nghĩa no đ, n thuộc cng trnh giải thch. Về phương diện ny, Đấng Đng Knh Gioan Phaol II đ nhận định rằng "bất cứ ai nhớ lại việc cc cuộc tranh luận về Thnh Kinh từng ảnh hưởng ra sao đối với việc phn rẽ, nhất l tại Ty Phương, hẳn c thể đnh gi được bước tiến c ý nghĩa m cc bản dịch chung ny vốn đại biểu cho" (158). Cổ vũ cc bản dịch Thnh Kinh chung l một phần trong cng trnh đại kết. Ti xin cm ơn tất cả những người đ dấn thn vo cng trnh quan trọng ny v xin khuyến khch họ kin tr trong cc cố gắng của mnh.

 

Cc hậu quả đối với việc nghin cứu thần học

47. Một hậu quả khc nữa của việc giải thch thỏa đng bằng đức tin lin quan tới cc hệ luận tất yếu của n đối với việc đo tạo giải thch v thần học, nhất l trong việc đo tạo cc ứng vin lm linh mục. Cần phải thận trọng để bảo đảm rằng việc nghin cứu Sch Thnh phải thực sự l linh hồn của thần học theo nghĩa nhn nhận n như l lời Thin Cha ngỏ với thế giới ngy nay, ngỏ với Gio Hội v ngỏ với đch thn mỗi người chng ta. Điều quan trọng l cc tiu chuẩn ấn định trong Số 12 Hiến Chế Tn Lý "Lời Cha" phải được thực sự lưu ý v trở thnh đối tượng cho một nghin cứu su sắc hơn. Khng nn khuyến khch ý niệm cho rằng việc tm ti c tnh bc học phải tỏ ra trung lập đối với Thnh Kinh. Đồng thời với việc học cc ngn ngữ nguyn thủy m trong đ Sch Thnh đ được viết ra, cũng như cc phương php giải thch thoả đng, cc sinh vin cn cần phải c một đời sống thing ling su sắc, ng hầu biết lượng gi điều ny: chỉ c thể hiểu được Sch Thnh khi mang n ra sống m thi.

Theo chiều hướng trn, ti khẩn khoản yu cầu cho việc nghin cứu lời Cha, cả truyền khẩu lẫn bản viết, khng ngừng được tiến hnh trong tinh thần su xa của Gio Hội, v việc đo tạo học thuật biết lưu tm đến những can thiệp thch đng của huấn quyền, l cc can thiệp "khng cao hơn lời Cha, nhưng đng hơn lm ti tớ cho lời ấy. Huấn quyền chỉ dạy những điều đ được truyền lại. Theo lệnh truyền của Cha v với ơn trợ gip của Cha Thnh Thần, huấn quyền lắng nghe điều ấy một cch sốt sắng, cung knh gn giữ n v trnh by n một cch trung thnh" (159). Do đ, cần thận trọng để những lời gio huấn đưa ra biết nhn nhận rằng "Thnh Truyền, Thnh Kinh v huấn quyền của Gio Hội hết sức gắn b v lin kết với nhau đến nỗi một trong ba khng thể đứng vững nếu khng c hai thứ kia" (160). Ti hy vọng rằng lun trung thnh với gio huấn của Cng Đồng Vatican II, việc nghin cứu Thnh Kinh, thực hiện bn trong sự hiệp thng của Gio Hội hon vũ, sẽ thực sự l linh hồn của việc nghin cứu thần học (161).

 

Cc thnh v việc giải thch Thnh Kinh

48. Việc giải thch Thnh Kinh sẽ khng đầy đủ nếu n khng gồm việc lắng nghe những người đ thực sự sống lời Cha, tức cc thnh (162). Thực vậy, "viva lectio est vita bonorum" (bi đọc sống động chnh l cuộc sống của những người tốt lnh) (163). Việc giải thch Thnh Kinh su sắc nhất pht sinh từ chnh những người từng để mnh được lời Cha ln khun qua việc lắng nghe, đọc v chăm chỉ suy niệm.

Chắc chắn khng phải tnh cờ m cc phong tro tu đức vĩ đại trong lịch sử Gio Hội đều pht sinh từ việc minh nhin tham chiếu Sch Thnh. Ti nghĩ tới trường hợp Thnh Antn đan viện trưởng, đấng đ xc động khi nghe Cha Kit phn: "Nếu muốn nn trọn lnh, con hy đi, bn hết mọi sự con c rồi cho người ngho, con sẽ c một kho tng trn trời; rồi tới theo Thy" (Mt 19:21) (164). Khng km lưu ý, l cu hỏi được Thnh Basili Cả đặt ra trong cuốn Moralia: "Đu l đặc điểm r nt của đức tin? Hon ton chắc chắn, khng một cht do dự l lời Thin Cha linh hứng l lời chn thật... Đu l đặc điểm r nt của tn hữu? Đời họ sống theo cng một sự chắc chắn hon ton đối với ý nghĩa lời Sch Thnh, khng dm thm hay bớt bất cứ điều g" (165). Trong Qui Luật của mnh, Thnh Bnđct gọi Sch Thnh l "qui luật hon hảo nhất đối với cuộc sống con người" (166). Cn Thnh Phanxic Assisi, theo lời Thomas thnh Celano thuật lại, "khi nghe người ta bảo cc mn đệ của Cha Kit khng nn sở hữu vng, bạc hay tiền, cũng như khng nn mang theo bao bị, bnh ăn, cũng như gậy đi đường, cả giầy dp cũng như hai o khoc... bn sảng khoi trong Cha Thnh Thần, lập tức ku lớn: 'đ chnh l điều ti muốn c, chnh đ l điều ti hằng cầu xin, hằng tha thiết muốn thực hiện với hết tm hồn ti!'" (167). Thnh Clara thnh Assisi hon ton cũng c chung một cảm nghiệm như thnh Phanxic: B viết "Hnh thức sống của Dng Chị Em Hn Mọn l đy: tun giữ Tin Mừng của Cha Gisu Kit, Cha chng ta" (168). Thnh Đa Minh cũng thế "ở mọi nơi, lun tỏ ra mnh l người của Tin Mừng, trong lời ni cũng như trong việc lm" (169) v muốn cc tu sĩ của mnh cũng l "người của Tin Mừng" (170). Thnh Nữ Trxa thnh Avila của Dng Ct Minh, đấng lun dng cc hnh ảnh Thnh Kinh để giải thch cc cảm nghiệm huyền nhiệm trong cc trước tc của mnh, vốn ni rằng chnh Cha Gisu mạc khải cho B hay "mọi sự c trn thế gian đều pht xuất từ việc khng biết r rng cc chn lý của Sch Thnh" (171). Thnh Trxa Hi Đồng Gisu khm ph ra tnh yu như ơn gọi bản thn của mnh l nhờ nghiền ngẫm Thnh Kinh nhất l cc Chương 12 v 13 trong Thu thứ nhất gửi tn hữu Crint (172); cũng vị thnh ny đ m tả sự li cuốn của Sch Thnh: "ngay khi thong đọc Tin Mừng, ti đ lập tức ht được hương thơm đời sống Cha Gisu v ti biết mnh phải chạy tới đu" (173). Mọi vị thnh đều như tia sng pht ra từ lời Cha: ta c thể nghĩ tới Thnh Inhaxi thnh Loyola trong cuộc đi tm chn lý của ngi cũng như trong việc ngi biện phn cc loại tinh thần; Thnh Gioan Bosco, trong việc say m gio dục thanh thiếu nin; Thnh Gioan Maria Vianey trong ý thức của ngi về sự cao cả của chức linh mục như một hồng n v một trch nhiệm; Thnh Pi thnh Pietrelcina trong việc ngi phục vụ lm kh cụ của lng thương xt Cha; Thnh Josemaria Escriv trong việc giảng dạy về ơn gọi phổ qut phải nn thnh; Chn Phc Trxa thnh Calcutta, nh truyền gio của tnh Cha yu thương những người ngho nhất trong số người ngho, rồi cc vị tử đạo của chủ nghĩa Quốc X v chủ nghĩa Cộng Sản, đại biểu bởi Thnh Trxa Bnđcta Thnh Gi (Edith Stein), một nữ tu Dng Ct Minh, v Chn Phc Aloysi Stepinac, Hồng Y Tổng Gim Mục Zagreb.

49. Như thế, sự thnh thiện được lời Cha linh hứng, theo một nghĩa no đ, thuộc truyền thống tin tri, trong đ, lời Thin Cha biến chnh cuộc sống của vị tin tri thnh người phục vụ của n. Theo nghĩa ny, sự thnh thiện trong Gio Hội cấu thnh một việc giải thch Thnh Kinh m ta khng được xem thường. Cha Thnh Thần, Đấng linh hứng cc tc giả thnh, cũng cng l Thần Kh từng thc đẩy cc thnh hiến đời mnh cho Tin Mừng. Bằng cch rng học theo gương cc ngi, ta quả đang trn đường chắc chắn hướng tới một cuộc giải thch Thnh Kinh đầy sống động v c hiệu quả.

Ta đ được thấy cc chứng nhn trực tiếp lm chứng cho mối lin kết giữa sự thnh thiện v lời Cha ny ngay trong lc c Cuộc Họp Thượng Hội Đồng Lần Thứ Mười Hai, khi 4 vị hiển thnh mới được tn phong vo ngy 12 thng Mười tại Quảng Trường Thnh Phr. Đ l cc vị: Gaetano Errico, linh mục v người lập ra Tu Hội Truyền Gio Thnh Tm Cha Gisu v Mẹ Maria; Mẹ Maria Bernarda Btler, qu Thụy Sĩ v l một nh truyền gio tại Ecuador v Colombia; Nữ Tu Alphonsa V Nhiễm Thai, vị thnh đầu tin sinh tại Ấn Độ được tn phong; v nữ tn hữu trẻ người Ecuador l Narcisa de Jess Martillo Morn. Bằng cuộc sống của mnh, cc vị lm chứng, trước mặt thế giới v Gio Hội, cho sự sung mn vĩnh hằng của Tin Mừng Cha Kit. Nhờ lời cầu bầu của cc vị thnh được tn phong vo thời điểm cuộc họp của Thượng Hội Đồng về lời Cha ny, ta hy xin Cha để chnh đời sống ta trở thnh "thửa đất tốt" cho Đấng Gieo Hạt Thần Linh trồng lời của Người trn đ, ng hầu lời ấy trổ sinh nhiều hoa tri thnh thiện trong ta, "gấp ba mươi, su mươi, một trăm lần" (Mt 4:20)

-----

[145] Cf. Propositions 46 et 47.

[146] COMMISSION BIBLIQUE PONTIFICALE, L'interprtation de la Bible dans l'glise (15 avril 1993), I, F; pp. 62-63: Ench. Vat. 13, n. 2974

[147] Cf. BENOT XVI, Rencontre avec le monde de la culture au Collge des Bernardins de Paris (12 septembre 2008): AAS 100 (2008), p. 726.

[148] Proposition 46.

[149] Proposition 28.

[150] CONC. CUM. VAT. II, Const. dogm. sur la Rvlation divine Dei Verbum, n. 23.

[151] On rappelle cependant qu'en ce qui concerne les Livres dits deutrocanoniques de l'Ancien Testament et leur inspiration, les Catholiques et les Orthodoxes n'ont pas exactement le mme canon biblique que les Anglicans et les Protestants.

[152] Cf. XIIe ASSEMBLE GNRALE ORDINAIRE DU SYNODE DES VQUES, Relatio post disceptationem, n. 36.

[153] Proposition 36.

[154] Cf. BENOT XVI, Discours au IXe Conseil ordinaire du Secrtariat gnral du Synode des vques (25 janvier 2007): AAS 99 (2007), pp. 85-86.

[155] CONC. CUM. VAT. II, Dcret sur l'cumnisme Unitatis redintegratio, n. 21.

[156] Cf. Proposition 36.

[157] Cf. CONC. CUM. VAT. II, Const. dogm. sur la Rvlation divine Dei Verbum, n. 10.

[158] Lett. enc. Ut unum sint, (25 mai 1995), n. 44: AAS 87 (1995), p. 947.

[159] CONC. CUM. VAT. II, Const. dogm. sur la Rvlation divine Dei Verbum, n. 10.

[160] Ibidem.

[161] Cf. Ibid., n. 24.

[162] Cf. Proposition 22.

[163] S. GRGOIRE LE GRAND, Moralia in Job XXIV, VIII, 16: PL 76, 295.

[164] Cf. SAINT ATHANASE, Vita Antonii, 2, 4: PL 73, 127.

[165] Moralia, Regula: LXXX, XXII, PG 31, 867.

[166] Rgle, n. 73, 3: SC 182, p. 673.

[167] TOMMASO DE CELANO, La vita prima di S. Francesco, 22, 2-3: FF 670.672.

[168] Rgle, I, 1-2: FF 2292.

[169] B. GIORDANO DA SASSONIA, Libellus de principiis Ordinis Praedicatorum, 104: Monumenta Fratrum Praedicatorum Historica, Roma 1935, 16, p. 75.

[170] ORDRE DES FRRES PRCHEURS, Premires Constitutions ou Consuetudines, II, XXXI.

[171] Vie 40, 1.

[172] Cf. Histoire d'une me, Ms B, foglio 3 recto.

[173] Ibidem, Ms C, foglio 35 verso.

 

PHẦN HAI: LỜI TRONG GIO HỘI

"Nhưng với những ai đn nhận Người, Người ban cho quyền trở nn con ci Thin Cha" (Ga 1:12).

 

Lời Cha v Gio Hội

Gio Hội lnh nhận lời

50. Cha ni lời của Người để những người đ được dựng nn "qua" lời ấy tiếp nhận n. "Người đến giữa nh Người" (Ga 1:11): lời Người đu c phải l một điều hon ton xa lạ với chng ta; sng thế đ được Cha muốn cho c lin hệ thn thiết với chnh sự sống Thin Cha. Ấy thế nhưng, Tự Ngn của Tin Mừng Thứ Tư cũng vẫn đặt ta trước sự từ khước lời Cha bởi "người nh chẳng chịu đn nhận" (Ga 1:11). Khng đn nhận Người l khng lắng nghe tiếng Người, khng nn đồng hnh đồng dạng với Logos. Mặt khc, bất cứ khi no con người, d yếu đuối v tội lỗi, nhưng thnh thực mở lng ra gặp gỡ Cha Kit, th lập tức một sự biến đổi căn để sẽ bắt đầu diễn ra: "Cn những ai đn nhận Người, th Người cho họ quyền trở nn con ci Thin Cha" (Ga 1:12). Đn nhận Lời l để Người ln khun ta, v do đ, để ta nn đồng hnh đồng dạng với Cha Kit, "Con Một Cha Cha" (Ga 1:14), nhờ quyền lực Cha Thnh Thần. Đ l khởi đầu của một sng thế mới; một tạo vật mới đ được sinh ra, một dn tộc mới được ra đời. Những ai biết tin, nghĩa l biết sống vng theo đức tin, đều "từ Thin Cha sinh ra" (Ga 1:13) v được dự phần vo sự sống Thin Cha: lm con trong Cha Con (xem Gl 4:5-6; Rm 8:14-17). Như Thnh Augustin đ ni một cch đẹp đẽ khi ch giải đoạn trch từ Tin Mừng của Thnh Gioan ny: "anh em đ được tạo dựng nhờ lời, th nay anh em cũng phải được ti tạo nhờ lời vậy" (174). Ở đy ta thong thấy khun mặt Gio Hội như một thực tại được xc định bởi việc đn nhận Lời Thin Cha, Đấng khi mang lấy xc phm đ đến dựng lều của Người giữa chng ta (xem Ga 1:14). Nơi Thin Cha ở giữa loi người ny, ci Nh Tạm (xem Xh 26:1) ny, từng được tin bo trong Cựu Ước, nay đ nn trọn trong sự hiện diện dứt khot của Thin Cha giữa chng ta nơi Cha Kit.

 

Sự hiện diện lin tiếp của Cha Kit trong đời sống Gio Hội

51. Ta khng thể hiểu trọn vẹn mối lin hệ giữa Cha Kit, Lời Cha Cha, v Gio Hội nếu chỉ căn cứ vo cc biến cố dĩ vng; đng hơn, n l một mối lin hệ sống động m đch thn mỗi thnh phần tn hữu đều được mời gọi tiến vo. Ta đang ni tới sự hiện diện lời Cha đối với chng ta hm nay: "Ny, Thầy ở với cc con mi mi, cho đến tận cng thời gian" (Mt 28:20). Như Đức Gio Hong Gioan Phaol II từng ni: "Sự lin quan của Cha Kit đối với con người mun thuở được biểu lộ r trong nhiệm thể của Người l Gio Hội. V lý do đ, Cha hứa ban cho cc mn đệ Cha Thnh Thần, Đấng sẽ 'lm họ nhớ lại' v dạy họ hiểu cc giới răn của Người (xem Ga 14:26) v sẽ l nguyn lý v suối nguồn bất tận của sự sống mới trn thế giới (xem Ga 3:5-8; Rm 8:1-13) (175). Hiến Chế Tn Lý "Lời Cha" pht biểu mầu nhiệm ny bằng cch sử dụng ẩn dụ cuộc đối thoại phu phụ: "Thin Cha, Đấng từng ni trong qu khứ, nay vẫn tiếp tục chuyện tr với hiền th của Con yu qu mnh. Cn Cha Thnh Thần, m nhờ Người, tiếng ni sống động của Tin Mừng tiếp tục vang ln trong Gio Hội, v qua Gio Hội,vang ln trn thế giới, vẫn đang dẫn dắt cc tn hữu tới chn lý trọn vẹn v lm cho lời của Cha Kit cư ngụ trong họ với hết mọi nt phong ph của n"(176).

Ngy nay, Nng Du của Cha Kit, một bậc thầy vĩ đại của nghệ thuật lắng nghe, cũng đang tin yu lặp lại: "Lạy Cha, xin hy ni, Gio Hội của Ngi đang lắng nghe" (177). V lý do ny, Hiến Chế Tn Lý "Lời Cha" cố ý bắt đầu bằng những lời sau đy: "bằng cch nghe lời Cha một cch cung knh v cng bố lời ấy một cch tự tin, Thnh Cng Đồng ny..." (178). Ở đy, ta gặp được cu định nghĩa đầy năng động về đời sống Gio Hội: Gio Hội l một cộng đồng nghe v cng bố lời Cha. Gio Hội ht được sự sống khng phải từ chnh mnh nhưng từ Tin Mừng, v từ Tin Mừng, Gio Hội khm ph ra như mới chnh phương hướng cho cuộc hnh trnh của mnh. Đy l lối tiếp cận m mọi Kit hữu cần hiểu v p dụng cho chnh mnh: chỉ những ai biết trước nhất đặt mnh vo thi độ lắng nghe lời Cha mới c thể tiến triển để trở thnh người loan bo lời ấy (179). Ngy nay, trong lời được cng bố v lắng nghe của Cha, v trong cc b tch, Cha Gisu đang ln tiếng với mỗi người chng ta, ở đy v ngay lc ny: "Thầy l của chng con, Thầy hiến mnh Thầy cho cc con"; để ta tiếp nhận v đp lại rằng: "con l của Cha" (180). Như thế, Gio Hội xuất hiện như một mi trường trong đ, nhờ ơn thnh, ta cảm nghiệm được điều Thnh Gioan từng ni với ta trong Tự Ngn Tin Mừng của ngi: "với những ai đn nhận Người, Người ban cho họ quyền trở nn con ci Thin Cha" (Ga 1:12).

 

Phụng vụ, khung cảnh tuyệt vời của Lời Thin Cha

Lời Thin Cha trong phụng vụ thnh

52. Khi coi Gio Hội như "nh của lời" (181), ta cần trước hết lưu tm tới phụng vụ thnh, v phụng vụ chnh l khung cảnh tuyệt vời trong đ Thin Cha ni với chng ta trong chnh cuộc sống của ta; ngy nay, Người ni với dn Người, những người đang lắng nghe v đp lại. Từ bản chất, mọi hnh vi phụng vụ đều chm ngập trong Sch Thnh. Theo lời Hiến Chế "Thnh Cng Đồng", "Sch Thnh c tầm quan trọng hết sức lớn lao trong việc cử hnh phụng vụ. Từ Sch Thnh, cc bi đọc được lấy ra để được giải thch trong bi giảng lễ, cả cc thnh vịnh dng để ca ht nữa. Từ Sch Thnh, cc lời cầu xin, cc kinh nguyện v phụng ca c được sự linh hứng v chất liệu của chng. Từ Sch Thnh, cc hnh vi v dấu hiệu phụng vụ rt tỉa được ý nghĩa của chng" (182). Cn hơn thế nữa, ta phải ni rằng chnh Cha Kit "hiện diện nơi lời của Người, v chnh người ln tiếng khi Sch Thnh được đọc ln trong Gio Hội" (183). Thực thế, "việc cử hnh phụng vụ trở thnh việc trnh by lời Cha cch lin tục, trọn vẹn v hữu hiệu. Lời Cha, khi được lin tục cng bố trong phụng vụ, lun l lời sống động v hữu hiệu nhờ quyền lực Cha Thnh Thần. N diễn tả tnh yu của Cha Cha, một tnh yu bao giờ cũng c hiệu lực đối với chng ta" (184). Gio Hội lun nhận ra rằng trong hnh động phụng vụ, lời Cha đi đi với hnh động bn trong của Cha Thnh Thần, Đấng lm cho lời ấy thnh hữu hiệu trong tm hồn tn hữu. Nhờ Đấng Bảo Trợ, "lời Cha trở nn nền tảng cho việc cử hnh phụng vụ, v l qui luật v sự nng đỡ cho trọn đời sống ta. Hnh động của cng một Cha Thnh Thần ny ... sẽ đem đến c nhn mỗi người mọi sự m trong lc cng bố lời Cha từng được ni tới v lợi ch của ton thể cộng đon. Khi tăng cường sự hợp nhất mọi người, Cha Thnh Thần cũng đồng thời cổ vũ tnh đa dạng của ơn phc v đẩy xa hơn nữa việc lm c tnh đa dạng của cc ơn phc ny" (185).

Như thế, để hiểu lời Cha, ta cần biết lượng gi v cảm nghiệm được ý nghĩa v gi trị chủ yếu của hnh động phụng vụ. Một ci hiểu đầy đức tin về Sch Thnh lun phải ti qui chiếu trở lại phụng vụ, trong đ, lời Cha được cử hnh như một lời hợp thời v sống động: "Trong phụng vụ, Gio Hội lun trung thnh gắn b với cch Cha Kit đọc v giải thch Sch Thnh, bắt đầu với việc Người vo hội đường v yu cầu mọi người tm kiếm Sch Thnh (186).

Ở đy, ta được thấy khoa sư phạm đầy khn ngoan của Gio Hội; khoa sư phạm ny cng bố v lắng nghe Sch Thnh theo nhịp điệu của năm phụng vụ. Việc trải di lời Cha trong thời gian ny trước nhất diễn ra trong việc cử hnh Thnh Thể v trong Cc Giờ Kinh Phụng Vụ. Ở tm điểm mọi điều ấy, ta thấy mầu nhiệm vượt qua ngời sng ln v quanh mầu nhiệm ấy, tỏa sng mọi mầu nhiệm của Cha Kit v lịch sử cứu rỗi trở thnh hiện tại một cch b tch: "Nhờ nhắc lại cc mầu nhiệm cứu chuộc cch đ, Gio Hội mở tung cho cc tn hữu mọi kho lẫm của hnh động cứu rỗi v cng nghiệp của Cha mnh, v lm chng trở thnh hiện tại đối với mọi thời, gip tn hữu bước vo tiếp xc với chng v được trn đầy ơn cứu độ" (187). V lý do ny, ti khuyến khch cc Mục Tử của Gio Hội v mọi người dấn thn vo cng trnh mục vụ hy lo liệu để mọi tn hữu học cch biết thưởng ngoạn ý nghĩa thm hậu của lời Cha đang được biểu lộ hng năm trong phụng vụ, mạc khải cho ta cc mu nhiệm nền tảng của đức tin. Điều ny, ngược lại, chnh l nền tảng của lối tiếp cận chnh xc đối với Sch Thnh.

-----

[174] In Iohannis Evangelium Tractatus, 1,12: CCL 36,7.

[175] Lett. enc. Veritatis splendor (6 aot 1993), n. 25: AAS 85 (1993) p. 1153.

[176] CONC. CUM. VAT. II, Const. dogm. sur la Rvlation divine Dei Verbum, n. 8.

[177] Relatio post disceptationem, n. 11: L'ORf, 11 novembre 2008, p. 11.

[178] N. 1.

[179] BENOT XVI, Discours au Congrs International sur "l'criture Sainte dans la vie de l'glise" (16 septembre 2005): AAS 97 (2005), p. 956; La DC n. 2344, p. 948.

[180] Cf. Relatio post disceptationem, n. 10: L'ORf, 11 novembre 2008, p. 14.

[181] Message nal, III, 6.

[182] CONC. CUM. VAT. II, Const. sur la sainte Liturgie Sacrosanctum Concilium, n. 24.

[183] Ibidem, n. 7.

[184] MISSEL ROMAIN, Prsentation gnrale du Lectionnaire de la Messe, n. 4.

[185] Ibidem, n. 9.

[186] Ibidem, n. 3; cf. Lc 4, 16-21; 24, 25-35.44-49.

[187] CONC. CUM. VAT. II, Const. sur la sainte Liturgie Sacrosanctum Concilium, n. 102.

 

 

Sch Thnh v cc b tch

53. Khi thảo luận tầm quan trọng của phụng vụ đối với việc hiểu lời Cha, Thượng Hội Đồng Cc Gim Mục đ lm nổi bật mối tương quan giữa Sch Thnh v hnh động của cc b tch. Ngy nay, đang c nhu cầu lớn muốn tm ti su xa hơn mối tương quan giữa lời v b tch trong hoạt động mục vụ của Gio Hội v trong suy tư thần học (188). Chắc chắn "phụng vụ lời Cha l yếu tố quyết định trong việc cử hnh mỗi b tch của Gio Hội" (189); Tuy nhin, trong thực hnh mục vụ, tn hữu khng lun lun ý thức được mối dy nối kết ấy; họ cũng khng đnh gi được tnh thống nhất giữa cử chỉ v lời ni. "Nhiệm vụ của linh mục v ph tế, nhất l khi họ cử hnh cc b tch, l phải giải thch tnh thống nhất giữa lời v b tch trong thừa tc vụ của Gio Hội" (190). Mối tương quan giữa lời v cử chỉ b tch chnh l biểu thức phụng vụ của hoạt động Thin Cha trong lịch sử cứu rỗi xt theo đặc điểm thực hiện (performative character) của lời. Trong lịch sử cứu rỗi, khng hề c sự phn rẽ giữa điều Cha ni v điều Người lm. Lời Người lun tỏ ra sống động v linh hoạt (xem Dt 4:12) như chnh hạn từ Hpri dabar đ chỉ r. Trong hnh động phụng vụ, ta cũng thấy lời Người thực hiện đầy đủ những g n ni ra. Khi gio dục Dn Cha biết khm ph ra đặc điểm thực hiện của lời Cha trong phụng vụ, ta sẽ gip họ biết nhận ra hoạt động của Người trong lịch sử cứu rỗi v trong cuộc sống c nhn của họ.

 

Lời Cha v B Tch Thnh Thể

54. Những điều vừa ni một cch tổng qut về mối tương quan giữa lời v b tch sẽ c ý nghĩa su xa hơn khi ta xt tới việc cử hnh B Tch Thnh Thể. Tnh thống nhất su sắc giữa lời v B Tch Thnh Thể đặt cơ sở trn chnh chứng t của Sch Thnh (xem Ga 6; Lc 24), được cc Gio Phụ chứng thực v được Cng Đồng Vatican II ti khẳng định (191). Ở đy, ta nghĩ tới lời Cha Gisu phn về bnh ban sự sống tại hội đường Caphcnaum (xem Ga 6:22-69), với việc so snh hm ẩn giữa Ms v Cha Gisu, giữa người từng ni mặt đối mặt với Thin Cha (xemXh 33:11) v Đấng lm Thin Cha được biết đến (xem Ga 1:18). Lời Cha Gisu về bnh c ý ni tới ơn phc của Thin Cha, m Ms nhận được cho dn ng với manna trong sa mạc, nhưng thực sự cũng l Tra, lời ban sự sống của Thin Cha (xem Tv 119; Cn 9:5). Bằng chnh con người mnh, Cha Gisu lm nn trọn hnh ảnh xưa: "Bnh Thin Cha l bnh từ trời, ban sự sống cho thế gian"... "Ta l bnh sự sống" (Ga 6:33-35). Ở đy, "lề luật đ trở nn một ngi vị. Khi ta gặp gỡ Cha Gisu, ta được dưỡng nui bằng chnh Thin Cha hằng sống, c thể ni như thế; ta thực sự ăn 'bnh bởi trời'" (192). Trong bi giảng tại Caphcnaum, Tự Ngn của Thnh Gioan được nng ln một bnh diện su sắc hơn. Logos của Thin Cha trở nn xc phm, cn ở đy xc phm ấy trở nn "bnh" ban sự sống cho thế gian (xem Ga 6:51), c ý m chỉ việc tự hiến của Cha Gisu trong mầu nhiệm thập gi, được củng cố bằng cc lời ni về mu Người, được ban lm của uống (xem 6:53). Mầu nhiệm Thnh Thể tỏ lộ manna đch thật, bnh thực sự bởi trời: n chnh l Logos của Thin Cha đ thnh xc phm, tự hiến cho ta trong mầu nhiệm vượt qua.

Trnh thuật của Thnh Luca về cc mn đệ trn đường đi Emmau gip ta suy niệm xa hơn về mối lin kết giữa việc nghe lời Cha v việc bẻ bnh (xem Lc 24:13-35). Cha Gisu tiến gần lại cc mn đệ sau ngy Sabt, lắng nghe họ ni về những hy vọng đ tan tnh, v khi đang cng đi một hnh trnh với họ, Người "giải thch cho họ mọi điều trong Sch Thnh lin quan đến Người" (24:27). Hai mn đệ bắt đầu nhn Sch Thnh một cch mới hẳn khi cng đi với người lữ khch lạ lẫm nhưng xem ra hết sức quen thuộc với đời họ ny. Những điều xẩy ra trong mấy ngy qua xem ra khng cn l thất bại đối với họ nữa, nhưng l một sự nn trọn v l một khởi đầu mới. Ấy thế nhưng, r rng ngay những lời ấy cũng chưa đủ cho hai mn đệ. Tin Mừng Luca thuật lại rằng "con mắt của họ mở ra v họ nhận ra Người" (24:31) chỉ sau khi Cha Gisu cầm lấy bnh, đọc lời chc tụng, bẻ ra v trao cho họ, trong khi trước đ "mắt họ khng nhận ra Người" (24:16). Sự hiện diện của Cha Gisu, đầu tin bằng lời v sau đ bằng hnh vi bẻ bnh, đ lm cho cc mn đệ nhận ra Người. Giờ đy, họ c khả năng đnh gi theo cch mới tất cả những g họ từng được cảm nghiệm với Người trước đy: "tri tim ta đ khng bừng bừng trong ta khi Người ni với ta trn đường trong khi mở Sch Thnh cho ta đ sao?" (24:32).

55. Từ cc trnh thuật ny, ta thấy r chnh Sch Thnh chỉ cho ta biết đnh gi mối lin kết khng thể no bẻ gẫy giữa n v Thnh Thể. "Khng bao giờ c thể qun được rằng lời Cha, được Gio Hội đọc v cng bố, c mục tiu l hy lễ của giao ước mới v bn tiệc ơn thnh l Php Thnh Thể" (193). Lời Cha v Php Thnh Thể gắn b với nhau một cch su xa đến độ ta khng thể hiểu được thực tại ny m khng c thực tại kia: lời Cha đ mặc lấy xc phm một cch b tch trong biến cố Thnh Thể. Thnh Thể mở đường cho ta hiểu Sch Thnh, cũng thế, về phần mnh Sch Thnh soi sng v giải thch mầu nhiệm Thnh Thể. Nếu khng thừa nhận sự hiện diện thực sự của Cha Gisu trong Thnh Thể, ci hiểu của ta về Sch Thnh sẽ mi mi khng đầy đủ. V lý do ny, "Gio Hội vốn tn knh lời Cha v mầu nhiệm Thnh Thể với cng một lng tn knh, d khng cng một sự thờ phượng, v nhấn mạnh cũng như ph chuẩn lng tn knh ấy lun lun v ở mọi nơi. Được Đấng Sng Lập ra mnh thc giục, Gio Hội khng bao giờ ngưng cử hnh mầu nhiệm vượt qua ny của Người bằng việc đến với nhau để đọc 'những điều lin quan tới Người trong Sch Thnh' (Lc 24:27) v tiến hnh cng trnh cứu rỗi qua việc cử hnh lễ tưởng niệm Người v qua cc b tch" (194).

 

Tnh b tch của lời Cha

56. Suy niệm về đặc điểm thực hiện của lời Cha trong hnh động b tch v việc mỗi ngy biết đnh gi nhiều hơn mối tương quan giữa lời Cha v Thnh Thể cn dẫn ta tới một chủ đề c ý nghĩa nữa từng được nu ra tại Thượng Hội Đồng, đ l tnh b tch của lời Cha (195). Ở đy, thiết tưởng sẽ c ch nếu ta nhớ lại rằng Đức Gio Hong Gioan Phaol II từng nhắc tới "đặc điểm b tch của mạc khải" v cch ring tới "dấu chỉ của Php Thnh Thể trong đ sự hợp nhất bất khả tiu giữa điều chỉ dấu v điều được chỉ dấu gip ta nắm vững cc su sắc của mầu nhiệm" (196). Ta sẽ thấy ra rằng ở tm điểm tnh b tch của lời Cha chnh l mầu nhiệm nhập thể: "Lời thnh xc phm" (Ga 1:14), thực tại của mầu nhiệm mạc khải đ được biếu tặng ta trong "xc phm" Cha Con. Lời của Thin Cha nay c thể được đức tin lĩnh hội nhờ "dấu chỉ" l lời v hnh động con người. Đức tin nhn nhận Lời của Thin Cha bằng cch chấp nhận cc lời v hnh động Người dng để tự mạc khải cho chng ta. Đặc điểm b tch của mạc khải, ngược lại, chỉ cho ta thấy lịch sử cứu rỗi, thấy cch thế lời Cha bước vo thời gian v khng gian v ni với con người, những chủ thể được mời gọi đn nhận hồng n của Người trong đức tin.

Như thế, ta c thể hiểu tnh b tch của lời Cha bằng cch so snh với sự hiện diện thực sự của Cha Kit dưới cc hnh bnh v rượu đ được truyền php (197). Khi tiến ln bn thờ v tham dự tiệc Thnh Thể, ta thực sự dự phần vo mnh v mu Cha Kit. Việc cng bố lời Cha lc cử hnh ko theo việc nhn nhận rằng chnh Cha Gisu đang hiện diện, rằng Người ni với ta (198), v Người muốn được ta nghe Người. Thnh Girm ni tới cch ta phải tiếp cận cả Thnh Thể lẫn lời Cha như sau: "Chng ta đang đọc Sch Thnh. Đối với ti, Tin Mừng l Thn Thể Cha Kit; đối với ti, Sch Thnh l gio huấn của Người. V khi Người ni: Ai khng ăn thịt Ta v uống mu Ta (xem Ga 6:53), th d những lời ny được hiểu về Mầu Nhiệm (Thnh Thể), nhưng thn thể v mu Cha Kit quả l lời Sch Thnh, gio huấn của Thin Cha. Khi ta tiếp cận Mầu Nhiệm (Thnh Thể), nếu một vụn rơi xuống đất, ta bối rối lo lắng. Ấy thế m khi nghe lời Cha, v Lời Thin Cha cng Mnh v Mu Cha Kit ồ ạt đổ vo tai ta, nhưng ta lại khng hề ch ý, h ta lại khng cảm thấy liều lĩnh qu hay sao?" (199). Hiện diện thực sự dưới hnh bnh v rượu, Cha Kit cũng hin diện tương tự như thế trong lời được cng bố trong phụng vụ. Như thế, hiểu su xa hơn tnh b tch của lời Cha sẽ dẫn ta tới một ci hiểu thống nhất hơn về mầu nhiệm mạc khải, vốn xẩy ra qua "việc lm v lời ni c lin hệ mật thiết với nhau" (200); biết đnh gi điều đ nhất định sẽ đem lại nhiều lợi ch cho đời sống thing ling của tn hữu v sinh hoạt mục vụ của Gio Hội.

 

Sch Thnh v Sch Cc Bi Đọc

57. Khi nhấn mạnh tới mối lin kết giữa lời Cha v Thnh Thể, Thượng Hội Đồng cũng rất đng khi muốn ku gọi ta ch ý tới một số kha cạnh của việc cử hnh c lin hệ tới việc phục vụ lời Cha. Trước nhất, ti muốn nhắc tới tầm quan trọng của Sch Cc Bi Đọc. Cuộc canh tn do Cng Đồng Vatican II ku gọi (201) đ mang lại kết quả qua việc ta tiếp xc phong ph hơn với Sch Thnh m hiện nay được cung cấp dồi do, nhất l trong Thnh Lễ Cha Nhật. Cấu trc hiện nay của Sch Cc Bi Đọc khng những cho thấy nhiều bản văn quan trọng hơn của Sch Thnh được cung cấp thường xuyn hơn, m cn gip ta hiểu tnh thống nhất trong kế hoạch của Thin Cha nhờ tc động qua lại giữa cc bi đọc Cựu Ước v Tn Ước, một tc động qua lại "trong đ, Cha Kit l khun mặt trung tm, được tưởng niệm trong mầu nhiệm vượt qua của Người" (202). Bất cứ cc kh khăn cn tồn đọng no chưa gip ta nhn ra mối tương quan giữa cc bi đọc ny cần phải được giải quyết dưới nh sng lối giải thch hợp qui điển (canonical interpretation) nghĩa l phải qui chiếu tới tnh thống nhất cố hữu của Thnh Kinh như một ton bộ. Bất cứ khi no cần, cc cơ quan v nhm c khả năng nn cung cấp cc ấn phẩm nhằm trnh by mối lin hệ qua lại giữa cc bi đọc của Sch Cc Bi Đọc, tất cả những ấn phẩm ny nn được cng bố cho hội nghị phụng vụ ty theo nhu cầu phụng vụ của từng thời kỳ. Cc vấn đề hay kh khăn khc nn được trnh cho Bộ Phụng Thờ Thnh v Kỷ Luật B Tch.

Chng ta cũng khng nn bỏ qua sự kiện ny l Sch Cc Bi Đọc hiện nay thuộc Nghi Lễ La Tinh vốn c một ý nghĩa đại kết, v n cũng đang được sử dụng v trn qu bởi nhiều cộng đồng chưa hon ton hiệp thng với Gio Hội Cng Gio. Vấn đề Sch Cc Bi Đọc vốn được xem st cch khc trong nền phụng vụ của cc Gio Hội Cng Gio Đng Phương; Thượng Hội Đồng yu cầu rằng vấn đề ny cần được "xem st một cch c thẩm quyền" (203), ph hợp với truyền thống v năng quyền ring của cc Gio Hội độc lập, cũng như quan tm tới ngữ cảnh đại kết.

-----

[188] Cf. BENOT XVI, Exhort. apost. post-synodale Sacramentum caritatis (22 fvrier 2007), nn. 44-45: AAS 99 (2007), pp. 139-141.

[189] COMMISSION BIBLIQUE PONTIFICALE, L'interprtation de la Bible dans l'glise (15 avril 1993), IV, C, 1; p. 110; Ench. Vat. 13, n. 3123.

[190] Ibidem, III, B, 3; p. 89; Ench. Vat. 13, n. 3056.

[191] Cf. CONC. CUM. VAT. II, Const. sur la sainte Liturgie Sacrosanctum Concilium, nn. 48.51.56; Const. dogm. sur la Rvlation divine Dei Verbum, nn. 21.26; Dcret sur l'activit missionnaire de l'glise Ad gentes, nn. 6.15; Dcret sur le ministre et la vie des prtres Presbyterorum ordinis, n. 18; Dcret sur la rnovation et l'adaptation de la vie religieuse Perfectae caritatis, n. 6. Dans la grande tradition de l'glise, nous trouvons des expressions signicatives comme: "Corpus Christi intelligitur etiam [...

[192] J. RATZINGER (BENOT XVI), Jsus de Nazareth, Flammarion, Paris 2007, p. 295.

[193] MISSEL ROMAIN, Prsentation gnrale du Lectionnaire de la Messe, n. 10.

[194] Ibidem.

[195] Cf. Proposition 7.

[196] Lett. enc. Fides et ratio (14 septembre 1998), n. 13: AAS 91 (1999), p. 16.

[197] Catchisme de l'glise Catholique, n. 1373-1374.

[198] Cf. CONC. CUM. VAT. II, Const. sur la sainte Liturgie Sacrosanctum Concilium, n. 7.

[199] In Psalmum. 147: CCL 78, 337-338.

[200] CONC. CUM. VAT. II, Const. dogm. sur la Rvlation divine Dei Verbum, n. 2.

[201] Const. sur la sainte Liturgie Sacrosanctum Concilium, nn. 107-108.

[202] MISSEL ROMAIN, Prsentation gnrale du Lectionnaire de la Messe, n. 66.

[203] Proposition 16.

 

 

Việc cng bố lời Cha v thừa tc vụ đọc sch

58. Thượng Hội Đồng về Thnh Thể đ từng ku gọi phải thận trọng hơn trong việc cng bố lời Cha (204). Như đ biết, trong truyền thống La Tinh, d Tin Mừng do linh mục hay ph tế cng bố, nhưng bi đọc một v bi đọc hai do một người được chỉ định đọc sch, cả nam lẫn nữa, cng bố. Ti muốn nhắc lại lời cc Nghị Phụ Thượng Hội Đồng khi cc ngi nhấn mạnh một lần nữa nhu cầu huấn luyện thch đng (205) cho những người thi hnh nhiệm vụ (munus) đọc sch trong cc cử hnh phụng vụ (206), v đặc biệt những người thi hnh thừa tc vụ (ministry) đọc sch, một thừa tc vụ tự n vốn thuộc gio dn theo nghi lễ La Tinh. Tất cả những ai được trao ph nhiệm vụ ny, ngay cả những người khng được lập (instituted) vo thừa tc vụ đọc sch, phải l người thực sự xứng đng v được huấn luyện cẩn thận. Việc gio dục ny phải đặt nặng thnh kinh v phụng vụ cũng như kỹ thuật: "Mục đch của việc huấn luyện về Thnh Kinh l để gip người đọc sch c khả năng hiểu cc bi đọc trong bối cảnh của chng v nhờ nh sng đức tin, họ nhận thức được điểm chnh yếu trong sứ điệp mạc khải. Việc huấn luyện về phụng vụ phải trang bị cho người đọc sch nắm vững phần no ý nghĩa v cấu trc của phụng vụ lời Cha v tầm ý nghĩa trong mối lin kết của n với phụng vụ Thnh Thể. Việc chuẩn bị kỹ thuật nn gip người đọc sch c kỹ năng trong nghệ thuật đọc trước cng chng, nhờ sức mạnh của giọng ni hay với sự trợ gip của dụng cụ m thanh" (207).

 

Tầm quan trọng của bi giảng lễ

59. Mỗi thnh phần Dn Cha "đều c bổn phận v trch nhiệm khc nhau lin quan tới lời Cha. Theo đ, tn hữu lắng nghe lời Cha v suy niệm lời ấy, nhưng những ai c nhiệm vụ giảng dạy nhờ đ được truyền chức thnh hay đ được trao ph việc thi hnh thừa tc vụ ny" tức cc gim mục, linh mục v ph tế "sẽ giảng giải lời Cha" (208). Bởi thế, ta hiểu được việc Thượng Hội Đồng rất ch ý tới bi giảng lễ. Trong Tng Huấn Sacramentum Caritatis, ti đ nhấn mạnh rằng "v tầm quan trọng của lời Cha, phẩm tnh bi giảng cần được cải thiện. Bi giảng lễ 'l một phần của hnh động phụng vụ' v c mục tiu pht huy một ci hiểu lời Cha su sắc hơn để n mang lại hoa tri cho đời sống tn hữu" (209). Bi giảng lễ l phương tiện đem lại sự sống cho một đoạn Sch Thnh theo nghĩa gip tn hữu hiểu ra rằng lời Cha hiện diện v hnh động trong cuộc sống hng ngy của họ. N nn dẫn đến việc hiểu biết mầu nhiệm đang được cử hnh, đng vai tr thc đẩy nhận lnh sứ mệnh v chuẩn bị cộng đon cho phần tuyn xưng đức tin, cho lời nguyện chung v cho phụng vụ Thnh Thể. Thnh thử, những ai c trọng trch giảng dạy do thừa tc vụ chuyn biệt phải coi trọng trch nhiệm ny. Cần phải trnh những bi giảng chung chung v trừu tượng chỉ c tc dụng lm mờ nhạt tnh minh bạch của lời Cha, cũng phải trnh những kiểu giảng giải vng vo v bổ nhằm li ko ch ý vo người giảng chứ khng vo trọng tm của sứ điệp Tin Mừng. Tn hữu phải nhận ra một cch r rng rằng vị giảng thuyết thực sự c ý nguyện tha thiết muốn trnh by Cha Kit, Đấng phải nằm ở trọng tm mọi bi giảng. V lý do ny, cc vị giảng thuyết cần tiếp xc một cch gần gũi v thường xuyn với bản văn thnh (210); họ nn chuẩn bị bi giảng bằng cch suy niệm v cầu nguyện, để c thể giảng với xc tn v lng say m. Thượng Hội Đồng yu cầu ta nn để ý những cu hỏi như sau: "Sch Thnh đang được cng bố muốn ni g? N ni đch danh điều g với bản thn ti? Ti phải ni g với cộng đon dưới nh sng hon cảnh cụ thể của họ?" (211). Vị giảng thuyết "phải l người trước nhất nghe lời Cha, lời m ngi sẽ cng bố" (212) v như Thnh Augustin từng ni: "Người giảng dạy lời Cha ở bn ngoi m khng nghe lời ấy trong nội tm chắc chắn l người v bổ (barren)" (213). Bi giảng Cha Nhật v lễ trọng phải được chuẩn bị kỹ cng, nhưng trong cc thnh lễ ngy thường c gio dn, vẫn khng qun cung cấp những suy niệm vắn tắt v hợp thời gip tn hữu cho đn lời Cha vừa được cng bố v đem lại ch lợi cho đời sống hng ngy của họ.

 

Sự thch đng của một cuốn Hướng Dẫn Giảng Lễ

60. Nghệ thuật giảng dựa trn Sch Cc Bi Đọc muốn tốt phải l một nghệ thuật cần được vun trồng. Do đ, để lin tục với ý muốn được Thượng Hội Đồng trước pht biểu (214), ti yu cầu cc cơ quan c năng quyền, dựa vo đường hướng của cuốn Hợp Tuyển Thnh Thể (215) cũng sẽ chuẩn bị cc ấn phẩm c tnh thực tiễn gip cc thừa tc vin thi hnh trch vụ của họ cch tốt nhất: th dụ một cuốn Hướng Dẫn Giảng Lễ chẳng hạn, trong đ, cc vị giảng thuyết c thể tm được sự trợ gip hữu ch trong việc chuẩn bị thi hnh thừa tc vụ của mnh. Như Thnh Girm từng nhắc nhở ta, việc giảng lễ cần đi đi với chứng t một đời sống tốt lnh: "hnh động của anh em khng được mu thuẫn với lời anh em ni, kẻo khi anh em đang giảng trong nh thờ, c người dm nghĩ: 'như thế tại sao ng khng hnh động như thế đi?'... nơi vị linh mục của Cha Kit, tư tưởng v lời ni phải đi đi với nhau" (216).

 

Lời Cha, Ha Giải v Xức Dầu Bệnh Nhn

61. D Thnh Thể chắc chắn vẫn l trung tm đối với mối lin hệ giữa lời Cha v cc b tch, ta vẫn phải nhấn mạnh tầm quan trọng của Sch Thnh trong cc b tch khc, nhất l cc b tch chữa lnh, tức B Tch Ha Giải v B Tch Xức Dầu Bệnh Nhn. Vai tr của Sch Thnh trong cc b tch ny thường bị bỏ qua, ấy thế nhưng ta cần phải dnh cho chng một chỗ đứng thch đng. Ta khng bao giờ được qun rằng: "lời Cha l lời ho giải, v trong lời ấy, Thin Cha đ giao ha mọi sự với chnh Người (xem 2 Cor 5:18-20; Eph 1:10). Sự tha thứ đầy yu thương của Thin Cha, thnh xc phm nơi Cha Gisu, đ lm tội nhn trỗi dậy" (217). "Qua lời Cha, Kit hữu nhận được nh sng để nhn ra tội lỗi mnh v được mời gọi hồi tm v tin tưởng vo lng thương xt của Cha" (218). Muốn cảm nghiệm một cch su sắc hơn sức mạnh ha giải của lời Cha, cc hối nhn c thể phải được khuyến khch chuẩn bị việc xưng tội bằng cch đọc hay lắng nghe những lời khuyn của Thnh Kinh như những lời được cung cấp trong nghi thức. Khi ăn năn tội, điều tốt l hối nhn nn sử dụng "lời cầu nguyện dựa vo lời lẽ của Sch Thnh" (219), như những lời đ được ghi trong nghi thức. Khi c thể, điều tốt l trong một số dịp đặc biệt trong năm, hay bất cứ khi no c cơ hội, việc xưng tội c thể của một số hối nhn nn diễn ra trong buổi cử hnh thống hối như đ được dự tr trong nghi thức, với điều kiện phải tn trọng cc truyền thống phụng vụ khc nhau; ở đy, phải dnh nhiều th giờ hơn cho việc cử hnh lời Cha qua việc dng cc bi đọc thch hợp.

Trong trường hợp B Tch Xức Dầu Bệnh Nhn cũng thế, khng nn qun rằng: "sức mạnh chữa lnh của lời Cha l lời mời gọi lin tục để người lắng nghe đch thn hồi tm" (220). Sch Thnh chứa v số cc trang ni tới sự an ủi, nng đỡ v chữa lnh m Cha muốn mang đến. Một cch ring, ta c thể nghĩ tới sự gần gũi của Cha Gisu đối với người đang đau khổ v cch m Người, trong tư cch Lời nhập thể của Thin Cha, đ gnh lấy đau khổ của ta v chịu đau đớn v thương yu ta, nhờ thế đ mang lại ý nghĩa cho bệnh tật v sự chết. Điều tốt l trong cc gio xứ v bệnh viện, ty theo hon cảnh, nn tổ chức cc buổi cả cộng đon cử hnh B Tch Xức Dầu Bệnh Nhn. Trong những dịp ny, phải dnh nhiều chỗ hơn cho việc cử hnh lời Cha v gip người bệnh chịu đựng đau đớn trong đức tin, trong kết hợp với lễ hy sinh cứu chuộc của Cha Kit, Đấng đ giải thot ta khỏi sự c.

 

Lời Cha v Phụng Vụ Cc Giờ Kinh

62. Trong cc hnh thức cầu nguyện biết nhấn mạnh tới Sch Thnh, Phụng Vụ Cc Giờ Kinh hiển nhin c một chỗ đứng. Cc Nghị Phụ Thượng Hội Đồng gọi n l "hnh thức ưu tuyển của việc nghe lời Cha, theo nghĩa n gip tn hữu tiếp xc với Sch Thnh v Truyền Thống sống động của Gio Hội" (221). Trn hết, ta nn suy niệm về phẩm tnh thần học v gio hội học su xa của lối cầu nguyện ny. "Trong Phụng Vụ cc Giờ Kinh, Gio Hội, khi thực thi chức vụ tư tế của Đấng lm Đầu mnh, đ 'khng ngừng' (1 Tx 5:17) dng ln Thin Cha lễ hy sinh ngợi khen nghĩa l hoa tri miệng lưỡi tuyn xưng danh Người (xem Dt 13:15). Lối cầu nguyện ny chnh l 'giọng ni của một nng du thỏ thẻ cng ch rể mnh, n chnh l lối cầu nguyện m chnh Cha Kit, cng với Nhiệm Thể Mnh, ngỏ cng Cha Cha'" (222). Về phương diện ny, Cng Đồng Vatican II tuyn bố rằng "tất cả những ai tham gia lối cầu nguyện ny khng những chu ton bổn phận của Gio Hội, m cn chung chia vinh dự lớn được lm hiền th của Cha Kit; v nhờ cử hnh lời ngợi ca Thin Cha, họ đứng trước ngai của Người nhn danh Gio Hội, Mẹ của họ" (223). Phụng Vụ cc Giờ Kinh, trong tư cch lời cầu nguyện cng khai của Gio Hội, nu ra lý tưởng thnh ha người Kit hữu cho ngy sống của họ, được đnh dấu bằng nhịp độ nghe lời Cha v đọc cc Thnh Vịnh; bằng cch ny, mọi sinh hoạt đều tm được điểm qui chiếu trong lời ca ngợi dng ln Thin Cha.

Những ai, v bậc sống của mnh, buộc phải đọc Phụng Vụ Cc Giờ Kinh nn thi hnh nhiệm vụ ny một cch trung thnh v lợi ch của thể Gio Hội. Cc gim mục, linh mục v ph tế đang chuẩn bị thụ phong linh mục, tất cả những ai được Gio Hội trao trọng trch cử hnh phụng vụ ny, buộc phải cầu cc Giờ Kinh ny hng ngy (224). Cn đối với việc b buộc cử hnh phụng vụ ny trong cc Gio Hội Cng Gio Đng Phương độc lập, th phải tun theo cc qui định ring của luật lệ họ (225). Ti cũng khuyến khch cc cộng đon sống đời tận hiến nu gương sng trong việc cử hnh Phụng Vụ Cc Giờ Kinh, v nhờ thế, trở thnh điểm qui chiếu v gy cảm hứng cho đời sống thing ling v mục vụ của ton thể Gio Hội.

Thượng Hội Đồng yu cầu để lối cầu nguyện ny trở nn phổ biến hơn trong Dn Cha, nhất l việc đọc cc Giờ Kinh Sng v Kinh Tối. Điều ny nhất định sẽ dẫn tới việc lm quen hơn nữa với lời Cha nơi cc tn hữu. Cũng cần nhấn mạnh tới gi trị của Phụng Vụ Cc Giờ Kinh đối với Giờ Kinh Tối Thứ Nhất của cc Cha Nhật v Lễ Trọng, đặc biệt trong cc Gio Hội Cng Gio Đng Phương. Để đạt mục đch ny, ti khuyn, bất cứ khi no c thể, cc gio xứ v v cc cộng ton tu sĩ nn cổ vũ lối cầu nguyện ny với sự tham dự của tn hữu gio dn.

 

Lời Cha v Sch Php Lnh

63. Cũng thế, khi sử dụng Sch Php Lnh, cần lưu ý đến phần dnh cho việc cng bố, nghe v vắn tắt giải thch lời Cha. Thực vậy, trong cc trường hợp được Gio Hội dự tr v được tn hữu yu cầu, hnh vi chc lnh khng nn bị coi như một điều đơn độc tch biệt nhưng c lin hệ, theo mức độ ring của n, với đời sống phụng vụ của Dn Cha. Theo nghĩa ấy, trong tư cch một dấu chỉ thnh thực sự, n "đ rt tỉa được ý nghĩa v tnh hiệu lực từ chnh lời Thin Cha đang được cng bố" (226). Như thế, điều cũng quan trọng l sử dụng cc hon cảnh ny lm phương tiện đnh thức một lần nữa nơi tn hữu lng đi kht mọi lời từ miệng Thin Cha phn ra" (xem Mt 4:4).

 

Cc gợi ý v đề nghị thực tiễn để cổ vũ việc tham gia trọn vẹn hơn vo phụng vụ

64. Sau khi thảo luận một số yếu tố căn bản trong mối lin hệ giữa phụng vụ v lời Cha, giờ đy, ti muốn tiếp nhận v khai triển một số đề nghị v gợi ý được cc Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đưa ra nhằm mục đch lm cho Dn Cha mỗi ngy một thn quen hơn với lời Cha trong bối cảnh sinh hoạt phụng vụ hay, trong bất cứ hon cảnh no, với việc qui chiếu vo sinh hoạt ấy.

----

[204] Cf. BENOT XVI, Exhort. apost. post-synodale Sacramentum caritatis (22 fvrier 2007), n. 45: AAS 99 (2007), pp. 140-141.

[205] Cf. Proposition 14.

[206] Cf. CIC, can. 230 2; 204 1.

[207] MISSEL ROMAIN, Prsentation gnrale du Lectionnaire de la Messe, n. 55.

[208] Ibidem, n. 8.

[209] N. 46: AAS 99 (2007), p. 141.

[210] Cf. CONC. CUM. VAT. II, Const. dogm. sur la Rvlation divine Dei Verbum, n. 25.

[211] Proposition 15.

[212] Ibidem.

[213] Sermo 179,1; PL 38, 966.

[214] Cf. BENOT XVI, Exhort. apost. post-synodale Sacramentum caritatis (22 fvrier 2007), n. 93: AAS 99 (2007), p. 177.

[215] CONGREGATION POUR LE CULTE DIVIN ET LA DISCIPLINE DES SACREMENTS, Compendium eucharisticum (25 mars 2009), Cit du Vatican 2009.

[216] Epistula 52,7; CSEL 54,426-427.

[217] Proposition 8.

[218] RITUEL DE LA PNITENCE ET DE LA RCONCILIATION. Orientations doctrinales et pastorale, n. 17.

[219] Ibidem, n. 19.

[220] Proposition 8.

[221] Proposition 19.

[222] Principes et normes de la Liturgie des Heures, III, 15.

[223] Const. sur la Sainte Liturgie Sacrosanctum Concilium, n. 85.

[224] Cf. CIC, cc. 276 3; 1174 1.

[225] Cf. CCEO, cc. 377; 473, 1 et 2, 1; 538 1; 881 1.

[226] LIVRE DES BNDICTIONS, Prliminaires gnraux, n. 21.

 

a) Cử hnh lời Cha

65. Cc Nghị Phụ Thượng Hội Đồng khuyến khch mọi mục tử pht huy thời giờ dnh cho việc cử hnh lời Cha trong cc cộng đon được ủy thc cho cc ngi (227). Cc cử hnh ny l những dịp tuyệt vời để gặp gỡ Cha. Thực hnh ny chắc chắn mang lợi ch lại cho tn hữu v nn được coi như yếu tố quan trọng của việc huấn luyện phụng vụ. Cc cử hnh loại ny đặc biệt c ý nghĩa đối với việc chuẩn bị Thnh Thể Cha Nhật; chng cũng l cch gip tn hữu đo su hơn vo sự phong ph của Sch Cc Bi Đọc, biết cầu nguyện v suy niệm Sch Thnh, nhất l trong cc ma phụng vụ lớn l Ma Vọng v Ma Ging Sinh, Ma Chay v Ma Phục Sinh.

Cc buổi cử hnh lời Cha phải được đặc biệt khuyến co nhất l trong cc cộng đon, v thiếu gio sĩ, nn khng thể cử hnh được hy lễ Thnh Thể vo cc Cha Nhật v ngy lễ buộc. Nhớ đến cc chỉ dẫn đ được nu ra trong Tng Huấn Hậu Thượng Hội Đồng Sacramentum Caritatis lin quan tới cc cuộc cử hnh Cha Nhật m khng c linh mục (228), ti xin khuyn cc vị c thẩm quyền hy soạn ra cc sch hướng dẫn nghi thức, căn cứ vo kinh nghiệm của cc gio hội đặc th. Trong những hon cảnh như thế, việc ấy sẽ cổ vũ cc buổi cử hnh lời Cha c khả năng nui dưỡng đức tin của tn hữu, trong khi trnh được nguy cơ lẫn lộn hnh thức cử hnh ny với việc cử hnh Thnh Thể: "tri lại, chng l những giy pht tuyệt vời để cầu xin Cha sai tới cc linh mục thnh thiện như lng Người mong muốn" (229). Cc Nghị Phụ Thượng Hội Đồng cũng khuyến co việc cử hnh lời Cha trong cc cuộc hnh hương, cc ngy lễ đặc biệt, cc tuần đại phc bnh dn, cc buổi tĩnh huấn thing ling v cc ngy đặc biệt dnh cho thống hối, đền tạ hay xin tha thứ. Cc biểu thức khc nhau của lng đạo đức bnh dn, d khng phải l cc hnh vi phụng vụ v khng được lẫn lộn chng với cc cuộc cử hnh phụng vụ, tuy nhin vẫn nn được cc cuộc cử hnh ny gy cảm hứng v trn hết phải dnh chỗ thch đng cho việc cng bố v nghe lời Cha; "lng đạo đức bnh dn c thể tm thấy nơi lời Cha một nguồn linh hứng bất tận, những mẫu mực cầu nguyện kh c thể vượt qua v những điểm phong ph để suy niệm" (230).

 

b) Lời Cha v sự im lặng

66. Trong cc gp ý của mnh, số đng cc Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đ nhấn mạnh tới tầm quan trọng của im lặng trong tương quan với lời Cha v việc tiếp nhận n trong đời sống tn hữu (231). Thực vậy, lời Cha chỉ c thể ni v nghe trong im lặng, cả bề ngoi lẫn bề trong. Thời đại ta khng phải l thời đại người ta cổ vũ việc tĩnh tm; c lc, ta c cảm tưởng người ta sợ phải tch mnh, d chỉ l giy lt, ra khỏi cc phương tiện truyền thng đại chng. Ngy nay, v lý do đ, điều cần thiết l phải gio dục Dn Cha biết gi trị của sự im lặng. Ti khm ph tnh trung tm của lời Thin Cha trong đời sống Gio Hội cũng c nghĩa l ti khm ph cảm thức tĩnh tm v thanh thản nội tm. Truyền thống vĩ đại của cc Gio Phụ dạy ta rằng cc mầu nhiệm của Cha Kit đều bao gồm sự im lặng (232). Chỉ trong im lặng, lời Cha mới tm được nơi cư ngụ trong ta, như đ tm được nơi Đức Maria, người phụ nữ của lời nhưng một cch khng thể tch biệt, cũng l người phụ nữ của im lặng. Cc nền phụng vụ của ta phải lm dễ thi độ lắng nghe chn chnh ny: Lời cng ln cao, ta cng thiếu lời (Verbo crescente, verba deficiunt) (233).

Tầm quan trọng của điều ấy thấy r một cch đặc biệt trong Phụng Vụ Lời Cha, "một phụng vụ nn được cử hnh một cch thin về suy niệm" (234). Khi được yu cầu, im lặng phải được coi l "một phần của việc cử hnh" (235). Do đ, ti xin khuyến khch cc mục tử cổ vũ cc giy pht tĩnh lặng nhờ thế, với ơn trợ gip của Cha Thnh Thần, lời Cha tm được sự nghinh đn trong tri tim ta.

 

c) Cng bố lời Cha một cch long trọng

67. Một gợi ý nữa được nu ra trong Thượng Hội Đồng l việc cng bố lời Cha, cch ring Tin Mừng, phải được thực hiện cch long trọng hơn, nhất l trong cc ngy lễ phụng vụ lớn, bằng cch sử dụng Sch Tin Mừng để rước kiệu trong nghi thức đầu lễ v sau đ, được một ph tế hay một linh mục cung nghinh ln bục đọc sch để cng bố. Việc ny sẽ gip Dn Cha hiểu ra rằng "đọc Tin Mừng l đỉnh cao của phụng vụ lời Cha" (236). Theo cc chỉ dẫn trong Ordo Lectionum Missae (Qui định cc bi đọc trong Thnh Lễ), điều tốt đẹp l lời Cha, nhất l Tin Mừng, sẽ được tăng gi trị nhờ được cng bố bằng cch ht, đặc biệt trong một số lễ trọng. Lời cho, lời cng bố khởi đầu: "Tin mừng Cha Gisu theo Thnh..." v những lời kết thc "Tin Mừng của Cha" (một số nơi: Đ l Lời Cha) rất c thể được ht như l cch nhấn mạnh tầm quan trọng của điều được đọc (237).

 

d) Lời Cha trong cc gio hội Kit Gio

68. Để lm dễ việc nghe lời Cha, ta cần xem st cc biện php c thể gip ko ch ý của tn hữu. Nn chứng tỏ c sự quan tm tới việc vang m nh thờ (church acoustics), dĩ nhin phải tn trọng thch đng cc qui luật phụng vụ v kiến trc. "Trong việc xy dựng cc nh thờ, khi được trợ gip một cch thch đng, cc gim mục nn thận trọng để chng thch ứng với việc cng bố lời Cha, với việc suy niệm v với việc cử hnh Thnh Thể. Cc nơi thnh, ngay d xa hẳn hnh vi phụng vụ, cũng nn c nhiều tnh diễn cảm (eloquent) v trnh by mầu nhiệm Kit Gio lin quan tới lời Cha" (238).

Phải đặc biệt ch trọng tới bục đọc sch (ambo) như l khng gian phụng vụ từ đ lời Cha được cng bố. Nn đặt n ở một nơi ai cũng thấy r khiến tn hữu tự nhin ch tm tới n trong phần phụng vụ lời Cha. N nn ở một nơi nhất định v được trang tr một cch hi ha thẩm mỹ đối với bn thờ, để ni ln một cch hữu hnh ý nghĩa thần học của chiếc bn kp cả lời Cha lẫn Thnh Thể. Cc bi đọc, thnh vịnh đp ca v kinh Exultet (Hy Vui Ln) phải được cng bố từ bục đọc sch; bục ny cũng c thể được sử dụng cho bi giảng v phần lời nguyện gio dn (239). Cc Nghị Phụ Thượng Hội Đồng cũng đề nghị cc nh thờ nn dnh một chỗ danh dự để đặt Sch Thnh, ngay cả ở bn ngoi cc cử hnh phụng vụ (240). Cuốn sch chứa lời Cha đương nhin phải được hưởng chỗ danh dự ai cũng thấy ở bn trong đền thờ Kit Gio, m khng phương hại tới vị tr trung tm dnh ring cho Nh Chầu để chứa Mnh Thnh Cha (241).

 

e) Chỉ dng bản văn thnh trong phụng vụ

69. Thượng Hội Đồng cũng ti khẳng định một cch r rng một điểm vốn đ được luật phụng vụ qui định (242) tức việc khng bao giờ được thay thế cc bi đọc rt từ Sch Thnh bằng cc bản văn khc, d cc bản văn khc ny c ý nghĩa đến bao nhiu về phương diện thing ling hay mục vụ: "Khng một bản văn tu đức hay văn chương no c thể ngang tầm gi trị v sự phong ph chứa đựng trong Sch Thnh, tức lời Cha" (243). Đy l một qui luật rất cổ xưa của Gio Hội m ta cần duy tr (244). Đứng trước một số lạm dụng, Đức Gio Hong Gioan Phaol II từng lặp lại tầm quan trọng của việc khng bao giờ được dng cc bi đọc khc thay thế cho Sch Thnh (245). Cũng cần ghi nhớ rằng Thnh Vịnh Đp Ca cũng l lời Cha, v do đ, khng được thay thế n bằng cc bản văn khc; thực sự, điều thch hợp hơn cả l ht thnh vịnh ny.

 

f) Phụng ca lấy hứng Thnh Kinh

70. Như một phần trong việc nng cao lời Cha trong phụng vụ, ta cũng nn lưu tm tới việc sử dụng cc ca khc trong những lc cần, theo một nghi lễ đặc biệt no đ. Ưu tin nn dnh cho cc ca khc r rng lấy cảm hứng từ Thnh Kinh v l cc ca khc diễn đạt vẻ đẹp của lời Cha qua sự ha hợp giữa nhạc v lời. Ta nn cố gắng hết sức để sử dụng tối đa cc ca khc từng được lưu truyền tới ta từ truyền thống của Gio Hội, một truyền thống lun tn trọng tiu chuẩn vừa ni. Ti nghĩ cch ring tới sự quan trọng của lối ht Grgrian (246).

 

g) Lưu tm cch ring tới những người khuyết tật về thnh thị

71. Ở đy, ti cũng muốn nhắc lại khuyến co của Thượng Hội Đồng khi cho rằng cần lưu tm đặc biệt tới những ai gặp kh khăn trong việc tham gia tch cực vo phụng vụ; th dụ, ti nghĩ tới những người khuyết tật về thnh thị. Ti khuyến khch cc cộng đồng Kit Gio chng ta cung ứng mọi trợ gip thực tiễn c thể c cho cc anh chị em đang chịu cc khuyết tật ny, để cả họ nữa cũng c khả năng cảm nhận được sự tiếp xc sống động với lời Cha (247).

-----

[227] Cf. Proposition 18; CONC. CUM. VAT. II, Const. sur la Sainte Liturgie Sacrosanctum Concilium, n. 35.

[228] Cf. BENOT XVI, Exhort. apost. post-synodale Sacramentum caritatis (22 fvrier 2007), n. 75: AAS 99 (207), pp. 162-163.

[229] Ibidem.

[230] CONGRGATION POUR LE CULTE DIVIN ET LA DISCIPLINE DES SACREMENTS, Directoire sur la pit populaire et la liturgie, Principes et orientations, n. 87; Ench. Vat. 20, n. 2461.

[231] Cf. Proposition 14.

[232] Cf. SAINT IGNACE D'ANTIOCHE, Ad Ephesios 15, 2: Patres Apostolici, d. F. X. FUNK, Tbingen 1901, I, 224.

[233] Cf. SAINT AUGUSTIN, Sermo 288, 5: PL 38, 1307; Sermo 120, 2: PL 38, 677.

[234] Prsentation gnrale du Missel Romain, n. 56.

[235] Ibidem, n. 45; cf. CONC. CUM. VAT. II, Const. sur la Sainte Liturgie Sacrosanctum Concilium, n. 30.

[236] MISSEL ROMAIN, Prsentation gnrale du Lectionnaire de la Messe, n.13.

[237] Cf. ibidem n. 17.

[238] Proposition 40.

[239] Prsentation gnrale du Missel Romain, n. 309.

[240] Proposition 14.

[241] Cf. BENOT XVI, Exhort. apost. post-synodale Sacramentum caritatis (22 fvrier 2007), n. 69: AAS 100 (207), p. 157.

[242] Prsentation gnrale du Missel Romain, n. 57.

[243] Proposition 14.

[244] Cf. le canon 36 du Synode d'Hippone en 393, DenzingerSchnmetzer, 186.

[245] Cf. JEAN-PAUL II, Lett. Ap. Vicesimus quintus annus, 4 dcembre 1988, n. 13: AAS 81 (1988), p. 910; CONGRGATION POUR LE CULTE DIVIN ET LA DISCIPLINE DES SACREMENTS, Instruction sur certaines choses observer ou viter au sujet de la Trs Sainte Eucharistie Redemptionis sacramentum (25 mars 2004), n. 62: Ench. Vat. 22, n. 2248.

[246] 246 Cf. CONC. CUM. VAT. II, Const. sur la Sainte Liturgie Sacrosanctum Concilium, n. 116; CONGRGATION POUR LE CULTE DIVIN ET LA DISCIPLINE DES SACREMENTS, Prsentation gnrale du Missel Romain, n. 41.

[247] Cf. Proposition 14.

 

 

Lời Cha trong Đời Sống Gio Hội

Gặp gỡ lời Cha trong Sch Thnh

72. Nếu phụng vụ quả thực l nơi ưu tuyển để cng bố, lắng nghe v cử hnh lời Cha, th cuộc gặp gỡ ny quả thực cũng phải được chuẩn bị trong tm hồn cc tn hữu v sau đ được họ thm hậu v hội nhập trn hết. Đời sống Kit hữu được ghi dấu bằng cuộc gặp gỡ với Cha Gisu Kit, Đấng hằng ku gọi ta bước chn theo Người. V thế, Thượng Hội Đồng thường hay ni tới sự quan trọng của việc chăm sc mục vụ trong cc cộng đồng Kit Gio như l khung cảnh thch đng để cuộc hnh trnh c nhn v cộng đon dựa trn lời Cha c thể diễn ra v thực sự được dng lm căn bản cho đời sống thing ling của ta. Cng với cc Nghị Phụ Thượng Hội Đồng, ti tha thiết hy vọng được thấy sự bừng nở "một ma mới đầy yu mến hơn đối với Sch Thnh nơi mọi thnh phần Dn Cha để việc đọc Sch Thnh một cch đầy cầu nguyện v đầy đức tin của họ, với thời gian, sẽ thm hậu ha mối lin hệ bản thn của họ với Cha Gisu" (248).

Suốt trong lịch sử Gio Hội, nhiều vị thnh từng ni về nhu cầu phải hiểu biết Thnh Kinh để lớn mạnh trong tnh yu Cha Kit. Điều ấy rất r rệt nơi cc Gio Phụ. Trong tm tnh yu mến lời Cha của ngi, Thnh Girm hay tự hỏi: "Lm sao người ta c thể sống m khng hiểu biết chi về Thnh Kinh, m nhờ n, ta mới biết được chnh Cha Kit, Đấng vốn l sự sống của tn hữu?" (249). Ngi biết r rằng Thnh Kinh l phương tiện "nhờ đ, Thin Cha ni với tn hữu hng ngy" (250). Lời khuyn ngi ngỏ với mệnh phụ Rma l Leta về việc dưỡng dục con gi b như sau: "B phải chắc chắn việc con b mỗi ngy học một đoạn Sch Thnh... Việc cầu nguyện phải tiếp nối việc đọc, v việc đọc tiếp nối việc cầu nguyện... để ở chỗ đầy nữ trang v lụa l, c ấy vẫn yu mến Sch Thnh" (251). Lời khuyn của Thnh Girm ngỏ với linh mục Nepotian cũng c thể p dụng cho ta: "Hy thường xuyn đọc Sch Thnh; thực vậy, Sch Thnh khng bao giờ nn rời tay cha. Hy học ở đ điều cha c nhiệm vụ phải dạy" (252). Ta hy noi gương vị đại thnh ny, người đ hiến cả đời để nghin cứu Thnh Kinh v đ đem lại cho Gio Hội bản dịch La Tinh, tức Bản Phổ Thng, cũng như gương của tất cả cc thnh, những người vốn biến cuộc gặp gỡ Cha Kit thnh trung tm đời sống thing ling của họ. Ta hy canh tn cc cố gắng của ta để hiểu su xa lời m Thin Cha đ ban cho Gio Hội của Người: nhờ thế, ta c thể vươn tới "tiu chuẩn cao trong lối sống Kit Gio bnh thường" (253), một lối sống từng được Đức Gio Hong Gioan Phaol II đưa ra nhn dịp khởi đầu thin nin kỷ thứ ba của Kit Gio, v vốn nhận được chất nui dưỡng bất biến từ việc chăm ch lắng nghe lời Cha.

 

Để Thnh Kinh linh hứng hoạt động mục vụ

73. Cng với cc dng trn, Thượng Hội Đồng cũng ku gọi phải c một cam kết mục vụ nhằm nhấn mạnh tnh trung tm của lời Cha trong đời sống Gio Hội, v khuyến co việc tổ chức một việc "tng đồ Thnh Kinh" lớn hơn, khng hẳn song song với cc hnh thức hoạt động mục vụ khc, nhưng như một phương tiện để Thnh Kinh linh hứng mọi hoạt động mục vụ (254). Việc ny khng c nghĩa hội họp thm đy đ trong gio xứ hay gio phận, m đng hơn, nn sot lại cc hoạt động bnh thường của cc cộng đon Kit hữu nơi gio xứ, trong cc hiệp hội v phong tro, để xem xem chng c thực sự quan tm tới việc pht huy cuộc gặp gỡ bản thn với Cha Kit hay khng, Đấng vốn hiến thn cho ta trong lời của Người. V "dốt Thnh Kinh l dốt Cha Kit" (255), nn việc biến Thnh Kinh thnh linh hứng cho mọi chương trnh mục vụ bnh thường hay bất thường sẽ dẫn người ta tới một ý thức lớn hơn về con người Cha Kit, Đấng đ mạc khải Cha Cha v l sự vin mn của mạc khải Thin Cha.

V thế, ti khuyến khch cc mục tử v tn hữu nhn nhận tầm quan trọng của việc nhấn mạnh ny đối với Thnh Kinh: đy cũng l cch tốt nhất để bn tới một số vấn đề mục vụ từng được thảo luận tại Thượng Hội Đồng v c lin quan tới việc lan trn cc gio phi đang phổ biến cch đọc Sch Thnh đầy mo m v c tnh cch thao tng. Nơi no tn hữu khng được trợ gip để nhận biết Thnh Kinh theo đức tin của Gio Hội v dựa vo truyền thống sống động của Gio Hội, th khoảng chn khng về mục vụ ny sẽ trở thnh mảnh đất mầu mỡ để cc thực tại như gio phi bắt rễ. Cần phải dự tr việc chuẩn bị thch đng để cc linh mục v gio dn c khả năng dạy dỗ Dn Cha trong cch tiếp cận chn chnh đối với Thnh Kinh.

Hơn nữa, như đ được đưa ra trong cc phin họp của Thượng Hội Đồng, điều tốt đẹp l hoạt động mục vụ cũng nn ủng hộ việc lớn mạnh của cc cộng đồng nhỏ, "được cc gia đnh thnh lập hay dựa trn cc gio xứ hoặc lin kết với một số phong tro trong Gio Hội v cc cộng đon tn lập" (256), l cc thực thể c khả năng gip ta cổ vũ việc huấn luyện, việc cầu nguyện v hiểu biết Thnh Kinh ph hợp với đức tin Gio Hội.

 

Chiều kch Thnh Kinh của gio lý

74. Một kha cạnh quan trọng trong hoạt động mục vụ của Gio Hội, nếu được sử dụng một cch khn ngoan, c thể gip ti khm ph tnh trung tm của lời Cha l gio lý, l khoa cần lin tục đi đi với hnh trnh đức tin của Dn Cha, dưới cc hnh thức v trnh độ khc nhau. Theo một nghĩa no đ, m tả của Thnh Luca (xem Lc 24:13-35) về cc mn đệ gặp Cha Gisu trn đường Emmau đ đại biểu cho một mẫu mực gio lý đặt trọng tm vo "việc giải thch Thnh Kinh", một giải thch m chỉ một mnh Cha Gisu mới ban cho được (xem Lc 24:27-28), v Người cho thấy n đ được nn trọn trong chnh con người của Người (257). Như thế, niềm hy vọng chiến thắng trn mọi thất bại đ được ti sinh, lm cho cc mn đệ trở thnh cc nhn chứng đầy xc tn v khả tn của Cha Phục Sinh.

Cuốn Chỉ Dẫn Gio Lý Tổng Qut chứa đựng nhiều hướng dẫn gi trị cho một nền gio lý lấy hứng từ Thnh Kinh v ti từng khuyến khch việc tham khảo cc hướng dẫn ny (258). Ở đy, ti muốn trước hết v trn hết nhấn mạnh rằng gio lý "phải được thấm nhuần no trạng (mindset), tinh thần v quan điểm của Thnh Kinh v Tin Mừng qua việc cần mẫn tiếp xc với chnh cc bản văn; thế nhưng điều ầy cũng c nghĩa phải nhớ rằng gio lý cng phong ph v c hiệu quả hơn nhờ đọc bản văn bằng tm tr của Gio Hội" (259), v bằng việc rt tỉa cảm hứng từ hai ngn năm suy niệm v sống thực của Gio Hội. Kiến thức về cc nhn vật, cc biến cố v cc cu ni của Thnh Kinh v thế nn được khuyến khch; việc ny cũng c thể được pht huy bằng cch học thuộc lng một cch sng suốt một số đoạn văn đặc biệt c tnh diễn cảm cc mầu nhiệm Kit Gio. Cc cng trnh gio lý lun bao hm việc tiếp cận Thnh Kinh trong đức tin v trong Truyền Thống của Gio Hội, để lời Thnh Kinh được nhận thức l sống động, giống như Cha Kit đang sống động ngy nay ở bất cư nơi no c hai hay ba người tụ họp v danh Người (Xem Mt 18:20). Gio lý phải sinh động thng truyền lịch sử cứu rỗi v nội dung đức tin của Gio Hội, v nhờ thế gip mọi thnh phần tn hữu nhận ra rằng lịch sử ấy cũng lả một phần cuộc sống của họ.

Ở đy, điều quan trọng l phải nhấn mạnh mối tương quan giữa Sch Thnh v Sch Gio Lý Của Gio Hội Cng Gio, như cuốn Chỉ Dẫn Gio Lý Tổng Qut đ ni r: "Thực vậy, Sch Thnh như 'lời Thin Cha được viết dưới sự linh hứng của Cha Thnh Thần', v Sch Gio Lý Của Gio Hội Cng Gio, như biểu thức quan trọng hiện thời của Truyền Thống Sống Động trong Gio Hội v l chuẩn mức chắc chắn cho việc giảng dạy đức tin, đều được ku gọi nui dưỡng gio lý trong Gio Hội ngy nay, theo cch ring v theo thẩm quyền chuyn biệt của chng" (260).

 

Việc huấn luyện cc Kit hữu về Thnh Kinh

75. Để thực hiện được mục tiu do Thượng Hội Đồng đưa ra, tức việc nhấn mạnh nhiều hơn tới Thnh Kinh trong sinh hoạt mục vụ của Gio Hội, mọi Kit hữu, nhất l cc gio lý vin, cần tiếp nhận được một sự huấn luyện thch đng. Như kinh nghiệm của Gio Hội đ chứng minh: phương tiện gi trị nhất để đạt được mục đch vừa rồi l cần phải ch trọng tới hnh thức tng đồ Thnh Kinh (biblical apostolate). Cc Nghị Phụ Thượng Hội Đồng cũng khuyến co rằng: nếu c thể, bằng cch sử dụng cc cơ cấu học thuật hiện c, nn thiết lập ra cc trung tm huấn luyện để huấn luyện gio dn v cc nh truyền gio gip họ hiểu, sống v cng bố lời Cha. Ngoi ra, nơi no c thể, nn thiết lập ra cc viện chuyn mn để nghin cứu Thnh Kinh gip cho cc nh ch giải nắm vững được một ci hiểu vững chắc về thần học v biết đnh gi chnh xc cc bối cảnh trong đ họ đang thi hnh sứ mệnh của mnh (261).

 

Sch Thnh trong cc cuộc tụ họp đng đảo của Gio Hội

76. Trong một loạt cc sng kiến c thể p dụng, Thượng Hội Đồng c gợi ý rằng trong cc cuộc tụ họp cấp gio phận, cấp quốc gia hay cấp quốc tế, cần phải nhấn mạnh nhiều hơn tới tầm quan trọng của lời Cha, tới việc chăm ch lắng nghe lời ấy, v tới việc đọc Thnh Kinh một cch đầy đức tin v cầu nguyện. Trong cc Đại Hội Thnh Thể, ở cấp quốc gia cũng như cấp quốc tế, trong cc Ngy Giới Trẻ Thế Giới v cc cuộc tụ họp khc, điều đng ca ngợi l dnh nhiều chỗ hơn để cử hnh lời Cha v nhiều thời khắc hơn để huấn luyện dựa vo Thnh Kinh (262).

 

Lời Cha v ơn gọi

77. Khi nhấn mạnh tới lời mời nội tại của đức tin hướng tới một mối tương quan mỗi ngy một su đậm hơn với Cha Kit, lời Thin Cha ở giữa chng ta, Thượng Hội Đồng cũng nhấn mạnh rằng lời ny đch thn mời gọi mỗi người chng ta, mạc khải cho ta thấy: chnh đời sống ta l một ơn gọi của Thin Cha. Ni cch khc, cng lớn ln trong mối tương quan bản thn với Cha Gisu, ta cng hiểu ra rằng Người đang ku gọi ta nn thnh trong v qua cc chọn lựa dứt khot m ta đ dng để đp lại tnh yu của Người trong đời ta, qua việc nhận lấy cc trch nhiệm v thừa tc vụ gp phần vo việc xy dựng Gio Hội. Đ l lý do tại sao Thượng Hội Đồng hay khuyến khch mọi Kit hữu lớn ln trong mối tương quan của họ với lời Cha, khng những chỉ v Php Rửa của họ m cn ph hợp với ơn gọi bước vo cc bậc sống khc nhau nữa. Ở đy, ta đụng tới một trong cc điểm then chốt trong gio huấn của Cng Đồng Vatican II, l điểm nhấn mạnh rằng mỗi thnh phần tn hữu đều được ku gọi nn thnh ty theo bậc sống của mnh (263). Ơn gọi nn thnh của ta được chnh Sch Thnh mạc khải: "Hy thnh thiện như Ta l Đấng thnh thiện" (Lv 11:44; 19:2; 20:7). Cn Thnh Phaol th nhấn mạnh tới căn bản Kit học của ơn gọi ny: trong Cha Kit, Cha Cha "đ chọn ta trước khi dựng nn thế giới, để ta trở nn thnh thiện v khng t vết trước mặt Người" (Eph 1:4). Lời cho m Thnh Phaol ngỏ với cc anh chị em của ngi tại cộng đon Rma c thể được coi như ngỏ với mỗi người chng ta: "Với mọi người Cha thương, những người vốn được gọi l thnh: ơn thnh v bnh an của Cha Cha v của Cha Gisu Kit ở cng anh chị em!" (Rm 1:7)

-----

[248] Proposition 9.

[249] Epistula 30, 7: CSEL 54, 246.

[250] ID., Epistula 133, 13: CSEL 56, 260.

[251] ID., Epistula 107, 9.12: CSEL 55, 300.302

[252] ID., Epistula 52, 7: CSEL 54, 426.

[253] JEAN-PAUL II, Lett. Novo millennio ineunte (6 janvier 2001), n. 31: AAS 83 (2001), pp. 287-288.

[254] Proposition 30; cf. CONC. CUM. VAT. II, Const. dogm. Sur la Rvlation divine Dei Verbum, n. 24.

[255] SAINT JRME, Commentariorum. in Isaiam libri, Prol; PL 24, 17B.

[256] Proposition 21.

[257] Cf. Proposition 23.

[258] Cf. CONGRGATION POUR LE CLERG, Directoire gnral pour la catchse (15 aot 1997), n. 94; JEAN-PAUL II, Exhort. apost. Catechesi tradendae (16 octobre 1979), n. 27: AAS 71 (1979), p. 1298.

[259] Ibidem, n. 127; cf. JEAN-PAUL II, Exhort. apost. Catechesi tradendae (16 octobre 1979), n. 27: AAS 71 (1979), p. 1299.

[260] 260 Ibidem, n. 128: Ench. Vat. 16, n. 936.

[261] Cf. Proposition 33.

[262] Cf. Proposition 45.

[263] Cf. CONC. CUM. VAT. II, Const. dogm. sur l'glise Lumen gentium, chap. 5.

 

 

a) Cc thừa tc vin được thụ phong v lời Cha

78. Trước nhất, ti muốn ni với cc thừa tc vin được thụ phong của Gio Hội, để nhắc nhở họ lời tuyn bố của Thượng Hội Đồng rằng: "lời Cha l điều khng thể miễn chước trong việc đo luyện tm hồn một mục tử tốt v l thừa tc vin của lời Cha" (264). Cc gim mục, linh mục v ph tế kh c thể nghĩ rằng họ c thể sống thực ơn ku gọi v sứ vụ của mnh m khng cần một cam kết dứt khot v đổi mới đối với việc nn thnh, m một trong cc trụ cột của n l việc tiếp xc với lời Cha.

79. Đối với những vị được ku gọi vo hng gim mục, những vị vốn l sứ giả c thẩm quyền hơn hết của lời Cha, ti muốn nhắc lại lời Đức Gio Hong Gioan Phaol II viết trong Tng Huấn Hậu Thượng Hội Đồng Pastores Gregis của ngi. Đối với việc nui dưỡng v tiến triển của đời sống thing ling, cc gim mục phải lun đặt "ln hng đầu việc đọc v suy niệm lời Cha. Mọi gim mục phải ph thc v cảm thấy mnh được ph thc cho 'Thin Cha v cho lời n sủng của Người, l lời c tnh xy dựng v ban cho anh em được hưởng phần gia ti cng với tất cả những người đ được thnh hiến' (Cv 20:32). Trước khi trở nn người chuyển giao lời Cha, gim mục phải cng với cc linh mục của mnh, v quả cũng như mọi thnh phần tn hữu v như chnh Gio Hội, trở thnh người lắng nghe lời Cha. Ngi phải cư ngụ 'bn trong' lời Cha v tự để mnh được lời Cha che chở v nui dưỡng như thể bởi lng mẹ vậy" (265). Với mọi anh em gim mục của ti, ti xin khuyn anh em nn đch thn năng đọc v nghin cứu Sch Thnh, theo gương Đức Maria, Virgo Audiens (Nữ Trinh lắng nghe) v l Nữ Vương Cc Tng Đồ.

80. Với cc linh mục nữa, ti xin nhắc lại lời của Đức Gio Hong Gioan Phaol II, trong Tng Huấn Hậu Thượng Hội Đồng Pastores Dabo Vobis, từng tuyn bố rằng "Linh mục trước hết l thừa tc vin của lời Cha, được thnh hiến v sai đi để loan bo Tin Mừng Nước Trời cho mọi người, ku gọi mọi người vng theo đức tin v dẫn dắt tn hữu tới việc hiểu biết v tham dự mỗi ngy một hơn vo sự thng hiệp mầu nhiệm Thin Cha, như đ được mạc khải v thng truyền cho ta nơi Cha Kit. V lý do đ, linh mục phải trước nhất khai triển một sự thn quen cao độ với lời Cha. C kiến thức về cc kha cạnh ngữ học v ch giải của Thnh Kinh chưa đủ, d cần thiết. Linh mục cn cần tiếp cận lời Cha với một tm hồn ngoan ngon v năng cầu nguyện, để lời ấy vo su trong tư tưởng, trong xc cảm của ngi v tạo ra một ci nhn mới ở trong ngi, tức "tm tr Cha Kit" (1 Cor 2:16)" (266). Thnh thử, lời của linh mục, cc quyết định v tc phong của ngi phải cng ngy cng trở nn một phản ảnh, một cng bố v một nhn chứng của Tin Mừng; "Chỉ khi no ngi 'cư ngụ'trong lời Cha, linh mục mới trở nn mn đệ hon hảo của Cha. Chỉ lc đ, ngi mới biết chn lý v thực sự tự do" (267).

Tm lại, ơn gọi linh mục đi ta phải được thnh hiến "trong chn lý". Cha Gisu tuyn bố r điều đ về cc mn đệ của Người: "Xin Cha thnh ha chng trong chn lý; lời Cha l chn lý. Như Cha đ sai con đến thế gian, con cũng sai chng vo thế gian như vậy" (Ga 17:17-18). Theo một nghĩa, mn đệ "được ko vo vng thn mật với Thin Cha nhờ biết dm mnh trong lời của Người. C thể ni được rằng lời Thin Cha l bể tắm thanh tẩy, l sức mạnh sng tạo thay đổi cc mn đệ v lm họ thuộc về Thin Cha" (268). V v Cha Kit l chnh Lời Thin Cha đ thnh xc phm (Ga 1:14), l "Chn Lý" (Ga 14:6), nn lời cầu nguyện m Cha Gisu dng ln Cha Cha, "Xin Cha thnh ha chng trong chn lý", c một ý nghĩa hết sức su xa: "Xin Cha biến chng nn một với Con, Đấng Kit. Xin Cha cột chng chặt lại với Con. Xin Cha ko chng vo trong Con. V chỉ c một linh mục trong Giao Ước Mới, l chnh Cha Gisu Kit" (269). Cc linh mục v thế cần lớn mạnh khng ngừng trong ý thức của mnh về thực tại ny.

81. Ti cũng muốn đề cập tới vị tr của lời Cha trong đời sống những người được ku gọi vo hng ph tế, khng những như bước cuối cng tiến tới chức linh mục, nhưng cả như một phục vụ vĩnh viễn. Cuốn Chỉ Dẫn Đối Với Hng Ph Tế Vĩnh Viễn c tuyn bố rằng "căn tnh thần học của ph tế r rng cung cấp cho ta nhiều nt trong nền linh đạo chuyn biệt ny, một nền linh đạo được chủ yếu trnh by như nền linh đạo phục vụ. Mẫu mực tuyệt hảo chnh l Cha Kit như một người ti tớ, sống hon ton để phục vụ Thin Cha, v lợi ch của nhn loại" (270). Theo viễn tượng ny, người ta thấy, trong cc chiều kch khc nhau của thừa tc vụ ph tế, "yếu tố ring trong linh đạo ph tế chnh l lời Cha, lời m ph tế được ku gọi lm người giảng giải c thẩm quyền, tin điều ng giảng, dạy điều ng tin, v sống điều ng dạy" (271). Do đ, ti khuyn cc ph tế nui dưỡng đời sống mnh bằng việc đọc Sch Thnh một cch đầy lng tin, đi đi với nghin cứu v cầu nguyện. Họ nn được dẫn khởi vo "Sch Thnh v việc giải thch đng đắn về n; vo mối tương quan giữa Thnh Kinh v Thnh Truyền; cch ring vo việc sử dụng Sch Thnh trong việc giảng giải, trong việc gio lý v trong sinh hoạt mục vụ ni chung" (272).

 

b) Lời Cha v cc ứng vin chịu chức thnh

82. Thượng Hội Đồng gn một tầm quan trọng đặc biệt cho vai tr quyết định m lời Cha phải c trong đời sống thing ling của cc ứng vin lnh nhận thừa tc vụ linh mục: "Cc ứng vin chịu chức linh mục phải học biết yu mến lời Cha. Sch Thnh, do đ, phải l linh hồn của việc đo luyện thần học, v phải nhấn mạnh tới tc động qua lại khng thể miễn chước giữa ch giải, thần học, linh đạo v sứ vụ" (273). Những ai đang mong mỏi lnh thừa tc vụ linh mục đều được mời gọi bước vo mối lin hệ c tnh bản thn su sắc đối với lời Cha, nhất l trong việc đọc lời Cha (lectio divina), để mối lin hệ ny, ngược lại, sẽ nui dưỡng ơn gọi của họ: Chnh trong nh sng v sức mạnh của lời Cha m ơn gọi chuyn biệt của ta được biện phn v trn qu, yu mến v bước theo, m sứ vụ ring của ta được thực thi, qua việc nui dưỡng tm hồn ta bằng tư tưởng của Cha, ng hầu đức tin, như lời đp trả của ta đối với lời Cha, trở nn tiu chuẩn mới để phn đon v đnh gi con người cũng như sự vật, biến cố cũng như vấn đề (274).

Một lưu tm như thế đối với việc đọc Thnh Kinh một cch đầy cầu nguyện, bất cứ cch no, cũng khng được dẫn tới một lưỡng phn đối với việc học tập ch giải vốn l một phần trong diễn trnh đo luyện. Thượng Hội Đồng khuyn nn gip cc chủng sinh để họ nhn thấy mối tương quan giữa việc học hỏi về Thnh Kinh v việc cầu nguyện bằng Thnh Kinh. Học hỏi về Thnh Kinh phải dẫn tới một ý thức lớn hơn về mầu nhiệm mạc khải thnh v pht huy một thi độ đp trả trong cầu nguyện với Cha l Đấng đang ni với ta. Ngược lại, một đời sống cầu nguyện chn chnh nhất định sẽ nui dưỡng trong tm hồn cc ứng vin một niềm kht khao biết Cha nhiều hơn, Đấng đ dng lời của Người m tự mạc khải như tnh yu v hạn. Do đ, phải thận trọng hết sức để bảo đảm rằng cc chủng sinh lun lun vun sới tnh hỗ tương ấy giữa việc học hỏi v việc cầu nguyện trong đời sống họ. Để đạt được mục tiu ny, cần phải dẫn nhập cc ứng vin vo việc học hỏi Sch Thnh bằng cc phương php thin về phương thức tổng hợp ny.

 

c) Lời Cha v đời sống tận hiến

83. Đối với đời sống tận hiến, trước nhất Thượng Hội Đồng nhắc nhở rằng đời sống ấy "pht sinh từ việc nghe lời Cha v chấp nhận Tin Mừng lm qui luật sống" (275). Một đời sống tận hiến cho việc bước theo Cha Kit trong đức thanh tịnh, kh ngho v vng lời, do đ, trở thnh "một cuộc ch giải lời Cha cch sống động" (276). Cha Thnh Thần, m trong Người Sch Thnh đ được viết ra, cũng l một Cha Thnh Thần đ soi sng "lời Cha bằng một nh sng mới cho cc vị sng lập nam nữ. Mọi đặc sủng v mọi qui luật đều nẩy sinh từ n v tm cch diễn tả n" (277), do đ, đ mở ra những nẻo đường mới cho lối sống Kit gio đnh dấu bằng tnh triệt để của Tin Mừng.

Ở đy, ti muốn nhắc tới điều ny l truyền thống vĩ đại của đan viện lun coi việc suy niệm lời Cha l một phần chủ yếu trong linh đạo chuyn biệt của mnh, nhất l dưới hnh thức đọc lời Cha (lectio divina). Hiện nay cũng thế, cả biểu thức cũ lẫn biểu thức mới của việc tận hiến chuyn biệt đều được ku gọi trở thnh trường dạy cch sống ling thing chn chnh, nơi Sch Thnh được đọc theo Cha Thnh Thần trong lng Gio Hội, v lợi ch của ton thể Dn Cha. Do đ, Thượng Hội Đồng khuyn cc cộng đồng sống đời tận hiến lun dự tr việc giảng dạy vững chắc về cch đọc Sch Thnh trong đức tin (278).

Một lần nữa, ti muốn nhắc lại sự n cần v lng biết ơn m Thượng Hội Đồng đ pht biểu đối với cc hnh thức sống chim niệm m đặc sủng chuyn biệt l dnh phần lớn ngy sống cho việc bắt chước Mẹ Thin Cha, Đấng đ chuyn chăm suy gẫm lời ni v việc lm của Con mnh (xem Lc 2:19, 51) v Maria lng Btania, người đ ngồi dưới chn Cha v chăm ch lắng nghe lời Người (xem Lc 10:38). Ti nghĩ cch ring tới cc đan sĩ v nữ tu dng kn, những người nhờ cch biệt với thế gian đ được kết hợp mật thiết hơn với Cha Kit, tri tim của thế giới. Hơn bao giờ hết, Gio Hội cần nhiều chứng nhn nam nữ quyết tm "khng đặt điều g trước tnh yu Cha Kit" (279). Thế giới ngy nay thường qu ngụp lặn trong cc sinh hoạt bn ngoi đến liều mnh mất hết hướng đi. Cc tu sĩ chim niệm nam nữ, qua đời sống cầu nguyện, chăm ch lắng nghe v suy niệm lời Cha của mnh, nhắc nhở ta rằng con người khng chỉ sống nguyn bởi cơm bnh m cn bằng mọi lời từ miệng Thin Cha phn ra" (xem Mt 4:4). Như thế, mọi tn hữu nn ý thức cch r rng rằng hnh thức sống ny "cho thế giới ngy nay thấy r điều g l điều quan trọng nhất, đng ra, l điều duy nhất cần thiết: chỉ c một lý do tối hậu lm cho đời sống đng sống, đ l Thin Cha v tnh yu khn lường của Người" (280).

 

d) Lời Cha v người gio dn

84. Thượng Hội Đồng hay ni tới gio dn v cm ơn họ về hoạt động quảng đại của họ trong việc loan truyền Tin Mừng trong nhiều khung cảnh của cuộc sống hng ngy, tại nơi lm việc v tại học đường, trong gia đnh v trong mi trường gio dục (281). Vốn bắt nguồn từ Php Rửa, trch nhiệm ny cần được khai triển qua lối sống Kit Gio mỗi ngy một ý thức hơn, một lối sống c khả năng "giải thch được lý do của niềm hy vọng" trong ta (xem 1Pr 3:15). Trong Tin Mừng Thnh Mtthu, Cha Gisu chỉ r rằng "cnh đồng l thế giới, cn hạt giống tốt l con ci Nước Trời" (13:38). Những lời ny p dụng một cch đặc biệt cho hng ngũ gio dn Kit Gio, những người sống thực ơn gọi chuyn biệt nn thnh của họ bằng một cuộc sống trong Cha Thnh Thần, được pht biểu "cch đặc biệt qua việc họ dấn thn vo việc thế sự v tham gia cc sinh hoạt trần thế" (282). Cần phải huấn luyện để người gio dn biện phn được ý Cha qua việc lm quen với lời của Người, được đọc v học tập trong Gio Hội dưới sự hướng dẫn của cc mục tử hợp php của Gio Hội. Họ c thể nhận được sự huấn luyện ny trong cc trường linh đạo lớn của Gio Hội, tất cả cc trường ny đều đặt cơ sở trn Sch Thnh. Bất cứ ở đu c thể, cc gio phận cũng nn tạo cơ hội để lin tục huấn luyện cc gio dn đang được trao ph cc trch nhiệm chuyn biệt trong Gio Hội (283).

-----

[264] Proposition 31.

[265] N. 15: AAS 96 (2004), pp. 846-847.

[266] N. 26: AAS 84 (1992), p. 698.

[267] Ibidem.

[268] BENOT XVI, Homlie, Messe chrismale 2009; L'ORf, 14 avril 2009, p. 4.

[269] Ibidem.

[270] CONGRGATION POUR L'DUCATION CATHOLIQUE, Normes fondamentales pour la formation des diacres permanents (22 fvrier 1998), n. 11; Ench. Vat. 17, n. 174-175; La DC, n.2181, p.411.

[271] Ibidem, n. 74: Ench. Vat. 17, n. 263; La DC n. 2181, p. 420.

[272] Cf. ibidem, n. 81.a: Ench. Vat. 17, n. 271: La DC, ibid., p. 421.

[273] Proposition 32.

[274] JEAN-PAUL II, Exhort. apost. post-synodale Pastores dabo vobis (25 mars 1992), n. 47: AAS 84 (1992), p. 740-742.

[275] Proposition 24.

[276] BENOT XVI, Discours pour la XI e Journe mondiale de la Vie consacre, 2 fvrier 2008: AAS 100 (2008) p. 133, L'ORf, 12 fvrier 2008, p. 7; cf. JEAN-PAUL II, Exhort. apost. postsynodale Vita consecrata (25 mars 1996), n. 82: AAS 88 (1996), pp. 458-460.

[277] 277 CONGRGATION POUR LES INSTITUTS DE VIE CONSACRE ET LES SOCITS DE VIE APOSTOLIQUE, Instruction Repartir du Christ: un engagement renouvel de la Vie consacre au troisime millnaire (19 mai 2002), n. 24.

[278] Cf. Proposition 24.

[279] SAINT BENOT, Rgle, IV, 21: SC 181, p. 456-458.

[280] BENOT XVI, Discours aux moines dans l'abbaye de Heiligenkreuz (9 septembre 2007), L'ORf, 18 septembre 2007, p. 14.

[281] Cf. Proposition 30.

[282] JEAN-PAUL II, Exhort. apost. post-synodale Christideles laici (30 dcembre 1988), n. 17: AAS 81 (1989), p. 418.

[283] Cf. Proposition 33.

 

 

e) Lời Cha, hn nhn v gia đnh

85. Thượng Hội Đồng cũng cảm thấy cần phải nhấn mạnh mối tương quan giữa lời Cha, hn nhn v gia đnh Kit hữu. Thực thế, "với việc cng bố lời Cha, Gio Hội cho gia đnh Kit hữu thấy căn tnh đch thực của n, n l g v n phải l g để ph hợp với kế hoạch của Cha (284). Thnh thử, khng bao giờ qun rằng lời Cha nằm ở chnh nguồn gốc của hn nhn (xem St 2:24) v chnh Cha Gisu đ biến hn nhn thnh một trong cc định chế của Vương Quốc Người (xem Mt 19:4-8), nng ln hng b tch một điều vốn được khắc ghi trong bản chất con người ngay từ thuở ban đầu. "Khi cử hnh b tch, người đn ng v người đn b ni ln lời tự hiến cho nhau đầy tnh tin tri, tức lời nn 'một thn xc', vốn l dấu chỉ mầu nhiệm kết hợp của Cha Kit với Gio Hội (xem Eph 5:31-32)" (285). Lng trung thnh với lời Cha khiến chng ta quả quyết rằng ngy nay, định chế ny đang bị no trạng hiện đại tấn cng nhiều cch. Đứng trước sự mơ hồ lẫn lộn kh phổ qut ngy nay trong lnh vực cảm giới, v việc xuất hiện lối suy nghĩ nhằm tầm thường ha thn xc con người v sự dị biệt giới tnh, lời Cha ti khẳng định sự tốt lnh nguyn thủy của con người, được dựng nn c nam c nữ v được mời gọi bước vo một tnh yu trung thnh, hỗ tương v sinh nhiều hoa tri.

Mầu nhiệm hn nhn vĩ đại chnh l nguồn suối sinh ra trch nhiệm chủ yếu m cha mẹ phải c đối với con ci. Một phần của vai tr lm cha mẹ cch chn chnh l chuyển giao v lm chứng cho ý nghĩa sống trong Cha Kit: qua lng trung thnh của mnh v sự hợp nhất của cuộc sống gia đnh, vợ chồng l những người đầu hết cng bố lời Cha cho con ci. Cộng đồng Gio Hội phải nng đỡ v trợ gip họ trong việc cổ vũ cầu nguyện trong gia đnh, chăm ch nghe lời Cha v học biết Thnh Kinh. Để đạt được mục tiu ny, Thượng Hội Đồng thc giục mọi gia hộ nn c một cuốn Sch Thnh, đặt tại một nơi xứng đng v dng để đọc v cầu nguyện. Bất cứ sự trợ gip no cần tới trong phạm vi ny đều c thể được cc linh mục, ph tế v cc gio dn c huấn luyện đng hong cung cấp. Thượng Hội Đồng cũng khuyến co việc thnh lập cc cộng đon gia đnh nho nhỏ lm nơi vun sới việc cầu nguyện chung v suy niệm cc đoạn Thnh Kinh (286). Cc cặp vợ chồng cũng nn nhớ điều ny: "lời Cha l một nng đỡ qu gi giữa cc gian nan thử thch xẩy ra trong cuộc sống hn nhn v cuộc sống gia đnh" (287).

Ở đy, ti muốn lm nổi bật cc khuyến co của Thượng Hội Đồng lin quan tới vai tr của phụ nữ đối với lời Cha. Ngy nay, hơn hẳn qu khứ, "thin ti nữ giới" (288), ni theo kiểu ni của Đức Gio Hong Gioan Phaol II, đ v đang đng gp lớn lao vo việc hiểu Thnh Kinh v vo ton bộ đời sống Gio Hội, v đy cũng l trường hợp đang xẩy ra cho lnh vực nghin cứu Sch Thnh. Thượng Hội Đồng lưu ý đặc biệt tới vai tr khng thể thiếu của phụ nữ trong gia đnh, trong gio dục, trong gio lý v thng truyền cc gi trị. "Họ c một năng khiếu dẫn dắt người ta nghe lời Cha, vui hưởng mối lin hệ bản thn với Thin Cha, v cho thấy ý nghĩa tha thứ v chia sẻ theo tinh thần Tin Mừng" (289). Họ cũng l cc sứ giả của yu thương, khun mẫu lng từ nhn v l những người kiến tạo ha bnh; họ thng truyền cho ta sự ấm p v tnh nhn đạo trong một thế giới thường hay qu phn đon người ta theo cc tiu chuẩn tn bạo của bc lột v lợi nhuận.

 

Việc đọc Sch Thnh một cch như cầu nguyện v lối đọc "Lectio Divina"

86. Thượng Hội Đồng thường hay nhấn mạnh tới việc cần phải c một cch tiếp cận như cầu nguyện đối với bản văn thnh, coi việc ny như yếu tố căn bản cho đời sống thing ling của mọi tn hữu, c mặt trong cc thừa tc vụ v bậc sống khc nhau, với sự đặc biệt nhắc tới lối đọc "lectio divina" (290). Lời Cha nằm ở nền tảng mọi nền linh đạo Kit Gio đng nghĩa. Cc Nghị Phụ Thượng Hội Đồng do đ đ tiếp nhận cc lời sau đy của Hiến Chế Tn Lý "Lời Cha": "Hy để người tn hữu hn hoan đi tới với chnh bản văn thnh, bất kể trong phụng vụ thnh, l phụng vụ đầy lời Cha, hay khi đọc sch thing ling hoặc khi lm những thao tc thch đng v những hnh thức trợ gip khc, những trợ gip hiện đang hết sức phổ qut khắp nơi trong thời đại ta, với sự chuẩn y v hướng dẫn của cc mục tử Gio Hội. Tuy nhin, họ hy nhớ rằng việc cầu nguyện lun nn đi đi với việc đọc Sch Thnh" (291). Cng Đồng, do đ, đ tm cch biến thnh của mnh truyền thống gio phụ cao cả lun khuyến khch người ta tiếp cận Sch Thnh trong đối thoại với Thin Cha. Như Thnh Augustin, chẳng hạn, quen ni rằng: "Lời cầu nguyện của anh chị em chnh l lời anh chị em ni với Cha. Khi anh chị em đọc Sch Thnh, Cha ni với anh chị em; khi anh chị em cầu nguyện, anh chị em ni với Cha" (292). Origen, một trong cc bậc thầy vĩ đại của lối đọc sch thnh ny, chủ trương rằng muốn hiểu Thnh Kinh, hơn nữa muốn nghin cứu n, người ta cần phải gần gũi với Cha Kit v cầu nguyện. Thực thế, Origen xc tn rằng cch tốt nhất để biết Cha Kit l bằng tnh yu, v sẽ khng thể c scientia Christi (khoa học về Cha Kit) chn chnh nếu khng tăng trưởng trong tnh yu của Người. Trong Thư Gửi Grgri của ng, nh thần học trứ danh của thnh Alexandria ny đưa ra lời khuyn sau: "Con hy chăm chỉ đọc Sch Thnh; hy kin tr lm việc đ. Hy thực hiện việc đọc của con với ý hướng tin v lm vui lng Cha. Nếu trong lc đọc, m thấy c cnh cửa đng, th con hy g v cửa ấy sẽ mở cho con nhờ người canh cửa m chnh Cha Gisu từng ni về: 'người canh cổng sẽ mở cổng cho ng ta'. Khi chăm chỉ đọc sch thnh (lectio divina) kiểu ny, con hy sing năng v với niềm tn thc khng lay chuyển vo Cha cố tm hiểu ý nghĩa Sch Thnh, m ý nghĩa trọn vẹn phần lớn kh b ẩn. Tuy nhin, con khng nn hi lng với việc g cửa v tm kiếm: muốn hiểu sự việc của Cha, điều tuyệt đối cần l oratio (cầu nguyện). Chnh v thế, Cha Cứu Thế đ ni với chng ta đừng chỉ 'tm th cc con sẽ thấy' v 'hy g th cửa sẽ mở cho cc con' nhưng cn phải 'xin th cc con sẽ nhận được'" (293).

Tuy nhin, về phương diện ny, ta phải trnh nguy cơ của phương thức chủ nghĩa c nhn, v phải nhớ rằng lời Cha đ được ban cho ta chnh l để xy dựng hiệp thng, để kết hợp ta trong Chn Lý theo nẻo đường của Cha. D đy l lời ni đch danh với mỗi người trong chng ta, song n cũng l lời để xy dựng cộng đon, để xy dựng Gio Hội. Cho nn, bản văn thnh phải được lun lun tiếp cận trong hiệp thng Gio Hội. Thực thế, "một lối đọc Sch Thnh c tnh cộng đon l điều cực kỳ quan trọng, v chủ thể sống động trong Sch Thnh l Dn Cha, l Gio Hội... Sch Thnh khng thuộc qu khứ, v chủ thể của n, tức Dn Cha m chnh Người linh hứng, lun l một v do đ lời Cha cũng lun sinh động nơi chủ thể sống động. Như thế, điều quan trọng l phải đọc v cảm nghiệm Sch Thnh trong hiệp thng với Gio Hội, nghĩa l, với mọi chứng nhn vĩ đại của lời ny, bắt đầu với cc Cha ng đầu hết cho tới cc vị thnh của thời ta, cho tới huấn quyền hiện nay" (294).

V lý do đ, nơi ưu tuyển để đọc Sch Thnh theo lối cầu nguyện l phụng vụ, nhất l phụng vụ Thnh Thể, trong đ, khi ta cử hnh Mnh cng Mu Cha Kit trong b tch, chnh lời Cha hiện diện v hnh động giữa chng ta. Theo một nghĩa, cch đọc sch thnh theo lối cầu nguyện, cả c nhn lẫn cộng đon, phải lun lun c lin hệ tới việc cử hnh Thnh Thể. Việc thờ lạy Thnh Thể chuẩn bị cho, đi đi với v theo sau phụng vụ Thnh Thể thế no (295), th việc đọc Sch Thnh theo lối cầu nguyện, cả c nhn lẫn cộng đon, cũng chuẩn bị cho, đi đi với v thm hậu ha điều Gio Hội cử hnh khi Gio Hội cng bố lời Cha trong khung cảnh phụng vụ như vậy. Nhờ lin hệ lối đọc "lectio divina" với phụng vụ một cch gần gũi như thế, ta c thể nắm vững cc tiu chuẩn hướng dẫn việc thực hnh ny trong lnh vực chăm sc mục vụ v trong đời sống thing ling của Dn Cha.

87. Cc ti liệu đưa ra trước v trong Thượng Hội Đồng c nhắc tới một số phương php tiếp cận Sch Thnh một cch đầy đức tin v nhiều hoa tri. Tuy thế, lưu ý hơn cả vẫn dnh cho lối đọc "lectio divina", l lối đọc thực sự "c khả năng mở toang cc kho tng lời Cha cho tn hữu, nhưng cũng pht sinh ra cuộc gặp gỡ với Cha Kit, lời hằng sống của Thin Cha" (296). Ở đy, ti muốn duyệt lại những bước căn bản của thủ tục ny. N khởi đầu bằng việc đọc (lectio) một bản văn, việc ny dẫn ta tới ước muốn được hiểu nội dung của n: tự n, bản văn Sch Thnh muốn ni g? Khng đặt cu hỏi ny, người ta lun gặp nguy cơ biến bản văn thnh ci cớ để khng chịu đi qu chnh cc ý tưởng của mnh. Sau đ, l suy niệm (meditatio), tức đặt cu hỏi: bản văn Sch Thnh muốn ni g với chng ta? Ở đy, mỗi người, trong tư cch c nhn cũng như trong tư cch thnh vin của một cộng đon, phải để cho mnh được đnh động v thch thức. Sau phần ny tới phần cầu nguyện (oratio) tức phần đặt cu hỏi: Ta phải ni g với Cha để đp lại lời Người? Cầu nguyện, hoặc cầu xin, hay cầu bầu, hoặc tạ ơn v ngượi khen, l phương cch hng đầu nhờ đ lời Cha biến đổi ta. Cuối cng, lối đọc "lectio divina" kết thc bằng sự chim niệm (contemplatio), một giai đoạn trong đ, ta tiếp nhận như một hồng n lối nhn v phn đon thực tại của Người, v tự vấn xem Cha đang yu cầu ta phải hồi tm, hồi tr, thay đổi đời sống ra sao? Trong Thư gửi tn hữu Rma, Thnh Phaol dạy ta: "Anh em đừng đồng hnh đồng dạng với thế gian, nhưng hy biến đổi bằng một cuộc canh tn tm tr để anh em c thể chứng tỏ được đu l ý Cha, đu l điều tốt, điều chấp nhận được v l điều hon hảo" (12:2). Chim niệm nhằm mục tiu tạo ra trong ta một lối nhn thực tại thực sự khn ngoan v biết biện phn, như Thin Cha nhn n, v khun đc trong ta "tm tr của Cha Kit" (1 Cor 2:16). Ở đy, lời Cha xuất hiện như một tiu chuẩn để biện phn: n "sống động v linh hoạt, sắc hơn kiếm hai lưỡi, xuyn thấu chỗ phn chia linh hồn v thần tr, xương v tủy, v biện phn được ý nghĩ v ý hướng của tri tim" (Dt 4:12). Ta cũng nn hết sức cố gắng nhớ rằng diễn trnh trong lối đọc "lectio divina" khng kết thc trước khi n hnh động (actio), tức việc n thc đẩy tn hữu hiến đời mnh cho người khc trong tnh bc i. Ta tm được một tổng hợp v thnh ton tuyệt diệu cho diễn trnh ny nơi Mẹ Thin Cha. Đối với mọi thnh phần tn hữu, Đức Maria l khun mẫu của việc ngoan ngon chấp nhận lời Thin Cha, v ngi "giữ mọi điều ấy, suy đi nghĩ lại trong tm hồn" (Lc 2:19; xem 2:51); trong kế hoạch của Thin Cha, ngi tm thấy mối lin kết su xa hợp nhất mọi biến cố, mọi hnh động v sự vật tưởng như rời rạc (297).

Ti cũng muốn nhắc lại điều Thượng Hội Đồng đề nghị về sự quan trọng của việc đch thn đọc Sch Thnh, cũng l một thực hnh cho php ta được hưởng ơn ton x hoặc cho ta hoặc cho cc linh hồn đ qua đời, theo cc điều kiện thường lệ của Gio Hội (298). Tập tục ơn ton x (299) c ý ni tới tn lý cng nghiệp bất tận của Cha Kit, m Gio Hội, trong tư cch thừa tc vin của ơn chuộc tội, được quyền ban pht v p dụng. Nhưng n cũng c ý ni tới việc hiệp thng cc thnh v dạy ta rằng "Ở bất cứ mức độ ta kết hợp với Cha Kit thế no, ta cũng kết hợp với nhau như thế, v sự sống thing ling của mỗi người c thể c ch cho người khc" (300). Theo ci nhn ny, việc đọc lời Cha nng đỡ ta trn hnh trnh thống hối v trở về, gip ta thm hậu ha cảm thức thuộc về Gio Hội, v gip ta lớn ln trong sự thn quen với lời Cha. Như Thnh Ambrsi từng ni: "khi ta tiếp nhận Sch Thnh trong đức tin v đọc n với Gio Hội, ta bước đi một lần nữa với Cha trong Địa Đng" (301).

 

Lời Cha v việc cầu nguyện với Đức Mẹ

88. Lưu tm tới mối lin kết khng thể no phn ly giữa lời Cha v Đức Maria Thnh Nadart, cng với cc Nghị Phụ Thượng Hội Đồng, ti khẩn khoản yu cầu để việc cầu nguyện với Đức Mẹ được khuyến khch nơi tn hữu, nhất l trong đời sống gia đnh, v đy l một trợ gip để ta suy niệm cc mầu nhiệm thnh trong Sch Thnh. Th dụ, trợ gip hữu ch nhất chnh l việc đọc ring hay đọc chung Kinh Mn Ci (302) l kinh suy đi nghĩ lại cc mầu nhiệm trong cuộc đời Cha Kit trong sự kết hợp với Đức Mẹ (303), v l kinh Đức Gio Hong Gioan Phaol II muốn lm phong ph thm bằng cc mầu nhiệm sự sng (304). Điều thch hợp l khi tuyn đọc từng mầu nhiệm, ta nn km theo một đoạn Sch Thnh ngắn lin quan tới mầu nhiệm ấy, để khuyến khch việc học thuộc lng cc đoạn Sch Thnh ngắn c lin quan tới cc mầu nhiệm về cuộc đời Cha Kit.

Thượng Hội Đồng cũng khuyến co rằng tn hữu nn được khuyến khch đọc kinh Truyền Tin. Kinh ny, vừa đơn giản vừa su sắc, gip ta "hng ngy tưởng niệm mầu nhiệm Ngi Lời Nhập Thể" (305). Việc Dn Cha, cc gia đnh cũng như cc cộng đon sống tận hiến, trung thnh với kinh knh Đức Mẹ m theo truyền thống được đọc vo lc mặt trời mọc, vo giữa ngọ v vo lc mặt tời lặn ny chỉ c thể l một việc lm đng. V trong kinh Truyền Tin, ta xin Cha ban cho ta, qua lời cầu bầu của Đức Mẹ, được bắt chước ngi trong việc thực thi ý Cha v biết nghinh đn lời của Người vo cuộc sống ta. Thực hnh ny c thể gip ta tăng trưởng lng yu mến chn chnh đối với mầu nhiệm nhập thể.

Cc kinh cầu nguyện thời xưa của Phương Đng Kit Gio nhằm chim niệm ton bộ lịch sử cứu rỗi dưới nh sng Theotokos, Mẹ Thin Cha, cũng đng được biết, được đnh gi v sử dụng. Ở đy, ta cần nhắc tới cc kinh Akathist v Paraklesis. Cc thnh ca ngượi khen ny, được ht dưới hnh thức kinh cầu (litanies) v thấm đượm đức tin của Gio Hội v đầy qui chiếu vo Thnh Kinh, sẽ gip tn hữu suy niệm cc mầu nhiệm của Cha Gisu trong kết hợp với Đức Mẹ. Cch ring, ca khc Akathist (gọi thế v khi ht, người ta đứng) dng ln Mẹ Thin Cha, l ca khc đại biểu cho một trong những biểu thức cao đẹp nhất của lng sng knh Đức Mẹ trong truyền thống Byzantine (306). Cầu nguyện bằng những lời ny mở rộng tm hồn ta v qui hướng n về một sự bnh an từ trn cao, từ Thin Cha, một sự bnh an l chnh Cha Kit, Đấng đ từ Đức Mẹ sinh ra để cứu chuộc chng ta.

 

Lời Cha v Đất Thnh

89. Sau khi nhớ tới Lời Thin Cha đ thnh xc phm trong lng Đức Maria Thnh Nadart, giờ đy tri tim ta hướng về mảnh đất nơi mầu nhiệm cứu chuộc chng ta đ được hnh thnh, v từ đ lời Thin Cha đ lan truyền cho đến tận cng thế giới. Nhờ quyền lực của Cha Thnh Thần, Ngi Lời đ trở nn xc phm ở một thời điểm v một nơi chốn đặc th, tại một giải đất bn bờ Đế Quốc Rma. Cng biết đnh gi tnh đại đồng v tnh độc đo của con người Cha Kit, ta cng biết ơn nhn về mảnh đất nơi Cha Gisu đ sinh ra, đ sống v đ hiến mạng sống cho ta. Những vin đ Cha Cứu Chuộc ta đ dẵm ln vẫn cn mang đầy kỷ niệm của Người v tiếp tục "h to ln" Tin Mừng của Người. V lý do đ, cc Nghị Phụ Thượng Hội Đồng nhắc lại thuật ngữ hết sức thch hợp gọi Đất Thnh l "Tin Mừng Thứ Năm" (307). Thực quan trọng biết bao việc phải c cc cộng đon Kit hữu tại những nơi đ, bất chấp nhiều kh khăn hiện nay! Thượng Hội Đồng by tỏ sự gần gũi su xa của mnh với mọi Kit hữu đang cư ngụ trn lnh thổ của Cha Gisu v đang lm chứng cho niềm tin của họ vo Cha Phục Sinh. Cc Kit hữu tại đ đang được ku gọi phục vụ khng những như "ngọn hải đăng của đức tin đối với Gioo Hội hon vũ, m cn như chất men ho hợp, khn ngoan, v qun bnh trong đời sống của một x hội theo truyền thống v hiện vẫn cn tiếp tục c đặc điểm đa nguyn, đa sắc tộc v đa tn gio" (308).

Ngy nay, Đất Thnh vẫn cn l mục tiu hnh hương của người Kit hữu, một nơi để cầu nguyện v đền tội, như từng được chứng thực từ thời xa xưa bởi cc tc giả như Thnh Girm (309). Cng hướng mắt v lng ta về Girusalem trần gian, lng khao kht của ta cng bừng chy đối với Girusalem trn trời, mục tiu đch thực của mọi cuộc hnh hương, cng với ước mong tha thiết của ta được thấy Danh Cha Gisu, Danh đem lại sự cứu độ, được mọi người nhn nhận (xem Cv 4:12).

----

[284] JEAN-PAUL II, Exhort. apost. Familiaris consortio (22 novembre 1981), n. 49: AAS 74 (1982), pp. 140-141.

[285] Proposition 20.

[286] Cf. Proposition 21.

[287] Proposition 20.

[288] Cf. Lett. apost. Mulieris dignitatem (15 aot 1988), n. 31: AAS 80 (1988), p. 1727-1729.

[289] Proposition 17.

[290] Cf. Propositions 9 et 22.

[291] N. 25.

[292] Enarrationes in Psalmos 85, 7: CCL 39, 1177.

[293] ORIGNE, Epistola ad Gregorium, 3: PG 11, 92.

[294] 294 BENOT XVI, Discours au grand Sminaire pontical romain (17 fvrier 2007): AAS 99 (2007), p. 254, L'ORf, 27 fvrier 2007, p. 3.

[295] 295 Cf. BENOT XVI, Exhort. apost. post-synodale Sacramentum caritatis, n. 66: AAS 99 (2007), pp. 155-156.

[296] Message nal, n. 9.

[297] Cf. Message nal, n. 9.

[298] "Plenaria indulgentia conceditur christideli qui Sacram Scripturam, iuxta textum a competenti auctoritate adprobatum, cum veneratione divino eloquio debita et ad modum lectionis spritalis, per dimidiam saltem horam legerit; si per minus tempus id egerit indulgentia erit partialis": PNITENCERIE APOSTOLIQUE, Enchiridion Indulgentiarum (16 juillet 1999), Alie concessiones, 30, 1.

[299] Cf. Catchisme de l'Eglise Catholique, 1471-1479.

[300] PAUL VI, Const. apost. Indulgentiarum doctrina (1 janvier 1967): AAS 59 (1967), 18-19.

[301] 301 Cf. Epistula 49, 3: PL 16, 1204.

[302] Cf. CONGRGATION POUR LE CULTE DIVIN ET LA DISCIPLINE DES SACREMENTS, Directoire sur la pit populaire et la liturgie, Principes et orientations (9 avril 2002), nn. 197-202. Ench. Vat. 20, n. 2638-2643.

[303] Cf. Proposition 55.

[304] Cf. JEAN-PAUL II, Lett. apost. Rosarium Virginis Mariae (16 octobre 2002): AAS 95 (2003), pp. 5-36.

[305] Proposition 55.

[306] Cf. CONGRGATION POUR LE CULTE DIVIN ET LA DISCIPLINE DES SACREMENTS, Directoire sur la pit populaire et la liturgie, Principes et orientations (9 avril 2002), n. 207; Ench. Vat. 20, n. 2656-2657.

[307] Cf. Proposition 51.

[308] BENOT XVI, Homlie de la messe dans la Valle de Josaphat, Jrusalem (12 mai 2009): AAS 101 (2009), p. 473, L'ORf, 19 mai 2009, p. 12.

[309] Cf. Epistula 108, 14: CSEL 55, 324-325.

 

 

PHẦN BA: LỜI CHA CHO THẾ GIỚI (VERBUM MUNDO)

"Chưa c ai thấy Thin Cha bao giờ. Chnh Con Một vốn l Thin Cha, Đấng ở gần tm hồn Cha Cha, đ tỏ cho chng ta biết Người"(Ga 1:18)

 

Sứ Mệnh của Gio Hội: Cng Bố Lời Cha cho Thế Giới

Lời Cha đến từ Cha Cha v trở về cng Cha Cha

90. Thnh Gioan đ pht biểu một cch mạnh mẽ sự nghịch lý căn bản trong đức tin của Gio Hội. Một đng, ngi ni rằng "chưa c ai thấy Thin Cha bao giờ" (Ga 1:18; xem 1 Ga 4:12). Tr tưởng tượng của ta, cc ý niệm của ta hay ngn từ của ta khng hề bao giờ xc định được hay nắm được thực tại v bin của Đấng Tối Cao. Người lun lun l Deus semper maior (Thin Cha lun lun cao cả). Ấy thế nhưng, Thnh Gioan cũng bảo ta rằng Ngi Lời quả thực đ "trở nn xc phm" (Ga 1:14). Con Một duy nhất, Đấng hằng ở với Cha Cha, đ tỏ cho chng ta biết Thin Cha, Đấng "chưa c ai thấy bao giờ" (Ga 1:18). Cha Gisu Kit đến với chng ta "đầy trn n sủng v sự thật" (Ga 1:14), để ban cho chng ta cc hồng n ấy (xem Ga 1:17); v "từ nguồn vin mn của Người, ta nhận được hết ơn ny đến ơn khc" (Ga 1:16). Trong Tự Ngn Tin Mừng của mnh, Thnh Gioan đ chim ngưỡng Ngi Lời từ lc ở với Thin Cha cho tới khi trở nn xc phm v trở về cng Cha Cha với nhn tnh của chng ta, m Người đ mặc lấy mi mi. Trong việc từ Thin Cha m đến v trở về cng Thin Cha ny (xem Ga 13:3; 16;28; 17:8, 10), Cha Kit được trnh by như Đấng "ni với ta" về Thin Cha (xem Ga 1:18). Thực vậy, như Thnh Irn thnh Lyons từng ni, Cha Con "l Đấng mạc khải Cha Cha" (310). C thể ni rằng Cha Gisu thnh Nadart l "người ch giải" Thin Cha, Đấng "chưa ai thấy bao giờ". "Người l hnh ảnh của Thin Cha v hnh" (Cl 1:15). Ở đy, ta thấy ứng nghiệm lời tin tri Isaia về tnh đầy hiệu quả của lời Cha: như mưa v tuyết từ trời rơi xuống để tưới v lm cho tri đất ra mầu mỡ, lời Cha cũng thế "sẽ khng tay khng trở về với Ta, nhưng sẽ hon thnh điều Ta dự tr, v sẽ thịnh nở trong điều v đ ta đ gửi lời ấy đến" (xem Is 55:10 v tiếp theo). Cha Gisu Kit l chnh lời dứt khot v c hiệu quả ấy, một lời đ đến từ Cha Cha v trở về cng Người, hon ton thực hiện được ý Người trong thế giới.

 

Cng bố cho thế giới "Lời" của hy vọng

91. Lời Cha đ ban xuống trn ta sự sống Thin Cha, một sự sống đ hiển dung khun mặt thế giới, lm mọi sự nn mới (xem Kh 21:5). Lời của Người lm ta dấn thn khng phải chỉ như người nghe mạc khải Thin Cha, m cn l sứ giả của n nữa. Đấng Cha Cha đ sai đến để thực hiện ý của Người (xem Ga 5:36-38; 6:38-40; 7:16-18) li ko chng ta tới Người v lm chng ta thnh một thnh phần trong cuộc sống v sứ vụ của Người. Thần Kh Đấng Phuc Sinh ban cho ta sức mạnh để cng bố lời Cha khắp nơi bằng chnh chứng t cuộc sống chng ta. Điều ny đ được cộng đon Kit hữu đầu tin cảm nghiệm, họ thấy lời Cha được truyền b nhờ giảng dạy v lm chứng (xem Cv 6:7). Ở đy, ta c thể nghĩ ring tới cuộc đời của Tng Đồ Phaol, người được chiếm cứ hon ton bởi Cha (xem Pl 3:12) - "Khng cn phải l ti sống nữa, m l Cha Kit sống trong ti" (Gl 2:20) - v bởi sứ mạng của Người: "v phc cho ti nếu ti khng cng bố Tin Mừng!" (1 Cor 9:16). Thnh Phaol biết r rằng điều được mạc khải nơi Cha Kit thực l ơn cứu rỗi cho mọi người, giải phng họ khỏi ch n lệ tội lỗi hầu được hưởng tự do dnh cho con ci Thin Cha. Điều được Gio Hội cng bố cho thế giới chnh l Lời của Hy Vọng (xem 1 Pr 3:15); để c thể sống trọn vẹn từng giy pht, con người cần "niềm hy vọng lớn lao" vốn l "Thin Cha, Đấng c khun mặt con người v đ "yu ta đến tận cng' (Ga 13:1)" (311). Đ l lý do tại sao Gio Hội, tự bản chất, vốn c tnh truyền gio. Ta khng thể giữ ring cho ta cc lời c sự sống đời đời từng được ban cho ta nhờ cuộc gặp gỡ của ta với Cha Gisu Kit: chng được dự kiến dnh cho mọi người, mọi người đn ng v mọi người đn b. Mọi người ngy nay, bất luận biết hay khng biết, đều cần sứ điệp ny. Cũng như vo thời tin tri Amos, xin Cha lm trổ sinh giữa chng ta lng thm kht lời Cha (xem Am 8:11). Trch nhiệm của chng ta l phải nhờ ơn Cha, chuyển giao cho người khc điều chnh chng ta đ tiếp nhận được.

 

Lời Cha l nguồn suối sứ mệnh của Gio Hội

92. Thượng Hội Đồng đ mạnh mẽ ti khẳng định nhu cầu phải c một cuộc canh tn trong Gio Hội đối với ý thức truyền gio vốn c nơi Dn Cha từ buổi đầu. Cc Kit hữu đầu tin đ coi việc giảng giải c tnh truyền gio của họ như một cấp thiết bắt nguồn từ chnh bản chất đức tin của họ: Thin Cha m họ tin chnh l Thin Cha của mọi người, Thin Cha duy nhất chn thật, Đấng đ tự mạc khải trong lịch sử Israel v sau cng nơi Con Một của Người. Như thế, Con Một ny đ đưa ra lời đp trả m mọi con người, cả nam lẫn nữ, vốn chờ mong trong hữu thể su thẳm của họ. Cc cộng đon Kit hữu tin khởi cảm thấy rằng đức tin của họ khng phải l thnh phần của một truyền thống văn ha đặc th, khc biệt từ dn tộc ny qua dn tộc khc, nhưng thay vo đ, n thuộc lnh vực chn lý, l điều lin quan đến mọi người như nhau.

Một lần nữa, cũng chnh Thnh Phaol đ dng cả đời mnh m lm sng tỏ ý nghĩa của sứ mệnh Kit Gio v tnh phổ qut nền tảng của n. Ở đy, ta c thể nghĩ tới đoạn Sch Tng Đồ Cng Vụ lin quan tới Hội Đồng Arpag ở Athna (xem 17:16-34). Vị Tng Đồ Dn Ngoại mở cuộc đối thoại với nhiều người thuộc cc nền văn ha khc nhau v ngi ý thức r rằng mầu nhiệm Thin Cha, Đấng ai cũng biết nhưng khng biết r, Đấng mọi người đều biết, nhưng biết một cch m mờ, thực sự đ được mạc khải trong lịch sử: "Đấng qu vị khng biết m vẫn tn thờ, th ti xin rao giảng cho qu vị" (Cv 17:23). Trn thực tế, sự mới mẻ trong lời cng bố của Kit Gio l thế ny ta c thể ni với mọi dn tộc: "Thin Cha đ tự tỏ mnh ra. Bằng người thật. V giờ đy, đường dẫn tới Người đ được mở ra. Tnh mới lạ của sứ điệp Kit Gio khng hệ ở một ý niệm m l một sự kiện: Thin Cha đ tự tỏ mnh ra" (312).

 

Lời Cha v Nước Cha

93. Thnh thử, khng nn coi sứ mệnh của Gio Hội như một yếu tố ty thch hay phụ thuộc trong đời sống Gio Hội. Đng hơn, n hm nghĩa để cho Cha Thnh Thần hội nhập ta vo chnh Cha Kit v do đ, chia sẻ cng một sứ mệnh ring của Người: "Như Cha Ta đ sai Ta, Ta cũng sai cc con đi" (Ga 20:21) để chia sẻ lời Cha bằng trọn cả đời sống ta. Chnh lời Cha đang thc đẩy ta hướng về anh chị em chng ta: chnh lời Cha đang soi sng, thanh tẩy, lm ta hồi tm; ta chỉ l đầy tớ của n.

Như thế, ta cần khm ph ra như mới tnh khẩn trương v vẻ đẹp của việc cng bố lời Cha cho Nước Cha hiện đến, Nước m chnh Cha Kit đ rao giảng. Nhờ thế, ta cng hiểu r hơn điều, m cc Gio Phụ biết rất r, l việc cng bố Lời Cha lấy Nước Cha lm nội dung (xem Mc 1:14-15), Nước m theo thuật ngữ đng ghi nhớ của Origen (313), vốn l chnh con người Cha Gisu (Autobasileia). Người ban tặng sự cứu rỗi cho mọi người thuộc mọi thời đại. Tất cả chng ta đều nhn nhận nh sng Cha Kit cần chiếu rọi đến bao nhiu mọi lnh vực của đời sống con người: gia đnh, trường học, văn ha, việc lm, việc giải tr v nhiều kha cạnh khc của đời sống x hội (314). Đy khng hẳn l vấn đề rao giảng lời an ủi, m đng hơn l lời lm gin đoạn, l lời mời gọi người ta trở lại v l lời mở lối cho cuộc gặp gỡ với Đấng m nhờ Người một nhn loại mới đang nở hoa.

 

Mọi người đ rửa tội đều c trch nhiệm đối với việc cng bố ny

94. V ton Dn Cha đều l người được "sai" đi, nn Thượng Hội Đồng ti khẳng định rằng "sứ mệnh cng bố lời Cha l trch nhiệm của mọi mn đệ Cha Gisu Kit căn cứ vo Php Rửa của họ" (315). Khng một người tin Cha Kit no lại c thể cảm thấy mnh được miễn chuẩn khỏi trch nhiệm ny, một trch nhiệm vốn pht sinh từ sự kiện ta thuộc về Nhiệm Thể Cha Kit một cch b tch. Phải lm sống lại một ý thức về điều ấy trong mọi gia đnh, mọi gio xứ, cộng đon, hiệp hội v phong tro trong Gio Hội. Như thế, trong tư cch một mầu nhiệm hiệp thng, Gio Hội hon ton c tnh truyền gio v ty theo bậc sống ring của mnh, mọi người đều được ku gọi đng gp r rng vo việc cng bố Cha Kit.

Ph hợp với sứ mệnh đặc th của mnh, cc gim mục v linh mục l những người đầu tin được ku gọi sống một cuộc sống hon ton phục vụ lời Cha, cng bố Tin Mừng, cử hnh cc b tch v đo tạo tn hữu trong việc nhận thức Thnh Kinh một cch chn chnh. Cc ph tế cũng phải cảm thấy mnh được ku gọi hợp tc vo trch vụ phc m ha ny, ph hợp với sứ mệnh ring của họ.

Trong suốt lịch sử Gio Hội, lối sống thnh hiến vốn nổi bật trong việc minh nhin đảm nhiệm trch vụ cng bố v rao giảng lời Cha trong cng tc missio ad gentes (sai đi tới cc dn tộc, tức truyền gio) v trong nhiều hon cảnh hết sức kh khăn, đ lun sẵn sng thch ứng với cc tnh thế mới cũng như can đảm v mạnh dạn tiến bước vo những con đường mới mẻ để đương đầu với cc thch đố mới nhằm cng bố lời Cha cch hữu hiệu (316).

Gio dn cũng được ku gọi thực thi vai tr tin tri ring của mnh, một vai tr pht sinh trực tiếp từ Php Rửa của họ, v lm chứng cho Tin Mừng trong đời sống hng ngy, nơi họ sinh sống. Về phương diện ny, cc Nghị Phụ Thượng Hội Đồng by tỏ "lng qu mến, biết ơn v khch lệ lớn lao nhất đối với cng tc phục vụ việc phc m ha m rất nhiều tn hữu gio dn, nhất l nữ giới ni ring, đang cung cấp một cch quảng đại v đầy dấn thn trong cc cộng đon của họ trn khắp thế giới, theo gương Thnh Nữ Maria Mađalna, chứng nhn đầu hết của niềm vui Phục Sinh" (317). Thượng Hội Đồng cũng nhn nhận với lng biết ơn cc phong tro trong Gio Hội v nhiều cộng đon mới mẻ đang l một lực lượng lớn lao cho việc phc m ha trong thời đại ta v l một động vin lớn cho việc khai triển thm nhiều cch mới để cng bố Tin Mừng (318).

 

Sự cần thiết của truyền gio ( "missio ad gentes")

95. Khi ku gọi mọi tn hữu cng bố lời Cha, cc Nghị Phụ Thượng Hội Đồng ti khẳng định nhu cầu cần c dấn thn dứt khot vo việc truyền gio, cả trong thời đại ta nữa. Gio Hội khng thể no tự giới hạn cng tc mục vụ của mnh vo việc chỉ chăm sc những người đ biết Tin Mừng của Cha Kit rồi. Việc vươn tay ra truyền gio l dấu chỉ r rng một cộng đon Gio Hội no đ đ trưởng thnh. Cc Nghị Phụ cũng nhấn mạnh rằng lời Cha l sự thật cứu rỗi m mọi người thuộc mọi thời đại cần được nghe. V lý do đ, n cần được minh nhin cng bố. Gio Hội phải ra đi để gặp mỗi người trong sức mạnh của Cha Thnh Thần (xem 1 Cor 2:5) v tiếp tục việc bnh vực c tnh tin tri đối với quyền v sự tự do được nghe lời Cha của người ta, trong khi vẫn khng ngừng tm ra những phương cch hữu hiệu nhất để cng bố lời Cha, d liều mnh bị bch hại" (319). Gio Hội cảm thấy c bổn phận phải cng bố cho mọi người nam nữ lời cứu rỗi (xem Rm 1:14).

 

Việc cng bố v việc tn phc m ha

96. Đức Gio Hong Gioan Phaol II, khi tiếp nhận cc lời c tnh tin tri của Đức Gio Hong Phaol VI trong Tng Huấn Evangelii Nuntiandi, đ c nhiều cch khc nhau để nhắc nhở tn hữu nhớ tới nhu cầu phải c một ma truyền gio mới cho ton thể Dn Cha (320). Ở bnh minh thin nin kỷ thứ ba, khng những vẫn cn nhiều người chưa biết Tin Mừng, nhưng ngay cả một số đng Kit hữu vẫn cần lời Cha một lần nữa được cng bố một cch đầy thuyết phục cho họ, để họ cảm nhận được một cch cụ thể sức mạnh của Tin Mừng. Nhiều anh chị em của ta "đ được rửa tội, nhưng chưa được phc m ha một cch tạm đủ" (321). Trong nhiều trường hợp, c những dn tộc c thời rất phong ph về đức tin v ơn gọi, nhưng nay đang mất dần căn tnh của mnh v ảnh hưởng của nền văn ha bị thế tục ha (322). Nhu cầu tn phc m ha, một nhu cầu m vị Tiền Nhiệm đng knh của ti cảm nhận một cch su xa, cần được ti khẳng định một cch dũng cảm, trong niềm chắc chắn rằng lời Cha l lời hữu hiệu. Vốn chắc chắn về lng trung thnh với Cha của mnh, Gio Hội khng bao giờ mỏi mệt trong việc cng bố tin mừng của Phc m v mời gọi mọi Kit hữu khm ph như mới sự quyến rũ trong việc theo chn Cha Kit.

 

Lời Cha v chứng nhn Kit hữu

97. Cc chn trời mnh mng trong sứ mệnh của Gio Hội v sự phức tạp trong tnh hnh ngy nay đi phải c những cch thế mới để thng truyền lời Cha cch hữu hiệu. Cha Thnh Thần, Đấng chủ đạo của mọi việc phc m ha, lun hướng dẫn Gio Hội của Cha Kit trong hoạt động ny. Ấy thế nhưng, điều quan trọng l mọi hnh thức cng bố, trước nhất, phải ghi nhớ mối tương quan nội tại giữa việc thng truyền lời Cha v việc lm chứng của Kit hữu. Tnh khả tn của việc cng bố của ta ty thuộc điều ấy. Một đng, lời Cha phải thng truyền mọi điều chnh Cha đ ni với ta. Đng khc, điều khng thể no miễn chước được l bằng việc lm chứng, ta phải lm cho lời kia được khả tn, kẻo n chỉ xuất hiện như một thứ triết lý đẹp đẽ hay một điều khng tưởng, thay v l một thực tại c thể sống v ban sự sống. Tnh hỗ tương giữa lời Cha v việc lm chứng ny phản ảnh cch thế Thin Cha dng để tự thng truyền chnh mnh qua việc nhập thể của Lời Người. Lời Cha đến với mọi người "qua cuộc gặp gỡ v lm chứng chn chnh của người trưởng thnh, qua ảnh hưởng tch cực của bạn b v trong tnh đồng hnh của cộng đon Gio Hội" (324).

C một tương quan gần gũi giữa lời chứng của Sch Thnh, trong tư cch tự chứng thực lời Cha, v việc lm chứng bằng đời sống cc tn hữu. Điều ny bao hm v dẫn tới điều kia. Việc lm chứng của Kit hữu thng truyền lời đ được chứng thực trong Sch Thnh. Về phần mnh, Sch Thnh giải thch việc lm chứng m Kit hữu được mời gọi đưa ra bằng chnh cuộc sống họ. Những ai gặp được cc chứng nhn khả tn của Tin Mừng như thế sẽ hiểu được rằng lời Cha hữu hiệu biết bao đối với những ai tiếp nhận n.

98. Trong hnh động qua lại giữa chứng nhn v lời Cha, ta hiểu được điều Đức Gio Hong Phaol VI đ viết trong Tng Huấn Evangelii Nuntiandi. Trch nhiệm của ta khng giới hạn vo việc gợi ra cc gi trị chung cho thế giới; đng hơn, ta cần tiến tới chỗ minh nhin cng bố lời Cha. Chỉ bằng cch đ, ta mới trung thnh với mệnh lệnh của Cha Kit: "Tin Mừng được cc chứng nhn bằng đời sống cng bố chẳng chng th chy cũng phải được lời của sự sống cng bố. Khng c việc phc m ha thực sự nếu thnh danh, gio huấn, cuộc đời, cc lời hứa, Vương Quốc v mầu nhiệm Cha Gisu Thnh Nadart, Con Thin Cha, khng được cng bố" (325).

Sự kiện việc cng bố lời Cha đi phải c sự lm chứng bằng đời sống l một dữ kiện vốn hiện diện một cch r rng trong ý thức Kit hữu từ buổi đầu. Chnh Cha Kit đ l một chứng nhn trung thnh v chn thực (xem Cv 1:5; 3:14), chnh Người đ lm chứng cho Sự Thật (xem Ga 18:37). Ở đy, ti muốn nhắc lại man vn chứng từ m chng ta đ c hồng n nghe được trong suốt cuộc họp của Thượng Hội Đồng. Chng ta hết sức cảm động được nghe cc cu truyện của những người sống đức tin của mnh v lm chứng một cch xuất sắc cho Tin Mừng d dưới cc chế độ th nghịch với Kit Gio hay trong cc tnh thế bị bch hại. Khng hon cảnh no như thế lm ta sợ hi. Chnh Cha Gisu đ ni cng cc mn đệ của Người: "Ti tớ khng lớn hơn chủ mnh. Nếu họ bch hại Thầy, họ cũng sẽ bch hại cc con" (Ga 15:20). V lý do ny, ti muốn cng với ton hể Gio Hội dng ln Thin Cha một ca khc ngượi khen v chứng t của nhiều anh chị em chng ta, những người, ngay trong thời đại ta, đ hiến mạng sống mnh để thng truyền sự thật về tnh yu Thin Cha từng được mạc khải cho ta trong Cha Kit chịu đng đinh v đ sống lại. Ti cũng by tỏ lng biết ơn của ton thể Gio Hội đối với cc Kit hữu đ khng li bước trước trở ngại v cả bch hại nữa v Tin Mừng. Ti cũng m hn với tnh u yếm anh em su đậm cc tn hữu của mọi cộng đồng Kit Gio, nhất l tại Chu v Phi Chu, những người hiện đang liều mạng sống của mnh hay kỳ thị x hội v đức tin của mnh. Ở đy, ta gặp tinh thần đch thực của Tin Mừng, một tinh thần từng cng bố l hạnh phc bất cứ ai chịu bch hại v danh Cha Gisu Kit (xem Mt 5:11). Lm thế rồi, một lần nữa chng ta ku gọi chnh phủ cc quốc gia hy bảo đảm nền tự do lương tm v nền tự do tn gio, cũng như khả năng được pht biểu đức tin của người ta cch cng khai (326).

[310] Adversus haereses, IV, XX, 20, 7: SC 100, pp. 646-7.

[311] BENOT XVI, Lett. enc. Spe salvi (30 novembre 2007), n. 31: AAS, 99 (2007), p. 1010.

[312] BENOT XVI, Discours aux hommes de culture au Collge des Bernardins de Paris (12 septembre 2008): AAS 100 (2008), p. 730.

[313] Cf. In Evangelium secundum Mattheum 17, 7: PG 13, 1197B; Hom in Lc 36: PL 26,324; S. JRME: Translatio homiliarum Origenis in Lucam, 36: PL 26, 324-325.

[314] Cf. BENOT XVI, Homlie l'occasion de l'ouverture de la XIIe Assemble gnrale ordinaire du Synode des vques (5 octobre 2008): AAS 100 (2008), p. 757: La DC n. 2411, p. 948.

[315] Proposition 38.

[316] Cf. CONGRGATION POUR LES INSTITUTS DE VIE CONSACRE ET LES SOCITS DE VIE APOSTOLIQUE, Repartir du Christ: un engagement renouvel de la Vie Consacre pour le 3me millnaire, n. 36: Ench. Vat. 21, n. 488-491.

[317] Proposition 30.

[318] Cf. Proposition 38.

[319] Cf. Proposition 49.

[320] Cf. JEAN-PAUL II, Lett. enc. Redemptoris missio (7 dcembre 1990): AAS 83 (1991), pp. 149-340; et ID., Lett. apost. Novo millennio ineunte (6 janvier 2001), n. 40: AAS 93 (2001), pp. 294-295.

[321] Proposition 38.

[322] Cf. BENOT XVI, Homlie l'occasion de l'ouverture de la XIIe Assemble gnrale ordinaire du Synode des vques (5 octobre 2008): AAS 100 (2008), pp. 753-757; L'ORf, 7 octobre 2008, pp. 1 et 9.

[323] Proposition 38.

[324] Message nal, n. 12.

[325] PAUL VI, Exhort. apost. Evangelii nuntiandi (8 dcembre 1975), n. 22: AAS 68 (1976), p. 20.

[326] Cf. CONC. CUM. VAT. II, Dclaration sur la libert religieuse Dignitatis humanae, nn. 2.7.

 

 

Lời Cha v Việc Dấn Thn Vo Thế Giới

Phục vụ Cha Gisu trong "những anh em nhỏ b nhất" (Mt 25:40)

99. Lời Cha di sng cuộc nhn sinh v khuấy động lương tm ta để ta nhn su hơn vo chnh đời sống mnh, lý do v mọi lịch sử nhn bản đều nằm dưới sự phn xt của Thin Cha: "Khi Con Người đến trong vinh quang của Người, v mọi thin thần hầu hạ Người, Người sẽ ngự trn ngai vinh hiển của mnh. Mọi dn tộc đều tụ họp trước nhan Người" (Mt 25:31-32).

Ngy nay, ta thường c khuynh hướng dừng lại một cch phiến diện trước sự quan trọng của giy pht đang qua, như thể n chẳng c lin quan g tới tương lai. Tin Mừng, tri lại, nhắc ta nhớ rằng mọi giy pht đời ta đều quan trọng v phải được sống một cch su đậm, với nhận thức rằng mọi người rồi ra sẽ phải tnh sổ đời mnh. Trong chương hai mươi lăm của Tin Mừng Thnh Mtthu, Con Người sẽ coi bất cứ điều g ta lm hay khng lm cho "những anh em hn mọn nhất" (xem 25:40,45) như l lm hay khng lm cho chnh Người: "Ta đi, cc con đ cho Ta ăn, Ta kht, cc con đ cho Ta uống, Ta l khch lạ, cc con đ nghinh đn Ta, Ta trần truồng cc con đ mặc cho Ta, Ta ốm đau cc con đ thăm viếng Ta, Ta ngồi t cc con đ đến với Ta" (25:35-36). Lời Cha đ đch thn nhấn mạnh tới nhu cầu ta phải dấn thn vo thế giới v trch nhiệm của ta trước Cha Kit, Cha của lịch sử. Khi cng bố lời Cha, ta hy khch lệ lẫn nhau lm điều tốt v cam kết phục vụ cng lý, ha giải v ho bnh.

 

Lời Cha v cam kết phục vụ cng lý trong x hội

100. Lời Cha linh hứng con người, cả nam lẫn nữ, để họ xy dựng cc lin hệ dựa trn sự chnh trực v cng lý, v chứng thực cc gi trị vĩ đại dưới mắt Thin Cha đối với mọi cố gắng nhằm tạo ra một thế giới cng chnh hơn v đng sống hơn (327). Lời Cha khng hm hồ cht no khi tố co mọi bất cng v cổ vũ sự lin đới v bnh đẳng (328). Dưới nh sng lời Cha, ta hy biện phn "cc dấu chỉ thời đại" hiện diện trong lịch sử, v đừng chạy trốn việc cam kết dấn thn đối với những người đang đau khổ v l nạn nhn của cc hnh thức vị kỷ.

Thượng Hội Đồng nhắc ta nhớ rằng dấn thn cho cng lý v thay đổi thế giới l yếu tố chủ yếu của việc phc m ha. Theo lời Đức Gio Hong Phaol VI, ta phải "vươn tay ra v c thể ni lật nho bằng sức mạnh của Tin Mừng cc tiu chuẩn phn đon, cc tư lợi, cc khun mẫu tư duy, cc nguồn cảm hứng v cc lối sống của nhn loại đi ngược lại lời Cha v kế hoạch cứu rỗi của Người" (329).

V lý do ny, cc Nghị Phụ Thượng Hội Đồng muốn ngỏ một lời đặc biệt với những ai đang gp phần vo đời sống chnh trị v x hội. Việc phc m ha v loan truyền lời Cha phải linh hứng hoạt động của họ trn thế giới, v họ đang lm việc v ch chung thực sự bằng cch tn trọng v cổ vũ phẩm gi mọi con người. Chắc chắn, trch nhiệm trực tiếp của Gio Hội khng phải l tạo ra một x hội cng chnh hơn, d Gio Hội c quyền v c bổn phận can thiệp vo cc vấn đề đạo đức v lun lý lin quan tới thiện ch của cc c nhn v dn tộc. Nhiệm vụ hng đầu của tn hữu gio dn, nhờ được đo tạo trong trường Tin Mừng, l phải trực tiếp can dự vo sinh hoạt chnh trị v x hội. V lý do ny, Thượng Hội Đồng khuyến co để cc tn hữu gio dn nhận được một sự huấn luyện thch đng về cc nguyn tắc của gio huấn x hội của Gio Hội (330).

101. Ti cũng muốn ku gọi mọi người lưu ý tới sự quan trọng của việc bảo vệ v pht huy nhn quyền của mọi con người, dựa trn luật tự nhin vốn viết sẵn trong tm hồn con người, l cc quyền tự chng c tnh "phổ qut, bất khả xm phạm v bất khả nhượng" (331). Gio Hội by tỏ niềm hy vọng rằng nhờ việc thừa nhận cc quyền ny, nhn phẩm sẽ được nhn nhận một cch hữu hiệu hơn v được pht huy một cch phổ qut (332), v n l dấu ấn r rệt được Đấng Tạo Ha khắc khi trn cc tạo vật của Người, được Cha Kit tiếp nhận v cứu chuộc qua việc nhập thể, qua ci chết v sự sống lại của Người. Việc truyền b lời Cha chắc chắn sẽ tăng cường cho việc nhn nhận v tn trọng nhn quyền của mọi con người (333).

 

Cng bố lời Cha, ha giải v ha bnh giữa cc dn tộc

102. Giữa nhiều lnh vực cần phải dấn thn, Thượng Hội Đồng khẩn thiết ku gọi việc cổ vũ ha giải v ha bnh. Trong bối cảnh hiện nay, hơn bao giờ hết, ta cần phải ti khm ph ra lời Thin Cha lm nguồn suối cho ha giải v ha bnh, v trong lời ấy, Thin Cha ha giải mọi sự với Người (xem 2 Cor 5:18-20; Eph 1:10): Cha Kit "l ha bnh của ta" (Eph 2:14), l Đấng giật sập mọi bức tường chia rẽ. Một số tham luận tại Thượng Hội Đồng đ cung cấp cho ta nhiều ti liệu về cc tranh chấp v căng thẳng trầm trọng v đầy bạo lực đang xẩy ra trn hnh tinh ta. C lc, những th nghịch ny cn mang cả dng dấp tranh chấp tn gio nữa. Ở đy, ti muốn khẳng định một lần nữa rằng tn gio khng bao giời biện minh cho bất khoan dung hay chiến tranh. Ta khng thể nhn danh Cha m giết người! (334). Mỗi tn gio phải khch lệ quyền được sử dụng lý tr v cổ vũ cc gi trị đạo đức biết củng cố việc sống chung dn sự.

Trung thnh với cng việc ha giải được Thin Cha thực hiện nơi Cha Gisu Kit chịu đng đinh v sống lại, người Cng Gio cũng như mọi người thiện ch nam nữ phải cam kết trở thnh điển hnh của ha giải để xy dựng cho được một x hội cng chnh v ha bnh (335). Chng ta khng bao giờ được qun rằng "ở đu lời con người trở thnh bất lực v sự thắng thế của tranh chấp bạo lực v chiến tranh, th sức mạnh tin tri của lời Cha vẫn khng lay chuyển, vẫn nhắc ta nhớ rằng ha bnh l điều c thể thực hiện được v chnh chng ta phải trở thnh kh cụ của ha giải v ha bnh" (336).

 

Lời Cha v đức i thực tiễn

103. Cam kết đối với cng lý, ha giải v ha bnh tm thấy căn bản tối hậu v sự nn trọn của n trong tnh yu đ được mạc khải cho ta nơi Cha Kit. Nhờ nghe cc chứng từ đưa ra tại Thượng Hội Đồng, ta thấy r hơn mối lin kết giữa việc nghe lời Cha một cch đầy yu thương v việc phục vụ qun mnh cc anh chị em của ta; mọi tn hữu đều nn nhn ra nhu cầu phải "diễn dịch lời ta đ nghe thnh cử chỉ yu thương, v đy l cch duy nhất lm cho việc cng bố Tin Mừng trở thnh khả tn, bất chấp cc yếu hn nhn bản vốn thấy r nơi cc c nhn" (337). Cha Gisu khi sống trn trần gian ny lun lm điều tốt (xem Cv 10:38). Ngoan ngon lắng nghe lời Cha trong Gio Hội sẽ lm sống dậy "đức i v cng bnh đối với mọi người, nhất l đối với người ngho" (338). Ta khng bao giờ nn qun rằng "tnh yu – caritas – lun chứng tỏ l cần thiết, ngay trong x hội cng chnh nhất... bất cứ ai muốn loại bỏ tnh yu đều l người đang chuẩn bị loại bỏ chnh con người đng nghĩa" (339). V thế, ti khch lệ cc tn hữu thường xuyn suy niệm ca khc tnh yu của Thnh Tng Đồ Phaol để nhận được ơn linh hứng từ đ: "Tnh yu th nhẫn nại v nhn hậu; tnh yu khng ghen tung hay khoc lc; n khng tự đắc hay th lỗ. Tnh yu khng khăng khăng theo ý mnh; n khng nng giận hay nui hận th; khng mừng khi thấy sự gian c nhưng vui khi thấy sự thật. Tnh yu tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả. Tnh yu khng bao giờ chấm dứt" (1 Cor 13:4-8).

Tnh yu người ln cận, vốn bắt nguồn từ tnh yu Thin Cha, phải thấy ta lun dấn thn trong tư cch c nhn v cộng đon Gio Hội, cả địa phương lẫn hon cầu. Như Thnh Augustin từng ni: "điều chủ yếu l phải hiểu rằng tnh yu l sự vin mn của Lề Luật v n l tất cả Thnh Kinh... Bất cứ ai cho rằng mnh hiểu Thnh Kinh hay bất cứ phần no trong đ, nhưng lại khng cố gắng, như một hệ luận, để tăng trưởng trong tnh yu kp, tức yu Cha v yu tha nhn, th nn hiểu r điều ny: họ chưa thực sự hiểu sch ấy" (340).

 

Việc cng bố lời Cha v giới trẻ

104. Thượng Hội Đồng đặc biệt ch ý tới việc cng bố lời Cha cho thế hệ trẻ. Người trẻ vốn l cc thnh vin tch cực của Gio Hội. Họ đại diện cho tương lai Gio Hội. Ta thường gặp nơi họ sự cởi mở tự pht đối với việc nghe lời Cha v một lng ước mong thnh thật được biết Cha Gisu. Tuổi trẻ l thời gian dnh cho những cu hỏi chn thực v khng ti no dẹp bỏ về ý nghĩa đời người v hướng đi cho chnh đời ta. Chỉ c Thin Cha mới đưa ra được cu trả lời chn thật cho cc cu hỏi ấy. Việc quan tm tới giới trẻ đi ta phải can đảm v r rng trong sứ điệp ta muốn cng bố; ta cần gip họ c được sự tự tin v thn quen với Sch Thnh để Sch ny trở thnh la bn chỉ đường cho họ đi theo (341). Người trẻ cần cc nhn chứng v thầy dạy biết cng bước đi với họ, dạy họ biết yu Tin Mừng v chia sẻ n, nhất l với người đồng trang lứa, v nhờ thế trở thnh cc sứ giả chn chnh v đng tin cậy (342).

Lời Cha cần được trnh by sao đ để c thể pht sinh ra cc hệ luận cho ơn gọi của từng người v gip người trẻ chọn được hướng đi cho đời họ, trong đ, c hướng đi tận hiến hon ton cho Thin Cha (343). Ơn gọi chn chnh sống tận hiến hay lm linh mục sẽ tm được đất mầu mỡ nhờ việc tiếp xc đầy đức tin với lời Cha. Một lần nữa, ti nhắc lại lời ku gọi m ti từng đưa ra vo buổi đầu triều đại gio hong của ti l hy mở rộng cửa cho Thin Cha: "Nếu ta để Cha Kit bước vo đời ta, ta khng mất g, khng mất g, tuyệt đối khng mất g trong số những điều lm đời sống ta được tự do, tươi đẹp v vĩ đại. Khng! V chỉ trong tnh bạn ny, tiềm năng lớn lao của cuộc hiện sinh nhn bản mới được tỏ lộ thực sự... Hỡi cc bạn trẻ thn yu: đừng sợ Cha Kit! Người khng lấy mất điều g đu, nhưng Người cho cc bạn mọi sự. Khi ta hiến mnh cho Người, ta sẽ nhận lại gấp trăm. Vng, hy mở rộng cửa cho Cha Kit – v cc bạn sẽ tm được sự sống đch thực" (344).

 

Việc cng bố lời Cha v di dn

105. Lời Cha khiến ta lưu ý tới lịch sử v cc thực tại đang xẩy tới. Khi xem st sứ mệnh phc m ha của Gio Hội, Thượng Hội Đồng cũng đ quyết định đề cập tới hiện tượng phức tạp của cc phong tro di dn, một hiện tượng trong mấy năm gần đy đ đạt tới một tỷ lệ chưa từng c. Vấn đề ny đặt ra nhiều vấn nạn hết sức tế nhị lin quan đến an ninh cc quốc gia v việc nghinh đn những người tm nơi tị nạn hay tm cc điều kiện sống, y tế v lm việc tốt đẹp hơn. Số rất đng những người khng biết g về Cha Kit hay c một vốn hiểu biết về Người khng đầy đủ đang định cư tại cc quốc gia vốn c truyền thống Kit Gio. Đồng thời, nhiều người từ cc quốc gia c dấu ấn đức tin Kit Gio su xa đ di cư tới cc quốc gia, nơi vẫn cần phải cng bố Cha Kit v đi được tn phc m ha. Cc tnh huống ấy đưa lại nhiều khả thể mới cho việc loan truyền lời Cha. Về phương diện ny, cc Nghị Phụ Thượng Hội Đồng tuyn bố rằng di dn c quyền được nghe tin mừng Phc m (kerygma), một tin mừng cần được đề nghị, chứ khng p đặt. V nếu họ l Kit hữu, họ đi cc hnh thức chăm lo mục vụ gip họ c khả năng lớn mạnh trong đức tin v ngược lại, trở thnh cc sứ giả của Tin Mừng. V tnh phức tạp của hiện tượng ny, điều chủ yếu l phải động vin mọi gio phận lin hệ để cc phong tro di dn cũng được coi như một dịp may gip ta khm ph ra cc hnh thức hiện diện v cng bố mới. Điều cũng cần thiết l cc gio phận phải đảm bảo tới mức c thể để cc anh chị em ny nhận được sự nghinh đn v lưu tm thỏa đng, ng hầu, được ơn Cha đnh động, họ c khả năng trở thnh sứ giả của lời Cha v chứng nhn của Cha Gisu Phục Sinh, vốn l hy vọng của thế giới (345).

 

Việc cng bố lời Cha v đau khổ

106. Trong lc Thượng Hội Đồng lm việc, cc Nghị Phụ cũng đ xem st nhu cầu phải cng bố lời Cha cho tất cả những ai đang đau khổ, cả về phương diện thể lý, tm lý lẫn tm linh. Chnh trong những lc đau khổ, cc cu hỏi tối hậu về ý nghĩa đời người mới cng được cảm nhận một cch sắc cạnh. Nếu lời lẽ con người tỏ ra cm lặng trước mầu nhiệm sự c v đau khổ, v nếu x hội ta tỏ ra chỉ trn qu sự sống khi n tương hợp với một số tiu chuẩn như c hiệu năng hay mang lại hạnh phc, th lời Cha gip ta thấy rằng ngay những giy pht (đau khổ) ny cũng được tnh yu Thin Cha "vỗ về". Đức tin pht sinh từ cuộc gặp gỡ với lời Cha sẽ gip ta hiểu ra rằng sự sống nhn bản đng được sống trọn vẹn, ngay lc n yếu đi v bịnh hoạn v đau đớn. Thin Cha dựng nn ta để ta hạnh phc v để ta sống, trong khi đ, bịnh hoạn v chết chc bước vo thế giới ny l do hậu quả của tội (xem Kn 2:23-24). Ấy thế nhưng Cha sự sống l thầy thuốc tuyệt hảo của nhn loại, v Người khng ngừng ci mnh một cch tru mến trn nhn loại đau khổ. Ta chim ngưỡng đỉnh cao việc Thin Cha gần gũi với cc đau khổ của ta trong chnh Cha Gisu: " Lời nhập thể. Người đau khổ v chết cho ta. Bằng sự thống khổ v ci chết của Người, Người lnh lấy sự yếu hn của ta cho Người v hon ton biến đổi n" (346).

Sự gần gũi của Cha Gisu với người đau khổ c tnh thường hằng: n ko di trong thời gian nhờ hnh động của Cha Thnh Thần trong sứ mệnh của Gio Hội, trong lời Cha v trong cc b tch, nơi những con người thiện ch, cả nam lẫn nữ, v trong cc sng kiến bc i được thực thi bằng tnh yu anh em của cc cộng đon, nhờ thế lm khun mặt đch thực v tnh yu Thin Cha được mọi người biết đến. Thượng Hội Đồng cm ơn Thin Cha v cc chứng t chi sng, đi khi dấu ẩn, của rất nhiều Kit hữu - gồm linh mục, tu sĩ v gio dn - những người đ cho Cha Kit, vị thầy thuốc đch thực của cả hồn lẫn xc, mượn tay v vẫn tiếp tục cho Người mượn tay chn, mắt mũi v tm hồn. Thượng Hội Đồng huấn dụ mọi người tiếp tục chăm sc những người bịnh hoạn yếu đau v đem họ tới sự hiện diện thng ban sự sống của Cha Gisu trong lời Cha v trong Thnh Thể. Nn gip đỡ những người đau khổ để họ đọc Sch Thnh v hiểu ra rằng tnh trạng của họ gip họ c khả năng tham dự một cch đặc biệt vo sự đau khổ cứu chuộc của Cha Kit để cứu rỗi thế giới (xem 2 Cor 4:8-11, 14) (347).

 

Việc cng bố lời Cha v người ngho

107. Sch Thnh tỏ lộ tnh yu đặc biệt của Thin Cha đối với người ngho v người thiếu thốn (xem Mt 25:31-46). Cc Nghị Phụ Thượng Hội Đồng hay ni tới sự quan trọng của việc gip đỡ cc anh chị em ny khả năng nghe sứ điệp Tin Mừng v cảm nghiệm được sự gần gũi của cc mục tử v cộng đon của họ. Thực thế, "người ngho l những người trước hết c quyền được nghe cng bố Tin Mừng; họ cần khng những cơm bnh, m cn l cc lời hằng sống" (348). Ph tế phục vụ bc i, một thừa tc vụ khng bao giờ được thiếu trong cc gio hội của ta, phải lun gắn b với việc cng bố lời Cha v cử hnh cc mầu nhiệm thnh (349). Ấy thế nhưng, ta cũng cần nhn nhận v đnh gi sự kiện ny l người ngho chnh l cc tc nhn của phc m ha. Trong Thnh Kinh, người ngho thực sự l người hon ton ph thc vo Thin Cha; trong Tin Mừng, Cha Gisu gọi họ l người c phc, "v Nước Trời l của họ" (Mt 5:3; xem Lc 6:20). Cha đề cao tm hồn đơn thnh của những ai tm thấy nơi Thin Cha cc kho tng đch thực, đặt hy vọng nơi Người, chứ khng nơi những sự việc đời ny. Gio Hội khng thể lm người ngho thất vọng: "Cc mục tử được ku gọi lắng nghe họ, học hỏi nơi họ, hướng dẫn họ trong đức tin của họ v khuyến khch họ lnh trch nhiệm đối với đời sống họ" (350).

Gio Hội cũng biết rằng sự ngho kh c thể hiện hữu như một nhn đức, một nhn đức cần được vun sới v tự do chọn lấy, như man vn thnh nhn đ lm. Ngho kh cũng c thể hiện hữu như một thiếu thốn (indigence), thường pht sinh do bất cng hay vị kỷ, biểu hiệu r rệt trong đi kht v tng thiếu, v như một nguồn của tranh chấp. Trong việc cng bố lời Cha, Gio Hội biết rằng "một vng trn nhn đức" phải được cổ vũ giữa sự ngho kh tự ý chọn v sự ngho kh cần bị đnh bại; ta cần ti khm ph ra "sự tiết chế v tnh lin đới, những gi trị của Tin Mừng đồng thời c tnh phổ qut... Điều ny khiến ta đưa ra cc quyết định c tnh hợp cng lý v điều độ" (351).

 

Việc cng bố lời Cha v việc bảo vệ sng thế

108. Dấn thn vo thế giới, như đ được lời Cha đi hỏi, khiến ta nhn bằng con mắt mới ton vũ trụ đ được tạo dựng, một vũ trụ đầy cc dấu vết của lời m qua đ mọi vật đ được dựng nn (xem Ga 1:2). Trong tư cch những con người nam nữ tin vo v cng bố Tin Mừng, ta c trch nhiệm đối với tạo vật. Mạc khải gip ta biết kế hoạch Thin Cha dnh cho vũ trụ, nhưng n cũng dẫn ta tới việc tố gic thi độ lầm lẫn kia từ khước khng chịu nhn mọi thực tại tạo dựng như l phản ảnh của Đấng Tạo Ha, m thay vo đ, chỉ l vật chất th sơ cần khai thc khng hề king d. Con người như thế thiếu hẳn lng khim nhường chủ yếu gip họ khả năng nhận ra tạo vật như hồng phc Cha ban, hồng phc m ta phải tiếp nhận v sử dụng ph hợp với kế hoạch của Người. Thay vo đ, sự ngạo mạn của con người nhn bản sống "như thể Thin Cha khng hiện hữu" dẫn họ tới việc khai thc v lm biến dạng khun mặt thin nhin, khng coi n như cng trnh do bn tay của lời sng tạo lm nn. Trong ngữ cảnh thần học ny, ti muốn nhắc lại tuyn bố của cc Nghị Phụ Thượng Hội Đồng. Cc vị muốn nhắc nhở ta rằng: "chấp nhận lời Cha, lời được Sch Thnh v Truyền Thống sống động của Gio Hội chứng thực, lm pht sinh ra một cch nhn sự vật thật mới mẻ, cổ vũ một sinh thi chn chnh, một sinh thi bắt rễ su trong việc vng phục của đức tin... [v] khai triển ra một nhạy cảm thần học đổi mới đối với sự tốt lnh của mọi vật, vốn được tạo nn trong Cha Kit" (352). Ta cần được cải huấn trong sự thn phục v trong khả năng biết nhận ra vẻ đẹp vốn được biểu lộ trong cc thực tại tạo dựng (353).

----

[327] Cf. Proposition 39.

[328] Cf. BENOT XVI, Message pour la Journe Mondiale de la Paix 2009; L'ORf, 16 dcembre 2008, pp. 3-4.

[329] Exhort. apost. Evangelii nuntiandi (8 dcembre 1975), n. 19: AAS 68 (1976), p. 18.

[330] Cf. Proposition 39.

[331] JEAN XXIII, Lett. enc. Pacem in terris (11 avril 1963), n. 1: AAS 55 (1963), p. 259.

[332] 332 Cf. JEAN-PAUL II, Lett. enc. Centesimus annus (1er mai 1991), n. 47: AAS 83 (1991), pp. 851-852; ID., Discours l'Assemble gnrale des Nations Unies (2 octobre 1979), n. 13: AAS 71 (1979), pp. 1152-1153.

[333] Cf. Abrg de la doctrine sociale de l'glise, nn. 152-159.

[334] Cf. BENOT XVI, Message pour la clbration de la Journe mondiale de la Paix 2007: ORf 19-26 dcembre 2006, p. 3.

[335] Cf. Proposition 8.

[336] BENOT XVI, Homlie l'occasion de la clture de la Semaine de prire pour l'unit des Chrtiens Saint-Paul-horsles-Murs (25 janvier 2009): L'ORf, 27 janvier 2009, p. 24.

[337] Id. Homlie l'occasion de la clture de la XIIe Assemble gnrale ordinaire du Synode des vques (26 octobre 2008): AAS 100 (2008), p. 779; L'ORf, 28 octobre 2008, p. 3.

[338] Proposition 11.

[339] BENOT XVI, Lett. enc. Deux caritas est (25 dcembre 2005), n. 28: AAS 98 (2006), p. 240.

[340] De doctrina christiana, I, XXXVI, 40: PL 34, 34.

[341] Cf. BENOT XVI, Message pour la XXI e Journe Mondiale de la Jeunesse 2006: AAS 98 (2006), pp. 282-286; La DC n. 2355, pp. 307-309.

[342] Cf. Proposition 34.

[343] Cf. Ibidem.

[344] BENOT XVI, Homlie pour la messe inaugurale du Ponticat (24 avril 2005): AAS 97 (2005), p. 712; La DC n. 2337, p. 549.

[345] Cf. Proposition 38.

[346] Cf. BENOT XVI, Homlie l'occasion de la XVIIe Journe Mondiale des Malades (11 fvrier 2009): L'ORf, 10 fvrier 2009, p. 4.

[347] Cf. Proposition 35.

[348] Proposition 11.

[349] Cf. BENOT XVI, Lett. enc. Deus caritas est (25 dcembre 2005), n. 25: AAS 98 (2006), pp. 236-237.

[350] Proposition 11.

[351] BENOT XVI, Homlie (1er janvier 2009): L'ORf, 6 janvier 2009, p. 12.

[352] Proposition 54.

[353] Cf. BENOT XVI, Exhort. apost. post-synodale Sacramentum caritatis (22 fvrier 2007), n. 92: AAS 99 (2007), pp. 176-177.

 

 

Lời Cha v Văn Ha

Gi trị của văn ha đối với đời sống nhn loại

Lời cng bố của Thnh Gioan rằng Ngi Lời đ thnh xc phm cho ta thấy mối lin kết khng thể phn rẽ giữa lời Cha v lời con người m Người dng để thng đạt với ta. Trong ngữ cảnh ny, cc Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đ xem st mối tương quan giữa lời Cha v văn ha. Thin Cha khng tự mạc khải Người cch trừu tượng, nhưng bằng cch sử dụng ngn ngữ, hnh ảnh v lối pht biểu vốn gắn b với nhiều nền văn ha khc nhau. Mối tương quan ny đ chứng tỏ l nhiều hoa tri, như lịch sử Gio Hội đ chứng thực một cch phong ph. Ngy nay, n đang đi vo một giai đoạn mới nhờ việc lan truyền Tin Mừng v việc Tin Mừng bn rễ bn trong cc nền văn ha khc nhau, cũng như do nhiều pht triển gần đy trong nền văn ha Ty Phương. Trước nhất, n đi phải c sự thừa nhận tầm quan trọng của văn ha đng nghĩa đối với cuộc sống mọi người, nam cũng như nữ. Trong nhiều kha cạnh khc nhau của n, hiện tượng văn ha l một dữ kiện chủ yếu của kinh nghiệm nhn bản. "Con người lun sống theo nền văn ha ring của họ, v nền văn ha ny ngược lại tạo ra giữa nhiều con người một sợi dy lin kết ring của họ, một sợi dy xc định ra đặc điểm lin nhn bản v x hội cho cuộc hiện sinh nhn bản" (354).

Qua cc thế kỷ, lời Cha lun linh hứng cc nền văn ha khc nhau, lm pht sinh ra cc gi trị lun lý nền tảng, cc biểu thức nghệ thuật xuất chng v cc lối sống điển hnh (355). Do đ, khi nhn vo cuộc gặp gỡ đổi mới giữa Thnh Kinh v văn ha, ti muốn trấn an tất cả những ai đang l thnh phần của thế giới văn ha rằng họ khng c chi phải sợ trước sự cởi mở của lời Cha, một sự cởi mở khng bao giờ tiu diệt nền văn ha đch thực, nhưng đng hơn, l một kch thch khng thi trong việc tm ra cc hnh thức pht biểu thch hợp hơn, c ý nghĩa v nhn đạo hơn. Mọi nền văn ha chn chnh, nếu thực sự để phục vụ nhn loại, đều phải cởi mở đối với tnh siu việt v sau cng, đối với Thin Cha.

 

Thnh Kinh, qui tắc vĩ đại cho cc nền văn ha

109.Cc Nghị Phụ Thượng Hội Đồng nhấn mạnh nhiều tới sự quan trọng của việc cổ vũ một nhận thức thch đng về Thnh Kinh nơi những người dấn thn trong lnh vực văn ha, cả trong cc ngữ cảnh thế tục v nơi những người khng c tn ngưỡng (356). Sch Thnh chứa đựng nhiều gi trị nhn học v triết học vốn gy ảnh hưởng tch cực đối với nhn loại như một ton thể (357). Cảm thức coi Thnh Kinh như qui tắc vĩ đại cho cc nền văn ha cần được phục hồi trọn vẹn.

 

Nhận thức Thnh Kinh trong cc trường học v đại học

110. Một khung cảnh đặc th cho cuộc gặp gỡ giữa lời Cha v văn ha l khung cảnh trường học v đại học. Cc mục tử nn đặc biệt lưu ý đến mi trường ny, cổ vũ một nhận thức su sắc hơn về Thnh Kinh v việc nắm vững cc hệ luận văn ha phong ph của n cả cho thời nay nữa. Cc trung tm nghin cứu, được cc nhm Cng Gio hỗ trợ, đang gp phần r rệt vo việc cổ vũ văn ha v gio dục, v việc ny cần được thừa nhận. Việc gio dục tn gio cũng khng được lng qun, v cc thầy c dạy mn ny phải được huấn luyện cẩn thận. Việc gio dục tn gio ny thường l cơ hội duy nhất học sinh v sinh vin c được để gặp gỡ sứ điệp đức tin. Trong việc giảng dạy tn gio, cần phải nhấn mạnh tới nhận thức về Sch Thnh, như phương tiện để vượt qua cc thnh kiến cũ v mới, v gip cho chn lý của n được biết tốt hơn (358).

 

Sch Thnh trong cc pht biểu nghệ thuật

111. Mối tương quan giữa lời Cha v văn ha tm được biểu thức trong nhiều lnh vực, nhất l trong nghệ thuật. V lý do ny, truyền thống vĩ đại của cả Đng lẫn Ty đều lun lun qu chuộng cc tc phẩm nghệ thuật được Sch Thnh linh hứng, th dụ cc nghệ thuật tạo hnh v kiến trc, văn chương v m nhạc. Ti cũng nghĩ tới ngn ngữ cổ xưa được pht biểu qua ảnh tượng (icons) m từ truyền thống Đng Phương đ từ từ truyền b ra khắp hế giới. Cng với cc Nghị Phụ Thượng Hội Đồng, ton thể Gio Hội by tỏ sự đnh gi, lng qu chuộng v thn phục của mnh đối với cc nghệ sĩ v "say m ci đẹp" từng rt cảm hứng từ cc bản văn thnh. Họ đ đng gp vo việc trang hong cc nh thờ, vo việc cử hnh đức tin của ta, vo việc lm đẹp nền phụng vụ của ta v nhiều người trong số họ đ gip biến thnh khả thức (perceptible), trong thời gian v khng gian, cc thực tại vốn v hnh v trường cửu (359). Ti khuyến khch cc cơ quan v nhm c khả năng cổ vũ trong Gio Hội một sự đo tạo vững chắc cho cc nghệ sĩ về phương diện Sch Thnh dưới nh sng truyền thống sống động v huấn quyền của Gio Hội.

 

Lời Cha v cc phương tiện truyền thng x hội

112. Nối kết với mối tương quan giữa lời Cha v văn ha l nhu cầu phải biết sử dụng một cch cẩn thận v thng minh cc phương tiện truyền thng, cả cũ lẫn mới. Cc Nghị Phụ Thượng Hội Đồng ku gọi ta phải c một nhận thức thch đng về cc phương tiện ny; cc ngi ghi nhận sự pht triển mau chng v cc bnh diện tc động qua lại khc nhau của chng, v yu cầu phải đưa ra nhiều cố gắng hơn nữa để c được hiểu biết chuyn mn trong cc bộ phận lin hệ khc nhau, nhất l trong bộ phận cc phương tiện truyền thng mới, như lin mạng (internet) chẳng hạn. Gio Hội vốn hiện diện một cch c ý nghĩa trong thế giới truyền thng đại chng, v huấn quyền Gio Hội, bắt đầu từ Cng Đồng Vatican II, thường xuyn can thiệp vo chủ đề ny (360). Khm ph ra cc phương php mới để thng truyền sứ điệp Tin Mừng lun l một phần của chương trnh nối vng tay lớn do cc tn hữu chủ động nhằm phc m ha một cch lin tục. Ngy nay, truyền thng diễn tiến nhờ một hệ thống c tnh hon cầu, v do đ mang lại một ý nghĩa mới cho lời của Cha Kit: "Điều Thầy ni với cc con trong bng tối, cc con hy ni n nơi nh sng; v điều cc con nghe th thầm, hy cng bố n trn mi nh" (Mt 10:27). Lời Cha nn vang dội khng những trong cc phương tiện truyền thng in ấn, nhưng cn trong cc hnh thức truyền thng khc nữa (361). V lý do đ, cng với cc Nghị Phụ Thượng Hội Đồng, ti muốn by tỏ lng biết ơn đối với những người Cng Gio đang thực hiện nhiều cố gắng nghim chỉnh nhằm cổ vũ sự hiện diện đầy ý nghĩa trong thế giới truyền thng đại chng, v ti yu cầu nn c một dấn thn rộng lớn v c gi trị hơn trước đy về phương diện ny (362).

Ngy nay, trong số cc hnh thức truyền thng đại chng mới, ta cần nhn nhận vai tr ngy cng lớn của lin mạng, hiện đang đại biểu cho một nghị hội mới nhằm lm cho Tin Mừng được nhiều người nghe. Ấy thế nhưng, ta cũng cần ý thức điều ny: thế giới ảo (virtual world) sẽ khng bao giờ c khả năng thay thế được thế giới thật, v việc phc m ha sẽ chỉ c khả năng sử dụng thế giới ảo do cc phương tiện truyền hng mới cung ứng để tạo ra cc lin hệ c ý nghĩa nếu c thể cung ứng được một tiếp xc c tnh bản thn, l điều lun cấp thiết. Trong thế giới lin mạng, một hệ thống gip cho hng tỷ hnh ảnh xuất hiện trn hng triệu mn ảnh khắp thế giới, khun mặt Cha Kit cần được nhn thấy v tiếng Người cần được lắng nghe, v "nếu khng c chỗ dnh cho Cha Kit, th cũng khng c chỗ dnh cho con người" (363).

 

Sch Thnh v hội nhập văn ha

113.Mầu nhiệm nhập thể cho ta thấy d Thin Cha lun thng đạt trong một lịch sử cụ thể, tiếp nhận qui tắc văn văn ha dnh kết trong đ, nhưng cng một lời c thể v phải được chuyển giao trong nhiều nền văn ha khc nhau, biến đổi cc nền văn ha ny ngay từ bn trong, nhờ điều được Đức Gio Hong Phaol VI gọi l phc m ha cc nền văn ha (364). Như chnh đức tin Kit Gio, lời Cha c một đặc điểm lin văn ha su sắc; n c khả năng gặp gỡ nhiều nền văn ha khc nhau v ngược lại, gip cc nền văn ha ny gặp gỡ nhau (365).

Ở đy, ta cũng c thể đnh gi được sự quan trọng của việc hội nhập văn ha của Tin Mừng (366). Gio Hội hon ton xc tn rằng lời Cha cố hữu vẫn c khả năng ni với mọi con người nhn bản trong chnh ngữ cảnh văn ha ring của họ: "xc tn ny pht sinh từ chnh Sch Thnh, l Sch ngay từ Cuốn Sng Thế, đ tiếp nhận một quan điểm phổ qut (xem St 1:27-28), sau đ vẫn duy tr quan điểm ny trong lời chc phc hứa ban cho mọi dn tộc qua praham v con chu ng (xem St 12:3; 18:18), v củng cố n một cch dứt khot khi mở rộng việc cng bố Tin Mừng đến 'mọi dn tộc'" (367). V lý do ny, khng nn lẫn lộn việc hội nhập văn ha với diễn trnh thch ứng hời hợt bn ngoi, cng khng nn lẫn lộn n với chủ nghĩa chiết trung bừa bi chỉ nhằm lm long tnh độc đo của Tin Mừng để được người ta chấp nhận dễ dng hơn (368). Mẫu mực hội nhập văn ha chn chnh chnh l việc nhập thể của Ngi Lời: "Hội nhập văn ha sẽ thực sự phản ảnh được việc nhập thể của Ngi Lời khi một nền văn ha, nhờ được Tin Mừng biến đổi v ti sinh, đem lại được từ truyền thống sống động của mnh cc pht biểu độc đo về lối sống, lối cử hnh v lối suy tư Kit Gio" (369), dng lm chất men ngay trong nền văn ha địa phương, nng cao semina Verbi (hạt giống lời Cha) v mọi yều tố tch cực hiện diện trong nền văn ha ấy, do đ, mở cửa nền văn ha ấy cho cc gi trị của Tin Mừng bước vo (370).

 

Phin Dịch Thnh Kinh v lm n được nhiều người sử dụng hơn

114. Việc hội nhập văn ha lời Cha l một phần cấu thnh ra sứ mệnh của Gio Hội trong thế giới, v giy pht c tnh quyết định trong diễn trnh ấy chnh l việc phổ biến Sch Thnh qua cng trnh phin dịch n sang cc ngn ngữ khc nhau. Ở đy, ta nn lun lun nhớ rằng cng việc phin dịch Sch Thnh đ từng được đảm nhiệm "từ thời Cựu Ước khi bản văn Hpri của Sch Thnh được phin dịch bằng lời sang tiếng Aram (xem Nh 8:8, 12) v sau đ bằng chữ viết sang tiếng Hy Lạp. Dĩ nhin, một bản dịch lun lun hơn một bản sao chp đơn thuần từ nguyn bản. Việc chuyển dịch từ ngn ngữ ny sang một ngn ngữ khc nhất thiết bao gồm một thay đổi ngữ cảnh văn ha: cc ý niệm khng cn y hệt (identical) v cc biểu tượng sẽ c một ý nghĩa khc, v chng xuất hiện trong bối cảnh truyền thống tư duy v lối sống khc" (371).

Tại Thượng Hội Đồng, người ta thấy r: một số Gio Hội địa phương vẫn cn thiếu một bản dịch đầy đủ bộ Thnh Kinh sang ngn ngữ ring của họ. Biết bao người ngy nay đang đi kht lời Cha, ấy thế m họ vẫn chưa c "cơ hội rộng ri sử dụng Sch Thnh" (372) như Cng Đồng Vatican II ước muốn! V lý do ny, Thượng Hội Đồng cho rằng việc quan trọng hơn cả l huấn luyện cc nh chuyn mn để họ dấn thn vo việc phin dịch Sch Thnh sang cc ngn ngữ khc nhau (373). Ti muốn khuyến khch việc đầu tư ti nguyện vo lnh vực ny. Cch ring, ti muốn khuyến co việc hỗ trợ cng trnh của Lin Hội Thnh Kinh Cng Gio nhằm mục tiu gia tăng hơn nữa con số cc bản dịch Sch Thnh v việc truyền b chng (374). V chnh bản chất của một cng trnh như thế, n cần được tiến hnh với sự hợp tc hết sức c thể với cc Hiệp Hội Thnh Kinh khc nhau.

 

Lời Cha vượt trn mọi giới hạn văn ha

115. Trong cc phin thảo luận của mnh về mối tương quan giữa lời Cha v cc nền văn ha, Cuộc Họp của Thượng Hội Đồng cảm thấy cần phải ti khẳng định một điều m cc Kit hữu ban đầu từng cảm nghiệm ngay từ ngy Lễ Ngũ Tuần (Cv 2:1-2). Lời Cha c khả năng đi vo v tm ra biểu thức trong nhiều nền văn ha v ngn ngữ khc nhau, ấy thế nhưng cng một lời ni ấy đ thắng vượt cc giới hạn của cc nền văn ha c biệt để tạo ra sự hiệp thng giữa nhiều dn tộc khc nhau. Lời Cha ku mời ta tiến về một hiệp thng mỗi lc một bao qut hơn. "Ta vượt thot cc giới hạn trong chnh cảm nghiệm của ta để bước vo thực tại thực sự phổ qut. Bước vo hiệp thng với lời Cha, l ta bước vo hiệp thng của Gio hội, một hiệp thng sống lời Cha... N c nghĩa đi qu bn kia cc giới hạn của nền văn ha c thể m bước vo tnh phổ qut vốn nối kết tất cả, hợp nhất tất cả, lm tất cả chng ta nn anh chị em" (375). Việc cng bố cng trnh của Cha như thế lun đi hỏi ở ta trước tin một cuộc xuất hnh mới, để ta để lại pha sau chnh cc tiu chuẩn v tr tưởng tượng hữu hạn của mnh v dnh chỗ cho Cha Kit hiện diện.

 

Lời Cha v đối thoại lin tn

Gi trị của đối thoại lin tn

116. Gio Hội coi phần chủ yếu trong việc cng bố lời Cha l hệ ở việc gặp gỡ, đối thoại v hợp tc với mọi người thiện ch, nhất l với tn hữu của cc truyền thống tn gio khc nhau của nhn loại. Điều ny phải diễn ra m khng c những hnh thức như duy chiết trung v duy tương đối, m l theo những đường hướng m Tuyn Ngn Nostra Aetate của Cng Đồng Vatican II đ đưa ra v sau đ được huấn quyền của nhiều vị Gio Hong khai triển (376). Ngy nay, nhịp độ hon cầu ha mau chng đ lm cho người thuộc cc nền văn ha v tn gio khc nhau c thể tiếp xc với nhau một cch gần gũi hơn. Điều ny cho thấy một cơ hội đầy quan phng để chứng tỏ việc tnh tn gio chn thực c thể cổ vũ dễ dng xiết bao cc lin hệ huynh đệ phổ qut. Trong cc x hội thế tục ha của ta hiện nay, điều rất quan trọng l cc tn gio cần c khả năng cổ vũ được một no trạng biết coi Đấng Ton Năng l nền tảng của mọi điều thiện, l nguồn bất tận của đời sống lun lý, v l thnh lũy của cảm thức su xa về tnh anh em phổ qut.

Th dụ, trong truyền thống Do Thi v Kit Gio, người ta thấy một chứng t cảm động về tnh yu của Thin Cha dnh cho mọi dn tộc: trong giao ước với N, Người lin kết họ trong một ci m hn vĩ đại được biểu tượng bằng "vng cung (cầu vồng) trn my" (St 9:13, 14, 16) v, theo lời cc tin tri, Người muốn tụ tập họ thnh một gia đnh duy nhất (xem Is 2:2 v tiếp theo; 42:6; 66:18-21; Gr 4:2; Tv 47). Chứng cớ của sự lin kết chặt chẽ giữa mối lin hệ với Thin Cha v nền đạo đức học yu thương mọi người đều được tm thấy trong nhiều truyền thống tn gio lớn.

 

Đối thoại giữa Kit hữu v người Hồi Gio

117. Trong số cc tn gio khc nhau, Gio Hội cũng nhn người Hồi Gio với lng knh trọng; họ l những người thờ lạy Thin Cha duy nhất (377). Họ mong đợi praham v thờ phượng Thin Cha trn hết mọi sự bằng cầu nguyện, bố th v ăn chay. Ta nhn nhận rằng tryền thống Hồi Gio bao gồm v vn nhn vật, biểu tượng v chủ đề trong Thnh Kinh. Nhờ cc cố gắng do Đấng Đng Knh Gioan Phaol II khởi sự, ti by tỏ niềm hy vọng rằng cc mối lin hệ đầy đức tin từng được thiết lập giữa cc Kit hữu v người Hồi Gio trong nhiều năm qua sẽ tiếp tục khai triển trong tinh thần đối thoại thnh thực v tn trọng nhau (378). Trong cuộc đối thoại ny, Thượng Hội Đồng yu cầu c một suy tư su sắc hơn về việc tn trọng sự sống như một gi trị nền tảng, cc quyền bất khả nhượng của nam giới v nữ giới, v phẩm gi bnh đẳng của họ. Căn cứ vo sự phn biệt quan trọng cần phải c giữa trật tự x hội chnh trị v trật tự tn gio, cc tn gio khc nhau phải đng gp đặc biệt vo ch chung. Thượng Hội Đồng yu cầu cc hội đồng gim mục, bất cứ khi no thch hợp v hữu ch, cần khch lệ những cuộc gặp gỡ nhằm gip cc Kit hữu v người Hồi Gio đến với nhau để hiểu biết nhau hơn, ng hầu cổ vũ cc gi trị m x hội đương cần cho một cuộc sống chung ha bnh v tch cực (379).

 

Đối thoại với cc tn gio khc

118. Ở đy nữa, ti cũng xin ni ln lng knh trọng của Gio Hội đối với cc tn gio cổ xưa v cc truyền thống tm linh của nhiều lục địa. Cc định chế ny chứa đựng nhiều gi trị c thể thăng tiến một cch lớn lao sự hiểu biết nhau giữa cc c nhn v cc dn tộc (380). Ta thường hay nhận ra một sự ha hợp về gi trị cũng được pht biểu trong cc sch tn gio của họ, như trong Phật Gio, c việc tn trọng sự sống, việc chim niệm, sự thanh tĩnh, sự đơn thnh; trong Ấn Độ Gio, c cảm thức về thnh thing, về hy lễ v chay tịnh; rồi trong Khổng Gio, c cc gi trị gia đnh v x hội. Chng ta cũng hi lng tm thấy nơi cc kinh nghiệm tn gio khc một quan tm chn chnh đối sự siu việt của Thin Cha, được họ nhn nhận l Đấng Ha Cng, cũng như việc tn trọng sự sống, hn nhn v gia đnh, v một cảm thức mạnh về lin đới.

 

Đối thoại v tự do tn gio

119. D sao đi nữa, đối thoại cũng sẽ tỏ ra v ch nếu n khng bao gồm lng tn trọng chn thực đối với mỗi con người v khả năng để họ tự do thực hnh tn gio của họ. Bởi thế, khi khuyến khch sự hợp tc giữa cc tn hữu của cc tn gio khc nhau, Thượng Hội Đồng cũng chỉ r "nhu cầu phải c tự do để tuyn xưng tn gio của người ta, cả tư ring lẫn nơi cng cộng, v phải bảo đảm tự do lương tm cho mọi tn hữu" (381): thực vậy, "tn trọng v đối thoại đi c sự hỗ tương ở mọi lnh vực, nhất l trong lnh vực lin quan tới cc tự do căn bản, đặc biệt hơn phải kể đến tự do tn gio. Tn trọng v đối thoại như thế sẽ cổ vũ ha bnh v hiểu biết nhau giữa cc dn tộc" (382).

 

KẾT LUẬN

 

Lời dứt khot của Thin Cha

120. Để kết thc cc suy tư m ti vừa dng để tm cch thu thập v xem st đầy đủ hơn cc thnh quả phong ph của Cuộc Họp Thường Lệ Lần Thứ Mười Hai Thượng Hội Đồng Gim Mục về Lời Cha trong Đời Sống v Sứ Vụ của Gio Hội, ti muốn một lần nữa khuyến khch ton thể Dn Cha, cc mục tử, cc người sống đời tận hiến v cc gio dn hy trở nn thn quen hơn với Sch Thnh. Ta khng bao giờ nn qun rằng mọi nền linh đạo Kit Gio chn chnh v sống động đều đặt căn bản trn lời Cha được cng bố, được chấp nhận, được cử hnh v được suy niệm trong Gio Hội. Mối lin hệ với lời Cha c tnh đo su ny sẽ diễn ra một cch ho hứng hơn nếu ta biết ý thức rằng trong Sch Thnh v Truyền Thống sống động của Gio Hội, ta đứng trước lời dứt khot của Thin Cha phn trn vũ trụ v trn lịch sử.

Tự Ngn của Tin Mừng Thnh Gioan dẫn ta tới việc suy đi nghĩ lại sự kiện ny: mọi sự hiện hữu đều hiện hữu dưới dấu chỉ của Lời. Lời pht xuất thẳng từ Cha Cha m ra, đến cư ngụ giữa chng ta v rồi quay về cng Cha Cha ng hầu đem theo với Người cả sng thế vốn đ được tạo nn nơi Người v cho Người. Nay Gio Hội đang tiến hnh sứ vụ của mnh trong niềm hoi mong tha thiết được thấy Lang Qun của mnh mau xuất hiện cnh chung: "Thần Kh v Tn Nương ni: 'Xin hy đến!'" (Kh 22:17). Lng hoi mong ny khng bao giờ c tnh thụ động; đng hơn, n l lực thc đẩy truyền gio ra đi cng bố lời Cha, lời vốn chữa lnh v cứu chuộc mọi người. Cả ngy nay nữa, Cha Gisu Phục Sinh cũng đang ni với ta: "Hy đi khắp thế giới v cng bố Tin Mừng cho mọi loi thụ tạo" (Mc 16:15).

 

Tn phc m ha v một lối nghe mới

121. Như thế, thời đại ta cần phải được đnh dấu ngy một hơn bằng một lối nghe mới đối với lời Cha v một lối tn phc m ha. Phục hồi tnh trung tm của lời Cha trong đời sống Kit Gio sẽ dẫn chng ta tới việc biết đnh gi như mới ý nghĩa su xa nhất trong lời ku gọi mạnh mẽ của Đức Gio Hong Gioan Phaol II: l theo đuổi missio ad gentes (việc truyền gio) v mạnh bạo dấn thn vo việc tn phc m ha, nhất l giữa cc dn tộc nơi Tin Mừng bị lng qun hay đang gặp dửng dưng do hậu quả của chủ nghĩa duy tục phổ qut. Xin Cha Thnh Thần lm sống dậy sự kht khao lời Cha, v lm trổi sinh nhiều sứ giả v nhn chứng nhiệt thnh của Tin Mừng.

Theo gương vị Tng Đồ Vĩ Đại của Dn Ngoại, người đ thay đổi dng đời của mnh sau khi nghe tiếng Cha (xem Cv 9:1-30), ta hy nghe lời Cha như đang ni với ta, lc ny v tại đy, lc no cũng đch danh. Ta được Cng Vụ Tng Đồ thuật lại: Cha Thnh Thần đặt ring Phaol v Barnaba cho việc cng bố v truyền b Tin Mừng (xem 13:2). Cả ngy nay nữa, Cha Thnh Thần cũng khng ngừng ku gọi cho c những người nghe v những vị giảng thuyết lời Cha đầy xc tn v thuyết phục.

 

Lời Cha v niềm vui

122. Việc cởi mở của ta với lời Cha cng lớn th ta cng c khả năng nhận thức rằng cả nay nữa, mầu nhiệm Hiện Xuống vẫn đang xẩy ra trong Gio Hội của Cha. Thần Kh Cha vẫn tiếp tục đổ trn ơn phc của Người trn Gio Hội để hướng dẫn ta vo mọi chn lý, để cho ta thấy ý nghĩa Sch Thnh v lm ta trở thnh sứ giả khả tn của lời cứu rỗi trước mặt thế giới. Như thế, ta đ trở lại với Thư Thứ Nhất của Thnh Gioan. Trong lời Cha, ta cũng đ nghe, ta cũng đ nhn v đ đụng tới Lời ban sự sống. Nhờ ơn thnh, ta đ nghinh đn lời cng bố rằng sự sống đời đời đ được mạc khải, v do đ, ta đ tiến tới việc nhận ra sự hiệp thng của ta với nhau, với những người đ đi trước chng ta được ghi dấu bằng dấu chỉ đức tin, v với mọi người trn khắp thế giới đang nghe lời Cha, đang cử hnh Thnh Thể, v đang đem đời sống mnh ra lm chứng cho tnh yu. Thnh Gioan Tng Đồ nhắc nhở ta rằng: lời cng bố ny đ được chia sẻ với ta để "niềm vui của ta được hon ton" (1 Ga 1:4).

Cuộc hội họp của Thượng Hội Đồng gip ta khả năng cảm nghiệm được mọi điều Thnh Gioan ni đến: việc cng bố lời tạo ra hiệp thng v mang lại niềm vui. Đy l một niềm vui su xa bắt nguồn từ chnh trung tm sự sống Ba Ngi v được thng truyền cho ta nơi Cha Con. Niềm vui ny l một hồng n khn tả m thế giới khng thể no ban tặng được. Người ta c thể tổ chức cc cuộc cử hnh lễ lạc, nhưng niềm vui th khng. Theo Sch Thnh, niềm vui l hoa tri của Cha Thnh Thần (xem Gl 5:22), Đấng gip ta bước vo lời Cha v gip lời Cha bước vo trong ta v đem lại hoa tri sự sống đời đời. Qua việc cng bố lời Cha nhờ quyền lực Cha Thnh Thần, ta cũng muốn chia sẻ nguồn suối của niềm vui đch thực, khng phải thứ niềm vui hời hợt mau qua, nhưng l niềm vui pht sinh từ việc ý thức rằng chỉ một mnh Cha Gisu mới c lời hằng sống (xem Ga 6:68).

 

"Mater Verbi et Mater laetitiae" (Mẹ của Lời v Mẹ của niềm vui)

123. Tương quan chặt chẽ giữa lời Cha v niềm vui kh hiển nhin nơi Mẹ Thin Cha. Ta hy nhớ lại lời Thnh Nữ lisabt: "Phc cho người tin rằng sẽ c sự nn trọn đối với điều Cha đ ni với họ" (Lc 1:45). Đức Maria c phc v ngi c đức tin, v ngi đ tin, v trong đức tin ny, ngi đ tiếp nhận Lời Cha trong lng mnh để rồi ban Người cho thế giới. Niềm vui pht sinh từ Lời Cha nay c thể trải di tới tận những người, nhờ đức tin, biết để mnh được lời Cha thay đổi. Tin Mừng Luca trnh by mầu nhiệm nghe v vui ny trong hai bản văn. Cha Gisu ni: "Mẹ v anh em ti l những ai nghe lời Thin Cha v thực hnh n" (8:21). V khi trả lời người đn b trong đm đng ln tiếng chc phc lng đ cưu mang Người v v đ cho Người b, Cha Gisu bật m niềm vui thực sự: "Đng hơn phc cho những ai nghe lời Thin Cha v vng theo n!" (11:28). Cha Gisu chỉ cho thấy r sự cao cả thực sự của Đức Maria, khiến mỗi người chng ta c thể đạt tới được mối phc vốn pht sinh từ việc tiếp nhận lời Cha v đem n ra thực hnh. Ti xin nhắc nhở mọi Kit hữu rằng mối lin hệ bản thn v cộng đon của ta với Thin Cha ty thuộc ở việc ta cng ngy cng thn quen với lời Cha. Sau cng, ti hướng về mọi người nam nữ, kể cả những người đ rời xa Gio Hội, đ từ bỏ đức tin hay chưa bao giờ nghe cng bố ơn cứu độ. Đối với mọi người, Cha từng ni: "Ny, Ta đang đứng ngoi cửa v g, nếu bất cứ ai nghe tiếng Ta v mở cửa, Ta sẽ vo với họ v ăn với họ, v họ sẽ ăn với Ta" (Kh 3:20).

Mong sao mọi ngy trong đời ta đều được ln khun bởi cuộc gặp gỡ đổi mới với Cha Kit, Lời của Cha Cha đ thnh Xc Phm: Người đứng ở nguyn khởi v kết thc, v "trong Người mọi sự đều tồn tại" (Cl 1:17).Ta hy lặng thinh để nghe lời Cha v suy niệm về lời ấy, để nhờ hnh động của Cha Thnh Thần, n ở mi trong tri tim ta v ni với ta mọi ngy trong đời Ta. Bằng cch đ, Gio Hội sẽ lun được canh tn v tươi trẻ trở lại, nhờ lời Cha hiện diện mi mi (xem 1Pr 1:25; Is 40:8). Nhờ thế, cả chng ta nữa sẽ bước vo cuộc đối thoại tn hn vĩ đại vốn kết thc Sch Thnh: "Thần Kh v Tn Nương cng ni: 'Xin Ngi ngự đến!' Ai nghe, hy ni: 'Xin Ngi ngự đến!' Đấng lm chứng về những điều đ phn rằng: 'Phải, chẳng bao lu nữa Ta sẽ đến'. Amen, lạy Cha Gisu, xin ngự đến" (Kh 22: 17, 20).

 

Ban hnh tại Rma, tại Đền Thờ Thnh Phr, ngy 30 thng 9, Ngy Lễ Thnh Girm, năm 2010, năm thứ 6 Triều Gio Hong của ti.

BNĐCT XVI

Vũ Văn An dịch

 

 

Ch Thch

[1] Xem Đề nghị 1.

[2] Xem Cuộc Họp Thường Lệ Thứ Mười Hai Thượng Hội Đồng Gim Mục, Ti Liệu Lm Việc, 27.

[3] Xem L XIII, Thng Điệp Providentissimus Deus (18/11/ 1893): ASS 26 (1893-94), 269-292; Bnđct XV, Thng Điệp Spiritus Paraclitus (15/09/1920): AAS 12 (1920), 385-422; PI XII, Thng Điệp Divino Afflante Spiritu (30/09/1943): AAS 35 (1943), 297-325.

[4] Đề Nghị 2.

[5] Đ dẫn.

[6] Cng Đồng Vatican II, Hiến Chế Tn Lý về Mạc Khải Thin Cha Dei Verbum, 2.

[7] Đ dẫn, 4

[8] Đng lưu ý trong số cc loại can thiệp khc nhau l: Phaol VI, Tng Thư Summi Dei Verbum (4/11/1963): AAS 55 (1963), 979-995; Tự Sắc Sedula Cura (27/06/1971): AAS 63 (1971), 665-669; Gioan Phaol II, Yết Kiến Chung (01/05/1985): L'Osservatore Romano, 2-3/05/1985, p. 6; Diễn Văn về Việc Giải Thch Thnh Kinh Trong Gio Hội (23/04/1993): AAS 86 (1994), 232-243; Bnđct XVI, Diễn Văn Trước Hội Nghị Quốc Tế tổ chức nhn Kỷ Niệm 40 Năm Hiến Chế "Dei Verbum" (16/ 09/2005): AAS 97 (2005), 957; Kinh Truyền Tin (06/11/2005): Insegnamenti I (2005), 759-760. Cũng đng nhắc tới cc can thiệp của Ủy Ban Gio Hong về Thnh Kinh, De Sacra Scriptura et Christologia (1984): Enchiridion Vaticanum 9, cc số 1208-1339; Hợp Nhất v Đa Dạng Trong Gio Hội (11/04/1988): Enchiridion Vaticanum 11, cc số 544-643; Giải Thch Thnh Kinh Trong Gio Hội (15/04/1993): Enchiridion Vaticanum 13, cc số 2846-3150; Dn Do Thi V Sch Thnh Của Họ Trong Sch Thnh Kit Gio (24/05/2001): Enchiridion Vaticanum 20, c số 733-1150; Thnh Kinh V Lun Lý Tnh: Gốc Rễ Thnh Kinh Của Tc Phong Kit Gio (11/05/2008): Vatican City, 2008.

[9] Xem Bnđct XVI, Diễn Văn Trước Gio Triều (22/12/2008): AAS 101 (2009), 49.

[10] Xem Đề Nghị 37.

[11] Xem Ủy Ban Gio Hong Về Thnh Kinh, Dn Do Thi V Sch Thnh Của Họ Trong Sch Thnh Kit Gio (24/05/2001): Enchiridion Vaticanum 20, Cc số 733-1150.

[12] Bnđct XVI, Diễn Văn Trước Gio Triều (22/12/2008): AAS 101 (2009), 50.

[13] Xem Bnđct XVI, Kinh Truyền Tin (04/01/2009): Insegnamenti V, 1 (2009), 13.

[14] Xem Phc Trnh Trước Khi Thảo Luận, I.

[15] Cng Đồng Vatican II, Hiến Chế Tn Lý về Mạc Khải Thin Cha Dei Verbum, 2.

[16] Bnđct XVI, Thng Điệp Deus Caritas Est (25/12/2005), 1: AAS 98 (2006), 217-218.

[17] Ti liệu lm việc, 9.

[18] Kinh Tin Knh Nixen-Constantinốp DS 150.

[19] Thnh Bernard Thnh Clairvaux, Homilia super missus est, IV, 11: PL 183, 86B.

[20] Xem Cng Đồng Vatican II, Hiến Chế Tn Lý về Mạc Khải Thin Cha Dei Verbum, 10.

[21] Xem Đề Nghị 3.

[22] Xem Bộ Gio Lý Đức Tin, Tuyn Ngn Về Tnh Duy Nhất V Cứu Độ Phổ Qut Của Cha Gisu Kit v của Gio Hội Dominus Iesus (06/08/2000), 13-15: AAS 92 (2000), 754-756.

[23] Xem In Hexaemeron, XX, 5: Opera Omnia V, Quaracchi 1891, pp. 425-426; Breviloquium I, 8: Opera Omnia V, Quaracchi 1891, pp. 216-217.

[24] Itinerarium mentis in Deum, II, 12: Opera Omnia V, Quaracchi 1891, pp. 302-303; Xem Commentarius in librum Ecclesiastes, Cap. 1, vers. 11; Quaestiones, II, 3: Opera Omnia VI, Quaracchi 1891, p. 16.

[25] Cng Đồng Vatican II, Hiến Chế Tn Lý về Mạc Khải Thin Cha Dei Verbum, 3; Xem Cng Đồng Vatican I, Hiến Chế Tn Lý về Đức Tin Cng Gio Dei Filius, Chap. 2, De Revelatione: DS 3004.

[26] Đề Nghị 13.

[27] Ủy Ban Thần Học Quốc Tế, Đi Tm Nền Đạo Đức Học Phổ Qut: Một Ci Nhn Mới về Luật Tự Nhin, Vatican City, 2009, No. 39.

[28] Xem Summa Theologiae, Ia-IIae, q. 94, a. 2.

[29] Xem Ủy Ban Gio Hong Về Thnh Kinh, Thnh Kinh V Lun Lý Tnh: Gốc Rễ Thnh Kinh Của Tc Phong Kit Gio (11/05/2008), Vatican City, 2008, Nos. 13, 32, 109.

[30] Xem Ủy Ban Thần Học Quốc Tế, Đi Tm Nền Đạo Đức Học Phổ Qut: Một Ci Nhn Mới về Luật Tự Nhin, Vatican City, 2009, No. 102.

[31] Xem Bnđct XVI, Bi Giảng Khi Cử Hnh Giờ Kinh Ba Ngy Khởi Đầu Phin HọpTon Thể Đầu Tin Thượng Hội Đồng Gim Mục (06/10/2008): AAS 100 (2008), 758-761.

[32] Cng Đồng Vatican II, Hiến Chế Tn Lý về Mạc Khải Thin Cha Dei Verbum, 14.

[33] Bnđict XVI, Thng Điệp Deus Caritas Est (25/12/2005), 1: AAS 98 (2006), 217-218.

[34] "Ho Logos pachynetai (hay: brachynetai)". Xem Origen, Peri Archon, I, 2,8: SC 252, 127-129.

[35] Bnđct XVI, Bi Giảng Thnh Lễ Trọng Thể Knh Sinh Nhật Cha (24/12/2006): AAS 99 (2007), 12.

[36] Xem Thng Điệp Cuối Cng, II, 4-6.

[37] Maximus Hiển Tu, Cuộc Đời Đức Mẹ, số 89: Testi mariani del primo millennio, 2, Rome, 1989, p. 253.

[38] Xem Bnđct XVI, Tng Huấn Hậu Thượng Hội Đồng Sacramentum Caritatis (22/02/2007), 9-10: AAS 99 (2007), 111-112.

[39] Bnđct XVI, Yết Kiến Chung (15/04/2009): L'Osservatore Romano, 16 thng Tư 2009, p.1.

[40] Đ dẫn, Bi Giảng Lễ Trọng Hiển Linh (06/01/2009): L'Osservatore Romano, 7-8 Thng Ging 2009, tr. 8.

[41] Cng Đồng Vatican II, Hiến Chế Tn Lý về Mạc Khải Thin Cha Dei Verbum, 4.

[42] Đề Nghị 4.

[43] Thnh Gioan Thnh Gi, Ln Ni Ccmen, II, 22.

[44] Đề Nghị 47.

[45] Sch Gio Lý Của Gio Hội Cng Gio, 67.

[46] Xem Bộ Gio Lý Đức Tin, Sứ Điệp Fatima (26/06/2000): Enchiridion Vaticanum 19, cc số 974-1021.

[47] Adversus Haereses, IV, 7, 4: PG 7, 992-993; V, 1, 3: PG 7, 1123; V, 6, 1: PG 7, 1137; V, 28, 4: PG 7, 1200.

[48] Xem Bnđct XVI, Tng Huấn Hậu Thượng Hội Đồng Sacramentum Caritatis (22/02/2007), 12: AAS 99 (2007), 113-114.

[49] Xem Đề Nghị 5.

[50] Adversus Haereses, III, 24, 1: PG 7, 966.

[51] Homiliae in Genesim, XXII, 1: PG 53, 175.

[52] Epistula 120, 10: CSEL 55, 500-506.

[53] Homiliae in Ezechielem, I, VII, 17: CC 142, p. 94.

[54] "Oculi ergo devotae animae sunt columbarum quia sensus eius per Spiritum sanctum sunt illuminati et edocti, spiritualia sapientes. Nunc quidem aperitur animae talis sensus, ut intellegat Scripturas": Richard thuộc (Đan Viện) Saint Victor, Explicatio in Cantica Canticorum, 15: PL 196, 450B and D.

[55] Sacramentarium Serapionis II (XX): Didascalia et Constitutiones Apostolorum, F.X. Funk chủ bin, II, Paderborn, 1906, p. 161.

[56] Cng Đồng Vatican II, Hiến Chế Tn Lý về Mạc Khải Thin Cha Dei Verbum, 7.

[57] Đ dẫn, 8.

[58] Đ dẫn.

[59] Xem Đề Nghị 3.

[60] Xem Thng Điệp Cuối Cng II, 5.

[61] Expositio Evangelii secundum Lucam, 6, 33: PL 15, 1677.

[62] Cng Đồng Vatican II, Hiến Chế Tn Lý về Mạc Khải Thin Cha Dei Verbum, 13.

[63] Sch Gio Lý Của Gio Hội Cng Gio, 102; Cũng xem Rupert of Deutz, De Operibus Spiritus Sancti, I, 6: SC 131:72-74.

[64] Enarrationes in Psalmos, 103, IV, 1: PL 37, 1378. Cc pht biều tương tự trong ORIGEN, In Iohannem V, 5-6: SC 120, pp. 380-384.

[65] Xem Cng Đồng Vatican II, Hiến Chế Tn Lý về Mạc Khải Thin Cha Dei Verbum, 21.

[66] Đ dẫn, 9.

[67] Xem Đề Nghị 5 v 12.

[68] Xem Cng Đồng Vatican II, Hiến Chế Tn Lý về Mạc Khải Thin Cha Dei Verbum, 12.

[69] Xem Đề Nghị 12.

[70] Cng Đồng Vatican II, Hiến Chế Tn Lý về Mạc Khải Thin Cha Dei Verbum, 11.

[71] Đề Nghị 4.

[72] Prol: Opera Omnia V, Quaracchi 1891, pp. 201-202.

[73] Xem Bnđct XVI, Diễn Văn Trước Đại Biểu Thế Giới Văn Ha tại "Collge des Bernardins" ở Paris (12/09/2008): AAS 100 (2008), 721-730.

[74] Xem Đề Nghị 4.

[75] Xem Phc Trnh Sau Thảo Luận, 12.

[76] Cng Đồng Vatican II, Hiến Chế Tn Lý về Mạc Khải Thin Cha Dei Verbum, 5.

[77] Đề Nghị 4.

[78] Th dụ: Dt 28:1-2,15,45; 32:1; trong số cc tin tri, xin xem: Gr 7:22-28; Ed 2:8; 3:10; 6:3; 13:2; cũng xem Dcr 3:8. Về Thnh Phaol, xem Rm 10:14-18; 1Tx 2:13.

[79] Đề Nghị 55.

[80] Xem Bnđct XVI, Tng Huấn Hậu Thượng Hội Đồng Sacramentum Caritatis (22/02/2007), 33: AAS 99 (2007), 132-133.

[81] Đ dẫn, Thng Điệp Deus Caritas Est (25/12/2005), 41: AAS 98 (2006), 251.

[82] Đề Nghị 55.

[83] Xem Expositio Evangelii secundum Lucam, 2, 19: PL 15, 1559-1560.

[84] Breviloquium, Prol.: Opera Omnia, V, Quaracchi 1891, pp. 201-202.

[85] Summa Theologiae, Ia-IIae, q. 106, art. 2.

[86] Ủy Ban Gio Hong Về Thnh Kinh, Giải Thch Thnh Kinh Trong Gio Hội (15/04/1993), III, A, 3: Enchiridion Vaticanum 13, No. 3035.

[87] Cng Đồng Vatican II, Hiến Chế Tn Lý về Mạc Khải Thin Cha Dei Verbum, 12.

[88] Contra epistulam Manichaei quam vocant fundamenti, V, 6: PL 42, 176.

[89] Xem Bnđct XVI, Yết Kiến Chung (14/11/2007): Insegnamenti III 2 (2007), 586-591.

[90] Commentariorum in Isaiam libri, Prol.: PL 24, 17.

[91] Epistula 52:7: CSEL 54, p. 426.

[92] Ủy Ban Gio Hong Về Thnh Kinh, Giải Thch Thnh Kinh Trong Gio Hội (15/04/1993), II, A, 2: Enchiridion Vaticanum 13, No. 2988.

[93] Đ dẫn, II, A, 2: Enchiridion Vaticanum 13, No. 2991.

[94] Homiliae in Ezechielem I, VII, 8: PL 76, 843D.

[95] Cng Đồng Vatican II, Hiến Chế Tn Lý về Mạc Khải Thin Cha Dei Verbum, 24; Xem L XIII, Thng Điệp Providentissimus Deus (18/11/1893), Pars II, sub fine: ASS 26 (1893-94), 269-292; Bnđct XV, Thng Điệp Spiritus Paraclitus (15/09/1920), Pars III: AAS 12 (1920), 385-422.

[96] Xem Đề Nghị 26.

[97] Xem Ủy Ban Gio Hong Về Thnh Kinh, Giải Thch Thnh Kinh Trong Gio Hội (15/04/1993), A-B: Enchiridion Vaticanum 13, Nos. 2846-3150.

[98] Bnđct XVI, Can Thiệp tại Phin Họp Ton Thể Thứ Mười Bốn của Thượng Hội Đồng (14/10/2008): Insegnamenti IV, 2 (2008), 492; Xem Đề Nghị 25.

[99] Đ dẫn, Diễn Văn Với Cc Đại Biểu Thế Giới Văn Ha tại "Collge des Bernardins" ở Paris (12/09/2008): AAS 100 (2008), 722-723.

[100] Cng Đồng Vatican II, Hiến Chế Tn Lý về Mạc Khải Thin Cha Dei Verbum, 10.

[101] Xem Gioan Phaol II, Diễn Văn Dịp Cử Hnh Một Trăm Năm Thng Điệp Providentissimus Deus v Kỷ Niệm 50 Năm Thng Điệp Divino Afflante Spiritu (23/04/1993): AAS 86 (1994), 232-243.

[102] Đ dẫn, 4: AAS 86 (1994), 235.

[103] Đ dẫn, 5: AAS 86 (1994), 235.

[104] Đ dẫn, 5: AAS 86 (1994), 236.

[105] Ủy Ban Gio Hong Về Thnh Kinh, Giải Thch Thnh Kinh Trong Gio Hội (15/04/1993), III, C, 1: Enchiridion Vaticanum 13, No. 3065.

[106] No. 12.

[107] Bnđct XVI, Can Thiệp Tại Phin Họp Ton Thể Thứ Mười Bốn Của Thượng Hội Đồng (14/10/2008): Insegnamenti IV, 2 (2008), 493; Xem Đề Nghị 25.

[108] Xem Đề Nghị 26.

[109] Đề Nghị 27.

[110] Bnđct XVI, Can Thiệp Tại Phin Họp Ton Thể Thứ Mười Bốn Của Thượng Hội Đồng (14/10/2008): Insegnamenti IV, 2 (2008), 493; cf. Propositio 26.

[111] Xem đ dẫn.

[112] Đ dẫn.

[113] Xem Đề Nghị 27.

[114] Bnđct XVI, Can Thiệp Tại Phin Họp Ton Thể Thứ Mười Bốn Của Thượng Hội Đồng (14/10/2008): Insegnamenti IV, 2 (2008), 493-494.

[115] Gioan Phaol II, Thng Điệp Fides et Ratio (14/09/1998), 55: AAS 91 (1999), 49-50.

[116] Xem Bnđct XVI, Diễn Văn Gửi Đại Hội Ton Quốc Lần Thứ Bốn Tại Ý (19/10/2006): AAS 98 (2006), 804-815.

[117] Xem Đề Nghị 6.

[118] Xem Thnh Augustin, De libero arbitrio, III, XXI, 59: PL 32, 1300; De Trinitate, II, I, 2: PL 42, 845.

[119] Bộ Gio Dục Cng Gio, Huấn Thị Inspectis Dierum (10/11/1989), 26: AAS 82 (1990), 618.

[120] Sch Gio Lý Của Gio Hội Cng Gio, 116.

[121] Summa Theologiae, I, q. 1, art. 10, ad 1.

[122] Sch Gio Lý Của Gio Hội Cng Gio, 118.

[123] Ủy Ban Gio Hong Về Thnh Kinh, Giải Thch Thnh Kinh Trong Gio Hội (15/04/1993), II, A, 2: Enchiridion Vaticanum 13, No. 2987.

[124] Đ dẫn, II, B, 2: Enchiridion Vaticanum 13, No. 3003.

[125] Bnđct XVI, Diễn Văn Với Cc Đại Biểu Thế Giới Văn Ha tại "Collge des Bernardins" ở Paris (12/09/2008): AAS 100 (2008), 726.

[126] Đ dẫn.

[127] Xem đ dẫn, Yết kiến chung (09/ 01/2008): Insegnamenti IV, 1 (2008), 41-45.

[128] Xem Đề Nghị 29.

[129] De Arca Noe, 2, 8: PL 176, 642C-D.

[130] Xem Bnđct XVI, Diễn Văn Với Cc Đại Biểu Thế Giới Văn Ha tại "Collge des Bernardins" ở Paris (12/09/2008): AAS 100 (2008), 725.

[131] Xem Đề Nghị 10; Ủy Ban Gio Hong Về Thnh Kinh, Dn Do Thi V Sch Thnh Của Họ Trong Sch Thnh Kit Gio (24/05/2001): Enchiridion Vaticanum 20, Nos. 748-755.

[132] Xem Sch Gio Lý Của Gio Hội Cng Gio, 121-122.

[133] Đề Nghị 52.

[134] Xem Ủy Ban Gio Hong Về Thnh Kinh, Dn Do Thi V Sch Thnh Của Họ Trong Sch Thnh Kit Gio (24/05/2001), 19: Enchiridion Vaticanum 20, Nos. 799-801; Origen, Bi Giảng về Cc Con Số 9,4: SC 415, 238-242.

[135] Sch Gio Lý Của Gio Hội Cng Gio, 128.

[136] Đ dẫn, 129.

[137] Đề Nghị 52.

[138] Quaestiones in Heptateuchum, 2, 73: PL 34, 623.

[139] Homiliae in Ezechielem I, VI, 15: PL 76, 836B.

[140] Đề Nghị 29.

[141] Gioan Phaol II, Thng Điệp Gửi Đại Gio Trưởng Rma (22/05/2004): Insegnamenti XXVII, 1 (2004), p. 655.

[142] Xem Ủy Ban Gio Hong Về Thnh Kinh, Dn Do Thi V Sch Thnh Của Họ Trong Sch Thnh Kit Gio (24/05/2001), 87: Enchiridion Vaticanum 20, No. 1150.

[143] Xem Bnđct XVI, Diễn Văn Từ Gi Tại Phi Trường Quốc Tế Ben Gurion ở Tel Aviv (15/05/2009): Insegnamenti, V, 1 (2009), 847-849.

[144] Gioan Phaol II, Diễn Văn với Cc Đại Gio Trưởng Israel (23/03/2000): Insegnamenti XXIII, 1 (2000), 434.

[145] Xem Đề Nghị 46 v 47.

[146] Ủy Ban Gio Hong Về Thnh Kinh, Giải Thch Thnh Kinh Trong Gio Hội (15/04/1993) I, F: Enchiridion Vaticanum 13, No. 2974.

[147] Xem Bnđct XVI, Diễn Văn Với Cc Đại Biểu Thế Giới Văn Ha tại "Collge des Bernardins" ở Paris (12/09/2008): AAS 100 (2008), 726.

[148] Đề Nghị 46.

[149] Đề Nghị 28.

[150] Cng Đồng Vatican II, Hiến Chế Tn Lý về Mạc Khải Thin Cha Dei Verbum, 23.

[151] Tuy nhin, cần nhắc nhở rằng về cc sch gọi l thứ kinh (deuterocanonical) trong Bộ Cựu Ước v sự linh hứng của chng, Người Cng Gio v Chnh Thống khng c cng một qui điển như người Anh Gio v Thệ Phản.

[152] Xem Phc Trnh sau Thảo Luận, 36.

[153] Đề Nghị 36.

[154] Xem Bnđct XVI, Diễn Văn với Hội Nghị Thường Lệ Lần Thứ Mười Một Văn Phng Tổng Thư Ký Thượng Hội Đồng Gim Mục (25/01/2007): AAS 99 (2007), 85-86.

[155] Cng Đồng Vatican II, Sắc Lệnh về Đại Kết Unitatis Redintegratio, 21.

[156] Xem Đề Nghị 36.

[157] Xem Cng Đồng Vatican II, Hiến Chế Tn Lý về Mạc Khải Thin Cha Dei Verbum, 10.

[158] Thng Điệp Ut Unum Sint (25/05/1995), 44: AAS 87 (1995), 947.

[159] Cng Đồng Vatican II, Hiến Chế Tn Lý về Mạc Khải Thin Cha Dei Verbum, 10.

[160] Đ dẫn.

[161] Xem đ dẫn, 24.

[162] Xem Đề Nghị 22.

[163] Thnh Grgri Cả, Moralia in Job XXIV, VIII, 16: PL 76, 295.

[164] Xem Thnh Athanasi, Hạnh Thnh Antn, II: PL 73:127.

[165] Moralia, Regula LXXX, XXII: PG 31, 867.

[166] Qui Luật, 73, 3: SC 182, 672.

[167] Thomas thnh Celano, Hạnh Thnh Đầu Tin Của Thnh Phanxic, IX, 22: FF 356.

[168] Qui Luật, I, 1-2: FF 2750.

[169] Chn phc Jordan thnh Saxony, Libellus de principiis Ordinis Praedicatorum, 104; Monumenta Fratrum Praedicatorum Historica, Rome, 1935, 16, p. 75.

[170] Dng Anh Em Thuyết Gio, Hiến Php Đầu Tin hay Consuetudines, II, XXXI.

[171] Hạnh Thnh, 40, 1.

[172] Xem Truyện Một Linh Hồn, Ms B, 254.

[173] Đ dẫn, Ms C, 35v.

[174] In Iohannis Evangelium Tractatus, I, 12: PL 35, 1385.

[175] Thng Điệp Veritatis Splendor (06/08/1993), 25: AAS 85 (1993), 1153.

[176] Cng Đồng Vatican II, Hiến Chế Tn Lý về Mạc Khải Thin Cha Dei Verbum, 8.

[177] Phc Trnh sau Thảo Luận, 11.

[178] Số 1.

[179] Bnđct XVI, Diễn Văn với Hội Nghị Quốc Tế "Thnh Kinh Trong Đời Sống Gio Hội" (16/09/2005): AAS 97 (2005), 956.

[180] Xem Phc Trnh Sau Thảo Luận, 10.

[181] Thng Điệp Cuối Cng, III, 6.

[182] Cng Đồng Vatican II, Hiến Chế về Phụng Vụ Thnh Sacrosanctum Concilium, 24.

[183] Đ dẫn, 7.

[184] Sch Cc Bi Đọc Thnh Lễ, 4.

[185] Đ dẫn, 9.

[186] Đ dẫn, 3; xem Lc 4:16-21; 24:25-35, 44-49.

[187] Cng Đồng Vatican II, Hiến Chế về Phụng Vụ Thnh Sacrosanctum Concilium, 102.

[188] Xem Bnđct XVI, Tng Huấn Hậu Thượng Hội Đồng Sacramentum Caritatis (22/02/2007), 44-45: AAS 99 (2007) 139-141.

[189] Ủy Ban Gio Hong Về Thnh Kinh, Giải Thch Thnh Kinh Trong Gio Hội (15/04/1993) IV, C, 1: Enchiridion Vaticanum 13, No. 3123.

[190] Đ dẫn, III, B, 3: Enchiridion Vaticanum 13, No. 3056.

[191] Xem Cng Đồng Vatican II, Hiến Chế về Phụng Vụ Thnh Sacrosanctum Concilium, 48, 51, 56; Hiến Chế Tn Lý Về Mạc Khải Thin Cha Dei Verbum, 21, 26; Sắc Lệnh về Hoạt Động Truyền Gio của Gio Hội Ad Gentes, 6, 15; Sắc Lệnh về Thừa Tc Vụ v Đời Sống Cc Linh Mục Presbyterorum Ordinis, 18; Sắc Lệnh về Canh Tn Đời Sống Tu Sĩ Perfectae Caritatis, 6. Trong Truyền Thống vĩ đại của Gio Hội, ta thấy nhiều cch pht biểu c ý nghĩa như "Corpus Christi intelligitur etiam [...] Scriptura Dei" ("Sch Thnh của Thin Cha cũng được hiểu l Thn Thể Cha Kit"): Waltramus, De Unitate Ecclesiae Conservanda, 1, 14, do W. Schwenkenbecher chủ bin, Hanoverae, 1883, tr. 33; "Thịt Cha l của ăn thực sự v mu Người thực l của uống; đy l sự tốt lnh đch thực được dnh cho ta ở đời ny, để dưỡng nui ta bằng thịt của Người v uống mu của Người, khng những chỉ trong Thnh Thể m cả lc đọc Sch Thnh nữa": Thnh Girm, Commentarius in Ecclesiasten, III: PL 23, 1092A.

[192] J. Ratzinger (Bnđct XVI), Cha Gisu Thnh Nadart, New York, 2007, 268.

[193] Sch Cc Bi Đọc Thnh Lễ, 10.

[194] Đ dẫn.

[195] Xem Đề Nghị 7.

[196] Thng Điệp Fides et Ratio (14/09/1998), 13: AAS 91 (1999), 16.

[197] Xem Sch Gio Lý Của Gio Hội Cng Gio, 1373-1374.

[198] Xem Cng Đồng Vatican II, Hiến Chế về Phụng Vụ Thnh Sacrosanctum Concilium, 7.

[199] In Psalmum 147: CCL 78, 337-338.

[200] Cng Đồng Vatican II, Hiến Chế Tn Lý về Mạc Khải Thin Cha Dei Verbum, 2.

[201] Xem Cng Đồng Vatican II, Hiến Chế về Phụng Vụ Thnh Sacrosanctum Concilium, 107-108.

[202] Sch Cc Bi Đọc Thnh Lễ, 66.

[203] Đề Nghị 16.

[204] Bnđct XVI, Tng Huấn Hậu Thượng Hội Đồng Sacramentum Caritatis (22/02/2007), 45: AAS 99 (2007), 140-141.

[205] Xem Đề Nghị 14.

[206] Xem Bộ Gio Luật, cc. 230 2; 204 1.

[207] Sch Cc Bi Đọc Thnh Lễ, 55

[208] Đ dẫn, 8.

[209] Số 46: AAS 99 (2007), 141.

[210] Xem Cng Đồng Vatican II, Hiến Chế Tn Lý về Mạc Khải Thin Cha Dei Verbum, 25.

[211] Đề Nghị 15.

[212] Đ dẫn.

[213] Sermo 179, 1: PL 38, 966.

[214] Xem Bnđct XVI, Tng Huấn Hậu Thượng Hội Đồng Sacramentum Caritatis (22/02/2007), 93: AAS 99 (2007), 177

[215] Bộ Thờ Phượng Thin Cha v Kỷ Luật B Tch, Compendium Eucharisticum (25/03/2009), Vatican City, 2009.

[216] Epistula 52, 7: CSEL 54, 426-427.

[217] Đề Nghị 8.

[218] Nghi Thức Thống Hối, 17.

[219] Đ dẫn, 19.

[220] Đề Nghị 8.

[221] Đề Nghị 19.

[222] Cc nguyn tắc v qui luật dnh cho Phụng Vụ Cc Giờ Kinh, III, 15.

[223] Cng Đồng Vatican II, Hiến Chế về Phụng Vụ Thnh Sacrosanctum Concilium, 85.

[224] Xem Bộ Gio Luật, cc. 276 3, 1174 1.

[225] Xem Bộ Gio Luật của Cc Gio Hội Đng Phương, cc. 377; 473 1 v, 1; 538 1; 881 1.

[226] Sch Chc Lnh, nhập đề, 21.

[227] Xem Đề Nghị 18; Cng Đồng Vatican II, Hiến Chế về Phụng Vụ Thnh Sacrosanctum Concilium, 35.

[228] Xem Bnđct XVI, Tng Huấn Hậu Thượng Hội Đồng Sacramentum Caritatis (22/02/2007), 745: AAS 99 (2007), 162-163.

[229] Ibid.

[230] Bộ Thờ Phượng Thin Cha v Kỷ Luật B Tch, Hướng Dẫn Lng Đạo Đức Bnh Dn v Phụng Vụ, Cc Nguyn Tắc v Chỉ Dẫn (17/12/2001), 87: Enchiridion Vaticanum 20, No. 2461.

[231] Xem Đề Nghị 14.

[232] Xem Thnh Ignaxi Thnh Antiốc, Ad Ephesios, XV, 2: Patres Apostolici, ed. F.X. Funk, Tubingae, 1901, I, 224.

[233] Thnh Augustin, Sermo 288, 5: PL 38, 1307; Sermo 120, 2: PL 38, 677.

[234] Chỉ Thị Tổng Qut Về Sch Lễ Rma, 56

[235] Đ dẫn, 45; Xem Cng Đồng Vatican II, Hiến Chế về Phụng Vụ Thnh Sacrosanctum Concilium, 30.

[236] Sch Cc Bi Đọc Thnh Lễ, 13.

[237] Xem đ dẫn, 17.

[238] Đề Nghị 40.

[239] Xem Chỉ Thị Tổng Qut Về Sch Lễ Rma, 309.

[240] Xem Đề Nghị 14.

[241] Bnđct XVI, Tng Huấn Hậu Thượng Hội Đồng Sacramentum Caritatis (22/02/2007), 69: AAS 99 (2007), 157.

[242] Xem Chỉ Thị Tổng Qut Về Sch Lễ Rma, 57.

[243] 14.

[244] Xem Qui Định 36 Của Thượng Hội Đồng Hippo năm 399: DS 186.

[245] Xem Gioan Phaol II, Tng thư Vicesimus Quintus Annus (04/12/1988), 13: AAS 81 (1989) 910; Bộ Thờ Phượng Thin Cha v Kỷ Luật B Tch, Huấn Thị Redemptionis Sacramentum (25/03/2004), 62: Enchiridion Vaticanum 22, No. 2248.

[246] Xem Cng Đồng Vatican II, Hiến Chế về Phụng Vụ Thnh Sacrosanctum Concilium, 116; Chỉ Thị Tổng Qut Về Sch Lễ Rma, 41.

[247] Xem Đề Nghị 14.

[248] Đề Nghị 9.

[249] Epistula 30, 7: CSEL 54, p. 246.

[250] Đ dẫn, Epistula 133, 13: CSEL 56, p. 260.

[251]Đ dẫn, Epistula 107, 9, 12: CSEL 55, pp. 300, 302.

[252]Đ dẫn, Epistula 52, 7: CSEL 54, p. 426.

[253] Gioan Phaol II, Tng thư Novo Millennio Ineunte (06/01/2001), 31: AAS 93 (2001), 287-288.

[254] Đề Nghị 30; Xem Cng Đồng Vatican II, Hiến Chế Tn Lý về Mạc Khải Thin Cha Dei Verbum, 24.

[255] Thnh Girm, Commentariorum in Isaiam libri, Prol.: PL 24, 17B.

[256] Đề Nghị 21.

[257] Xem Đề Nghị 23.

[258] Xem Bộ Gio Sĩ, Hướng Dẫn Gio Lý Tổng Qut (15/08/1997), 94-96; Enchiridion Vaticanum, 16, cc số 875-878; Gioan Phaol II, Tng Huấn Catechesi Tradendae (16/10/1979), 27: AAS 71 (1979), 1298-1299.

[259] Đ dẫn, 127: Enchiridion Vaticanum 16, No. 935; cf. Gioan Phaol II, Tng Huấn Catechesi Tradendae (16/10/1979), 27: AAS 71 (1979), 1299.

[260] Đ dẫn, 128: Enchiridion Vaticanum 16, No. 936.

[261] Xem Đề Nghị 33.

[262] Xem Đề Nghị 45.

[263] Xem Cng Đồng Vatican II, Hiến Chế Tn Lý về Gio Hội Lumen Gentium, 39-42.

[264] Đề Nghị 31.

[265] Số 15: AAS 96 (2004), 846-847.

[266] Số 26: AAS 84 (1992), 698.

[267] Đ dẫn.

[268] Bnđct XVI, Bi Giảng Thnh Lễ Truyền Dầu (09/04/2009): AAS 101 (2009), 355.

[269] Đ dẫn, 356.

[270] Bộ Gio Dục Cng Gio, Cc Qui Tắc Nền Tảng để Đo Tạo Cc Ph Tế Vĩnh Viễn (22 /02/ 1998), 11: Enchiridion Vaticanum 17, cc số 174-175.

[271] Đ dẫn, 74: Enchiridion Vaticanum 17, số 263.

[272] Đ dẫn, 81: Enchiridion Vaticanum 17, số 271.

[273] Đề Nghị 32.

[274] Xem Gioan Phaol II, Tng Huấn Hậu Thượng Hội Đồng Pastores Dabo Vobis (25/03/1992), 47: AAS 84 (1992), 740-742.

[275] Đề Nghị 24.

[276] Bnđct XVI, Bi Giảng Ngy Thế Giới Đời Sống Thnh Hiến (02/02/2008): AAS 100 (2008), 133; Xem Gioan Phaol II, Tng Huấn Hậu Thượng Hội Đồng Vita Consecrata (25/03/1996), 82: AAS 88 (1996), 458-460.

[277] Bộ Cc Viện Đời Sống Thnh Hiến v Cc Hội Đời Sống Tng Đồ, Khởi Đầu Mới Mẻ Từ Cha Kit: Một Dấn Thn Đổi Mới Với Đời Sống Thnh Hiến Trong Thin Nin Kỷ Thứ Ba (19/05/2002), 24: Enchiridion Vaticanum 21, số 447.

[278] Xem Đề Nghị 24.

[279] Thnh Bnđct, Qui Luật, IV, 21: SC 181, 456-458.

[280] Bnđct XVI, Diễn Văn Tại Đan Viện Heiligenkreuz (09/09/2007): AAS 99 (2007), 856.

[281] Xem Đề Nghị 30.

[282] Gioan Phaol II, Tng Huấn Hậu Thượng Hội Đồng Christifideles Laici (30/12/1988), 17: AAS 81 (1989), 418.

[283] Xem Đề Nghị 33.

[284] Gioan Phaol II, Tng Huấn Hậu Thượng Hội Đồng Familiaris Consortio (22/11/1981), 49: AAS 74 (1982), 140-141.

[285] Đề Nghị 20.

[286] Xem Đề Nghị 21.

[287] Đề Nghị 20.

[288] Xem Tng Thư Mulieris Dignitatem (15/08/1988), 31: AAS 80 (1988), 1727-1729.

[289] Đề Nghị 17.

[290] Đề Nghị 9 v 22.

[291] Số 25.

[292] Enarrationes in Psalmos, 85, 7: PL 37, 1086.

[293] Origen, Epistola ad Gregorium, 3: PG 11, 92.

[294] Bnđct XVI, Diễn Văn với Sinh Vin Đại Chủng Viện Rma (19/12/2007): AAS 99 (2007), 253-254.

[295] Xem đ dẫn, Tng Huấn Hậu Thượng Hội Đồng Sacramentum Caritatis (22/02/2007), 66; AAS 99 (2007), 155-156.

[296] Thng Điệp Cuối Cng, III, 9.

[297] Đ dẫn.

[298] "Plenaria indulgentia conceditur christifideli qui Sacram Scripturam, iuxta textum a competenti auctoritate adprobatum, cum veneratione divino eloquio debita et ad modum lectionis spiritalis, per dimidiam saltem horam legerit; si per minus tempus id egerit indulgentia erit partialis": apostolic penitentiary, Enchiridion Indulgentiarum. Normae et Concessiones (16/07/1999), 30, 1.

[299] Xem Sch Gio Lý Của Gio Hội Cng Gio,1471-1479.

[300] Phaol VI, Tng hiến Indulgentiarum Doctrina (01/01/1967): AAS 59 (1967), 18-19.

[301] Xem Epistula 49, 3: PL 16, 1204A.

[302] Xem Bộ Thờ Phượng Thin Cha v Kỷ Luật B Tch, Hướng Dẫn Lng Đạo Đức Bnh Dn v Phụng Vụ, Cc Nguyn Tắc v Chỉ Dẫn (17/12/2001), 197-202: Enchiridion Vaticanum 20, Nos. 2638-2643.

[303] Xem Đề Nghị 55.

[304] Xem Gioan Phaol II, Tng Thư Rosarium Virginis Mariae (16/10/2002): AAS 95 (2003), 5-36.

[305] Đề Nghị 55.

[306] Xem Bộ Thờ Phượng Thin Cha v Kỷ Luật B Tch, Hướng Dẫn Lng Đạo Đức Bnh Dn v Phụng Vụ, Cc Nguyn Tắc v Chỉ Dẫn (17/12/2001), 207: Enchiridion Vaticanum 20, Nos. 2656-2657.

[307] Xem Đề Nghị 51.

[308] Bnđct XVI, Bi Giảng Trong Thnh Lễ Tại Thung Lũng Josaphat, Girusalem (12/05/2009): AAS 101 (2009), 473.

[309] Xem Epistola 108, 14: CSEL 55, pp. 324-325.

[310] Adversus Haereses, IV, 20, 7: PG 7, 1037.

[311] Bnđct XVI, Thng Điệp Spe Salvi (30/11/2007), 31: AAS 99 (2007), 1010.

[312] Bnđct XVI, Diễn Văn Với Cc Đại Biểu Thế Giới Văn Ha tại "Collge des Bernardins" ở Paris (12/09/2008): AAS 100 (2008), 730.

[313] Xem In Evangelium secundum Matthaeum 17:7: PG 13, 1197B; Thnh Girm, Translatio homiliarum Origenis in Lucam, 36: PL 26, 324-325.

[314] Xem Bnđct XVI, Bi Giảng Tại Lễ Khai Mạc Cuộc Họp Ton Thể Lần Thứ Mười Hai Thượng Hội Đồng Gim Mục (05/10/2008): AAS 100 (2008), 757.

[315] Đề Nghị 38.

[316] Xem Bộ Cc Viện Đời Sống Thnh Hiến v Cc Hội Đời Sống Tng Đồ, Huấn thị Khởi Đầu Mới Mẻ Từ Cha Kit: Một Dấn Thn Đổi Mới Với Đời Sống Thnh Hiến Trong Thin Nin Kỷ Thứ Ba (19/05/2002), 36: Enchiridion Vaticanum 21, cc số 488-491.

[317] Đề Nghị 30.

[318] Xem Đề Nghị 38.

[319] Xem Đề Nghị 49.

[320] Xem Gioan Phaol II, Thng Điệp Redemptoris Missio (07/12/1990): AAS 83 (1991), 294-340; Tng Thư Novo Millennio Ineunte (06/01/2001), 40: AAS 93 (2001), 294-295.

[321] Đề Nghị 38.

[322] Xem Bnđct XVI, Bi Giảng Tại Lễ Khai Mạc Cuộc Họp Ton Thể Lần Thứ Mười Hai Thượng Hội Đồng Gim Mục (05/10/2008): AAS 100 (2008), 753-757.

[323] Đề Nghị 38.

[324] Thng Điệp Cuối Cng, IV, 12.

[325] Paul VI, Tng Huấn Evangelii Nuntiandi (08/12/1975), 22: AAS 68 (1976), 20.

[326] Xem Cng Đồng Vatican II, Tuyn Ngn Về Tự Do Tn Gio Dignitatis Humanae, 2 v 7.

[327] Xem Đề Nghị 39.

[328] Xem Bnđct XVI, Thng Điệp Gửi Ngy Thế Giới Ha Bnh (08/12/2008): Insegnamenti IV, 2 (2008), 792-802.

[329] Tng Huấn Hậu Evangelii Nuntiandi (08/12/1975), 19: AAS 68 (1976), 18.

[330] Xem Đề Nghị 39.

[331] Gioan XXIII, Thng Điệp Pacem in Terris (11/04/1963), 1: AAS 55 (1963), 259.

[332] Gioan Phaol II, Thng Điệp Centesimus Annus (01/05/1991), 47: AAS 83 (1991), 851-852; Diễn Văn Với Đại Hội Đồng Lin Hiệp Quốc (02/10/1979), 13: AAS 71 (1979), 1152-1153.

[333] Xem Hợp Tuyển Học Thuyết X Hội Của Gio Hội, 152-159.

[334] Xem Bnđct XVI, Thng Điệp Gửi Ngy Thế Giới Ha Bnh Năm 2007 (08/12/2006), 10: Insegnamenti II, 2 (2006), 780.

[335] Xem Đề Nghị 8.

[336] Bnđct XVI, Bi Giảng (25/01/2009): Insegnamenti V, 1 (2009), 141.

[337] Đ dẫn, Bi Giảng Tại Lễ Khai Mạc Cuộc Họp Ton Thể Lần Thứ Mười Hai Thượng Hội Đồng Gim Mục (05/10/2008): AAS 100 (2008), 779.

[338] Đề Nghị 11.

[339] Bnđct XVI, Thng Điệp Deus Caritas Est (25/12/2005), 28: AAS 98 (2006), 240.

[340] De Doctrina Christiana, I, 35, 39 - 36, 40: PL 34, 34.

[341] Xem Bnđct XVI, Thng Điệp Gửi Ngy Giới Trẻ Thế Giới lần thứ 21 (22/02/2006): AAS 98 (2006), 282-286.

[342] Xem Đề Nghị 34.

[343] Xem đ dẫn.

[344] Bi Giảng (24/04/2005): AAS 97 (2005), 712.

[345] Xem Đề Nghị 38.

[346] Bnđct XVI, Bi giảng Ngy Thế Giới Bệnh Nhn lần thứ 17 (11/02/2009): Insegnamenti V, 1 (2009), 232.

[347] Xem Đề Nghị 35.

[348] Đề Nghị 11.

[349] Xem Bnđct XVI, Thng Điệp Deus Caritas Est (25/12/2005), 25: AAS 98 (2006), 236-237.

[350] Đề Nghị 11.

[351] Bnđct XVI, Bi giảng (01/01/2009): Insegnamenti V, 1 (2009), 236-237.

[352] Đề Nghị 54.

[353] Xem Bnđct XVI, Tng Huấn Hậu Thượng Hội Đồng Sacramentum Caritatis (22/02/2007), 92: AAS 99 (2007), 176-177.

[354] Gioan Phaol II, Diễn Văn tại UNESCO (02/06/1980), 6: AAS 72 (1980), 738.

[355] Xem Đề Nghị 41.

[356] Xem đ dẫn.

[357] Gioan Phaol II, Thng Điệp Fides et Ratio (14/09/1998), 80: AAS 91 (1999), 67-68.

[358] Xem Sơ Đồ 23.

[359] Xem Đề Nghị 40.

[360] Xem Cng Đồng Vatican II, Sắc Lệnh về Cc Phương Tiện Truyền Thng X Hội Inter Mirifica; Hội Đồng Gio Hong Về Truyền Thng X Hội, Huấn Thị Mục Vụ Communio et Progressio (23/05/1971): AAS 63 (1971), 596-656; Gioan Phaol II, Tng Thư Pht Triển Mau Chng (24/01/2005): AAS 97 (2005) 265-274; Hội Đồng Gio Hong Về Truyền Thng X Hội, Huấn Thị Mục Vụ Aetatis novae (22/02/1992): AAS 84 (1992), 447-468; Gio Hội v Lin Mạng (22/02/2002): Enchiridion Vaticanum 21, cc số 66-95; Đạo Đức Học Trn Lin Mạng (22/02/2002): Enchiridion Vaticanum 21, cc số 96-127.

[361] Xem Thng Điệp Cuối Cng , IV, 11; Bnđct XVI, Thng Điệp gửi Ngy Thế Giới Truyền Thng X Hội Năm 2009 (24/01/2009): Insegnamenti V, 1 (2009), 123-127.

[362] Xem Đề Nghị 44.

[363] Gioan Phaol II, Thng Điệp Gửi Ngy Thế Giới Truyền Thng Lần Thứ 36 (24/01/2002): Insegnamenti XXV, 1 (2002), 94-95.

[364] Xem Tng Huấn Evangelii Nuntiandi (08/12/1975), 20: AAS 68 (1976), 18-19.

[365] Xem Bnđct XVI, Tng Huấn Hậu Thượng Hội Đồng Sacramentum Caritatis (22/02/2007), 78: AAS 99 (2007), 165.

[366] Xem Đề Nghị 48.

[367] Ủy Ban Gio Hong Về Thnh Kinh, Giải Thch Thnh Kinh Trong Gio Hội (15/04/1993), IV, B: Enchiridion Vaticanum, 13, No. 3112.

[368] Xem Cng Đồng Vatican II, Sắc Lệnh về Hoạt động Truyền Gio của Gio Hội Ad Gentes, 22; Ủy Ban Gio Hong Về Thnh Kinh, Giải Thch Thnh Kinh Trong Gio Hội (15/04/1993), IV, B: Enchiridion Vaticanum, 13, cc số 3111-3117.

[369] Gioan Phaol II, Diễn Văn Với Cc Gim Mục Kenya (07/05/1980), 6: AAS 72 (1980), 497.

[370] Xem Ti Liệu Lm Việc, 56.

[371] Ủy Ban Gio Hong Về Thnh Kinh, Giải Thch Thnh Kinh Trong Gio Hội (15/04/1993), IV, B: Enchiridion Vaticanum 13, No. 3113.

[372] Cng Đồng Vatican II, Hiến Chế Tn Lý Về Mạc Khải Thin Cha Dei Verbum, 22.

[373] Xem Đề Nghị 42.

[374] Xem Đề Nghị 43.

[375] Bnđct XVI, Bi Giảng Lc Cử Hnh Giờ Kinh Ba Ngy Khởi Đầu Phin Họp Ton Thể Thượng Hội Đồng Gim Mục (06/10/2008): AAS 100 (2008), 760.

[376] Trong số kh nhiều can thiệp đủ loại, xin xem: Gioan Phaol II, Thng Điệp Dominum et Vivificantem (18/05/1986): AAS 78 (1986), 809-900; Thng Điệp Redemptoris Missio (07/12/1990): AAS 83 (1991), 249-340; Diễn Văn v Bi Giảng Tại Assisi Ngy 27/10/1986 Ngy Cầu Nguyện Cho Ha Bnh: Insegnamenti IX, 2 (1986), 1249-1273; Ngy Cầu Nguyện Cho Ha Bnh Thế Giới (24/01/2002): Insegnamenti XXV, 1 (2002), 97-108; Bộ Gio Lý Đức Tin, Tuyn Ngn Dominus Iesus Về Tnh Duy Nhất V Cứu Rỗi Phổ Qut của Cha Gisu Kit v của Gio Hội (06/08/2000): AAS 92 (2000), 742-765.

[377] Xem Cng Đồng Vatican II, Tuyn Ngn về Lin Hệ của Gio Hội với Cc Tn Gio Khng Phải l Kit Gio Nostra Aetate, 3.

[378] Xem Bnđct XVI, Diễn Văn Với Cc Đại Sứ Cc Quốc Gia Phần Lớn L Hồi Gio Bn Cạnh Ta Thnh (25/09/2006): AAS 98 (2006), 704-706.

[379] Xem Đề Nghị 53.

[380] Xem Đề Nghị 50.

[381] Đ dẫn

[382] Gioan Phaol II, Diễn Văn Tại Cuộc Gặp Gỡ Người Trẻ Hồi Gio tại Casablanca, Morocco (19/08/1985), 5: AAS 78 (1986), 99.

 

Trang chủ