EVANGELII GAUDIUM

TNG HUẤN NIỀM VUI CỦA TIN MỪNG

 

CỦA ĐỨC THNH CHA PHANXIC

GỬI CC GIM MỤC, LINH MỤC V PH TẾ,

CC NGƯỜI THNH HIẾN V GIO DN

VỀ VIỆC RAO GIẢNG TIN MỪNG

TRONG THẾ GIỚI HM NAY


 

LỜI MỞ

Knh thưa quý vị,

 

Tại Hội Thảo Renewed Biblical Apostolate for New Evangelization do Văn phng Loan Bo Tin Mừng của Lin Hiệp Hội Đồng Gim Mục Chu (FABC-OE) tổ chức tại Thi Lan 05 - 07/12/2013, chng ti được trao văn bản Anh ngữ tng huấn Evangelii Gaudium. Vị chủ tọa khuyến khch chng ti phổ biến gio huấn ny của Đức Gio Hong. Chng ti chuyển dịch sang Việt ngữ để chia sẻ với cộng đồng dn Cha Việt Nam. Sau phần ch thch, chng ti giới thiệu vi dng phụ ch về cc đường link để quý vị tham khảo. 

Hy vọng đy l một lực đẩy mới cho nổ lực Loan Bo Tin Mừng của sứ vụ m Đức Kit mới gọi chng ta dấn thn thực hiện. 

Xin Cha chc lnh cho việc Tng đồ của chng ta.

Linh Mục Đaminh Ng Quang Tuyn

Thư ký, thay mặt UB LBTM/HĐGM.VN

 

 

N Ộ I D U N G

 

I. MỘT NIỀM VUI LUN LUN MỚI MẺ, NIỀM VUI ĐƯỢC CHIA SẺ [2-8]

II. NIỀM VUI DỊU NGỌT V PHẤN KHỞI CỦA VIỆC LOAN BO TIN MỪNG [9-13]

Sự mới mẻ vĩnh hằng [11-13]

III. TN PHC M HO ĐỂ THNG TRUYỀN ĐỨC TIN [14-18]

Phạm vi v giới hạn của Tng Huấn ny [16-18]

CHƯƠNG MỘT

SỰ BIẾN ĐỔI TRUYỀN GIO CỦA HỘI THNH [19]

I. MỘT HỘI THNH ĐI RA [20-24]

Đi bước trước, dấn thn v đồng hnh, sinh hoa tri v vui mừng [24]

II. HOẠT ĐỘNG MỤC VỤ V SỰ HON CẢI [25-33]

Một cuộc canh tn khng thể tr hon của Hội Thnh [27-33]

III. TỪ TM ĐIỂM CỦA TIN MỪNG [34-39]

IV. TRUYỀN GIO HO NHẬP TRONG NHỮNG GIỚI HẠN CỦA CON NGƯỜI [40-45]

V. NGƯỜI MẸ VỚI TRI TIM RỘNG MỞ [46-49]

CHƯƠNG HAI

GIỮA CƠN KHỦNG HOẢNG VỀ SỰ DẤN THN CỘNG ĐỒNG [50-51]

I. CC THCH THỨC CỦA THẾ GIỚI HM NAY [52-75]

Ni khng với một nền kinh tế loại trừ [53-54]

Ni khng với ngẫu thần mới l tiền bạc [55-56]

Ni khng với với một hệ thống ti chnh thống trị thay v phục vụ [57-58]

Ni khng với sự bất bnh đẳng, nguồn gốc của bạo lực [59-60]

Cc thch thức văn ho [61-67]

Cc thch thức cho việc hội nhập đức tin [68-70]

Cc thch thức từ cc nền văn ho đ thị [71-75]

II. THCH THỨC CHO NGƯỜI HOẠT ĐỘNG MỤC VỤ [76-109]

Ni c với thch thức của một linh đạo truyền gio [78-80]

Ni khng với ch kỷ v nguội lạnh thing ling [81-83]

Ni khng với thi độ bi quan v bổ [84-86]

Ni c với cc mối tương quan mới m Đức Kit đem đến [87-92]

Ni khng với tnh thế tục trong đời sống thing ling [93-97]

Ni khng với việc tranh chấp lẫn nhau [98-101]

Cc thch thức khc cho Hội Thnh [102-109]

CHƯƠNG BA

RAO GIẢNG TIN MỪNG [110]

I. TON THỂ DN CHA RAO GIẢNG TIN MỪNG [111-134]

Một dn tộc cho mọi người [112-114]

Một dn tộc với nhiều bộ mặt [115-118]

Tất cả chng ta l những mn đệ truyền gio [119-121]

Sức mạnh truyền gio của lng đạo bnh dn [122-126]

Tiếp xc người với người [127-129]

Cc đặc sủng phục vụ một sự hiệp thng truyền gio [130-131]

Văn ho, tư tưởng v gio dục [132-134]

II. BI GIẢNG [135-144]

Khung cảnh phụng vụ [137-138]

Như mẹ ni chuyện với con [139-141]

Những lời ni lm tri tim bừng chy [142-144]

III. CHUẨN BỊ BI GIẢNG [145-159]

Tn trọng sự thật [146-148]

C nhn ho Lời Cha [149-151]

Đọc sch thing [152-153]

Lắng nghe người dn [154-155]

Cc nguồn hỗ trợ giảng thuyết [156-159]

IV. LOAN BO TIN MỪNG V HIỂU SU SỨ ĐIỆP CƠ BẢN [160- 175]

Huấn gio cơ bản v khai tm mầu nhiệm [163-168]

Đồng hnh với c nhn trong cc bước tăng trưởng [169-173]

Tập trung vo Lời Cha [174-175]

CHƯƠNG BỐN

CHIỀU KCH X HỘI CỦA VIỆC LOAN BO TIN MỪNG [176]

I. TC ĐỘNG CỦA LỜI RAO GIẢNG CƠ BẢN ĐỐI VỚI CỘNG ĐỒNG V X HỘI [177-185]

Tuyn xưng đức tin v dấn thn x hội [178-179]

Nước Thin Cha v thch thức của n [180-181]

Gio huấn của Hội Thnh về cc vấn đề x hội [182-185]

II. SỰ BAO GỒM NGƯỜI NGHO TRONG X HỘI [186-216]

Kết hiệp với Thin Cha, chng ta nghe thấy một lời ku xin [187-192]

Trung thnh với Tin Mừng, kẻo chng ta ngược xui v ch [193-196]

Vị tr đặc biệt của người ngho trong dn của Thin Cha [197-201]

Kinh tế v sự phn phối nguồn thu nhập [202-208]

Quan tm tới thnh phần dễ tổn thương [209-216]

III. CNG CH V HO BNH TRONG X HỘI [217-237]

Thời gian lớn hơn khng gian [222-225]

Hiệp nhất chiến thắng xung đột [226-230]

Thực tại lớn hơn ý tưởng [231-233]

Ton thể lớn hơn thnh phần [234-237]

IV. ĐỐI THOẠI X HỘI, MỘT ĐNG GP CHO HO BNH [238-258]

Đối thoại giữa đức tin , lý tr v khoa học [242-243]

Đối thoại đại kết [244-246]

Quan hệ với Do Thi gio [247-249]

Đối thoại lin tn [250-254]

Đối thoại x hội trong bối cảnh tự do tn gio [255-258]

CHƯƠNG NĂM

NGƯỜI LOAN BO TIN MỪNG ĐẦY THNH THẦN [259-261]

I. LÝ DO CANH TN ĐỘNG LỰC TRUYỀN GIO [262-283]

Gặp gỡ c nhn với tnh yu cứu độ của Cha Gisu [264-267

Sự nếm cảm thing ling được l một dn tộc [268-274]

Hoạt động nhiệm mầu của Đức Kit Phục Sinh v Thần Kh của Người [275-280]

Sức mạnh truyền gio của lời nguyện chuyển cầu [281-283]

II. ĐỨC MARIA, MẸ CỦA CNG CUỘC PHC M HO [284-288]

Qu tặng của Cha Gisu cho dn Người [285-286]

Ngi Sao của cuộc tn phc m ho [287-288]


 

1. NIỀM VUI CỦA TIN MỪNG đổ đầy tri tim v cuộc sống của tất cả những ai gặp Cha Gisu. Những ai chấp nhận đề nghị cứu độ của Người đều được giải thot khỏi tội lỗi, buồn phiền, trống rỗng nội tm v c đơn. Với Đức Kit, niềm vui lun lun được ti sinh. Trong Tng Huấn ny, ti muốn khch lệ cc tn hữu đi vo một chương mới của cng cuộc loan bo Tin Mừng ngập trn niềm vui ny, đồng thời vạch ra những lối đi mới cho hnh trnh của Hội Thnh trong những năm sắp tới.

I. MỘT NIỀM VUI LUN LUN MỚI MẺ, NIỀM VUI ĐƯỢC CHIA SẺ

2. Mối nguy lớn trn thế giới hm nay, một thế giới hầu như thấm nhiễm chủ nghĩa tiu thụ, đ l cảm gic c đơn v lo lắng pht sinh từ một con tim tự mn nhưng tham lam, si nổi chạy theo những th vui ph phiếm, v một lương tm chai lỳ. Khi m đời sống nội tm của chng ta bị tri chặt trong những lợi ch v những mối quan tm ring của n, th khng cn chỗ cho người khc, khng cn chỗ cho người ngho. Tiếng ni của Thin Cha khng cn được nghe thấy, niềm vui an bnh của tnh yu của Người khng cn được cảm thấy, v ước muốn lm điều thiện bị phai mờ. Đy chnh l một mối nguy cho cả người tn hữu. Nhiều người rơi vo mối nguy ny, v kết cục l cảm gic bực bội, tức giận v chn nản. Đ khng phải l cch để chng ta sống một đời sống xứng đng v sung mn; đ khng phải l ý muốn của Thin Cha đối với chng ta, cũng khng phải l đời sống trong Thần Kh bắt nguồn từ tri tim của Đức Kit phục sinh.

3. Ti ku mời mọi Kit hữu ở khắp nơi, ngay lc ny, đi vo một cuộc gặp gỡ mới mẻ với Đức Gisu Kit, hay t l mở lng ra để cho Cha Gisu gặp gỡ mnh; ti xin tất cả anh chị em khng ngừng lm điều ny mỗi ngy. Khng ai được nghĩ rằng lời mời gọi ny khng phải dnh cho mnh, v khng một ai bị loại trừ khỏi niềm vui m Cha Gisu đem đến.[1] Cha khng lm thất vọng những ai chấp nhận sự liều lĩnh ny; mỗi khi chng ta bước một bước đến gần Cha Gisu, chng ta hiểu ra rằng Người đ đang ở đ, đang mở rộng vng tay chờ đn chng ta. By giờ l lc để ni với Cha Gisu: Cha ơi, con đ để mnh bị lừa; con đ trốn trnh tnh yu của Cha bằng mun ngn cch, nhưng một lần nữa con lại đến đy, để canh tn giao ước của con với Cha. Con cần Cha. Xin cứu con một lần nữa, Lạy Cha, xin đưa con vo lại vng tay cứu độ của Cha một lần nữa. Vui biết chừng no khi trở lại với Người sau mỗi lần chng ta lạc lối! Xin cho ti lặp lại điều ny một lần nữa: Cha khng bao giờ thấy mệt khi tha thứ cho chng ta; chỉ c chng ta thấy mệt khi đi tm lng thương xt của Ngi. L người dạy chng ta phải tha thứ cho nhau, Đức Kit đ lm gương: Ngi đ tha cho chng ta bảy mươi lần bảy. Ngi khng ngừng vc chng ta ln vai trở lại. Khng ai c thể lấy mất của chng ta ci nhn phẩm Ngi đ ban cho chng ta do lng thương v bin của Ngi. Với một sự dịu dng khng bao giờ gy thất vọng nhưng lun lun c sức phục hồi niềm vui của chng ta, Ngi lm cho chng ta c thể ngẩng đầu ln v bắt đầu lại. Chng ta đừng chạy trốn sự phục sinh của Cha Gisu, chng ta đừng bao giờ ng lng, bất luận điều g xảy ra. Chng ta đừng để điều g thc đẩy chng ta hơn l sự sống của Ngi, sự sống thi thc chng ta tiến bước!

4. Cc sch Cựu Ước bo trước niềm vui cứu độ sẽ ngập trn vo thời thin sai. Ngn sứ Isaia hoan hỉ cho đn Đấng Msia từng được trng đợi: Cha đ lm cho dn nn đng số, đ cho dn chan chứa niềm vui (9:3 [9:2]). ng khuyến khch những ai đang ở Xion hy ra nghnh đn Ngi với lời ca tiếng ht: Hy reo h mừng rỡ! (12:6). ng bảo những ai đ thấy Ngi từ đng xa hy đem tin vui ny đến cho người khc: Hỡi kẻ loan tin mừng cho Xi-on, hy tro ln ni cao. Hỡi kẻ loan tin mừng cho Gi-ru-sa-lem, hy cất tiếng ln cho thật mạnh (40:9). Mọi tạo vật được chia sẻ niềm vui cứu độ: Trời hy h reo, đất hy nhảy ma, ni non hy bật tiếng h reo, v Ðức Cha ủi an dn Người đ chọn v chạnh lng thương những kẻ ngho khổ của Người (49:13).

Hướng về Ngy của Đức Cha, ngn sứ Dacaria ku mời dn chng tung h Đức Vua ngự đến khim tốn ngồi trn lưng một con lừa: No thiếu nữ Xi-on, hy vui mừng hoan hỷ! Hỡi thiếu nữ Gi-ru-sa-lem, hy vui sướng reo h! V ka Ðức Vua của ngươi đang đến với ngươi: Người l Ðấng Chnh Trực, Ðấng Ton Thắng, khim tốn ngồi trn lưng lừa, một con lừa con vẫn cn theo mẹ. (9:9).

C lẽ phấn khởi nhất l lời mời gọi của ngn sứ Xphnia, khi ng m tả cảnh Thin Cha ở với dn Người đang tưng bừng mừng lễ với đầy trn niềm vui cứu độ. Ti thấy v cng xc động khi đọc lại bản văn ny: Ðức Cha, Thin Cha của ngươi đang ngự giữa ngươi, Người l Vị cứu tinh, l Ðấng anh hng. V ngươi, Cha sẽ vui mừng hoan hỷ, sẽ lấy tnh thương của Người m đổi mới ngươi. V ngươi, Cha sẽ nhảy ma tưng bừng, như trong ngy lễ hội (3:17).

Đy l niềm vui chng ta cảm nghiệm hằng ngy, giữa những chuyện nhỏ nhặt trong đời sống, để đp lại lời mời gọi yu thương của Thin Cha Cha chng ta: Con ơi, hy vui hưởng những g con c... Đừng từ khước những niềm vui trong ngy (Hc 14:11, 14). Dịu dng biết bao tnh phụ tử vang vọng trong những lời ny!

5. Chong ngợp vinh quang của thập gi Đức Kit, sch Tin Mừng khng ngừng mời gọi chng ta vui mừng. Chỉ cần nu ra đy một vi v dụ. Mừng vui ln! l lời thin thần cho Đức Maria (Lc 1:28). Đức Maria đến thăm b lisabt lm cho Gioan nhảy mừng trong lng mẹ (xem Lc 1:41). Trong bi ca tn tụng của Mẹ, Đức Maria thốt ln: Thần tr ti hớn hở vui mừng trong Cha, Ðấng cứu độ ti (Lc 1:47). Khi Đức Gisu bắt đầu sứ vụ của Ngi, ng Gioan ku ln: V thế niềm vui của ti đ được trọn vẹn (Ga 3:29). Chnh Đức Gisu vui mừng trong Thần Kh (Lc 10:21). Sứ điệp của Ngi đem niềm vui đến cho chng ta: Thầy đ ni những điều ny cho anh em, để niềm vui của Thầy ở trong anh em, v niềm vui của anh em được trọn vẹn (Ga 15:11). Niềm vui của người Kit hữu chng ta tun chảy từ tri tim dạt do của Ngi. Ngi hứa với cc mn đệ: Anh em sẽ lo buồn, nhưng nỗi buồn của anh em sẽ trở thnh niềm vui (Ga 16:20). Rồi ngi tiếp: Nhưng Thầy sẽ gặp lại anh em, lng anh em sẽ vui mừng; v niềm vui của anh em, khng ai lấy mất được (Ga 16:22). Cc mn đệ vui mừng (Ga 20:20) khi nhn thấy Cha Kit phục sinh. Trong sch Cng Vụ Tng Đồ, chng ta thấy cc Kit hữu tin khởi dng bữa với lng đơn sơ vui vẻ (2:46). Bất kể cc mn đệ đi đến đu, ở đ, người ta rất vui mừng (8:8); ngay cả giữa cơn bch hại, họ vẫn ngập trn niềm vui (13:52). Vin quan thi gim vừa mới được rửa tội tiếp tục ln đường, lng đầy hoan hỉ (8:39), trong khi người cai ngục của Phaol v cả nh vui mừng v đ tin Thin Cha (16:34). Thế th tại sao chng ta lại khng đi vo cng dng suối niềm vui ấy?

6. C những Kit hữu sống đời mnh giống như chỉ c ma Chay m khng c ma Phục Sinh. Đương nhin ti hiểu rằng niềm vui ấy khng phải lc no trong cuộc đời cũng được biểu lộ giống nhau, nhất l trong những lc hết sức kh khăn. Niềm vui tự thch ứng v thay đổi, nhưng n lun lun tồn tại, d chỉ như một ngọn đn leo lt pht sinh từ niềm tin chắc của chng ta rằng, bất luận thế no, chng ta được thương yu v bờ. Ti hiểu được nỗi ưu phiền của những người phải chịu đau khổ nặng nề, nhưng tuy chậm m chắc chắn, tất cả chng ta phải để cho niềm vui của đức tin từ từ lm sống lại một lng trng cậy m thầm nhưng kin vững, ngay cả giữa những thử thch nặng nề nhất: Hồn ti hết được bnh an thư thi, ti đ qun mi hạnh phc rồi... Ðy l điều con suy đi gẫm lại, nhờ thế m con vững dạ cậy trng: Lượng từ bi Ðức Cha đu đ cạn, lng thương xt của Người mi khng vơi. Sng no Người cũng ban n huệ mới. Lng trung tn của Người cao cả biết bao! ... Biết thinh lặng đợi chờ, đợi chờ ơn cứu độ của Ðức Cha, đ l một điều hay (Ac 3:17, 21-23, 26).

7. Đi khi chng ta bị cm dỗ kiếm cớ để than thở v hnh động như thể chng ta chỉ c thể hạnh phc nếu c hng ngn cc điều kiện. Phần no đ l v x hội kỹ thuật của chng ta đ tạo ra v số điều kiện để hưởng thụ, nhưng lại rất kh tạo ra niềm vui.[2] Ti c thể ni rằng trong đời mnh, ti đ thấy những biểu hiện đẹp nhất v tự nhin nhất của niềm vui nơi những người ngho hầu như khng c g để bm vu vo. Ti cũng nghĩ đến niềm vui đch thực được biểu lộ bởi những người khc, những người m giữa những b buộc đầy p lực của nghề nghiệp, họ vẫn c thể giữ vững được niềm tin trong sự thanh thot v đơn sơ của họ. Với mỗi người tuỳ theo cch của mnh, tất cả cc niềm vui ny đều bắt nguồn từ tnh thương v bin của Thin Cha, Đấng tự mặc khải cho chng ta trong Đức Gisu Kit. Ti khng bao giờ thấy chn khi lặp lại lời của Đức Bnđict đưa chng ta vo chnh tm điểm của Tin Mừng: L Kit hữu khng phải l kết quả của một chọn lựa đạo đức hay một ý tưởng cao siu, nhưng l gặp gỡ với một biến cố, một con người, sự gặp gỡ đem đến cho cuộc đời một chn trời mới v một hướng đi quyết định.[3]

8. Chỉ nhờ sự gặp gỡ ny—hay sự gặp gỡ mới mẻ ny—với tnh yu của Thin Cha, được triển nở thnh một tnh bạn phong ph, chng ta được giải phng khỏi sự chật hẹp v khp kn của mnh. Chng ta trở thnh con người đầy đủ khi chng ta trở thnh hơn l con người, khi chng ta để mnh được Thin Cha đưa vượt qua chnh mnh để đạt tới sự thật đầy đủ nhất về hiện hữu của mnh. Ở đy chng ta tm thấy nguồn mạch v cảm hứng cho mọi nỗ lực phc m ho của chng ta. Bởi nếu chng ta đ nhận được tnh yu phục hồi ý nghĩa cho cuộc đời mnh, lm sao chng ta c thể khng chia sẻ tnh yu ấy với người khc?

II. NIỀM VUI DỊU NGỌT V PHẤN KHỞI CỦA VIỆC LOAN BO TIN MỪNG 

9. Lng tốt lun c khuynh hướng lan toả. Tự bản chất, mọi kinh nghiệm đch thực về sự thật v lng tốt đều tm cch lớn ln trong chng ta, v bất cứ ai đ từng trải nghiệm một sự giải thot su xa đều trở nn mẫn cảm hơn với nhu cầu của người khc. Khi lan toả, lng tốt bn rễ v pht triển. Nếu chng ta muốn c một cuộc sống xứng đng v sung mn, chng ta phải vươn ra tới người khc v mưu cầu lợi ch cho họ. Hiểu theo nghĩa ny, một số cu ni của Thnh Phaol sẽ khng lm chng ta ngạc nhin: Tnh yu của Đức Kit thc bch ti (2C 5:14); V phc cho ti nếu ti khng rao giảng Tin Mừng (1C 9:16).

10. Tin Mừng cho chng ta cơ hội để sống ở một bnh diện cao hơn nhưng khng km phần mnh liệt: Cuộc sống pht triển bằng cch cho đi, n suy yếu khi sống c lập v dễ di. Thực vậy, những người vui hưởng đời sống nhiều nhất l những người bỏ lại sự an ton trn bờ v được kch thch bởi sứ mạng thng truyền cuộc sống cho người khc.[4] Khi ku gọi người Kit hữu đảm nhận nhiệm vụ loan bo Tin Mừng, Hội Thnh chỉ đơn giản vạch ra cho họ thấy nguồn mạch đch thực của sự hon thnh bản thn. Bởi v ở đy chng ta khm ph ra một qui luật su xa của thực tại: đ l chng ta đạt được sự sống v lm n pht triển tuỳ theo mức độ chng ta từ bỏ n để trao ban sự sống cho người khc. Đy chắc chắn l ý nghĩa của truyền gio.[5] Do đ người loan bo Tin Mừng khng bao giờ được mang bộ mặt của một người vừa đi đưa đm về! Chng ta hy lấy lại v đo su sự phấn khởi của mnh, đo su niềm vui dịu ngọt v phấn khởi của việc loan bo Tin Mừng, cả khi chng ta phải gieo trong nước mắt... V chớ g thế giới của thời đại chng ta, một thế giới đang kiếm tm, khi th trong lo u, khi th trong hi vọng, c thể nhận được tin mừng khng phải từ những người rao giảng rầu rĩ, chn nản, mất kin nhẫn hay lo u, nhưng từ những thừa tc vin Tin Mừng đang sống một cuộc đời đầy nhiệt huyết, những người trước đ đ nhận được niềm vui của Đức Kit.[6]

Sự mới mẻ vĩnh hằng

11. Canh tn việc rao giảng c thể cống hiến cho cc tn hữu, cũng như cho những người nguội lạnh v khng sống đạo, một niềm vui mới trong đức tin v hiệu quả trong hoạt động truyền gio. Tm điểm của sứ điệp rao giảng sẽ vẫn lun lun l một: Thin Cha, Đấng mặc khải tnh thương v bin của Người nơi Đức Kit chịu đng đinh v phục sinh. Thin Cha khng ngừng đổi mới những người con trung thnh của Người, bất kể ở lứa tuổi no: Họ sẽ tro ln cao bằng đi cnh đại bng, sẽ chạy m khng mệt, sẽ đi bộ m khng xỉu (Is 40:31). Đức Kit l Tin Mừng vĩnh cửu (Kh 14:6); Ngi vẫn l một, hm qua, hm nay v mi mi (Dt 11:33), nhưng sự giu c v vẻ đẹp của Ngi th v bin. Ngi mi mi trẻ trung v l nguồn mạch vĩnh hằng của ci mới. Hội Thnh khng ngớt kinh ngạc trước chiều su của sự giu c, khn ngoan v hiểu biết của Thin Cha (Rm 11:33). Thnh Gioan Thnh Gi ni rằng sự khn ngoan v hiểu biết của Thin Cha giống như một khu rừng qu su v bao la khiến cho linh hồn d đ biết n nhiều đến đu cũng vẫn c thể tiến su mi vo trong đ.[7] Hay như Thnh Irn viết: Với việc đến trần gian ny, Đức Kit mang theo với Ngi tất cả sư mới mẻ.[8] Với sự tươi mới ny, Ngi lun lun c thể đổi mới cuộc đời chng ta v cc cộng đon chng ta, v cho d sứ điệp Kit gio đ từng biết đến những thời kỳ đen tối v sự yếu đuối của Hội Thnh, sứ điệp ấy sẽ khng bao giờ gi đi. Đức Gisu cũng c thể chọc thủng những phạm tr nhm chn m chng ta dng để giam hm Ngi v Ngi lun lun lm chng ta ngạc nhin bằng sự sng tạo thần linh của Ngi. Mỗi khi chng ta cố gắng trở về nguồn v khi phục lại sự tươi mới của Tin Mừng, những đại lộ mới sẽ xuất hiện, những con đường sng tạo mới sẽ mở ra, với những hnh thức biểu hiện khc nhau, những dấu chỉ v từ ngữ phong ph mang theo ý nghĩa mới cho thế giới hm nay. Mọi hnh thức loan bo Tin Mừng đch thực đều lun lun l mới.

12. Tuy đng l sứ mạng ny đi chng ta phải can đảm hơn, nhưng sẽ sai nếu chng ta coi n l một cng trnh anh hng của một c nhn, bởi v trước hết v trn hết n l cng trnh của Cha, vượt qu mọi sự m chng ta c thể thấy v hiểu. Đức Gisu l người loan bo Tin Mừng đầu tin v vĩ đại nhất.[9] Trong mọi hoạt động loan bo Tin Mừng, vị tr hng đầu lun lun thuộc về Thin Cha, Đấng ku gọi chng ta hợp tc với Người v dẫn đưa chng ta đi tới bằng sức mạnh Thần Kh của Người. Ci mới thực sự l ci mới m chnh Thin Cha đem đến một cch huyền nhiệm v soi sng, kch thch, hướng dẫn v đi theo bằng hng ngn cch. Đời sống Hội Thnh phải lun lun biểu lộ r rng rằng Thin Cha l người c sng kiến, rằng Người đ yu chng ta trước (1Ga 4:19), v chỉ một mnh Người lm cho lớn ln (1Cr 3:7). Niềm xc tn ny gip chng ta lun giữ được tinh thần vui tươi giữa một nhiệm vụ qu đi hỏi v thch thức khiến chng ta phải dấn cả cuộc đời chng ta vo. Người xin chng ta mọi thứ, nhưng đồng thời cũng ban tặng chng ta mọi thứ.

13. Chng ta cũng khng được coi sự mới mẻ của sứ mạng ny như l bao gồm một thứ chuyển dời hay qun lng lịch sử sống động đang bao quanh chng ta v ko chng ta tiến tới. Ký ức l một chiều kch của đức tin m chng ta c thể gọi l đệ nhị luật, tương tự như ký ức của dn Israel về chnh mnh. Cha Gisu để lại cho chng ta Thnh Thể như l sự tưởng nhớ hằng ngy của Hội Thnh về biến cố Vượt Qua của Ngi, v như l sự chia sẻ su xa hơn biến cố ny (Lc 22:19). Niềm vui loan bo Tin Mừng lun lun pht sinh từ sự tưởng nhớ với tm tnh biết ơn: đ l n sủng m chng ta phải lin lỉ ni xin. Cc tng đồ khng bao giờ qun giy pht Đức Gisu đnh động lng họ: Lc ấy l khoảng 4 giờ chiều (Ga 1:39). Cng với Đức Gisu, sự tưởng nhớ ny lm hiện ra trước mắt chng ta cả một đm my cc chứng nhn (Dt 12:1), trong số đ cc tn hữu chng ta hết sức vui sướng nhớ đến một số vị: Anh em hy nhớ đến cc lnh đạo của anh em, những người đ giảng lời Thin Cha cho anh em (Dt 13:7). Một số vị l những con người bnh thường sống giữa chng ta v thng truyền đời sống đức tin cho chng ta: Ti nhớ lại lng tin chn thnh của anh, một lng tin đ c trước tin nơi cụ Lis, b ngoại anh, v rồi nơi b Eunik, mẹ anh (2Tm 1:5). Cơ bản người tn hữu l người biết tưởng nhớ.

III. TN PHC M HO ĐỂ THNG TRUYỀN ĐỨC TIN 

14. Trong khi ch ý lắng nghe những thc đẩy của Cha Thnh Thần, Đấng gip chng ta cng nhau đọc cc dấu chỉ thời đại, Hội Nghị Thường Kỳ Lần Thứ XIII của Thượng Hội Đồng Gim Mục đ nhm họp từ 7- 28 thng 10 năm 2010 để thảo luận đề ti: Tn Phc m ho để thng truyền Đức Tin. Thượng Hội Đồng đ ti khẳng định tn phc m ho l một lời ku gọi được gửi tới mọi người v được thực hiện trong ba lnh vực chnh.[10]

Thứ nhất, chng ta c thể nhắc đến lnh vực thừa tc mục vụ thng thường, được sinh động ho bởi lửa của Thần Kh, để đốt chy tm hồn những tn hữu thường xuyn tham dự việc phụng tự cộng đon v tụ họp vo Ngy của Cha để được nui dưỡng bằng Lời v Bnh sự sống trường sinh của Ngi.[11] Trong loại người ny chng ta cũng c thể kể những tn hữu vẫn duy tr một đức tin su xa v chn thnh, biểu lộ đức tin bằng cc cch khc nhau, nhưng t khi tham dự việc thờ phượng.

Một lnh vực thứ hai l thnh phần những người đ rửa tội nhưng khng sống những đi hỏi của php Rửa,[12] những người thiếu một mối quan hệ c ý nghĩa với Hội Thnh v khng cn cảm nghiệm niềm an ủi pht sinh bởi đức tin. Trong mối quan tm từ mẫu của mnh, Hội Thnh tm cch gip họ trải nghiệm một sự hon cải để phục hồi niềm vui của đức tin cho tm hồn họ v khơi dậy nơi họ một sự dấn thn cho Tin Mừng.

Sau cng, chng ta khng thể qun rằng loan bo Tin Mừng trước hết v trn hết l giảng Tin Mừng cho những người khng biết Đức Gisu Kit hay lun lun chối bỏ Ngi. Nhiều người trong số họ vẫn đang m thầm tm kiếm Thin Cha, được dẫn dắt bởi ước vọng muốn thấy mặt Người, thậm ch tại những nước vốn c truyền thống Kit gio lu đời. Tất cả họ c quyền đn nhận Tin Mừng. Người Kit hữu c bổn phận rao giảng Tin Mừng cho mọi người, khng loại trừ bất kỳ ai. Thay v tỏ ra muốn p đặt những b buộc mới, người Kit hữu phải tỏ ra như l những người muốn chia sẻ niềm vui của mnh, chỉ ra một chn trời của ci đẹp, v mời gọi mọi người khc tới dự một bữa tiệc ngon. Hội Thnh pht triển khng phải bằng việc chiu dụ, nhưng bằng sức thu ht.[13]

15. Đức Gioan Phaol II xin chng ta nhận ra rằng khng được giảm bớt nỗ lực rao giảng Tin Mừng cho những người ở xa Đức Kit, bởi v đy l nhiệm vụ hng đầu của Hội Thnh.[14] Thật vậy, hoạt động truyền gio hm nay vẫn l thch thức lớn nhất cho Hội Thnh,[15] v nhiệm vụ truyền gio phải l nhiệm vụ hng đầu.[16] Chuyện g sẽ xảy ra nếu chng ta hiểu nghim tc những lời ny? Chng ta sẽ thấy rằng việc vươn ra truyền gio l một hệ hnh cho mọi hoạt động của Hội Thnh. Theo hướng ny, cc Gim Mục Chu Mỹ Latinh đ pht biểu rằng chng ta khng thể thụ động v thản nhin ngồi đợi trong cc nh thờ của chng ta;[17] chng ta cần phải chuyển đổi từ một nền mục vụ thuần tuý bảo tồn sang một mục vụ dứt khot mang tnh truyền gio.[18] Nhiệm vụ ny tiếp tục l một nguồn vui v bin cho Hội Thnh: Quả thật, ti bảo anh em, trn trời sẽ vui mừng v một người tội lỗi ăn năn hối cải hơn chn mươi chn người cng chnh khng cần ăn năn hối cải (Lc 15:7).

Phạm vi v giới hạn của Tng Huấn ny 

16. Ti rất vui được thực hiện lời yu cầu của cc Nghị Phụ Thượng Hội Đồng để viết Tng Huấn ny.[19] Lm cng việc ny, ti đang gặt những thnh quả phong ph từ cc lao nhọc của Thượng Hội Đồng. Ngoi ra, ti đ xin cc lời khuyn từ một số người v ti muốn by tỏ cc mối quan tm ring của ti đối với chương đặc biệt ny về cng cuộc phc m ho của Hội Thnh. V số vấn đề về loan bo Tin Mừng hm nay c thể được thảo luận ở đy, nhưng ti quyết định khng đi su vo nhiều vấn đề vốn cần được suy tư v nghin cứu xa hơn. Ti cũng khng nghĩ rằng huấn quyền của gio hong phải đưa ra một lời ni cuối cng hay đầy đủ về mọi vấn đề ảnh hưởng tới Hội Thnh v thế giới. Gio hong khng nn thay thế cc gim mục trong việc lm r những vấn đề pht sinh trong địa hạt của họ. Về phương diện ny, ti ý thức được nhu cầu cổ xuý một sự tản quyền thch hợp.

17. Ở đy ti quyết định trnh by một số đường hướng gip khuyến khch v hướng dẫn Hội Thnh trong một giai đoạn mới của cuộc phc m ho, một giai đoạn đặc biệt phấn khởi v sinh động. trong bối cảnh ny, v dựa trn cơ sở gio huấn của Hiến Chế Tn Lý Lumen Gentium, ti đ quyết định thảo luận đầy đủ về cc vấn đề sau đy:

a) cuộc cải tổ của Hội Thnh trong việc mở rộng truyền gio;

b) cc cm dỗ cho những người hoạt động mục vụ;

c) Hội Thnh, hiểu như l ton thể Dn Cha loan bo Tin Mừng;

d) bi giảng v việc chuẩn bị;

e) sự bao gồm người ngho trong x hội;

f) ho bnh v đối thoại trong x hội;

g) cc động cơ thing ling cho việc truyền gio.

18. Ti đ xem xt một cch su rộng v chi tiết cc đề ti ny, v c người c thể cho l qu tỉ mỉ. Nhưng ti đ lm như thế, khng phải với mục đch cung cấp một khảo luận đầy đủ, m chỉ l một cch để cho thấy cc hệ luỵ thực tiễn quan trọng của cc vấn đề ny đối với sứ mạng của Hội Thnh hm nay. Tất cả sẽ gip chng ta định hnh r nt một phong cch phc m ho m ti xin anh em thể hiện trong mọi hoạt động của anh em. Bằng cch ny, chng ta c thể thực hnh trong cc cố gắng hằng ngy của mnh lời khch lệ của Kinh Thnh: Anh em hy vui lun trong Cha; ti nhắc lại: Hy vui ln (Pl 4:4).

 

CHƯƠNG MỘT

SỰ BIẾN ĐỔI TRUYỀN GIO CỦA HỘI THNH 

19. Loan bo Tin Mừng l để đp lại mệnh lệnh truyền gio của Cha Gisu: Vậy anh em hy đi thu nạp mn đồ khắp mun dn, lm php rửa cho họ nhn danh Cha v Con v Thnh Thần, dạy họ tun giữ mọi điều Thầy đ truyền cho anh em (Mt 28:19-20). Qua những lời ny, ta thấy Đức Kit phục sinh đ sai cc mn đệ đi rao giảng Tin Mừng mọi thời v mọi nơi như thế no, để lng tin vo Ngi được lan rộng đến tận cng tri đất.

I. MỘT HỘI THNH ĐI RA 

20. Lời Thin Cha khng ngừng chỉ cho chng ta thấy Thin Cha thch thức những người tin Cha phải đi ra như thế no. Abraham nghe tiếng gọi ra đi đến một miền đất mới (x. St 12:1-3). Ms nghe tiếng Cha gọi: Đi đi, Ta sai ngươi (Xh 3:10) v ng đ đưa dn tới đất hứa (x. Xh 3:17). Với Girmia, Thin Cha ni: Ngươi hy đi đến với tất cả những người m Ta sai ngươi đến (Gr 1:7). Vo thời chng ta, lệnh truyền của Cha Gisu: Anh em hăy đi thu thập mn đệ đang vang dội trong những khung cảnh đổi thay v đầy thch thức mới cho sứ mạng loan bo Tin Mừng của Hội Thnh, v tất cả chng ta được ku gọi tham gia vo cuộc đi ra truyền gio mới ny. Mỗi Kit hữu v mỗi cộng đon phải nhận ra con đường m Cha chỉ cho, nhưng tất cả chng ta phải vng theo tiếng gọi của Ngi l ra đi từ vng đất tiện nghi của mnh để đến với mọi vng ngoại vi đang cần nh sng Tin Mừng.

21. Niềm vui Tin Mừng lm sinh động cộng đon cc mn đệ l một niềm vui truyền gio. Bảy mươi hai mn đệ đ cảm nhận niềm vui ny khi họ từ nơi truyền gio trở về (xem Lc 10:17). Đức Gisu đ cảm nhận niềm vui ny khi ngi vui mừng hoan lạc trong Thnh Thần v ca tụng Cha v đ mặc khải mnh cho những người ngho v những người b mọn (Lc 10:21). Niềm vui ny cũng đ được cảm nhận bởi những người trở lại đầu tin khi họ kinh ngạc nghe cc tng đồ giảng bằng tiếng mẹ đẻ của họ (Cv 2:6) vo ngy lễ Ngũ Tuần. Niềm vui ny l một dấu chỉ rằng Tin Mừng đ được cng bố v đang sinh hoa kết quả. Nhưng động lực để đi ra v trao ban, ra khỏi chnh mnh, khng ngừng dấn bước đi gieo hạt giống tốt, vẫn lun lun hiện diện hm nay. Cha ni: Ta hy đi sang cc lng ln cận để Thầy cũng giảng ở đ, v đ chnh l lý do m Thầy đến (Mc 1:38). Mỗi khi hạt giống đ được gieo tại một nơi no, Ngi khng ở lại đ để cắt nghĩa hay lm thm cc dấu lạ; Thần Kh thc đẩy Ngi ra đi tới cc thnh khc.

22. Lời Cha mang sức mạnh khng thể đon trước được. Tin Mừng ni về hạt giống, sau khi gieo xuống đất, tự n mọc ln, cả khi người gieo hạt đang ngủ (Mc 4:26-29). Hội Thnh phải chấp nhận sự tự do tuyệt đối ny của lời, n hon thnh điều n muốn vượt qu những cch tnh ton hay suy nghĩ của chng ta.

23. Sự gần gũi của Hội Thnh với Cha Gisu l một phần của một hnh trnh chung; hiệp thng v truyền gio lin kết mật thiết với nhau.[20] Trung thnh noi gương Thầy mnh, Hội Thnh hm nay thấy tuyệt đối phải ra đi rao giảng Tin Mừng cho mọi người, mọi nơi, mọi dịp, khng do dự, khng miễn cưỡng hay sợ hi. Niềm vui của Tin Mừng được dnh cho mọi người: khng thể loại trừ ai. Đ l điều thin sứ đ cng bố cho cc mục đồng tại Blem: Anh em đừng sợ; v ny, ti đem đến cho anh em một tin vui trọng đại cho ton dn (Lc 2:10). Sch Khải Huyền ni về một Tin Mừng mun thuở được cng bố cho những người cư ngụ trn tri đất, cho mọi quốc gia, mọi ngn ngữ, mọi bộ tộc v mọi dn tộc (Kh 14:6).

Đi bước trước, dấn thn v đồng hnh, sinh hoa tri v vui mừng 

24. Hội Thnh đi ra l một cộng đon cc mn đệ truyền gio đi bước trước, dấn thn v nng đỡ, sinh hoa tri v vui mừng. Một cộng đon loan bo Tin Mừng biết rằng Cha đ c sng kiến, Ngi đ yu chng ta trước (xem Ga 4:19), v v thế chng ta c thể dấn bước, mạnh dạn c sng kiến, đến với người khc, tm kiếm những người sa ng, đứng ở cc ngả đường để đn mời những người bị gạt ra bn lề. Một cộng đon như thế c một ước muốn khn ngui l tỏ lng thương xt, kết quả của kinh nghiệm bản thn của cộng đon về sức mạnh lng thương v bin của Thin Cha. Chng ta hy thử cố gắng hơn một cht để đi bước trước v dấn thn. Đức Gisu đ rửa chn cho cc mn đệ. Cha dấn thn v mời gọi cc mn đệ dấn thn, khi Ngi ci xuống rửa chn họ. Ngi bảo cc mn đệ: Nếu anh em thực hnh, th phc cho anh em! (Ga 13:17). Một cộng đon loan bo Tin Mừng dấn mnh vo đời sống hằng ngy của dn chng bằng lời ni v hnh động; cng đon ấy vượt qua cc khoảng cch, sẵn sng hạ mnh khi cần, v m ấp đời sống con người, chạm vo thn thể đau khổ của Đức Kit nơi người khc. Như vậy, cc người loan bo Tin Mừng mang lấy mi của đn chin v đn chin sẵn sng nghe tiếng của họ. Một cộng đon loan bo Tin Mừng cũng nng đỡ, đồng hnh với dn chng ở mỗi bước đi trn đường, bất kể con đường ny c thể di hay kh đi bao nhiu. Cộng đon ny cũng quen với việc kin nhẫn chờ đợi v sự chịu đựng tng đồ. Loan bo Tin Mừng phần lớn hệ tại sự kin nhẫn v khng quan tm tới p lực của thời gian. Trung thnh với ơn Cha, n cũng sinh hoa kết quả. Một cộng đon loan bo Tin Mừng lun lun để tm tới kết quả, v Cha muốn n sinh hoa kết quả. N chăm sc hạt giống v khng mất kin nhẫn với cỏ dại. Người gieo giống khi thấy cỏ dại mọc ln giữa hạt giống th khng cu nhu hay phản ứng thi qu. Họ tm cch để cho Lời được nhập thể trong một hon cảnh nhất định v pht sinh những hoa quả của đời sống mới, d những kết quả ny c vẻ chưa hon hảo hay đầy đủ. Người mn đệ sẵn sng mạo hiểm đời mnh, thậm ch chấp nhận tử đạo, để lm chứng cho Đức Gisu, nhưng mục tiu khng phải l muốn c kẻ th, m l để thấy Lời của Thin Cha được chấp nhận v sức mạnh giải thot v đổi mới của Lời được tỏ lộ. Sau cng, một cộng đon loan bo Tin Mừng th chan chứa niềm vui; n biết cch để lun lun vui mừng. N ăn mừng trước mỗi chiến thắng nho nhỏ, mỗi bước tiến trong cng cuộc loan bo Tin Mừng. Hn hoan loan bo Tin Mừng trở thnh ci đẹp của phụng vụ, như một phần mối quan tm hằng ngy của chng ta trong việc lm lan toả lng nhn hậu. Hội Thnh vừa giảng Tin Mừng vừa được nghe giảng Tin Mừng qua vẻ đẹp của phụng vụ, v phụng vụ vừa l cử hnh cng việc rao giảng Tin Mừng, vừa l nguồn mạch canh tn hnh vi trao hiến của Hội Thnh.

II. HOẠT ĐỘNG MỤC VỤ V SỰ HON CẢI 

25. Ti biết ngy nay cc văn kiện khng cn khơi dậy sự quan tm giống như trong qu khứ v chng mau bị rơi vo qun lng. Tuy nhin ti muốn nhấn mạnh rằng những g ti đang cố gắng trnh by ở đy mang ý nghĩa của một kế hoạch v c những hậu quả quan trọng. Ti hi vọng tất cả cc cộng đon sẽ dnh những cố gắng cần thiết để tiến tới theo con đường của một sự hon cải mục vụ v truyền gio khng để tnh hnh tiếp tục như hiện tại. Việc quản trị thuần tuý đ trở nn bất cập.[21] Trn khắp thế giới, chng ta phải thường xuyn trong trạng thi truyền gio.[22]

26. Đức Phaol VI mời gọi chng ta đo su ơn gọi canh tn v lm sng tỏ rằng canh tn khng chỉ lin quan đến cc c nhn nhưng tới ton thể Hội Thnh. Chng ta hy trở về với một bản văn đng nhớ m nay vẫn cn thch thức chng ta. Hội Thnh phải nhn su vo chnh mnh, suy gẫm mầu nhiệm hiện hữu của mnh... Nhận thức su sắc v sinh động ny về chnh mnh tất yếu dẫn tới một sự đối chiếu giữa hnh ảnh lý tưởng về Hội Thnh như Đức Kit mong muốn v yu thương như l hn th thnh thiện v v t tch của Ngi (xem Ep 5:27), với hnh ảnh thực tế m Hội Thnh trnh by cho thế giới hm nay... Đy l nguồn của cuộc chiến đấu anh dũng v khng chần chừ của Hội Thnh: chiến đấu để sửa sai những khuyết điểm phạm phải bởi cc thnh vin của mnh; những khuyết điểm ấy được nhận ra v bị ln n khi Hội Thnh tự xt mnh bằng cch soi vo mẫu gương của mnh l Đức Kit.[23] Cng Đồng Vatican II trnh by sự hon cải của Hội Thnh như l một sự canh tn lin tục pht sinh từ lng trung thnh với Đức Gisu Kit: Mọi việc canh tn Hội Thnh cốt yếu nhằm sống trung thnh với ơn gọi của Hội Thnh hơn... Trn đường lữ hnh, Hội Thnh được Cha Kit mời gọi canh tn lun mi, một sự canh tn m Hội Thnh, v l một định chế nhn trần, bao giờ cũng cần đến.[24]

C những cơ cấu Hội Thnh c thể cản trở hoạt động loan bo Tin Mừng, nhưng ngay cả những cơ cấu tốt cũng chỉ hữu ch khi c một sức sống lun thc đẩy, nng đỡ v đnh gi chng. Khng c sức sống mới v một tinh thần Tin Mừng đch thực, khng c sự trung thnh với ơn gọi của Hội Thnh, th mọi cơ cấu đều trở nn v hiệu.

Một cuộc canh tn khng thể tr hon của Hội Thnh

27. Ti ước mơ một chọn lựa truyền gio, nghĩa l một nỗ lực truyền gio c khả năng biến đổi mọi sự, để cc thi quen, cc cch hnh động, cc giờ giấc v chương trnh, ngn ngữ v cc cơ cấu của Hội Thnh c thể được khai thng thch hợp cho việc loan bo Tin Mừng cho thế giới hm nay, hơn l cho sự bảo tồn của Hội Thnh. Việc đổi mới cc cơ cấu theo đi hỏi của sự hon cải mục vụ chỉ c thể được hiểu trong nh sng ny: như một phần của cố gắng lm cho chng c định hướng truyền gio hơn, lm cho hoạt động mục vụ thng thường ở mọi cấp mang tnh bao gồm v mở rộng hơn, khơi dậy nơi những người lm mục vụ một ước muốn khng ngừng đi ra v nhờ đ kch thch một đp ứng tch cực từ tất cả những người được Đức Kit mời gọi đi vo tnh bạn với Ngi. Như Đức Gioan Phaol II c lần ni với cc Gim Mục vng Chu Đại Dương: Mọi sự canh tn của Hội Thnh phải lấy truyền gio lm mục tiu để trnh rơi vo nguy cơ của một Hội Thnh qui vo chnh mnh.[25]

28. Gio xứ khng phải l một cơ chế lỗi thời; lý do chnh l n c tnh linh động cao, n c thể tiếp thu những tnh huống kh khc biệt tuỳ theo sự cởi mở v c sng tạo truyền gio của người mục tử v của cộng đon. Chắc chắn gio xứ khng phải l cơ chế duy nhất loan bo Tin Mừng, nhưng nếu n tỏ ra c khả năng tự canh tn v thch nghi khng ngừng, n vẫn tiếp tục l Hội Thnh sống giữa cc gia đnh của cc con trai con gi mnh.[26] Điều ny c nghĩa l gio xứ thực sự tiếp xc với cc gia đnh v cc cuộc đời của những con người, v khng trở thnh một cơ chế cch ly với con người hay một nhm khp kn gồm một t người được tuyển chọn. Gio xứ l sự hiện diện của Hội Thnh tại một địa phương nhất định, một mi trường để nghe Lời Cha, để tăng trưởng trong đời sống Kit hữu, để đối thoại, rao giảng, lm việc bc i, thờ phượng v mừng lễ.[27] Trong mọi hoạt động của mnh, gio xứ cổ vũ v huấn luyện cc thnh vin của mnh để trở thnh những người loan bo Tin Mừng.[28] Gio xứ l một cộng đon của cc cộng đon, một thnh điện để những người kht nước đến uống dọc đường, v một trung tm thường xuyn vươn ra truyền gio. Tuy nhin, phải nhn nhận rằng lời ku gọi duyệt lại v canh tn cc gio xứ của chng ta vẫn chưa đủ sức đưa cc gio xứ đến gần người dn hơn, biến cc gio xứ trở thảnh những mi trường sống hiệp thng v tham dự, v lm cho gio xứ trở nn hon ton hướng về truyền gio.

29. Cc cơ chế khc của Hội Thnh, cc cộng đon cơ bản v cc cộng đon nhỏ, cc phong tro v cc dạng hiệp hội l một nguồn lm phong ph Hội Thnh, được khơi dậy bởi Thần Kh để phc m ho cc vng v cc lnh vực khc nhau. Cc tổ chức ny thường mang một nhiệt huyết phc m ho mới v một khả năng mới để đối thoại với thế giới nhờ đ Hội Thnh được canh tn. Nhưng sẽ rất hữu ch cho cc cơ chế ny nếu chng khng mất tiếp xc với thực tế phong ph của gio xứ tại địa phương v sẵn sng tham gia vo hoạt động mục vụ ton thể của Hội Thnh địa phương.[29] Hnh thức ho nhập ny sẽ gip cc cơ chế ny trnh được tnh trạng chỉ tập trung vo một phần của Tin Mừng hay của Hội Thnh, hay trở thnh những nhm du mục khng c cội nguồn.

30. Mỗi Gio Hội địa phương, trong tư cch l một phần của Hội Thnh Cng Gio được cai quản bởi một gim mụ, cũng được ku gọi c sự hon cải truyền gio. Gio Hội địa phương l chủ thể hng đầu của việc phc m ho,[30] v n l sự biểu hiện cụ thể của một Hội Thnh duy nhất tại một nơi xc định, v ở đ Hội Thnh duy nhất, thnh thiện, cng gio v tng truyền thực sự hiện diện v hoạt động.[31] Đ chnh l Hội Thnh nhập thể tại một địa phương, được trang bị mọi phương tiện cứu rỗi do Đức Kit thng ban, nhưng với những nt đặc trưng địa phương. Niềm vui của gio hội địa phương trong việc thng truyền Đức Kit được biểu lộ vừa bởi mối quan tm rao giảng về Người cho những vng cần hơn, vừa bởi việc khng ngừng đi ra những khu vực ngoại vi của lnh thổ mnh hay đến với những khung cảnh văn ho x hội mới.[32] Bất cứ ở đu cần nh sng v sự sống của Đức Kit Phục Sinh nhiều nhất, gio hội địa phương đều muốn c mặt ở đ.[33] Để lm cho động lực truyền gio ny ngy cng tập trung, quảng đại v hiệu quả hơn, ti khuyến khch mỗi gio hội địa phương thực hiện một tiến trnh phn định, thanh tẩy v cải tổ.

31. Gim mục phải lun lun nui dưỡng sự hiệp thng truyền gio ny trong Gio Hội địa phương của mnh, theo lý tưởng của cc cộng đon Kit gio tin khởi, ở đ cc tn hữu đều một lng một tr với nhau (xem Cv 4:32). Để lm điều ny, c khi ngi sẽ đứng trước dn, chỉ đường cho họ v giữ cho niềm hi vọng của họ lun sống động. Khi khc, ngi chỉ cần ở giữa họ bằng một sự hiện diện khim tốn v nhn từ. Khi khc nữa, ngi sẽ phải đi theo họ, gip đỡ những ai bị bỏ lại đng sau, v—trn hết—để cho đon chin tự mnh mở ra những lối đi mới. Trong sứ mạng nui dưỡng một sự hiệp thng năng động, cởi mở v truyền gio ny của ngi, ngi sẽ phải khuyến khch v pht triển cc phương thế tham gia được đề nghị trong Bộ Gio Luật,[34] v cc hnh thức đối thoại mục vụ khc, với ước muốn lắng nghe hết mọi người chứ khng chỉ những ai ni ra những g ngi thch nghe. Nhưng mục tiu chnh của cc tiến trnh tham gia ny khng sự tổ chức gio hội m tốt hơn phải l kht vọng truyền gio muốn đến được với mọi người.

32. V ti được ku gọi thực hnh điều ti yu cầu người khc, nn bản thn ti cũng phải nghĩ về một sự hon cải của sứ vụ gio hong. L Gim Mục của Roma, ti c bổn phận lắng nghe cc đề nghị c thể gip việc thực thi thừa tc vụ gio hong của ti trung thnh hơn với ý nghĩa m Đức Gisu Kit muốn gn cho sứ vụ ny v cho cc nhu cầu hiện nay của việc loan bo Tin Mừng. Đức Gioan Phaol II từng xin gip ngi tm ra một cch thực thi quyền tối thượng sao cho n hon ton khng từ bỏ những g thiết yếu cho sứ mạng, nhưng vẫn cởi mở trước cc tnh hnh mới.[35] Chng ta đ khng c mấy tiến bộ về phương diện ny. Gio hong v cc cơ cấu trung ương của Hội Thnh hon vũ cũng cần nghe tiếng gọi hon cải mục vụ. Cng Đồng Vatican II tuyn bố rằng, giống như cc Gio Hội trưởng lo thời xưa, cc hội đồng gim mục ngy nay đang ở trong vị thế cống hiến bằng nhiều cch thức hiệu quả cho việc hiện thực ho tinh thần tập đon.[36] Nhưng ước muốn ny chưa được thể hiện đầy đủ, v chng ta vẫn chưa triển khai đủ một tư cch php lý của cc hội đồng gim mục như l những chủ thể c những thuộc tnh chuyn biệt.[37] Hnh thức quản trị qu tập trung gy phức tạp cho đời sống v hoạt động truyền gio của Hội Thnh thay v gip ch cho n.

33. Thực hnh mục vụ trong nhn quan truyền gio cố gắng từ bỏ thi độ tự mn: Chng ti vẫn lun lun lm như thế. Ti ku mời mọi người mạnh dạn v sng tạo trong việc suy xt lại cc mục tiu, cơ cấu, phong cch v phương php truyền gio tại cc cộng đon của mnh. Một sự đề xuất cc mục tiu m khng c sự tm kiếm chung thoả đng của cộng đon về cc phương tiện để đạt cc mục tiu ấy th tất yếu chỉ l ảo tưởng. Ti khuyến khch mọi người p dụng cc hướng dẫn trong văn kiện ny một cch quảng đại v dũng cảm, khng bị ức chế hay sợ hi. Điều quan trọng l khng đi một mnh, nhưng cậy dựa lẫn nhau như anh chị em, v đặc biệt dưới sự lnh đạo của cc gim mục, trong một nhận thức mục vụ khn ngoan v thực tế.

III. TỪ TM ĐIỂM CỦA TIN MỪNG 

34. Nếu chng ta cố gắng đặt tất cả vo trong một nhn quan truyền gio, việc ny cũng sẽ ảnh hưởng tới cch chng ta thng truyền sứ điệp. Trong thế giới hm nay với tốc độ truyền thng tức thời v ảnh hưởng nhiều khi thin lệch của cc phương tiện truyền thng, sứ điệp chng ta rao giảng c nhiều nguy cơ bị xuyn tạc hay bị giản lược vo những nội dung thứ yếu. Bằng cch ny, một số vấn đề cơ bản của gio huấn lun lý của Hội Thnh bị lấy ra khỏi bối cảnh tạo ý nghĩa cho chng. Vấn đề lớn nhất l khi sứ điệp chng ta rao giảng bị đồng ho với những kha cạnh phụ thuộc, tuy quan trọng, nhưng tự chng khng chuyển đạt được trọng tm của sứ điệp. Chng ta phải thực tế v đừng giả thiết rằng người nghe chng ta hiểu đầy đủ được bối cảnh của điều chng ta đang ni, hay c khả năng lin kết điều chng ta giảng với chnh tm điểm của Tin Mừng, ci tạo cho n ý nghĩa, vẻ đẹp v sự hấp dẫn.

35. Thực hnh mục vụ theo phong cch truyền gio khng qu bận tm với việc thng truyền rời rạc thật nhiều gio thuyết buộc phải theo. Khi chọn một mục tiu mục vụ v một phong cch truyền gio c khả năng thực sự đến được với mọi người m khng c biệt lệ hay loại trừ, sứ điệp phải tập trung vo những g cốt yếu, những g đẹp nhất, lớn nhất, li cuốn nhất v đồng thời cần thiết nhất. Chng ta lm cho sứ điệp trở thnh đơn giản, nhưng đồng thời khng lm mất sự thm su v chn lý của n, nhờ đ n cng trở nn mạnh mẽ v c sức thuyết phục.

36. Tất cả cc chn lý mặc khải đều bắt nguồn từ Thin Cha v phải tin tất cả với cng một lng tin, nhưng c một số quan trọng hơn số khc v trực tiếp diễn tả tm điểm của Tin Mừng. Trong ci cốt li cơ bản ny, ci toả sng chnh l vẻ đẹp của tnh thương cứu độ của Thin Cha được mặc khải nơi Đức Kit đ chết v sống lại từ ci chết. Theo nghĩa ny, Cng Đồng Vatican II giải thch, trong gio thuyết cng gio, c một thứ tự hay một phẩm trật cc chn lý, v chng khc biệt nhau tuỳ theo tương quan của mỗi chn lý với nền tảng của đức tin Kit gio.[38] Điều ny được p dụng cả cho cc tn điều cũng như cho ton bộ gio huấn của Hội Thnh, gồm cả cc gio huấn lun lý.

37. Thnh Tma Aquin dạy rằng gio huấn lun lý của Hội Thnh c phẩm trật ring của n, trong cc nhn đức v cc hnh vi pht xuất từ nhn đức.[39] Điều quan trọng trn hết l đức tin hoạt động qua đức i (Gl 5:6). Cc việc bc i lm cho tha nhn l biểu hiện bn ngoi hon hảo nhất của ơn Cha Thnh Thần bn trong: Nền tảng của Luật Mới hệ tại n sủng của Cha Thnh Thần, Đấng được tỏ lộ trong đức tin hoạt động qua đức i.[40] Thnh Tma cắt nghĩa rằng, trong phạm vi cc việc lm bn ngoi, lng thương xt l nhn đức lớn nhất trong mọi nhn đức: Lng thương xt tự bản chất l lớn nhất trong mọi nhn đức, v tất cả cc nhn đức khc đều xoay quanh n, hơn nữa, n cn b đắp những khiếm khuyết của cc nhn đức khc. Đy l ci đặc th của nhn đức siu vời, v vậy bản tnh của Thin Cha l c lng thương xt, nhờ đ quyền năng v bin của Người được biểu hiện tới mức cao nhất.[41]

38. Điều quan trọng l rt ra những hệ quả mục vụ của gio huấn Cng Đồng, vốn l một xc tn xa xưa của Hội Thnh. Trước hết, cần ni rằng khi giảng Tin Mừng, phải giữ một mức cn đối thch hợp. Sự cn đối ny c thể thấy được qua tần suất cc chủ đề được nu ln v sự nhấn mạnh chng ta dnh cho chng khi giảng. V dụ, nếu trong năm phụng vụ, một cha xứ giảng về đức tiết độ mười lần nhưng chỉ ni về bc i hay cng bnh hai hay ba lần, như thế l mất cn đối, nhất l v n cho thấy c sự sao lng cc nhn đức lẽ ra phải được nhắc đến nhiều nhất trong bi giảng v gio lý. Cũng c sự mất cn đối như thế khi ta ni về lề luật nhiều hơn l về n sủng, về Hội Thnh nhiều hơn l về Đức Kit, về Gio Hong nhiều hơn l về Lời Cha.

39. Cũng như sự thống nhất hữu cơ giữa cc nhn đức c nghĩa l khng một nhn đức no c thể bị loại trừ khỏi lý tưởng Kit gio, th cũng khng được php chối bỏ một chn lý no. Khng thể lm biến dạng tnh ton vẹn của sứ điệp Tin Mừng. Hơn nữa, mỗi chn lý c thể được hiểu r hơn khi ta lin kết n với ci ton thể hi ho của sứ điệp Kit gio; theo nghĩa ny, mọi chn lý đều quan trọng v lm sng tỏ lẫn nhau. Khi lời giảng trung thnh theo Tin Mừng, tm điểm của một số chn lý trở nn hiển nhin v ta sẽ thấy rằng lun lý Kit gio khng phải l một dạng của chủ nghĩa khắc kỷ, hay thi độ từ bỏ mnh, cũng khng phải một thứ triết học thực hnh, hay một danh mục cc tội lỗi. Trn hết, Tin Mừng mời gọi chng ta đp lại vị Thin Cha của tnh thương, Đấng cứu độ chng ta, nhn thấy Cha nơi tha nhn v ra khỏi bản thn mnh để tm lợi ch cho tha nhn. Trong mọi hon cảnh, ta khng được php lm lu mờ lời mời gọi ny! Tất cả cc nhn đức l để gip cho sự đp lại tnh thương ny. Nếu lời mời gọi ny khng chiếu toả một cch sinh động v hấp dẫn, to nh gio huấn lun lý của Hội Thnh c nguy cơ trở thnh một căn nh bằng giấy, v đy l mối nguy lớn nhất của chng ta. Trong trường hợp ny, điều chng ta giảng khng phải l Tin Mừng, m l một số điểm về gio điều hay lun lý dựa trn một số chọn lựa ý thức hệ đặc th. Sứ điệp sẽ c nguy cơ mất đi sự tươi mt v sẽ khng cn l hương thơm của Tin Mừng.

IV. TRUYỀN GIO HO NHẬP TRONG NHỮNG GIỚI HẠN CỦA CON NGƯỜI 

40. Bản thn Hội Thnh l một người mn đệ truyền gio, cần phải học pht triển việc giải thch lời mặc khải v sự hiểu biết của mnh về chn lý. Cc nh ch giải v cc nh thần học c nhiệm vụ gip hon thiện phn đon của Hội Thnh.[42] Cc khoa học khc cũng gip thực thi nhiệm vụ ny, mỗi khoa học theo cch ring của mnh. Chẳng hạn khi đề cập đến cc khoa học x hội, Đức Gioan Phaol II ni Hội Thnh trn trọng cc nghin cứu của cc khoa học ny, v chng gip Hội Thnh rt ra những chỉ dẫn cụ thể c ch cho sứ mạng giảng dạy của Hội Thnh.[43] Bn trong Hội Thnh, v số vấn đề đang được nghin cứu v suy tư với rất nhiều sự tự do. Cc triền tư tưởng khc nhau trong triết học, thần học v thực hnh mục vụ, nếu chấp nhận để Cha Thnh Thần lm cho ho hợp trong sự tn trọng v bc i, c thể gip Hội Thnh tăng trưởng, v tất cả chng đều gip diễn tả r hơn sự phong ph v bin của lời Thin Cha. Đối với những ai ước ao c một tổng thể học thuyết đồng nhất buộc mọi người phải theo v khng c chỗ cho những khc biệt, ước muốn ny xem ra khng nn v c thể dẫn tới tnh trạng hỗn độn. Nhưng trn thực tế, sự khc biệt c thể gip lm sng tỏ v pht triển cc gc cạnh khc nhau trong sự phong ph v tận của Tin Mừng.[44]

41. Đồng thời, những thay đổi văn ho su rộng v nhanh chng hm nay đi chng ta khng ngừng tm kiếm những cch thức diễn tả cc chn lý bất biến bằng một ngn ngữ lm nổi bật sự mới mẻ vững bền của chng. Kho ký thc đức tin l một chuyện... cch diễn tả n lại l chuyện khc.[45] C khi người Kit hữu nghe một ngn ngữ hon ton chnh thống, nhưng lại hiểu về một ci g xa lạ với Tin Mừng đch thực của Đức Gisu, bởi v ngn ngữ kia khc với cch họ dng để ni với nhau v hiểu nhau. Với ý hướng thnh thiện muốn thng truyền chn lý về Thin Cha v loi người, chng ta đi khi [v tnh] cống hiến cho họ một vị thần giả tạo hay một lý tưởng nhn loại khng thực sự l Kit gio. Cứ thế, chng ta cố bm vo một cng thức trong khi khng chuyển đạt được nội dung cơ bản của n. Đy l mối nguy lớn nhất. Chng ta đừng bao giờ qun rằng chn lý c thể được diễn tả bằng những hnh thức khc nhau. Việc đổi mới cc cch diễn tả ny trở thnh cần thiết để thng truyền cho con người ngy nay sứ điệp Tin Mừng trong ý nghĩa khng thay đổi của n.[46]

42. Tất cả những điều ny c tầm quan trọng lớn đối với việc rao giảng Tin Mừng, nếu chng ta thực sự quan tm lm cho vẻ đẹp của Tin Mừng được mọi người nhận ra r hơn v đn nhận. Đương nhin chng ta sẽ khng bao giờ c thể lm cho gio huấn của Hội Thnh được mọi người hiểu một cch dễ dng v sẵn sng chấp nhận. Đức tin mi mi vẫn l một thứ thập gi; n lun lun hm chứa một mảng mờ tối bất chấp sự ưng thuận vững vng. Một số điều chỉ c thể được hiểu v chấp nhận từ cơ sở của sự ưng thuận ny, người chị em với đức i, vượt ln trn cc lý do hay lập luận r rng. Chng ta cần nhớ rằng mọi lời giảng dạy tn gio rốt cuộc đều phải được phản chiếu nơi cch sống của người giảng dạy, chnh cch sống ny đnh thức sự ưng thuận của quả tim bằng sự gần gũi, yu thương v chứng t của n.

43. Trong cng cuộc phn định đang diễn ra hm nay, Hội Thnh cũng c thể nhận ra rằng một số thi quen khng trực tiếp lin quan tới cốt li của Tin Mừng, kể cả một số c gốc rễ su trong lịch sử, nay khng cn được hiểu v được chấp nhận đng như trước. Một số thi quen ny c thể đẹp, nhưng khng cn l phương tiện hiệu quả để thng truyền Tin Mừng. Chng ta đừng sợ xt lại chng. Đồng thời, Hội Thnh c cc qui tắc hay giới luật c thể đ từng kh hiệu quả vo thời của chng, nhưng khng cn hữu ch để hướng dẫn v định hnh cho đời sống của con người hm nay. Thnh Tma Aquin chỉ ra rằng cc giới luật m Đức Kit v cc tng đồ truyền cho dn th rất t.[47] Dẫn lời Thnh Augustin, ngi nhận xt rằng cc giới luật m Hội Thnh thời sau truyền dạy nn được nhấn mạnh một cch vừa phải thi để khng đ nặng ln đời sống cc tn hữu v biến đạo chng ta thnh một dạng n lệ, trong khi lng thương xt của Thin Cha muốn chng ta phải được tự do.[48] Lời khuyến co ny đ được đưa ra từ nhiều thế kỷ, nay vẫn cn hết sức hợp thời. N phải l một trong cc tiu chuẩn chng ta phải lưu ý khi suy nghĩ về một cuộc cải tổ Hội Thnh v việc giảng dạy của Hội Thnh, gip cho việc giảng dạy ny đến được với mọi người.

44. Hơn nữa, cc mục tử v gio dn đang đồng hnh với cc anh chị em mnh trong đức tin hay trong hnh trnh mở lng đn nhận Thin Cha phải nhớ rằng sch Gio Lý của Hội Thnh Cng Gio dạy rất r: Việc quy lỗi v trch nhiệm về một hnh động c thể được giảm bớt hay xa bỏ do thiếu hiểu biết, sơ suất, do p lực, sợ hi, do thi quen, do tm lý bất ổn, do cc nhn tố tm lý hay x hội.[49] Do đ, trong khi vẫn khng xa rời lý tưởng Tin Mừng, họ cần phải c lng thương xt v kin nhẫn để di theo v nng đỡ cc giai đoạn tăng trưởng khi chng tuần tự diễn ra.[50] Ti muốn nhắc nhớ cc linh mục rằng to giải tội khng phải l một buồng tra tấn nhưng l một nơi gặp gỡ lng từ bi của Cha, thc đẩy chng ta lm hết sức mnh. Một bước đi nhỏ giữa những hạn chế to lớn của con người, c thể lm vui lng Thin Cha hơn l một cuộc sống bề ngoi xem ra đng mực nhưng ngy ngy khng phải đối diện với những kh khăn to lớn no. Mọi người cần được đnh động bởi sự an ủi v hấp dẫn của tnh thương cứu độ của Thin Cha, đang hoạt động một cch nhiệm mầu trong mỗi người, vượt ln trn cc sa ng v lỗi lầm của họ.

45. V vậy ta thấy cng việc loan bo Tin Mừng hoạt động trong cc giới hạn của ngn ngữ v hon cảnh. N khng ngừng tm cch thng truyền sự thật của Tin Mừng một cch hiệu quả hơn trong một bối cảnh nhất định, khng từ bỏ sự thật, sự thiện v nh sng m n c thể đem đến bất cứ nơi no khng thể c sự hon thiện. Một con tim truyền gio ý thức về những giới hạn ny v lm cho mnh trở nn yếu với người yếu... mọi sự cho mọi người (1Cr 9:22). N khng bao giờ đng kn mnh, khng bao giờ lui về nơi an ton của mnh, khng bao giờ chọn thi độ cố chấp hay tự vệ. N hiểu rằng n phải gia tăng sự hiểu biết của mnh về Tin Mừng v nhận ra cc đường lối của Thần Kh, v vậy n lun lun lm bất cứ điều tốt lnh no c thể, d trn đường đi, chn n c thể bị lấm bn.

V. NGƯỜI MẸ VỚI TRI TIM RỘNG MỞ

46. Một Hội Thnh đi ra l một Hội Thnh mở cửa. Đến với người khc để tới được cc bin giới của loi người khng c nghĩa l vội v lao vo thế giới m khng c mục tiu. Thường th tốt hơn l nn đi từ từ, hm bớt sự phấn khch của mnh để nhn v nghe người khc, khng nhảy vội từ chuyện ny sang chuyện khc, v nn ở lại bn người đ ng dọc đường. Thỉnh thoảng chng ta phải giống như người cha của đứa con hoang đng, lun lun để cửa mở hầu khi đứa con trở về, n c thể vo ngay trong nh.

47. Hội Thnh được ku gọi trở thnh Nh Cha, lun lun mở rộng cửa. Một dấu hiệu của sự mở ra ny l cc nh thờ của chng ta phải lun lun mở cửa, để nếu c ai được Cha Thnh Thần thc đẩy đến đy tm Thin Cha, họ sẽ khng thấy cửa nh thờ đang đng. Cũng c những cửa khc khng được đng. Mọi người c thể tham dự một cch no đ vo đời sống của Hội Thnh; mọi người c thể l thnh phần của cộng đon, v cc cửa của b tch cũng khng được đng v bất cứ lý do g. Điều ny đặc biệt đng đối với b tch được gọi l cửa: b tch Rửa Tội. B tch Thnh Thể, tuy l sự sung mn của đời sống b tch, nhưng khng phải l một phần thưởng cho người hon thiện, m l một phương thuốc v lương thực cho người yếu đuối.[51] Cc xc tn ny c những hệ quả mục vụ m chng ta cần phải xem xt một cch thận trọng v mạnh dạn. Chng ta nhiều khi hnh động như l người ban pht n sủng thay v l người tạo điều kiện cho n sủng. Nhưng Hội Thnh khng phải l một trạm thu ph; Hội Thnh l Nh Cha, c chỗ cho mọi người, với tất cả cc vấn đề của họ.

48. Nếu ton thể Hội Thnh chấp nhận động lực truyền gio mới ny, Hội Thnh phải đến với mọi người, khng loại trừ một ai. Nhưng phải đến với ai trước? Khi đọc Tin Mừng, chng ta thấy một dấu hiệu r rng: khng phải những bạn b v lng giềng giu c của chng ta, nhưng trn hết l những người ngho khổ bệnh tật, những người thường bị khinh dể v ruồng rẫy, những người khng c g để trả lại ngươi (Lc 14:14). Khng c chỗ cho sự hoi nghi hay những lời giải thch vốn chỉ lm yếu đi một sứ điệp r rng như thế. Hm nay v mi mi, người ngho l những người ưu tin được đn nhận Tin Mừng,[52] v việc Tin Mừng được tự do rao giảng cho họ l dấu chỉ về vương quốc m Cha Gisu đến để thiết lập. Chng ta phải ni thẳng ra rằng c một dy lin kết khng thể phn ly giữa đức tin của chng ta v người ngho. Chng ta đừng bao giờ bỏ họ.

49. V vậy chng ta hy đi ra, đi ra để cống hiến cho mọi người sự sống của Cha Gisu Kit. Ở đy ti lặp lại cho ton thể Hội Thnh điều ti từng ni cho cc linh mục v gio dn ở Buenos Aires: Ti th c một Hội Thnh bị bầm dập, mang thương tch v nhơ nhuốc v đi ra ngoi đường, hơn l một Hội Thnh ốm yếu v bị giam hm v bm vu vo sự an ton của mnh. Ti khng muốn một Hội Thnh chỉ lo đặt mnh vo trung tm để rốt cuộc bị mắc kẹt trong một mạng lưới cc nỗi m ảnh v cc thủ tục. Nếu c ci g đng phải khiến chng ta trăn trở v y ny lương tm, th đ chnh l sự kiện nhiều anh chị em chng ta đang sống m khng c sức mạnh, nh sng v niềm an ủi pht sinh từ tnh bạn với Đức Gisu Kit, khng c một cộng đon đức tin nng đỡ họ, khng tm thấy ý nghĩa v mục tiu trong đời. Ti mong rằng, thay v sợ đi lạc, chng ta nn sợ bị giam hm trong những cấu trc lm cho chng ta c một cảm gic an ton giả tạo, những qui tắc biến chng ta thnh những quan to tn nhẫn, với những thi quen lm chng ta cảm thấy an thn, trong khi ở ngoi cửa người ta đang chết đi v Đức Gisu khng ngừng ni với chng ta: Anh em hy cho họ ăn đi! (Mc 6:37).

 

CHƯƠNG HAI

GIỮA CƠN KHỦNG HOẢNG VỀ DẤN THN CỘNG ĐỒNG 

50. Trước khi bn về một số vấn đề lin quan tới cng cuộc loan bo Tin Mừng, ti nghĩ nn vắn tắt nhắc đến bối cảnh trong đ tất cả chng ta đang phải sống v lm việc. Ngy nay chng ta thường xuyn nghe ni đến một hiện tượng qu tải chẩn đon m khng lun lun km theo những phương php điều trị tương ứng trong thực tế. Một phn tch thuần tuý x hội học muốn gi trọn ton thể thực tại bằng phương php gọi l trung bnh lm sng cũng chẳng gip g được cho chng ta. Ci m ti muốn đề nghị l một phương php ph hợp hơn với nhận thức Tin Mừng. Đ l phương php của người mn đệ truyền gio, một phương php được nui dưỡng bởi nh sng v sức mạnh của Cha Thnh Thần.[53]

51. Nhiệm vụ của Gio Hong khng phải l cung cấp một phn tch chi tiết v đầy đủ về thực tại ngy nay, nhưng ti khuyến khch mọi cộng đon lun tỉnh to d xt cc dấu chỉ của thời đại.[54] Đy thực sự l một trch nhiệm nặng nề, v một số thực tại ngy nay, nếu khng được xử lý hiệu quả, sẽ c thể mở đường cho cc tiến trnh phi nhn ho m sau ny sẽ kh c khả năng đảo ngược. Chng ta cần phn biệt r ci g c thể l kết quả của Nước Thin Cha với ci g đi ngược lại kế hoạch của Thin Cha. Điều ny khng những bao gồm việc nhận ra v phn biệt cc loại thần tr, nhưng cũng bao gồm việc chọn lấy cc tc động của thần lnh v từ chối cc tc động của thần dữ. Ti mặc nhin nhn nhận cc phn tch khc nhau m cc văn kiện khc của huấn quyền Hội Thnh đ cống hiến, cũng như cc văn kiện m cc hội đồng gim mục cấp vng v cấp quốc gia đ đề nghị. Trong Tng Huấn ny, ti chỉ muốn trnh by một cch vắn tắt v từ quan điểm mục vụ, một số nhn tố c thể cản trở hay lm suy yếu động lực canh tn truyền gio trong Hội Thnh, hoặc l v chng đe doạ sự sống v phẩm gi của Dn Thin Cha, hay v chng tc động tới những người trực tiếp tham gia vo cc tổ chức của Hội Thnh v vo cng cuộc truyền gio của Hội Thnh.

I. CC THCH THỨC CỦA THẾ GIỚI HM NAY

52. Ở thời đại chng ta, nhn loại đang trải qua một bước ngoặt trong lịch sử của mnh, như chng ta c thể thấy từ cc tiến bộ đang được thực hiện trong rất nhiều lnh vực. Chng ta khng thể khng ca ngợi cc bước đi đang được thực hiện để cải thiện phc lợi của dn chng trong cc lnh vực như chăm sc sức khoẻ, gio dục v truyền thng. Nhưng đồng thời chng ta phải nhớ rằng đa số dn chng by giờ sống ngy no biết ngy ấy, với những viễn tượng đng sợ. Một số dịch bệnh đang lan rộng. Tm hồn nhiều người bị xm chiếm bởi nỗi sợ hi v thất vọng, ngay cả ở những nước được cho l giu c. Niềm vui sống thường xuyn phai nhạt, thiếu tn trọng người khc, v nạn bạo lực ngy cng nhiều, tnh trạng bất bnh đẳng cũng gia tăng. Người ta đấu tranh để sống, v thường l sống với phẩm gi tối thiểu. Thay đổi của thời đại đ được khởi động bởi những tiến bộ khổng lồ, mau chng v tch luỹ về phẩm v lượng trong cc khoa học v kỹ thuật v được đem p dụng ngay vo cc lnh vực khc nhau của tự nhin v đời sống. Chng ta đang ở một thời đại tri thức v thng tin, dẫn tới cc hnh thức quyền lực mới v thường l khng được gọi tn.

Ni khng với một nền kinh tế loại trừ

53. Cũng như giới răn Chớ giết người đặt ra một giới hạn r rng để bảo vệ gi trị của sự sống con người, ngy nay chng ta cũng phải ni Khng với một nền kinh tế loại trừ v bất bnh đẳng. Một nền kinh tế như thế cũng giết chết. Sao c thể khi một người v gia cư chết v khng được che chở th khng được kể l một tin tức, trong khi thị trường chứng khon mất hai điểm th lại l tin tức? Đy l một trường hợp loại trừ. Chng ta c thể điềm nhin đứng nhn khi lương thực bị đổ đi trong khi c những người đang đi? Đy l một trường hợp bất bnh đẳng. Ngy nay mọi thứ đều theo luật cạnh tranh v luật sinh tồn của kẻ thch hợp nhất, ở đ những kẻ c quyền lực chn p những người yếu thế? Hậu quả l v số người bị loại trừ v bị gạt ra bn lề: khng việc lm, khng phương tiện, khng c bất kỳ lối thot no.

Chnh con người bị coi l mn hng tiu thụ sử dụng rồi vứt bỏ. Chng ta đ tạo ra một văn ho dng một lần hiện đang lan rộng. Khng cn đơn thuần l vấn đề bc lột v p bức, m l một vấn đề mới. Rốt cuộc thi độ loại trừ lm thay đổi ý nghĩa của tư cch l thnh phần của x hội chng ta đang sống; những người bị loại trừ khng cn l phần phụ thuộc hay bn lề hay bị tước quyền trong x hội—họ thậm ch khng cn l thnh phần của x hội nữa! Những người bị loại trừ khng phải l những người bị bc lột m l những người bị gạt ra ngoi, những đồ thừa.

54. Trong bối cảnh ny, một số người vẫn cn tiếp tục bnh vực cc lý thuyết kiểu lọt sng xuống nia, [] cho rằng sự tăng trưởng kinh tế, được khuyến khch bởi thị trường tự do, tự n sẽ thnh cng trong việc tạo ra cng bằng v sự bao gồm (inclusion) nhiều hơn trong x hội. Ý kiến ny chưa bao giờ được thực tế xc nhận, n diễn tả một niềm tin th thiển v ngy thơ vo lng tốt của những người nắm giữ quyền lực kinh tế v cc thao tc được thần thnh ho của hệ thống kinh tế chủ đạo. Trong khi đ những người bị loại trừ vẫn đang chờ đợi. Để duy tr một lối sống loại trừ người khc, hay duy tr sự phấn khch với lý tưởng ch kỷ ấy, một hiện tượng ton cầu ho của sự dửng dưng đ pht triển. Hầu như v tnh, rốt cuộc chng ta trở nn v cảm trước tiếng ku của người ngho, khng cn c thể khc trước nỗi đau của người khc hay cảm thấy cần cứu gip họ, coi như tất cả đều l trch nhiệm của một ai khc chứ khng phải của chnh chng ta. Văn ho của sự thịnh vượng lm chng ta mất đi sự mẫn cảm; chng ta phấn khch nếu thị trường cung cấp cho chng ta một mn hng mới; trong khi tất cả những mảnh đời cằn cỗi v thiếu cơ hội c vẻ chỉ l một cảnh tượng bnh thường, khng hềlm chng ta mủi lng.

Ni khng với ngẫu thần mới l tiền bạc

55. Một nguyn nhn của tnh huống ny được thấy trong mối quan hệ của chng ta với tiền bạc, v chng ta thản nhin chấp nhận sự thống trị của n trn chng ta v cc x hội của chng ta. Cuộc khủng hoảng ti chnh hiện nay c thể lm chng ta khng để ý tới sự kiện n pht sinh trong một khủng hoảng su xa về con người: sự chối bỏ địa vị tối thượng của con người! Chng ta đ tạo ra cc ngẫu thần mới. Việc thờ con b vng thời xưa (xem Xh 32:1-35) nay đ trở lại dýới một dạng mới v sống sýợng l việc sng bi ngẫu thần tiền bạc v sự chuyn chế của một nền kinh tế phi nhn khng c một mục ðch nhn bản ðch thực. Cuộc khủng hoảng kinh tế ti chnh ton cầu bộc lộ r sự mất thăng bằng v trn hết l sự thiếu quan tm đối với con người; con người bị giản lược vo một nhu cầu duy nhất của họ m thi: tiu thụ.

56. Trong khi thu nhập của một thiểu số tăng theo cấp số nhn, th hố ngăn cch giữa đa số với một thiểu số được hưởng sự thịnh vượng cũng tăng theo cấp số nhn. Tnh trạng chnh lệch ny l kết quả của cc hệ tư tưởng muốn bảo vệ độc lập tuyệt đối của thị trường v đầu cơ ti chnh. Hậu quả l chng phủ nhận mọi quyền kiểm sot của cc nh nước vốn c trch nhiệm lo cho cng ch. Thế l sinh ra một thứ chuyn chế mới, v hnh v thường l hư hư ảo ảo, n đơn phương v tn nhẫn p đặt những luật php v qui tắc ring của n. Cc mn nợ v li tch luỹ cũng lm cho cc quốc gia kh thể hiện tiềm năng nền kinh tế ring của họ để gip cc cng dn nước họ được hưởng sức mua thực sự của họ. Cũng cn phải kể thm tnh trạng tham nhũng v trốn thuế trn lan v ch kỷ, nay đ ở cấp độ ton cầu. Kht vọng quyền lực v của cải l v giới hạn. Trong hệ thống ny, với khuynh hướng xu x bất cứ ci g cản đường cho sự gia tăng lợi nhuận, những thực tại mong manh, như mi trường chẳng hạn, hon ton khng c khả năng tự vệ trước những lợi ch của một thị trường được thần thnh ho v trở thnh qui luật duy nhất.

Ni khng với một hệ thống ti chnh thống trị thay v phục vụ

57. Đằng sau thi độ ny ẩn chứa một sự chối bỏ đạo đức v chối bỏ Thin Cha. Đạo đức được nhn với con mắt khinh bỉ chế nhạo. Người ta coi đạo đức l phi sản xuất, qu nhn đạo, v n coi tiền bạc v quyền lực l ci g tương đối. Người ta cảm thấy n l một mối đe doạ, v n kết n những hnh vi thao tng v hạ thấp phẩm gi con người. Trn thực tế, đạo đức dẫn con người tới Thin Cha, Đấng ku gọi một lời đp dấn thn vượt ra ngoi cc phạm tr của thị trường. Khi thị trường được coi l tuyệt đối, th người ta chỉ c thể coi Thin Cha như l ci g khng kiểm sot được, khng quản lý được, thậm ch nguy hiểm, v Thin Cha ku gọi con người thể hiện đầy đủ bản thn v tự do khỏi mọi hnh thức n lệ. Đạo đức—một thứ đạo đức phi ý thức hệ—c thể đem lại sự cn bằng v một trật tự x hội nhn đạo hơn. Với những ý tưởng ny, ti khuyến khch cc chuyn gia ti chnh v cc chnh khch suy gẫm những lời của cc bậc hiền nhn thời xưa: Khng chia sớt của cải với người ngho l ăn cắp của họ v lấy đi kế sinh nhai của họ. Của cải chng ta giữ khng phải của ring chng ta, m l của họ.[55]

58. Một sự cải cch ti chnh theo cc suy tư đạo đức như thế đi hỏi cc nh lnh đạo chnh trị phải thay đổi mạnh mẽ cch tiếp cận. Ti khuyến khch họ đối diện với thch thức ny bằng sự quyết tm v một ci nhn về tương lai, đồng thời khng bỏ qua những yếu tố cụ thể của từng trường hợp. Tiền phải phục vụ, khng phải cai trị! Gio hong yu thương mọi người, người giu cũng như người ngho, nhưng ngi buộc phải nhn danh Đức Kit nhắc nhở mọi người rằng những người giu phải gip đỡ, tn trọng v thăng tiến người ngho. Ti khuyn anh chị em c tnh lin đới quảng đại v đưa kinh tế v ti chnh trở về với một phương thức đạo đức phục vụ lợi ch con người.

Ni khng với tnh trạng bất bnh đẳng, nguồn gốc của bạo lực

59. Ngy nay tại nhiều nơi chng ta nghe thấy tiếng ku gọi phải c an ninh hơn. Nhưng bao lu tnh trạng loại trừ v bất bnh đẳng trong x hội cn chưa được đảo ngược, th khng thể no xo bỏ bạo lực. Người ngho v cc dn tộc ngho bị tố co sử dụng bạo lực, nhưng nếu khng c cc cơ hội bnh đẳng th cc hnh thức gy hấn v xung đột khc nhau sẽ tm được mảnh đất mầu mỡ để pht triển v bng nổ. Khi một x hội—địa phương, quốc gia, hay thế giới—muốn gạt ra bn lề một thnh phần của mnh, th khng một chương trnh hay nguồn lực chnh trị no dnh cho việc thực thi php luật hay cc hệ thống gim st c thể bảo đảm vĩnh viễn sự an bnh. Khng chỉ đơn giản v sự bất bnh đẳng khơi dậy một phản ứng bạo lực từ những người bị loại trừ khỏi hệ thống, nhưng l v hệ thống kinh tế-x hội l bất cng tận gốc. Cũng như sự tốt lnh c xu hướng lan toả, việc dung tng sự c, nghĩa l bất cng, c khuynh hướng mở rộng ảnh hưởng độc hại của n v m thầm huỷ hoại mọi hệ thống chnh trị v x hội, bất kể hệ thống ấy c vẻ vững chắc đến đu. Nếu mọi hnh động đều c những hậu quả của chng, th một sự c nằm trong cc cơ cấu của một x hội cũng c một tiềm năng ph hoại v huỷ diệt lu di. N chnh l sự xấu được kết tinh trong những cơ cấu x hội bất cng, v khng thể l cơ sở để hi vọng một tương lai tốt đẹp hơn. Chng ta cn ở xa ci gọi l tận cng của lịch sử, v cc điều kiện cho một sự pht triển bền vững v ho bnh vẫn chưa được thấy r v thể hiện đầy đủ.

60. Ngy nay cc cơ chế vận hnh kinh tế cổ xuý việc tiu thụ qu mức, nhưng r rng chủ nghĩa tiu thụ xả lng kết hợp với tnh trạng bất bnh đẳng lm cho cơ cấu x hội bị huỷ hoại gấp hai lần. Bất bnh đẳng sẽ sinh ra bạo lực sử dụng vũ kh v sẽ khng bao giờ c thể giải quyết được. N chỉ c thể tạo ra hi vọng giả tạo cho những người ku gọi gia tăng an ninh, mặc d ngy nay chng ta biết rằng cc vũ kh v bạo lực khng hề gip tm ra giải php, m chỉ tạo ra những xung đột mới v nghim trọng hơn. Một số người bằng lng với việc chỉ trch những người ngho v cc quốc gia ngho v l nguồn gốc của cc rắc rối; bằng những sự khi qut ho v căn cứ, họ cho rằng giải php phải l gio dục để xoa dịu những người ngho, thuần ho họ v lm họ trở thnh v hại. Tất cả quan điểm ny cng lm cho những người bị loại trừ cảm thấy tức giận khi chứng kiến tnh trạng tham nhũng trn lan v ăn rễ su tại nhiều quốc gia—trong cc chnh phủ, cc doanh nghiệp v cc tổ chức—bất kể xu hướng chnh trị của cc nh lnh đạo của họ l g.

Cc thch thức văn ho 

61. Chng ta cũng loan bo Tin Mừng khi cố gắng đối mặt với cc thch thức c thể xuất hiện.[56] C khi những thch thức ny c thể đến dưới dạng những cuộc tấn cng thực sự vo tự do tn gio hay những cuộc bch đạo mới nhắm vo người Kit hữu; tại một số nước, tnh trạng ny đ tới mức bo động của sự căm th v bạo lực. Tại nhiều nơi, thch thức nổi trội hơn l sự lan rộng của chủ nghĩa dửng dưng v chủ nghĩa tương đối, gắn liền với sự thất vọng v khủng hoảng ý thức hệ bắt nguồn từ một phản ứng chống lại bất cứ ci g c vẻ l độc ti. Tnh trạng ny khng chỉ lm hại Hội Thnh m cũng lm hại ton thể x hội. Chng ta phải nhận ra rằng, trong một nền văn ho m mỗi người chỉ muốn chấp nhận sự thật chủ quan của mnh, th sẽ kh biết bao để cc cng dn tm ra được một kế hoạch chung vượt ln trn cc lợi ch ring tư v cc tham vọng c nhn.

62. Trong nền văn ho đang thịnh hnh, thế thượng phong được dnh cho ci bề ngoi, ci trực tiếp, ci c thể thấy được, ci nhanh, ci ph phiếm v ci tạm bợ. Ci thật nhường chỗ cho ci ảo. Tại nhiều nước, ton cầu ho c nghĩa l một sự đẩy nhanh tiến trnh suy yếu cc gốc rễ văn ho truyền thống v sự xm nhập cc lối suy nghĩ v hnh động của cc nền văn ho khc tiến bộ hơn về mặt kinh tế nhưng yếu km hơn về đạo đức. Sự kiện ny đ được nu ln bởi cc gim mục từ nhiều chu lục tại cc Thượng Hội Đồng khc nhau. Cc gim mục Chu Phi, chẳng hạn, khi đọc Thng Điệp Sollicitudo Rei Socialis, đ vạch ra từ nhiều năm trước rằng người ta đ thường xuyn tm cch biến cc nước Chu Phi thnh những bộ phận của một ci my, những vng răng trn một ci bnh răng khổng lồ. Điều ny cũng đng trong lnh vực truyền thng x hội, chủ yếu được điều hnh bởi cc trung tm tại bắc bn cầu, n khng quan tm đầy đủ đến cc ưu tin v cc vấn đề của cc nước như thế, hay khng tn trọng bản chất của cc nền văn ho ấy.[57] Tương tự, cc gim mục Chu cũng nu ln những ảnh hưởng bn ngoi đang tc động đến cc nền văn ho Chu. Cc mẫu hnh vi mới đang xuất hiện như l kết quả của việc chịu ảnh hưởng qu nhiều vo cc phương tiện truyền thng x hội... Hậu quả l cc kha cạnh tiu cực của cc cng nghệ truyền thng v giải tr đang đe doạ cc gi trị truyền thống, đặc biệt đe doạ sự thnh thing của hn nhn v sự bền vững của gia đnh.[58]

63. Đức tin Cng Gio của nhiều người ngy nay đang bị thch thức bởi sự nở rộ cc phong tro tn gio, một số c khuynh hướng cực đoan trong khi một số khc đề nghị một linh đạo khng c Thin Cha. Một mặt, đy l một phản ứng của con người trước một x hội duy vật, tiu thụ v c nhn chủ nghĩa, nhưng mặt khc, đy cũng l một sự khai thc sự yếu đuối của những người sống trong ngho khổ v bn lề x hội, những người đang tranh đấu để sinh tồn trong tnh trạng đau khổ nặng nề của con người v đang tm những giải php trước mắt cho cc nhu cầu của họ. Khng thiếu sự sắc sảo, cc phong tro tn gio ny xuất hiện, trong một bối cảnh văn ho đậm nt c nhn chủ nghĩa, để lấp đầy khoảng trống do chủ nghĩa duy lý thế tục để lại. Chng ta phải nhn nhận rằng, sở dĩ một phần cc tn hữu đ rửa tội của chng ta thiếu ý thức thuộc về Hội Thnh, đ cũng l do một số cơ cấu v một số bầu kh thiếu thn thiện cởi mở tại một số gio xứ v cộng đồng của chng ta, hoặc cũng do tnh quan liu trong cch xử lý cc vấn đề đơn sơ hay phức tạp trong đời sống cc tn hữu của chng ta. Tại nhiều nơi, phương thức quản trị lấn lướt phương thức mục vụ, cũng như sự tập trung vo việc ban cc b tch tch rời với cc hnh thức truyền gio khc.

64. Tiến trnh tục ho c khuynh hướng giản lược đức tin v Hội Thnh vo lnh vực c nhn v ring tư. Hơn nữa, bằng việc phủ nhận ci siu việt, n lm cho đạo đức ngy cng xuống cấp, ý thức của c nhn v tập thể về tội lỗi suy yếu dần, v chủ nghĩa tương đối ngy cng gia tăng. Tnh trạng ny dẫn đến một sự mất phương hướng chung, đặc biệt ở lứa tuổi thiếu nin v thanh nin vốn l tuổi rất dễ bị tổn thương do sự thay đổi. Như cc gim mục Hoa Kỳ đ vạch ra một cch ch lý, trong khi Hội Thnh nhấn mạnh sự tồn tại của cc qui tắc đạo đức khch quan c gi trị cho mọi người, th lại c những người trong nền văn ho của chng ta m tả gio huấn ny l khng đng, nghĩa l chống lại cc quyền cơ bản của con người. Những tuyn bố loại ny thường đi theo một dạng chủ nghĩa tương đối về đạo đức, v một cch bất nhất, km theo một niềm tin vo cc quyền tuyệt đối của cc c nhn. Quan niệm ny coi Hội Thnh như l nơi cổ vũ một thnh kiến ring v can thiệp vo tự do của c nhn.[59] Chng ta đang sống trong một x hội lệ thuộc thng tin khng ngừng dội xuống chng ta đủ loại dữ liệu—tất cả đều được coi l quan trọng như nhau—v dẫn tới tnh trạng hời hợt trong lnh vực nhận thức đạo đức. Đp lại, chng ta cần cung cấp một nền gio dục dạy lối suy nghĩ c ph bnh v khuyến khch pht triển cc gi trị đạo đức trưởng thnh.

65. Bất chấp ln sng tục ho đ qut qua cc x hội chng ta, tại nhiều nước—ngay cả những nước m người Kit hữu chỉ l thiểu số—Hội Thnh Cng Gio được cng luận coi l một tổ chức khả tn, v được tin cậy v sự lin đới v quan tm tới những người cng khổ. Hội Thnh khng ngừng hnh động như một người trung gian trong việc tm kiếm cc giải php cho cc vấn đề lin quan tới ho bnh, ho hợp x hội, đất đai, bảo vệ sự sống, nhn quyền v dn quyền, v.v. V cc trường học v đại học cng gio trn khắp thế giới đ đem lại biết bao lợi ch! Đy l điều rất tốt. Thế nhưng chng ta cn gặp kh khăn trong việc lm cho dn chng thấy rằng khi chng ta nu ln những vấn đề khc khng hợp sở thch của cng luận, chng ta lm việc ny chnh l v trung thnh với cng những xc tn về phẩm gi con người v lợi ch chung.

66. Gia đnh đang trải nghiệm một khủng hoảng văn ho su xa, v mọi cộng đồng v quan hệ x hội cũng thế. Trong trường hợp gia đnh, sự suy yếu cc mối quan hệ ny đặc biệt nghim trọng v gia đnh l tế bo cơ bản của x hội, ở đ chng ta học cch sống với người khc bất chấp cc khc biệt giữa chng ta, v học cch thuộc về lẫn nhau; gia đnh cũng l nơi cha mẹ truyền thụ đức tin cho con ci. Hn nhn by giờ c khuynh hướng được coi như một hnh thức thoả mn tnh cảm đơn thuần v c thể được xy dựng bằng mọi hnh thức hoặc thay đổi tuỳ ý. Nhưng sự đng gp thiết yếu của hn nhn cho x hội vượt ln trn cc tnh cảm v cc nhu cầu của đi vợ chồng. Như cc gim mục Php đ dạy, hn nhn khng pht sinh từ cảm xc yu đương, theo định nghĩa c tnh ph du, nhưng từ nghĩa vụ su xa được chấp nhận bởi đi vợ chồng ưng thuận đi vo một sự hiệp thng đời sống trọn vẹn.[60]

67. Chủ nghĩa c nhn của thời hậu hiện đại v ton cầu ho của chng ta tạo điều kiện cho một nếp sống lm suy yếu sự pht triển v vững bền của cc mối tương quan nhn vị v lm biến dạng cc mối dy rng buộc gia đnh. Hoạt động mục vụ cần lm sng tỏ hơn sự thật rằng mối quan hệ của chng ta với Cha đi hỏi v khuyến khch một sự hiệp thng gip chữa lnh, cổ vũ v tăng cường cc mối quan hệ giữa người với người. Trong thế giới chng ta, đặc biệt trong một số nước, cc hnh thức chiến tranh v xung đột đang xuất hiện trở lại, nhưng người Kit hữu chng ta vẫn kin tr trong ý muốn tn trọng người khc, chữa lnh cc vết thương, bắc cầu, tăng cường cc mối quan hệ v chịu đựng gnh nặng của nhau (Gl 6:2). Ngy nay cũng vậy, nhiều loại hiệp hội khc nhau nhẳm bảo vệ cc quyền v theo đuổi cc mục tiu cao qu đang được lập ra. Đy l dấu hiệu cho thấy ước muốn của nhiều người muốn đng gp cho sự tiến bộ văn ho v x hội.

Cc thch thức cho việc hội nhập đức tin

68. Nền tảng Kit gio của một số dn tộc—đa phần ở Phương Ty—l một thực tại sống động. Ở đy chng ta tm thấy, đặc biệt giữa những người thiếu thốn nhất, một nguồn lực đạo đức gip họ giữ gn cc gi trị của một nền nhn bản Kit gio đch thực. Nhn thực tại bằng con mắt đức tin, chng ta khng thể khng nhn nhận những g m Cha Thnh Thần đang gieo. Chng ta sẽ tỏ ra thiếu tin tưởng vo hoạt động tự do v ho phng của Cha Thnh Thần nếu chng ta nghĩ rằng cc gi trị Kit gio đch thực đang vắng bng tại những nơi m rất nhiều người đ rửa tội đang biểu lộ đức tin v tnh lin đới với người khc bằng nhiều cch khc nhau. C nghĩa l ta khng chỉ nhn nhận những hạt giống lời Cha rải rc đ đy, m hơn thế nữa, đy l một đức tin Kit gio đch thực với cc cch biểu hiện ring v cc phương tiện cho thấy mối quan hệ của n với Hội Thnh. Khng thể coi nhẹ tầm quan trọng của một nền văn ho thấm nhuần đức tin; trước sức tấn cng của chủ nghĩa thế tục, một nền văn ho được phc m ho, tuy c những giới hạn của n, nhưng n cũng c rất nhiều nguồn lực chứ khng chỉ đơn thuần l tổng dn số tn hữu. Một nền văn ho bnh dn được phc m ho bao hm những gi trị của đức tin v tnh lin đới c sức khuyến khch sự pht triển của một x hội cng bằng v c niềm tin hơn, v chứa đựng một sự khn ngoan m chng ta phải nhn nhận với lng biết ơn.

69. Chng ta c bổn phận phc m ho cc nền văn ho để đưa Tin Mừng vo văn ho. Tại cc nước c truyền thống Cng Gio, chng ta c bổn phận khuyến khch, nui dưỡng v tăng cường một sự phong ph vốn đ c rồi. Tại cc nước c cc truyền thống tn gio khc, hay cc nước tục ho su đậm, chng ta c bổn phận mở ra những tiến trnh mới để phc m ho nền văn ho, mặc d cng việc ny đi hỏi một kế hoạch di hạn. Tuy nhin chng ta phải lưu ý rằng, chng ta khng ngừng được mời gọi tăng trưởng. Mỗi nhm văn ho v x hội cần được thanh tẩy v lớn ln. Trong trường hợp cc nền văn ho bnh dn của dn Cng Gio, chng ta c thể thấy những khuyết tật cần phải được chữa lnh bởi Tin Mừng: thi trọng nam khinh nữ, tật nghiện rượu, bạo lực gia đnh, t đi lễ, cc khi niệm về số phận hay m tn dị đoan lm người ta chạy theo ma thuật ph php, v.v Chnh lng đạo bnh dn c thể l một điểm xuất pht để chữa lnh v thot khỏi những khuyết tật ny.

70. Cũng đng l đi khi chng ta nhấn mạnh qu nhiều vo cc biểu hiện bn ngoi v cc truyền thống của một số nhm, hoặc qu đề cao cc mặc khải ring thay cho mọi thứ khc, hơn l tập trung vo năng động lực của lng đạo Kit gio. C một thứ Kit gio được cấu tạo bởi những việc sng mộ phản nh một đời sống đức tin mang tnh c nhn chủ nghĩa v tnh cảm, m trn thực tế khng tương ứng với một lng đạo bnh dn chn chnh. Một số người cổ xuý cc cch biểu hiện ny trong khi hon ton khng quan tm tới việc thăng tiến x hội hay việc đo luyện gio dn, v trong một số trường hợp, họ chỉ nhắm tới những lợi lộc kinh tế hay quyền lực trn những người khc. Chng ta cũng khng thể bỏ qua sự kiện trong những thập nin gần đy đ c một sự suy thoi trong cch m người Cng Gio truyền thụ đức tin cho giới trẻ. Khng thể phủ nhận rằng nhiều người cảm thấy thất vọng v khng cn nhận mnh thuộc về truyền thống cng gio nữa. Ngy cng nhiều bậc cha mẹ khng cho con chịu php rửa hoặc dạy con cầu nguyện. Cũng c hiện tượng nhiều người bỏ sang cc đạo khc. Cc nguyn nhn của sự suy sụp ny bao gồm: thiếu cơ hội đối thoại trong gia đnh, ảnh hưởng của cc phương tiện truyền thng, chủ nghĩa tương đối chủ quan, chủ nghĩa tiu thụ v độ chỉ lm giu cho thị trường, thiếu chăm sc mục vụ cho người ngho, cc tổ chức của chng ta khng thu ht, v chng ta gặp kh khăn trong việc khi phục một sự gắn b nhiệm mầu với đức tin trong một bối cảnh đa nguyn tn gio.

Cc thch thức từ nền văn ho đ thị

71. Girusalem mới, Thnh Thnh (xem Kh 21:2-4), l điểm đến m ton thể nhn loại đang đi tới. Chng ta ngạc nhin khi mặc khải của Thin Cha dạy rằng sự vin mn của nhn loại v của lịch sử ðýợc thể hiện trong một thnh tr. Chng ta cần phải nhn vo cc thnh phố của chng ta với một ci nhn chim niệm, một ci nhn đức tin thấy Thin Cha cư ngụ trong cc ngi nh, cc đường phố, cc cng vin. Sự hiện diện của Thin Cha nng đỡ cc cố gắng của cc c nhn v tập thể để tm được sự khch lệ v ý nghĩa trong đời họ. Ngi cư ngụ giữa họ, nui dưỡng tnh lin đới, tnh huynh đệ, v ước muốn sự thiện, sự thật v cng lý. Sự hiện diện của Ngi khng phải được tạo ra, m phải được tm kiếm, được pht hiện. Thin Cha khng giấu mnh với những ai thnh tm kiếm tm Người, d họ tm kiếm một cch m mẫm, mơ hồ v cầu may.

72. Tại cc đ thị, khc với tại nng thn, chiều kch tn gio của đời sống được biểu lộ bằng những cch sống khc nhau, những nhịp độ sống thường nhật khc nhau tuỳ nơi v tuỳ người. Trong đời sống hằng ngy, người dn thường phải đấu tranh để sinh tồn v cuộc đấu tranh ny chứa đựng một sự hiểu biết su xa về cuộc đời mang đậm một ý thức tn gio. Chng ta phải xem xt vấn đề ny kỹ hơn để c khả năng đi vo một cuộc đối thoại giống như cuộc đối thoại giữa Cha Gisu v người phụ nữ bn bờ giếng, nơi chị tm nước để giải cơn kht (xem Ga 4:1-15).

73. Cc nền văn ho mới đang khng ngừng xuất hiện trong những khng gian mới rộng lớn ny, ở đ người Kit hữu khng cn l những người giải thch hay tạo ra ý nghĩa giống như trước kia. Ngược lại, chnh họ lấy từ cc nền văn ho ny những ngn ngữ, những biểu tượng, những thng điệp v những hệ hnh mới đề xuất những cch tiếp cận mới với cuộc đời, những cch tiếp cận thường tương phản với Tin Mừng của Cha Gisu. Một nền văn ho hon ton mới đ sinh ra v tiếp tục lớn ln trong cc đ thị. Thượng Hội Đồng lưu ý rằng hm nay cc thay đổi đang diễn ra trong cc khng gian rộng lớn ny v cc nền văn ho m chng tạo ra l một nơi ưu tin để loan bo Tin Mừng.[61] Điều ny thch thức chng ta phải sng tạo ra những khng gian v điều kiện mới thuận lợi cho việc cầu nguyện v hiệp thng, sao cho chng hấp dẫn v c ý nghĩa hơn đối với cc cư dn đ thị. Qua ảnh hưởng của cc phương tiện truyền thng, cc vng nng thn đang chịu sự tc động của cng những thay đổi văn ho ny, khiến cho họ cũng thay đổi một cch đng kể cch sống của họ.

74. Việc phải lm l một cuộc loan bo Tin Mừng c khả năng dọi nh sng vo những cch thức mới trong mối lin hệ với Thin Cha, với tha nhn v với thế giới xung quanh chng ta, v khơi dậy những gi trị cơ bản. N phải đến được những nơi m cc lối kể truyện v cc hệ hnh đang hnh thnh, đem lời Cha Gisu đến tận tầng thm su nhất của tm hồn cc thnh phố chng ta. Cc thnh phố đều mang tnh đa văn ho; tại cc thnh phố lớn, c một mạng nối kết để cc nhm người chia sẻ với nhau sức tưởng tượng v cc ước mơ về cuộc đời, v cc mối tương tc mới giữa người với người cũng pht sinh, cc văn ho mới, cc thnh phố v hnh. Cc nền văn ho phụ cũng xuất hiện bn nhau, chng thường mang tnh chất kỳ thị v bạo lực. Hội Thnh được ku gọi phục vụ một cuộc đối thoại kh khăn. Một mặt, c những người c cc điều kiện cần thiết để pht triển cuộc sống c nhn v gia đnh của họ, nhưng mặt khc cũng c nhiều người khng được gọi l cng dn, những cng dn hạng hai, v những cặn b đ thị. Cc đ thị tạo ra một loại mu thuẫn trường kỳ, v trong khi chng cống hiến cho cư dn của chng v vn khả thể, chng đồng thời cũng tạo ra rất nhiều cản trở cho sự pht triển đầy đủ cuộc sống của họ. Tnh trạng mu thuẫn ny gy nn sự đau đớn. Tại nhiều vng trn thế giới, cc thnh phố l sn khấu của cc cuộc phản khng quần chng, ở đ hng ngn người đứng ln ku gọi tự do, c tiếng ni trong đời sống cng cộng, cng lý v đủ loại cc đi hỏi khc m nếu khng được hiểu đng, th vũ lực cũng khng thể giải quyết.

75. Chng ta khng thể lm ngơ trước sự kiện tại cc thnh phố đang diễn ra nạn bun người, bun bn chất ma tuý, lạm dụng v bc lột trẻ em, qun lng người gi v người tn tật, v nhiều hnh thức tham nhũng v hoạt động tội phạm. Đồng thời, những nơi m lẽ ra phải l chỗ gặp gỡ v lin kết th thường lại trở thnh những nơi cch ly v nghi kỵ lẫn nhau. Cc nh cửa v cc khu lng giềng thường được xy dựng để c thể cch ly v bảo vệ hơn l để lin kết v ho hợp. Rao giảng Tin Mừng sẽ l một cơ sở để khi phục phẩm gi con người trong những bối cảnh ny, v Cha Gisu muốn tun đổ dồi do sự sống xuống cc thnh phố của chng ta (xem Ga 10:10). Ý nghĩa thống nhất v đầy đủ của đời sống con người m Tin Mừng đề nghị l phương thuốc cho những căn bệnh của cc đ thị chng ta, mặc d chng ta phải nhn nhận rằng một chương trnh đồng nhất v cứng nhắc về phc m ho th khng ph hợp với thực tại phức tạp ny. Nhưng chng ta sẽ trở thnh những Kit hữu tốt hơn v mang lại lợi ch cho cc đ thị nếu chng ta sống trọn vẹn đời sống con người v đối diện với mọi thch thức như l men để lm chứng cho Tin Mừng trong mọi nền văn ho v mọi đ thị.

II. THCH THỨC CHO NGƯỜI HOẠT ĐỘNG MỤC VỤ 

76. Ti v cng biết ơn tất cả những người đang dấn thn hoạt động trong Hội Thnh v cho Hội Thnh. Ở đy ti khng muốn đi vo chi tiết cc hoạt động của những người hoạt động mục vụ khc nhau, từ cc gim mục xuống tới những người cung cấp cc việc phục vụ m thầm v khim tốn nhất. Đng hơn, ti muốn suy tư về những thch thức m tất cả họ phải đối diện trong bối cảnh văn ho ton cầu ho hiện nay. Nhưng một cch cng tm, ti phải ni trước tin rằng sự đng gp của Hội Thnh trong thế giới hm nay l v cng to lớn. Nỗi đau v sự xấu hổ chng ta cảm thấy v tội lỗi của một số thnh vin của Hội Thnh, v tội lỗi của chnh chng ta, khng bao giờ được lm chng ta qun rằng c v số người Kit hữu đang hiến dng cuộc đời mnh trong hi vọng. Họ gip biết bao nhiu người được khỏi bệnh hay được chết trong bnh an tại cc bệnh viện tạm bợ. Họ hiện diện với những người mắc cc tật nghiện ngập khc nhau tại những nơi ngho khổ nhất trn thế giới. Họ hiến mnh cho việc gio dục cc trẻ em v thanh nin. Họ chăm sc những người gi khng được ai lo cho. Họ tm cch thng truyền những gi trị trong cc mi trường th nghịch. Họ dấn thn bằng những cch thức khc nhau để chứng tỏ một tnh thương v bin đối với nhn loại được khơi dậy bởi vị Thin Cha lm người. Ti biết ơn v gương sng ti nhận được từ rất nhiều Kit hữu khi họ vui vẻ hi sinh cuộc đời v thời giờ của họ. Những chứng t ny an ủi v nng đỡ ti trong cố gắng của chnh mnh để khắc phục tnh ch kỷ v để ti hiến mnh trọn vẹn hơn.

77. Tuy nhin, l những đứa con của thời đại ny, tất cả chng ta một cch no đ cũng chịu ảnh hưởng bởi nền văn ho ton cầu ho hm nay, n cho chng ta những gi trị v khả thể mới, nhưng cũng c thể hạn chế, chi phối v rốt cuộc lm hại chng ta. Ti ý thức rằng chng ta cần tạo ra những khoảng khng gian mới trong đ những người hoạt động mục vụ c thể tm được sự gip đỡ v chữa trị, những nơi m chnh đức tin vo Cha Gisu chết v phục sinh được canh tn, những nơi m cc vấn đề su xa nhất v cc mối quan tm hằng ngy được chia sẻ, nơi m nhận thức su xa hơn về cc kinh nghiệm của chng ta v chnh đời sống được thực hiện trong nh sng Tin Mừng, v mục đch định hướng cc quyết định của c nhn v x hội tới ci tốt v ci đẹp.[62] Đồng thời, ti muốn ku gọi ch ý tới một số cm dỗ đặc biệt ảnh hưởng tới những người hoạt động mục vụ.

Ni c với thch thức của một linh đạo truyền gio

78. Chng ta hm nay đang thấy nơi nhiều người hoạt động mục vụ, gồm cả những người thnh hiến nam cũng như nữ, một sự quan tm qu mức về tự do v sự thoải mi của bản thn họ, khiến họ coi cng việc của họ như chỉ l một ci g phụ thuộc chứ khng phải một thnh phần thuộc căn tnh của họ. Đồng thời, đời sống thing ling trở nn bị đồng ho với một t việc thực hnh tn gio c thể đem lại một sự an ủi no đ chứ khng khuyến khch việc gặp gỡ người khc, dấn thn vo thế giới hay một niềm say m loan bo Tin Mừng. Kết quả l chng ta thấy nhiều người hoạt động rao giảng Tin Mừng, tuy họ vẫn cầu nguyện, nhưng c một lối sống rất c nhn chủ nghĩa, một sự khủng hoảng căn tnh v nhiệt tnh trở nn nguội lạnh. C ba điều xấu tc động lẫn nhau.

79. C những lc nền văn ho truyền thng của chng ta v một số giới tr thức truyền đi một chủ nghĩa hoi nghi rất mạnh đối với sứ điệp của Hội Thnh, cng với những chỉ trch giễu cợt. Hậu quả l nhiều nh hoạt động mục vụ, mặc d họ cầu nguyện, nhưng ngy cng thm mặc cảm tự ti dẫn họ tới thi độ tương đối ho căn tnh v cc niềm tin Kit gio của họ. Điều ny tạo ra một ci vng lẩn quẩn. Rốt cuộc họ cảm thấy khng hi lng với bản thn họ v với cng việc họ lm; họ khng đồng ho mnh với sứ mạng loan bo Tin Mừng của mnh v điều ny lm suy yếu sự dấn thn của họ. Tnh trạng ny cuối cng bp nghẹt niềm vui truyền gio bằng một thứ m thị rằng họ giống như mọi người v c tất cả những g người khc c. Như thế hoạt động rao giảng Tin Mừng của họ trở thnh bị p buộc, họ dnh rất t cng sức v thời gian cho cng việc ny.

80. Cc nh hoạt động mục vụ như thế c thể rơi vo một thứ chủ nghĩa tương đối cn nguy hiểm hơn chủ nghĩa tương đối lý thuyết, bất kể phong cch linh đạo hay tư duy ring của họ l g. N chạm tới cc quyết định thm su v ring tư nhất định hnh lối sống của họ. Chủ nghĩa tương đối thực tế ny hệ tại việc hnh động như thể Thin Cha khng hiện hữu, thực hiện cc quyết định như thể người ngho khng tồn tại, đề ra cc mục tiu như thể người khc khng tồn tại, hoạt động như thể khng c sự tồn tại của những người chưa đn nhận Tin Mừng. Đng ngạc nhin l những người r rng từng c những xc tn học thuyết v thing ling vững chắc cũng thường rơi vo một lối sống bm vu vo sự an ton về ti chnh, hay một ước muốn quyền lực v danh vọng bằng bất cứ gi no, thay v hiến mnh truyền gio cho tha nhn. Chng ta đừng để mnh bị cướp mất niềm say m truyền gio!

Ni khng với ch kỷ v nguội lạnh thing ling

81. Khi m chng ta đang cần nhiều nhất một năng động truyền gio để đem muối v nh sng cho đời, th nhiều gio dn sợ rằng c thể họ sẽ được yu cầu đảm nhận một hoạt động tng đồ no đ, v họ tm cch trnh n mọi trch nhiệm c thể lấy mất th giờ rảnh rỗi của họ. V dụ, ngy nay tại cc gio xứ thật kh tm được những gio lý vin đ được huấn luyện m sẵn sng kin tr trong cng việc ny trong một thời gian di. Điều tương tự cũng xảy ra đối với cc linh mục sợ mất thời giờ rảnh rỗi của mnh. Lý do thường l v người ta cảm thấy nhu cầu qu mạnh muốn bảo vệ sự tự do ring của họ, họ coi nhiệm vụ loan bo Tin Mừng như thể l một chất độc nguy hiểm thay v l một lời đp hn hoan trước tnh yu của Thin Cha mời gọi chng ta truyền gio, hon thiện bản thn v sinh hoa kết quả. Một số người hon ton từ chối hiến thn cho truyền gio v rốt cuộc đi đến một tnh trạng t liệt v nhm chn thing ling.

82. Vấn đề khng lun lun ở chỗ qu nhiều hoạt động, nhưng hoạt động được thực hiện khng tốt, khng c động lực thch hợp, khng c một linh đạo thấm nhuần hoạt động ấy v lm cho n th vị. Kết quả l hoạt động trở nn mệt nhọc qu mức, nhiều khi dẫn tới bệnh tật. Thay v cảm thấy mệt nhưng vui v thoả mn, người ta cảm thấy căng thẳng, nặng nề, khng thoả mn v rốt cuộc l khng chịu đựng nổi. Nhm chn mục vụ c thể đến từ một số nguyn nhn. Một số người rơi vo tnh trạng ny v họ lao mnh vo những kế hoạch khng thực tế v khng thoả mn với những g họ c thể lm hợp với sức của họ. Số khc v họ thiếu kin nhẫn để cho php cc tiến trnh chn muồi; họ muốn đạt mọi sự ngay tức khắc. Số khc v họ bm chặt vo một số t dự n hay ước mơ thnh cng v bổ. Số khc nữa v họ đ mất tiếp xc thực tế với dn v qu vật chất ho cng việc của họ khiến họ quan tm nhiều tới bản đồ lộ trnh hơn l tới chnh cuộc hnh trnh. Cũng c người rơi vo nhm chn v họ khng thể đợi; họ muốn lm chủ nhịp độ đời sống. Mối m ảnh ngy nay với những những kết quả tức thời khiến cc nh hoạt động mục vụ kh chấp nhận bất cứ điều g c cht dnh dng tới những ý kiến bất đồng, thất bại, chỉ trch hay thập gi.

83. Thế l mối đe doạ lớn nhất từ từ hnh thnh: chủ nghĩa thực dụng mu xm của đời sống hằng ngy của Hội Thnh, trong đ mọi sự c vẻ diễn tiến bnh thường, nhưng trn thực tế đang hao mn dần v rơi xuống tnh trạng thiển cận.[63] Bằng cch ny một tm lý nấm mồ pht triển v từ từ biến những người Kit hữu thnh những xc ướp trong một viện bảo tng. Vỡ mộng với thực tế, với Hội Thnh v với bản thn mnh, họ trải nghiệm một cm dỗ ở lại trong một thi độ u buồn v vọng, nu ko con tim như liều thuốc qu nhất của quỉ.[64] Vốn được ku gọi toả nh sng v truyền sự sống, rốt cuộc họ bị giữ chặt trong những ci chỉ sinh ra bng tối v mệt mỏi nội tm v dần dần lm tan đi mọi nhiệt tnh tng đồ. Về tất cả chuyện ny, ti lặp lại: Chng ta đừng để mnh bị cướp mất niềm vui loan bo Tin Mừng!

Ni khng với thi độ bi quan v bổ

84. Niềm vui của Tin Mừng l ci khng ai hay điều g c thể lấy mất được của chng ta (xem Ga 16:22). Những điều xấu của thế giới—v của Hội Thnh—khng thể l ci cớ để chng ta giảm bớt sự dấn thn v nhiệt tnh. Chng ta hy coi chng như l những thch thức c thể gip chng ta lớn ln. Với con mắt đức tin, chng ta c thể thấy nh sng m Cha Thnh Thần lun lun chiếu dọi giữa bng tối, đồng thời khng bao giờ qun rằng ở đu tội lỗi đ lan trn, ở đ n sủng cng chứa chan gấp bội (Rm 5:20). Đức tin của chng ta được thch thức để biết rằng nước c thể biến thnh rượu như thế no v la m c thể mọc giữa cỏ dại ra sao. Năm mươi năm sau Cng Đồng Vatican II, trong khi chng ta đau buồn v những rắc rối của thời đại, thay v một sự lạc quan ngy thơ, thi độ thực tế lớn lao hơn của chng ta khng được c nghĩa l chng ta t tin cậy hơn vo Thần Kh hay t quảng đại hơn. Theo nghĩa ny, chng ta c thể nghe lại một lần nữa những lời của Chn Phước Gioan XXIII vo ngy đng nhớ 11 thng 10 năm 1962: Đi khi chng ta n hận khi phải nghe những tiếng ni của những người thiếu thận trọng v thiếu chừng mực, mặc d họ chy bỏng nhiệt tnh. Trong thời đại hm nay, họ khng nhn thấy g khc ngoi sự bấp bnh v tn ph... Chng ta thấy khng thể đồng tnh với những nh tin tri của thảm hoạ, những người lun lun tin bo c thảm hoạ, như thể ngy tận thế đ tới gần. Ở thời đại chng ta, Cha Quan Phng đang đưa chng ta tới một trật tự mới của cc mối tương quan giữa con người; nhờ sự cố gắng của con người v thậm ch vượt qu mọi mong đợi, cc mối tương quan ny được qui hướng tới sự hon thnh cc ý định cao cả v khn d của Thin Cha, trong đ mọi sự, kể cả cc thất bại của con người, đều dẫn tới lợi ch lớn hơn cho Hội Thnh.[65]

85. Tại một số nơi đ xuất hiện r một sự sa mạc ho thing ling, kết quả của những cố gắng nơi một số x hội muốn xy dựng m khng c Thin Cha, hay muốn loại trừ mọi gốc rễ Kit gio của chng. Tại những nơi ấy, thế giới Kit gio đang trở nn cằn cỗi v đang tự đnh mất mnh giống như một mảnh đất bị khai thc qu mức v biến thnh sa mạc.[66] Tại những nước khc, sự chống đối Kit gio buộc cc Kit hữu phải che giấu đức tin của họ trn chnh mảnh đất qu hương họ. Đy l một loại sa mạc thương đau. Nhưng gia đnh v nơi lm việc cũng c thể l một nơi kh cằn m d sao đức tin vẫn phải được bảo tồn v truyền thụ. Tuy nhin, xuất pht từ chnh kinh nghiệm về sa mạc ny, về sự trống rỗng ny, chng ta c thể khm ph lại niềm vui đức tin, tầm quan trọng sinh tử của đức tin đối với chng ta, nam cũng như nữ. Trong sa mạc, chng ta khm ph lại gi trị của những g thiết yếu cho cuộc sống; chẳng hạn, trong thế giới hm nay, c v số những dấu chỉ, thường được biểu lộ một cch mặc nhin hay m thầm, về sự khao kht Thin Cha, về ý nghĩa tối hậu của cuộc đời. V trong sa mạc, những người c đức tin l những người cần thiết để, bằng chnh gương sng đời sống của họ, họ chỉ cho thấy con đường dẫn tới Đất Hứa v giữ vững niềm hi vọng.[67] Trong những hon cảnh ny, chng ta được ku gọi lm những mạch nước sự sống cho người khc c thể đến uống. Lắm khi nhiệm vụ ny l một cy thập gi nặng nề, nhưng chnh từ thập gi, từ cạnh sườn bị đm thu của Người, Đức Gisu đ hiến mnh cho chng ta như một nguồn nước sự sống. Chng ta đừng để mnh bị cướp mất niềm hi vọng!

Ni c với cc mối tương quan mới do Đức Kit đem đến

87. Ngy nay, khi cc mạng v cc phương tiện truyền thng đ đạt những bước tiến bộ chưa từng c, chng ta cảm nhận một thch thức phải tm ra v chia sẻ một khoa thần b của việc sống chung với nhau, ho mnh v gặp gỡ, đn nhận v nng đỡ lẫn nhau, lao mnh vo ging thc ny, ging thc hỗn mang nhưng c thể trở thnh một trải nghiệm đch thực về tnh huynh đệ, một ging người thể hiện tnh lin đới, một cuộc hnh hương thnh. Như thế những khả thể của truyền thng cng lớn th cng trở thnh những khả thể lớn cho sự gặp gỡ v tnh lin đới với mọi người. Ra khỏi mnh để ho vo với người khc l điều tốt cho chng ta. Tự đng kn mnh l nếm cảm vị đắng độc hại của tnh tự tại, v loi người sẽ trở nn tổi tệ hơn v mỗi một chọn lựa ch kỷ của chng ta.

88. Lý tưởng Kit gio sẽ lun lun l một lời ku gọi khắc phục tnh hoi nghi, thi quen nghi kỵ lẫn nhau, sợ mất ci ring tư của mnh, tất cả những thi độ tự vệ m thế giới hm nay p đặt trn chng ta. Nhiều người tm cch trốn trnh người khc v tm ẩn nu nơi ci tiện nghi tư ring của mnh hay nơi một nhm thn hữu t ỏi, từ chối quan điểm hiện thực về kha cạnh x hội của Tin Mừng. Bởi v giống như một số người muốn c một Đức Kit thuần tuý thing ling, khng xc thể v khng thập gi, họ cũng muốn cc mối tương quan nhn vị của họ được cung cấp bởi những thiết bị tinh vi, những mn hnh v những hệ thống m họ c thể bật v tắt bằng lệnh. Trong khi đ, Tin Mừng khng ngừng dạy chng ta mạo hiểm vo những cuộc gặp gỡ trực diện với người khc, với sự hiện diện thể chất của họ vốn thch thức chng ta, với nỗi đau v cc lời ku xin của họ, với niềm vui của họ lan toả sang chng ta trong mối tương tc gần gũi v lin tục. Lng tin đch thực vo Con Thin Cha nhập thể th khng thể tch rời khỏi sự tự hiến, tư cch thnh vin của cộng đon, sự phục vụ, sự ho giải với người khc. Bằng việc nhập thể, Con Thin Cha ku gọi chng ta tới cuộc cch mạng của sự dịu dng.

89. L một hnh thức của tnh tự tại, thi độ cch ly c thể được biểu hiện bằng một sự tự lập giả tạo, ở đ khng c chỗ cho Thin Cha. Nhưng trong lnh vực tn gio, n cũng c thể khoc bộ o của một chủ nghĩa tiu thụ thing ling được cắt cho vừa với chủ nghĩa c nhn bệnh hoạn. Xu hướng trở về với ci thnh thing v đi tm đời sống thing ling của thời đại chng ta l một hiện tượng mơ hồ. Ngy hm nay, thch thức của chng ta khng phải l chủ nghĩa v thần cho bằng nhu cầu đp ứng một cch thch hợp cơn kht Thin Cha của nhiều người, kẻo họ tm cch thoả mn cơn kht ny bằng cc giải php sai lạc hay với một Đức Kit phi xc thể, một Đức Kit khng đi hỏi chng ta bất cứ điều g đối với tha nhn. Nếu những người ny khng tm thấy trong Hội Thnh một sự sống thing ling c thể gip chữa lnh v giải thot, v đổ đầy sự an bnh vo đời sống họ, đồng thời ku gọi họ tới sự hiệp thng huynh đệ v hiệu năng truyền gio, th rốt cuộc họ sẽ bị li ko bởi những giải php khng lm cho đời sống họ thực sự l nhn bản, cũng khng lm vinh danh Thin Cha.

90. Cc hnh thức chn chnh của lng đạo bnh dn l nhập thể, v chng được sinh ra từ sự nhập thể của đức tin Kit gio trong văn ho bnh dn. V lý do ny, lng đạo ấy bao gồm một mối quan hệ nhn bản, khng phải với cc thần lực hay quyền năng thing ling mơ hồ, nhưng với Thin Cha, với Đức Kit, với Đức Mẹ v cc thnh. Cc việc sng đạo ny c xc thể, c một khun mặt. Chng c khả năng nui dưỡng cc mối quan hệ chứ khng chỉ gip người ta trốn trnh. Tại cc phần khc của x hội chng ta, chng ta thấy ngy cng tăng sức hấp dẫn của cc hnh thức khc nhau của một thứ linh đạo phc lợi cch ly với mọi đời sống cộng đồng, hay một thứ thần học thịnh vượng khng bao hm trch nhiệm đối với cc anh chị em chng ta, hay những kinh nghiệm phi c thể m thực chất chỉ l một hnh thức qui về bản thn mnh.

91. Một thch thức quan trọng l cho thấy rằng giải php sẽ khng bao giờ c trong việc trốn trnh mối quan hệ c nhn v gắn b với Thin Cha, cũng l dấn thn phục vụ tha nhn. Ngy nay thi độ trốn trnh ny thường xảy ra khi cc tn hữu tm cch xa trnh hay cch ly với người khc, hay m thầm bỏ chỗ ny sang chỗ khc, bỏ cng việc ny sang một cng việc khc, m khng tạo ra được những mối lin hệ su xa v bền chặt ở bất cứ đu. Imaginatio locorum et mutatio multos fefellit (Mơ đến những nơi khc nhau, bỏ chỗ ny sang chỗ khc, đ lm nhiều người lạc lối).[68] Đy l một phương thuốc sai gy nguy hại cho tm hồn v đi khi cho cả thn xc. Chng ta cần gip người khc hiểu rằng cch duy nhất l học biết gặp gỡ người khc với thi độ đng đắn, nghĩa l biết chấp nhận họ lm bạn đồng hnh m khng miễn cưỡng. V học chịu đau khổ trong việc m ấp thập gi Cha Gisu chịu đng đinh mỗi khi chng ta bị chống đối một cch bất cng hay gặp phải sự v ơn, khng bao giờ mệt mỏi v lựa chọn sống trong tnh huynh đệ.[69]

92. Quả vậy, ở đ chng ta tm thấy sự chữa lnh thực sự, v cch chng ta lin kết với người khc c tc dụng chữa lnh chứ khng lm chng ta yếu đi, n l một tnh huynh đệ mầu nhiệm, một tnh huynh đệ chim niệm. N l một tnh thương huynh đệ c khả năng nhn thấy sự cao cả thnh thing của người khc, của việc nhn thấy Thin Cha nơi mọi người, của việc chấp nhận những phiền toi của cuộc sống chung bằng cch gắn b với tnh yu của Thin Cha, của việc mở lng ra cho tnh thương của Thin Cha v tm kiếm hạnh phc của tha nhn theo gương Cha chng ta ở trn trời. Ở đy v by giờ, đặc biệt ở những nơi chng ta l một đon chin nhỏ (Lc 12:32), cc mn đệ Cha Kit được ku gọi sống như một cộng đon l muối cho đời v nh sng cho trần gian (xem Mt 5:13-16). Chng ta được ku gọi lm chứng cho một cch sống chung lun lun mới mẻ trong sự trung thnh với Tin Mừng.[70] Chng ta đừng để mnh bị cướp mất đời sống chung!

Ni khng với tnh thế tục trong đời sống thing ling

93. Np dưới dng vẻ của lng đạo đức v thậm ch lng yu đối với Hội Thnh, tnh thế tục thing ling hệ tại việc khng tm kiếm vinh quang Thin Cha m l tm vinh quang loi người v sự thoả mn của bản thn. Đ l điều Cha mắng những người Biệt Phi: Cc ng tn vinh lẫn nhau v khng tm kiếm vinh quang pht xuất từ Thin Cha duy nhất, th lm sao cc ng c thể tin? (Ga 5:44). Đy l một cch tinh vi để tm lợi ch cho ring mnh chứ khng phải tm lợi ch cho Đức Gisu Kit (Pl 2:21). Hnh động ny c nhiều hnh thức tuỳ theo mỗi loại người hay nhm người m n ngấm vo.V n dựa trn những vẻ bề ngoi được trau chuốt cẩn thận, bề ngoi n khng c vẻ g l tội lội; từ ngoi nhn vo, mọi sự đều nghim tc. Nhưng nếu n ngấm vo Hội Thnh, n sẽ v vn tai hại hơn bất cứ thi độ thế tục no chỉ mang tnh chất đạo đức[71]

94. Tnh thế tục ny c thể gia tăng bằng hai cch c lin hệ mật thiết với nhau. Một l sự hấp dẫn của thuyết ngộ đạo, một đức tin thuần tuý chủ quan chỉ quan tm duy nhất tới một kinh nghiệm no đ hay một tập hợp cc ý niệm v cc thng tin c mục đch an ủi v soi sng, nhưng rốt cuộc n giam hm một c nhn trong cc tư tưởng v tnh cảm của mnh. Hai l thuyết tn-Plagi mang tnh tự phụ của những người ỷ vo sức ring của mnh v coi mnh hơn những người khc v biết được một số qui luật hoặc trung thnh một cch cố chấp với một kiểu cng gio đặc th của qu khứ. Một sự đng đắn được họ giả định về học thuyết hay kỷ luật lm pht sinh một chủ nghĩa tinh tuý tự mn v chuyn chế, theo đ người ta phn tch xếp loại những người khc thay v loan bo Tin Mừng,, v thay v mở cửa n sủng ra, người ta tiu hao sức lực vo việc tra xt v kiểm chứng. Trong cả hai trường hợp, người ta khng thực sự quan tm tới Đức Kit hay người khc. Đy l những biểu hiện của một thi độ tự tại lấy con người lm trung tm. Khng thể nghĩ rằng một động lực loan bo Tin Mừng đch thực c thể pht sinh từ những hnh thức biến chất ny của Kit gio.

95. Tnh thế tục nguy hiểm ny được thấy r trong một số thi độ c vẻ đối chọi nhau nhưng tất cả đều mang một thi độ tự phụ muốn ginh quyền kiểm sot của Hội Thnh. Nơi một số người, chng ta thấy một sự quan tm ph trương đối với phụng vụ, gio lý hay uy tn của Hội Thnh, nhưng khng hề lo cho Tin Mừng c một tc động thực sự đối với cc tn hữu v cc nhu cầu cụ thể của thời đại. Theo cch ny, đời sống của Hội Thnh bị biến thnh một cổ vật trong viện bảo tng hay một vật thuộc sở hữu của một nhm ưu t. Nơi những người khc, tnh thế tục ny ẩn nấp bn dưới vẻ ho nhong của lợi lộc x hội v chnh trị, hay dưới sự kiu căng v họ c khả năng xử lý cc vấn đề thực tế, hay một sự say m đối với cc chương trnh tự lực v tự thể hiện mnh. Tnh thế tục cũng c thể được biểu hiện bằng việc muốn được người khc để ý tới, xuất hiện với đủ vẻ sang trọng trong đời sống x hội, trong cc buổi gặp gỡ, tiệc tng v tiếp tn. N cũng c thể dẫn tới một no trạng doanh nghiệp, lun bận bịu với cc cng việc quản lý, cc vấn đề thống k, kế hoạch v đnh gi m lợi ch chnh khng phải l dn Cha m l Gio Hội được nhn như l một tổ chức. Khng hề c dấu ấn của Đức Kit nhập thể, chịu đng đinh v phục sinh; cc nhm ưu t khp kn được hnh thnh, v khng c cố gắng no để đi ra bn ngoi tm kiếm những người cn xa cch hay đm quần chng bao la đang kht Đức Kit. Nhiệt huyết Tin Mừng bị thay thế bằng sự hưởng thụ trống rỗng tnh tự mn v bung thả.

96. Lối suy nghĩ ny cũng nui dưỡng thi ho danh của những người c cht t quyền lực v th lm tướng của một đạo qun thất trận hơn chỉ l người lnh qun vẫn tiếp tục chiến đấu. Biết bao lần chng ta mơ mộng những dự n tng đồ to tt, được ln kế hoạch tỉ mỉ, khng khc g những ng tướng bại trận! Nhưng suy nghĩ như thế l chối bỏ lịch sử của chng ta như một Hội Thnh m vinh quang của n chnh l v n l một lịch sử của hi sinh, của hi vọng v cc phấn đấu hằng ngy, lịch sử của những cuộc đời tiu hao v phục vụ v trung thnh với cng việc, d c thể mệt mỏi, bởi v mọi lao động đều l mồ hi nước mắt. Ngược lại, chng ta ph phạm thời giờ để bn luận về việc cần phải lm g—tiếng Ty Ban Nha gọi l tội habria-quesmo—giống như những thầy dạy linh đạo v những chuyn gia mục vụ đứng trn bục cao để giảng dạy. Chng ta để mnh bị cuốn theo những ảo mộng v mất tiếp xc với những mảnh đời thực v những kh khăn của dn chng.

97. Những người đ từng rơi vo thi độ thế tục ny thường nhn từ trn cao v từ đng xa, họ phủ nhận những lời tin tri của cc anh chị em của họ, họ coi nhẹ tnh khả tn của những ai đặt cu hỏi, họ khng ngừng vạch l tm su v bị m ảnh bởi những vẻ bề ngoi. Tm hồn họ chỉ mở ra với chn trời hạn hẹp của tnh tự tại v tư lợi của họ, v hậu quả l họ chẳng học được g từ những tội lỗi của họ hay thực sự muốn đn nhận ơn tha thứ. Đy l một sự sa đoạ nguỵ trang dưới lớp vỏ của một điều thiện. Chng ta cần trnh n bằng cch lm cho Hội Thnh lun lun ra khỏi chnh mnh, qui hướng việc truyền gio của mnh vo Đức Kit, v dấn thn cho người ngho. Xin Cha cứu chng ta khỏi một Hội Thnh thế tục với những cạm bẫy của hoạt động thing ling v mục vụ bề ngoi! Tnh thế tục ngột ngạt ny chỉ c thể được chữa lnh bằng việc ht thở khng kh trong lnh của Cha Thnh Thần, Đấng giải thot chng ta khỏi tnh vị kỷ trong bộ o đạo đức bề ngoi m khng c Thin Cha. Chng ta đừng để mnh bị cướp mất Tin Mừng!

Ni khng với việc tranh chấp lẫn nhau

98. Biết bao cuộc chiến diễn ra trong nội bộ Dn Cha v trong cc cộng đồng của chng ta! Trong khu vực sinh sống v nơi lm việc của chng ta, biết bao cuộc chiến xảy ra do ghen ght v đố kỵ, ngay cả giữa những người Kit hữu với nhau! Tnh thế tục thing ling khiến người Kit hữu gy chiến với những người Kit hữu khc cản trở con đường tm kiếm quyền lực, uy tn, th vui v an ton kinh tế. Một số thậm ch khng cn bằng lng sống như một phần tử của cộng đồng Hội Thnh rộng lớn hơn nhưng pht triển một tinh thần loại trừ, tạo ra một phe nhm nội bộ. Thay v thuộc về một Hội Thnh ton thể trong tất cả sự đa dạng, họ thuộc về nhm ny hay nhm nọ, nghĩ rằng mnh th khc hay đặc biệt.

99. Thế giới chng ta đang bị xu x bởi chiến tranh v bạo lực, v bị thương tổn v một chủ nghĩa c nhn lan rộng chia rẽ người ta với nhau, khiến họ chống đối lẫn nhau khi đi tm lợi ch ring của mnh. Tại nhiều nước, cc xung đột v cc mối chia rẽ cũ trong qu khứ nay xuất hiện trở lại. Ti đặc biệt xin cc Kit hữu trong cc cộng đồng trn khắp thế giới cống hiến một chứng t rực sng v hấp dẫn về tnh hiệp thng huynh đệ. Hy lm cho mọi người thn phục v anh chị em chăm lo cho nhau, khch lệ v nng đỡ lẫn nhau: Ở điểm ny, mọi người sẽ nhận biết anh em l mn đệ của Thầy: l anh em c lng yu thương nhau (Ga 13:35). Đy l lời cầu nguyện cảm động của Đức Gisu: Xin cho tất cả nn một... trong chng ta... để thế gian tin... (Ga 17:21). Hy cảnh gic trýớc cm dỗ của sự ðố kỵ! Tất cả chng ta cng trn một con thuyền hýớng về cng một bến bờ! Chng ta hy xin ơn vui mừng v cc n điển của mỗi người, chng thuộc về mọi người.

100. Những người bị tổn thương v cc mối chia rẽ trong lịch sử thường cảm thấy kh chấp nhận lời mời gọi tha thứ v ho giải của chng ta, v họ nghĩ chng ta lm ngơ trước đau khổ của họ v muốn họ từ bỏ ký ức v cc lý tưởng của họ. Nhưng nếu họ thấy chứng t của cc cộng đon c tnh huynh đệ v ho giải thực sự, họ sẽ thấy rằng chứng t ấy sng ngời v hấp dẫn. Ti rất đau lng khi thấy một số cộng đon Kit hữu, thậm ch cả những người thnh hiến, c thể dung dưỡng những hnh thức th nghịch, chia rẽ, vu khống, ni xấu, on th, đố kỵ v ước muốn p đặt một số ý tưởng bằng bất cứ gi no, thậm ch bằng cc hnh động bch hại giống như những cuộc săn lng ph thuỷ thực sự. Chng ta sẽ rao giảng Tin Mừng cho ai nếu chng ta hnh động theo cch ny?

101. Chng ta hy xin Cha gip chng ta hiểu luật yu thương. Tốt biết bao khi c luật ny! ch lợi biết bao v n lm chng ta thương yu nhau, bất chấp tất cả. Phải, bất chấp tất cả. Lời khuyn nhủ của Thnh Phaol nhắm vo mỗi người chng ta: Ðừng để cho sự c thắng được mnh, nhưng hy lấy thiện m thắng c (Rm 12:21). V một lời nữa: Khi lm điều thiện, chng ta đừng nản ch (Gl 6:9). Tất cả chng ta đều c những ci ưa ci ght, v c lẽ ngay lc ny chng ta đang tức giận với một ai đ. t ra chng ta hy thưa cng Cha: Cha ơi, con đang giận người ny, người kia. Con cầu nguyện cng Cha cho ng ấy, b ấy. Cầu nguyện cho một người m ta tức giận l một bước rất đẹp tiến tới tnh yu, v l một hnh vi loan bo Tin Mừng. Chng ta hy lm điều đ hm nay! Chng ta đừng để mnh bị cướp mt lý tưởng tnh yu huynh đệ!

Cc thch thức khc cho Hội Thnh

102. Gio dn r rng l thnh phần ðại ða số của Dn Cha. Thnh phần thiểu số—cc thừa tc vin c chức thnh—l ðể phục vụ gio dn. Ngy cng c một sự ý thức nhiều hơn về căn tnh v sứ mạng của gio dn trong Hội Thnh. Chng ta c thể cậy dựa vo nhiều gio dn, tuy hầu như vẫn chưa đủ, l những người c một ý thức cộng đon su xa v một sự trung thnh lớn lao đối với cc cng việc bc i, dạy gio lý v cổ vũ đức tin. Nhưng đồng thời, khng phải ở mọi nơi đều c một sự ý thức r rng về trch nhiệm ny của gio dn, ăn rễ su trong php rửa tội v thm sức của họ như thế. Trong một số trường hợp, lý do l v người gio dn đ khng được cung cấp một sự đo luyện cần thiết để đảm đương những trch nhiệm quan trọng. Trong những trường hợp khc, lý do l v trong cc gio hội địa phương của họ, người ta đ khng dnh chỗ để họ ln tiếng v hnh động, do một chủ trương gio sĩ trị thi qu khiến họ khng được tham gia vo việc lm cc quyết định. D rằng nhiều người nay đ tham gia vo cc thừa tc vụ gio dn, sự tham gia ny khng phản nh một sự xm nhập su xa hơn cc gi trị Kit gio vo cc lnh vực x hội, kinh tế v chnh trị. N thường vẫn chỉ b gọn vo cc cng việc trong nội bộ Hội Thnh, m khng c một sự dấn thn thực sự để đem Tin Mừng lm biến đổi x hội. Sự đo luyện của gio dn v việc phc m ho đời sống nghề nghiệp v tri thức l một thch thức mục vụ quan trọng.

103. Hội Thnh nhn nhận sự đng gp khng thể thiếu của phụ nữ cho x hội nhờ sự nhậy cảm, trực gic v cc năng khiếu đặc trưng m họ c, nhiều hơn đn ng. Ti nghĩ, v dụ như phụ nữ thường c mối quan tm đặc biệt đối với những người khc, được biểu hiện cch đặc biệt, tuy khng phải l biểu hiện duy nhất, trong tnh mẫu tử. Ti vui mừng nhn nhận rằng cc phụ nữ đang chia sẻ trch nhiệm với cc linh mục, gip họ hướng dẫn dn chng, cc gia đnh v cc nhm, v c nhiều đng gp mới cho suy tư thần học. Nhưng chng ta cần tạo ra nhiều cơ hội hơn nữa để c sự tham gia nhiều hơn của phụ nữ trong Hội Thnh. Bởi v ti năng thin ph của nữ giới l cần thiết trong mọi biểu hiện trong đời sống x hội, sự hiện diện của phụ nữ cũng phải được bảo đảm tại nơi lm việc[72] v trong cc khung cảnh khc nhau trong đ cc quyết định được đề ra, cả trong Hội Thnh v trong cc cơ cấu x hội.

104. Cc đi hỏi rằng cc quyền hợp php của phụ nữ phải được tn trọng, dựa trn sự xc tn vững vng rằng người nam v người nữ bnh đẳng với nhau về phẩm gi, đang đặt ra cho Hội Thnh những vấn đề su xa v thch thức m chng ta khng thể coi nhẹ v lẩn trnh. Việc chức linh mục được dnh ring cho nam giới, như một dấu chỉ Đức Kit l Phu Qun hiến mnh trong b tch Thnh Thể, l vấn đề khng thể bn ci, nhưng n c thể tỏ ra gy chia rẽ đặc biệt nếu quyền năng của b tch bị đồng ho với quyền năng ni chung. Phải nhớ rằng khi ni về quyền năng b tch chng ta đang ở trong lnh vực chức năng hoạt động, chứ khng phải lnh vực phẩm gi hay sự thnh thiện.[73] Chức tư tế thừa tc l phương tiện Cha Gisu dng để phục vụ dn Ngi, nhưng phẩm gi cao cả của chng ta bắt nguồn từ php rửa tội m mọi người c thể lnh nhận. Việc đồng ho người linh mục với Đức Kit l đầu—nghĩa l nguồn mạch chnh của n sủng—khng c nghĩa l đặt người linh mục ln trn những người khc. Trong Hội Thnh, cc chức vụ khng đặt một số người ln địa vị cao hơn những người khc.[74] Trn thực tế, Đức Maria l một phụ nữ nhưng quan trọng hơn cc gim mục. Thậm ch khi chức năng của chức linh mục thừa tc được coi l thuộc phẩm trật, ta vẫn phải nhớ rằng n hon ton được qui hướng về sự thnh thiện của cc chi thể của Đức Kit.[75] Cha kho v trục của chức năng ny khng phải l quyền lực hiểu như l sự thống trị, nhưng l quyền lực để cử hnh b tch Thnh Thể; đy l nguồn gốc quyền bnh của chức linh mục, đ lun lun l một sự phục vụ Dn Cha. Hiểu như thế, đy l một thch thức lớn cho cc mục tử v cc nh thần học, những người c điều kiện thch hợp để nhận ra đầy đủ hơn điều ny bao gồm những yếu tố g lin quan tới vai tr m người phụ nữ c thể đng trong việc lm cc quyết định trong cc lnh vực khc nhau của đời sống Hội Thnh.

105. Thừa tc vụ giới trẻ, như được tổ chức theo truyền thống, cũng đ chịu tc động bởi cc thay đổi x hội. Giới trẻ thường khng thể tm thấy những giải đp cho cc mối quan tm, nhu cầu, vấn đề v cc thương tổn của họ trong cc cơ cấu bnh thường. L người lớn, chng ta cảm thấy kh kin nhẫn lắng nghe họ, trn trọng cc mối quan tm v đi hỏi của họ, v ni với họ bằng một ngn ngữ họ c thể hiểu. Cng một lý do ấy, cc cố gắng của chng ta trong lnh vực gio dục khng tạo ra những kết quả mong muốn. Sự xuất hiện v pht triển của cc hiệp hội v cc phong tro m đa phần l giới trẻ c thể được nhn như l cng trnh của Cha Thnh Thần, Đấng mở ra những lối đi mới để đp ứng cc mong đợi của họ v cuộc tm kiếm một đời sống thing ling su xa v một ý thức thực tế hơn về tư cch thuộc về. Tuy nhin vẫn cần bảo đảm rằng cc hiệp hội ny tham gia một cch tch cực vo cc cố gắng mục vụ ton thể của Hội Thnh.[76]

106. Mặc d khng phải lun lun dễ tiếp cận giới trẻ, nhưng chng ta đ c tiến bộ trong hai lnh vực: sự ý thức m ton thể cộng đồng được ku gọi loan bo Tin Mừng v gio dục cho giới trẻ, v nhu cầu cấp bch để giới trẻ thực thi vai tr lnh đạo nhiều hơn. Chng ta phải nhn nhận rằng bất chấp cơn khủng hoảng hiện nay về dấn thn v cc mối quan hệ cộng đồng, nhiều người trẻ đang chia sẻ mối quan tm chung về cc vấn đề của thế giới chng ta v đang thực hiện những hnh thức khc nhau trong việc cổ động tch cực v hoạt động tnh nguyện.

107. Nhiều nơi đang trải qua một tnh trạng thiếu ơn gọi linh mục v tu sĩ. Đy thường l do thiếu một nhiệt tnh tng đồ c sức lan toả trong cc cộng đồng, dẫn đến sự nguội lạnh của niềm phấn khởi v sức hấp dẫn. Ở đu c sự sống, nhiệt tnh v ước muốn đem Đức Kit đến cho người khc, ở đ sẽ xuất hiện cc ơn gọi đch thực. Thậm ch tại những gio xứ m cc linh mục khng đặc biệt dấn thn v vui vẻ, đời sống huynh đệ v nhiệt tnh của cộng đồng c thể đnh thức nơi giới trẻ một ước muốn hiến mnh hon ton cho Thin Cha v cho việc rao giảng Tin Mừng. Điều ny đặc biệt đng nếu một cộng đồng sinh động như thế lin lỷ cầu nguyện cho cc ơn gọi v can đảm đề nghị cho những người trẻ của mnh con đường thnh hiến đặc biệt. Mặt khc, bất chấp tnh trạng thiếu ơn gọi, ngy nay chng ta ngy cng ý thức hơn về nhu cầu c một qui trnh tuyển lựa cc ứng sinh cho chức linh mục. Cc chủng viện khng thể tiếp nhận cc ứng sinh căn cứ vo bất cứ động cơ no, đặc biệt nếu cc động cơ ấy lin quan tới sự an ton tnh cảm hay sự theo đuổi quyền lực, danh vọng hay của cải.

108. Như đ ni trn kia, ti khng c ý cung cấp một bản chẩn đon đầy đủ, nhưng ti mời gọi cc cộng đồng bổ sung v lm giu những quan điểm ny trn cơ sở ý thức của họ về những thch thức đang đặt ra trước mặt họ v những người xung quanh. Bằng cch ny, ti hi vọng họ sẽ nhận ra rằng mỗi khi đọc những dấu chỉ của thời đại, chng ta nn nghe ý kiến của những người trẻ v những người gi. Cả hai hạng người ny l một nguồn hi vọng cho mọi người. Người gi cống hiến những ký ức v sự khn ngoan của kinh nghiệm để cảnh gic chng ta trnh lặp lại những lỗi lầm của chng ta trong qu khứ. Người trẻ ku gọi chng ta đổi mới v mở rộng niềm hi vọng, v họ biểu thị những hướng đi mới cho loi người v mời gọi chng ta hướng tới tương lai, để chng ta khỏi bm vu vo một sự tiếc nuối những cơ cấu v những tập qun cũ khng cn đem lại sức sống cho thế giới hm nay.

109. Cc thch thức xuất hiện l để bị vượt qua! Chng ta hy l những con người thực tế, nhưng khng để mất niềm vui, sự to bạo v sự dấn thn trong hi vọng trn trề của chng ta. Đừng để mnh bị cướp mất nhuệ kh truyền gio.

 

CHƯƠNG BA

RAO GIẢNG TIN MỪNG

110. Sau khi đ xem xt một số thch thức ngy nay, giờ đy ti muốn ni đến nhiệm vụ của chng ta ở mọi thời v mọi nơi, bởi v khng thể c phc m ho thực sự nếu khng rao giảng một cch minh nhin Đức Gisu l Cha, v nếu khng đặt việc rao giảng Đức Gisu Kit ln hng đầu trong mọi hoạt động loan bo tm.[77] Khi nhn nhận cc mối quan tm của cc gim mục Chu , Đức Gioan Phaol II đ ni với họ rằng nếu Hội Thnh muốn hon thnh vận mệnh Cha đ quan phng cho mnh, loan bo Tin Mừng như l sự rao giảng hn hoan, kin nhẫn v tiệm tiến về ci chết v sự phục sinh cứu độ của Đức Gisu Kit phải l ưu tin tuyệt đối của anh em.[78] Những lời ny c gi trị cho tất cả chng ta.

I. TON THỂ DN CHA RAO GIẢNG TIN MỪNG

111. Loan bo Tin Mừng l nhiệm vụ của Hội Thnh. L tc nhn rao giảng Tin Mừng, Hội Thnh khng chỉ l một tổ chức c hệ thống v phẩm trật; Hội Thnh trước hết v trn hết l một dn tộc đang trn đường lữ hnh tiến về Thin Cha. Hội Thnh chắc chắn l một mầu nhiệm ăn rễ su trong Ba Ngi, nhưng Hội Thnh tồn tại một cch cụ thể trong lịch sử như một dn tộc lữ hnh v như l những người loan bo Tin Mừng, vượt ln trn mọi hnh thức tổ chức, d điều ny cũng cần thiết. Ti muốn vắn tắt bn đến cch hiểu ny về Hội Thnh m nền tảng tối hậu l ở sng kiến tự do v yu thương của Thin Cha.

Một dn tộc cho mọi người

112. Ơn cứu độ m Thin Cha ban cho chng ta l cng trnh của lng từ bi của Người. Khng một cố gắng nhn loại no, d tốt đến đu, c thể lm chng ta xứng đng được một hồng n như thế. Bằng n sủng độc đo của Người, Thin Cha ko chng ta lại với Người v lm chng ta nn một với Người.[79] Người sai Thần Kh Người đến với tm hồn chng ta để lm chng ta trở nn con ci Người, biến đổi chng ta v gip chng ta c thể đp lại tnh thương của Người bằng đời sống chng ta. Hội Thnh được Đức Kit Gisu sai đến như l b tch cứu độ của Thin Cha.[80] Qua hoạt động loan bo Tin Mừng, Hội Thnh hợp tc như một cng cụ của n sủng Thin Cha hoạt động khng ngừng v khng thể d thấu. Đức Bnđict XVI trước khi khai mạc Thượng Hội Đồng: Điều lun lun quan trọng l biết rằng lời đầu tin, sng kiến thực sự, hoạt động thực sự đến từ Thin Cha v chỉ khi chng ta đưa mnh vo trong sng kiến của Thin Cha, chỉ khi ni xin sng kiến ny, chng ta mới c thể, với Người v trong Người, trở thnh những người loan bo Tin Mừng.[81] Nguyn tắc địa vị tối thượng của n sủng ny phải l ngọn hải đăng khng ngừng soi sng cc suy tư của chng ta về việc loan bo Tin Mừng.

113. Sự cứu độ m Thin Cha đ thực hiện v Hội Thnh vui mừng loan bo l ơn được dnh cho hết mọi người.[82] Thin Cha đ tm ra một cch để kết hợp với mọi con người trong mọi thời đại. Người đ quyết định ku gọi họ trong tư cch một dn tộc chứ khng phải từng c nhn ring lẻ.[83] Khng ai được cứu rỗi một mnh hay nhờ cố gắng ring của mnh. Thin Cha thu ht chng ta bằng cch lưu ý tới cc mối quan hệ nhn vị đan xen với nhau v phức tạp trong đời sống của một cộng đồng con người. Dn tộc được Cha chọn v gọi ny chnh l Hội Thnh. Đức Gisu khng bảo cc mn đệ hợp thnh một nhm ưu t v độc quyền. Ngi ni: Khng c chuyện phn biệt Do Thi hay Hy Lạp, ... v tất cả anh em chỉ l một trong Ðức Kit (Gl 3:28). Với những ai cảm thấy xa cch Thin Cha v Hội Thnh, với tất cả những ai sợ hi hay dửng dưng, ti muốn ni thế ny: với đầy lng tn trọng v yu thương, Cha cũng đang ku gọi anh chị em trở thnh dn của Người!

114. L Hội Thnh c nghĩa l dn của Thin Cha, theo kế hoạch tnh yu phụ tử v bin của Người. N c nghĩa l chng ta phải l men của Thin Cha giữa loi người. N c nghĩa l rao giảng v đem ơn cứu độ của Thin Cha vo thế giới, một thế giới thường xuyn đi lạc v cần được khch lệ, cần được trao ban hi vọng v bổ sức trn đường. Hội Thnh phải l một nơi tự do trao ban lng thương xt, nơi m mọi người thấy mnh được hoan nghnh, được yu thương v khch lệ để sống đời sống tốt lnh của Tin Mừng.

Một dn với nhiều khun mặt

115. Dn Thin Cha được nhập thể giữa cc dn tộc trn thế giới, mỗi dn tộc với nền văn ho ring của mnh. Khi niệm văn ho c gi trị cho việc nắm bắt được những biểu hiện khc nhau của đời sống Kit gio hiện nay trong dn Thin Cha. N lin quan tới phong cch sống của một x hội nhất định, cch thức cụ thể m cc thnh vin của x hội ny quan hệ với nhau, với cc tạo vật khc v với Thin Cha. Hiểu theo cch ny, văn ho bao hm ton bộ đời sống của một dn tộc.[84] Mỗi dn tộc trong dng lịch sử của mnh đều pht triển văn ho của mnh với sự độc lập hợp php.[85] Sở dĩ như thế l v con người, tự bản chất hon ton cần đến đời sống trong x hội[86] v lun lun tồn tại trong tương quan với x hội, v tm được ở x hội một cch thức cụ thể để lin hệ với thực tại. Con người lun lun được đặt trong một nền văn ho: bản tnh v văn ho lin hệ mật thiết với nhau.[87] n sủng đi hỏi văn ho, v n huệ của Thin Cha được nhập thể trong nền văn ho của những ai đn nhận n huệ ấy.

116. Trong hai thin nin kỷ đầu ny của Kit gio, v số dn tộc đ đn nhận ơn đức tin, pht huy n trong đời sống hằng ngy của mnh v truyền lại cho cc thế hệ sau bằng ngn ngữ của nền văn ho ring của họ. Mỗi khi một cộng đồng đn nhận sứ điệp cứu độ, Cha Thnh Thần lm giu nền văn ho của cộng đồng ấy bằng quyền năng biến đổi của Tin Mừng. Lịch sử Hội Thnh cho thấy rằng Kit gio khng chỉ c một cch biểu hiện văn ho duy nhất, nhưng trong khi hon ton trung thực với mnh, vững vng trung thnh với việc rao giảng Tin Mừng v truyền thống của Hội Thnh, Kit gio cũng phản nh những bộ mặt khc nhau của cc nền văn ho v cc dn tộc đ tiếp nhận n v lm cho n bn rễ.[88] Trong sự đa dạng của cc dn tộc trải nghiệm n huệ của Thin Cha, mỗi dn theo văn ho ring của mnh, Hội Thnh diễn tả tnh cng gio đch thực của mnh v ph by vẻ đẹp của khun mặt đa dạng của mnh.[89] Nơi cc tập tục của một dn tộc đ được phc m ho, Cha Thnh Thần trang điểm Hội Thnh, chỉ cho Hội Thnh thấy những kha cạnh mới của mặc khải v ban cho Hội Thnh một bộ mặt mới. Qua hội nhập văn ho, Hội Thnh dẫn đưa cc dn tộc, cng với văn ho của họ, vo trong cộng đồng của chnh Hội Thnh,[90] v mỗi dẫn tộc cống hiến những gi trị v những hnh thức tch cực để lm phong ph cch thức m Tin Mừng được rao giảng, hiểu v sống.[91] Bằng cch ny, Hội Thnh đn nhận những gi trị của cc nền văn ho khc nhau v trở thnh sponsa ornata monilibus suis, c du được trang điểm lộng lẫy (xem Is 61:10).[92]

117. Khi được hiểu đng, đa dạng văn ho khng phải l mối đe doạ cho sự hiệp nhất của Hội Thnh. Cha Thnh Thần, Đấng được Cha Cha v Cha Con sai đến, biến đổi lng tr chng ta v gip chng ta đi vo mối hiệp thng của Cha Ba Ngi, ở đ mọi sự tm được mối duy nhất của chng. Ngi xy dựng sự hiệp thng v ho hợp của Dn Cha. Cũng chnh Thnh Thần l sự ho hợp, cũng như Ngi l mối dy yu thương giữa Cha v Con.[93] Ngi l Đấng đem đến dồi do cc n huệ khc nhau, đồng thời tạo ra một sự hiệp nhất khng đơn điệu nhưng mun mu mun vẻ v mời gọi sự ho hợp. Loan bo Tin Mừng vui sướng nhn nhận cc kho bu đa dạng ny m Cha Thnh Thần tun đổ trn Hội Thnh. Chng ta sẽ khng cng bằng với ci lgch của nhập thể nếu chng ta nghĩ về Kit gio như l đơn văn ho v đơn điệu. Tuy đng l một số nền văn ho đ được lin kết mật thiết với việc rao giảng Tin Mừng v sự pht triển tư tưởng Kit gio, nhưng sứ điệp mặc khải khng bị đồng ho với bất cứ nền văn ho no; nội dung của sứ điệp mang tnh xuyn văn ho. Thế nn trong việc loan bo Tin Mừng cho cc nền văn ho mới, hay cc nền văn ho chưa tiếp nhận sứ điệp Kit gio, điều cơ bản khng phải l p đặt cng với Tin Mừng một hnh thức văn ho nhất định, d n đẹp hay lu đời bao nhiu. Sứ điệp chng ta rao giảng lun lun mang một bộ o văn ho no đ, nhưng trong Hội Thnh chng ta đi khi c thể rơi vo tnh trạng sng bi nền văn ho ring của mnh v v thế tỏ ra c thi độ cuồng tn hơn l nhiệt tnh truyền gio thực sự.

118. Cc Gim Mục vng Chu Đại Dương đ xin Hội Thnh pht triển một sự hiểu biết v trnh by chn lý của Cha Kit đang hoạt động từ cc truyền thống v cc nền văn ho trong vng v mời gọi mọi người truyền gio hoạt động ho hợp với cc Kit hữu bản xứ để bảo đảm rằng đức tin v đời sống của Hội Thnh được diễn tả bằng những hnh thức hợp php v ph hợp với mỗi nền văn ho.[94] Chng ta khng thể đi cc dn tộc của mỗi chu lục, khi diễn tả đức tin Kit gio của mnh, phải bắt chước cc cch diễn tả m cc nước Chu u đ pht triển vo một thời điểm nhất định trong lịch sử của họ, v chng ta khng được php b gọn đức tin vo trong những giới hạn về sự hiểu biết v cch diễn tả của một nền văn ho no.[95] Điều khng thể tranh ci l khng một nền văn ho duy nhất no c thể diễn tả hết mầu nhiệm ơn cứu chuộc trong Đức Kit.

Chng ta tất cả l những mn đệ truyền gio

119. Nơi tất cả những người đ rửa tội, từ người đầu tin cho đến người cuối cng, sức mạnh thnh ho của Cha Thnh Thần lun hoạt động v thc đẩy chng ta truyền gio. Dn Thin Cha l dn thnh nhờ sự xức dầu ny của Cha Thnh Thần, lm cho n khng thể sai lầm in credendo, nghĩa l khng thể sai lầm trong đức tin, d n khng thể tm được những từ ngữ để cắt nghĩa đức tin ấy. Thnh Thần hướng dẫn dn Cha trong chn lý v dẫn dn Cha đến ơn cứu độ.[96] Để chia sẻ tnh thương nhiệm mầu của mnh, Thin Cha ban cho ton thể cc tn hữu một bản năng đức tin—sensus fidei—l khả năng gip họ phn định r ci g thực sự l của Thin Cha. Sự hiện diện của Thần Kh ban cho người Kit hữu một sự đồng bản tnh no đ với cc thực tại của Thin Cha, v một sự khn ngoan gip họ nắm bắt cc thực tại ấy bằng trực gic, cả khi họ khng c đủ phương tiện cần thiết để diễn tả n một cch chnh xc.

120. Do php rửa tội, mọi thnh vin của Dn Cha phải trở nn những mn đệ truyền gio (xem Mt 28:19). Tất cả những ai đ được rửa tội, d ở vị tr no trong Gio Hội hay ở mức độ đo luyện no về đức tin, cũng đều l những nh truyền gio, v sẽ l bất cập nếu chỉ nghĩ đến một kế hoạch truyền gio được thực hiện bởi những nh truyền gio chuyn nghiệp trong khi số cc tn hữu khc chỉ l những người thụ hưởng thụ động. Tn phc m ho đi hỏi sự dấn thn thực sự của từng c nhn tn hữu. Mọi Kit hữu được thch thức, ở đy v lc ny, tch cực tham gia vo việc truyền gio; thực vậy, bất cứ ai đ thực sự trải nghiệm tnh thương cứu độ của Thin Cha th khng cần nhiều thời gian hay một sự đo tạo lu để đi rao giảng tnh thương ấy. Mọi Kit hữu đều l người truyền gio theo mức độ họ đ gặp gỡ tnh thương của Thin Cha trong Đức Gisu Kit: chng ta khng cn ni mnh l những người mn đệ v người truyền gio, nhưng đng hơn, chng ta lun lun l những người mn đệ truyền gio. Nếu điều ny chưa thuyết phục, chng ta hy nhn vo những mn đệ đầu tin, vừa khi bắt gặp ci nhn của Đức Gisu, cc ng vui vẻ đi loan bo về Ngi: Chng ti đ gặp Đấng Msia! (Ga 1:41). Người phụ nữ Samaria đ trở thnh người truyền gio ngay sau khi ni chuyện với Đức Gisu v nhiều người Samaria đ tin Ngi v lời chứng của người phụ nữ (Ga 4:39). Thnh Phaol cũng vậy, sau khi gặp Đức Gisu, lập tức đi rao giảng về Đức Gisu (Cv 9:20; xem 22:6-21). Vậy chng ta cn chờ g nữa?

121. Đương nhin chng ta được ku gọi trưởng thnh trong cng việc của người loan bo Tin Mừng. Chng ta muốn c một sự đo luyện tốt hơn, một tnh yu su hơn v một chứng t Tin Mừng r hơn. Theo nghĩa ny, chng ta phải khng ngừng để cho người khc loan bo Tin Mừng cho chng ta. Nhưng điều ny khng c nghĩa l chng ta phải tr hon sứ mạng loan bo Tin Mừng; đng hơn, mỗi người chng ta phải tm ra cch thức để thng truyền Đức Gisu tại bất cứ nơi no chng ta hiện diện. Tất cả chng ta được ku gọi lm chứng một cch minh nhin về tnh thương cứu độ của Cha, Đấng bất chấp những khiếm khuyết của chng ta, vẫn cho chng ta đến gần Ngi, cho chng ta lời v sức mạnh của Ngi, v đem đến ý nghĩa cho đời sống chng ta. Trong lng mnh, anh chị em biết rằng sống m khng c Ngi th khng được như thế; những g anh chị em đ nhận ra, những g đ gip anh chị em sống v cho anh chị em niềm hi vọng, th anh chị em cũng phải thng truyền những điều ấy cho người khc. Sự khiếm khuyết của chng ta khng thể l ci cớ để trnh n; tri lại, truyền gio l một kch thch để chng ta khng ở yn trong tnh trạng tầm thường nhưng phải tiếp tục lớn ln. Chứng t đức tin m mỗi người Kit hữu được ku gọi cống hiến khiến chng ta c thể ni cng với Thnh Phaol: Khng phải l ti đ đoạt giải, hay đ nn hon thiện đu; nhưng ti đang cố gắng chạy tới, mong chiếm đoạt, bởi lẽ chnh ti đ được đức Kit Gisu chiếm đoạt (Pl 3:12-13).

Sức mạnh truyền gio của lng đạo bnh dn

122. Cũng thế, chng ta c thể thấy rằng cc dn tộc khc nhau m Tin Mừng đ được hội nhập vo nền văn ho của họ cũng l những chủ thể hay tc nhn tập thể tch cực của việc truyền gio. Lý do l v mỗi dn tộc l người sng tạo nền văn ho của mnh v l vai chnh của lịch sử của họ. Văn ho l một thực tại năng động m một dn tộc khng ngừng ti tạo; mỗi thế hệ truyền lại cho thế hệ sau cả một chuỗi cc cch tiếp cận cc tnh huống hiện sinh khc nhau, để cho thế hệ sau tiếp tục định hnh lại chng khi đối diện với những thch thức ring của mnh. L người c nghĩa l vừa l con vừa l cha của nền văn ho của mnh.[97] Một khi Tin Mừng đ được hội nhập vo văn ho của một dn tộc, trong tiến trnh thng truyền văn ho của họ, họ cũng thng truyền đức tin trong những hnh thức lun lun mới mẻ; v vậy hiểu truyền gio như l hội nhập văn ho l điều quan trọng. Bằng việc cụ thể ho n huệ Cha ban trong chnh cuộc sống mnh v ph hợp với ti năng ring của mnh, mỗi thnh phần của dn Thin Cha lm chứng cho đức tin mnh đ lnh nhận v lm lm giu cho n bằng những cch diễn tả mới v c sức thuyết phục. Ta c thể ni rằng một dn tộc khng ngừng tự phc m ho chnh mnh.[98] Ở đy ta thấy tầm quan trọng của lng đạo bnh dn, một cch diễn tả đch thực về hoạt động truyền gio tự pht của Dn Cha. Đy l một tiến trnh đang pht triển lin tục m Cha Thnh Thần l tc nhn chnh.[99]

123. Lng đạo bnh dn gip chng ta thấy rằng đức tin, sau khi được lnh nhận, sẽ hội nhập vo một nền văn ho v khng ngừng được truyền lại cho cc thế hệ sau như thế no. Từng c thời bị coi thường, lng đạo bnh dn đ được đnh gi cao trở lại trong những thập nin sau Cng Đồng. Trong Tng Huấn Evangelii Nuntiandi, Đức Gio Hong Phaol VI đ tạo một động lực quyết định trong lnh vực ny. Trong Tng Huấn, Đức Gio Hong ni rằng lng đạo bnh dn biểu lộ một lng khao kht Thin Cha m chỉ những kẻ đơn sơ v ngho kh mới cảm nhận được[100] v n khiến người ta c thể quảng đại v hy sinh đến mức anh hng khi cần chứng tỏ đức tin.[101] Gần chng ta hơn, Đức Bnđict khi ni về Chu Mỹ Latinh, đ vạch ra rằng lng đạo bnh dn l một kho bu của Hội Thnh Cng Gio, ở đ chng ta thấy được tm hồn của cc dn tộc Mỹ Latinh.[102]

124. Văn Kiện Aparecida m tả những sự phong ph m Cha Thnh Thần tun đổ vo lng đạo bnh dn qua sng kiến tự do của Ngi. Tại chu lục thn yu ấy, nơi nhiều Kit hữu bộc lộ đức tin qua lng đạo bnh dn, cc gim mục cũng gọi n l linh đạo bnh dn hay khoa thần b của dn chng.[103] N đng l một linh đạo nhập thể trong văn ho của những người thấp hn.[104] V n khng thiếu nội dung; đng hơn, n khm ph v diễn tả nội dung ấy bằng cc biểu tượng hơn l bằng lý luận của ngn từ, v trong hnh vi đức tin, n nhấn mạnh vo credere in Deum (tin vo Thin Cha) hơn l credere Deum (tin Thin Cha).[105] N l một cch sống đức tin hợp lệ, một cch cảm nhận mnh l thnh phần của Hội Thnh v biểu lộ tư cch người truyền gio;[106] n mang theo mnh ơn gọi lm người truyền gio, vượt ra khỏi bản thn mnh để ln đường hnh hương: Cng ln đường tới cc đền thnh v tham gia vo cc cuộc biểu dương lng đạo bnh dn, đồng thời đem theo con ci v mời gọi người khc cng đi, việc ấy tự n l một cử chỉ loan bo Tin Mừng.[107] Chng ta đừng bp nghẹt hay tm cch kiểm sot sức mạnh truyền gio ny!

125. Để hiểu thực tại ny, chng ta cần tiếp cận n bằng ci nhn của người Mục Tử Nhn Hậu, khng xt đon nhưng tm cch yu thương. Chỉ với bản tnh đồng cảm pht sinh từ tnh yu, chng ta mới c thể đnh gi cao đời sống hướng thần (theological) hiện tại trong lng đạo của cc dn tộc Kit gio, đặc biệt giữa những người ngho. Ti nghĩ đến lng tin kin vững của cc b mẹ chăm sc những đứa con bệnh tật của họ, họ l những người rất yu mến chuỗi mn ci d c lẽ họ chỉ biết sơ si những điểm của Kinh Tin Knh; ti cũng nghĩ đến niềm hi vọng trọn vẹn được đổ vo một cy nến đốt ln trong nh để cầu xin ơn trợ gip của Đức Mẹ, hay ci nhn tru mến hướng ln tượng Cha Kit chịu nạn. Khng một ai yu mến dn thnh của Thin Cha m c thể coi những hnh động ny chỉ l biểu hiện của một cố gắng thuần tuý phm trần trong cuộc tm kiếm Thin Cha. Chng l biểu hiện của một đời sống hướng thần được nui dưỡng bởi tc động của Cha Thnh Thần, Đấng đ được đổ vo lng chng ta (xem Rm 5:5).

126. Lng đạo bnh dn như l kết quả của Tin Mừng hội nhập trong văn ho, l một sức mạnh phc m ho tch cực m chng ta khng được coi nhẹ: nếu khng, chng ta sẽ khng thể nhận ra tc động của Cha Thnh Thần. Tri lại, chng ta được ku gọi cổ vũ v tăng cường lng đạo bnh dn để đi su vo tiến trnh khng bao giờ kết thc của hội nhập văn ho. Cc biểu hiện của lng đạo bnh dn dạy chng ta nhiều điều; với những ai c khả năng đọc được những biểu hiện ny, chng l một locus theologicus (cơ sở thần học) m chng ta phải ch ý, đặt biệt ở thời điểm chng ta đang hướng về cuộc tn phc m ho.

Tiếp xc người với người

127. Ngy nay, khi Hội Thnh tm kiếm cc trải nghiệm về một cuộc canh tn truyền gio su xa, c một loại rao giảng m mỗi người chng ta phải coi như một bồn phạn hằng ngy. N lin quan tới việc đem Tin Mừng tới những người chng ta gặp gỡ, d họ l những người ln cận hay hon ton xa lạ với chng ta. Đy l việc rao giảng khng chnh thức diễn ra trong một cuộc tr chuyện, giống như kiểu cc thừa sai thường lm khi thăm viếng cc gia đnh. L mn đệ c nghĩa l lun lun sẵn sng đem tnh thương của Đức Gisu đến với người khc, v điều ny c thể xảy ra một cch bất ngờ v ở bất cứ đu: trn đường phố, trong một cng vin thnh phố, khi lm việc, lc đi đường.

128. Trong kiểu rao giảng ny, vốn lun lun phải knh trọng v dịu dng, bước đầu tin l một cuộc đối thoại c nhn, khi người kia ni v chia sẻ cc niềm vui, hi vọng v quan tm của họ đối với những người thn, hay v số cc nhu cầu thiết thn nhất. Chỉ sau đ chng ta mới c thể đưa lời Cha vo, c thể bằng cch đọc một cu Kinh Thnh hay kể một cu truyện, nhưng lun lun để tm tới sứ điệp cơ bản: tnh thương của Thin Cha lm người, Đấng hiến mnh cho chng ta, Đấng đang sống v ban cho ta ơn cứu độ v tnh bằng hữu của Ngi. Sứ điệp ny phải được chia sẻ với thi độ khim tốn để cho thấy chng ta lm chứng trong tư cch của một người lun lun muốn học hỏi, v biết rằng sứ điệp qu phong ph v qu su khiến n lun lun vượt qu tầm hiểu biết của chng ta. Sứ điệp c thể được trnh by khi th trực tiếp, khi th bằng một chứng từ hay điệu bộ c nhn, hay bằng bất cứ cch no m Cha Thnh Thần c thể soi sng chng ta trong tnh huống cụ thể ấy. Tuỳ sự thận trọng v hon cảnh cho php, việc gặp gỡ huynh đệ v truyền gio ny c thể kết thc bằng một kinh nguyện vắn lin quan tới cc mối quan tm m người đối thoại c thể đ by tỏ. Bằng cch ny họ sẽ cảm nghiệm rằng họ đ được lắng nghe v cảm thng; họ sẽ biết rằng tnh huống cụ thể của họ đ được đặt ra trước mặt Thin Cha, v tin rằng lời của Thin Cha thực sự ni với cuộc đời họ.

129. Tuy nhin chng ta khng được nghĩ rằng sứ điệp Tin Mừng phải lun lun được trnh by bằng những cng thức c sẵn m chng ta đ học thuộc lng hay bằng những lời đặc biệt no diễn tả một nội dung tuyệt đối khng thể thay đổi. Việc truyền thng ny diễn ra bằng rất nhiều cch thức khc nhau khiến chng ta khng thể m tả hay liệt k ra tất cả, v dn Thin Cha, với v số cử chỉ v dấu hiệu, chnh l chủ thể tập thể của việc truyền thng ny.

Nếu Tin Mừng được hội nhập trong một nền văn ho, sứ điệp khng cn chỉ được truyền đạt từ người sang người. Tại cc nước m Kit gio chỉ l một thiểu số, th cng với việc khuyến khch mỗi người đ rửa tội rao giảng Tin Mừng, cc Gio Hội địa phương cũng phải tch cực cổ xuý t l cc hnh thức sơ đẳng của việc hội nhập văn ho. Mục tiu cuối cng phải l lm sao cho Tin Mừng, như được giảng bằng cc phạm tr ph hợp với mỗi nền văn ho, c thể tạo ra một tổng hợp mới với nền văn ho cụ thể ấy. Đy lun lun l một tiến trnh chậm chạp khiến chng ta c thể rất sợ. Nhưng nếu chng ta để cho những mối hoi nghi v lo sợ lm nhụt nhuệ kh của mnh, th thay v tỏ ra sng tạo, chng ta sẽ tiếp tục ở yn trong an nhn v khng c tiến bộ g cả. Trong trường hợp ny, chng ta sẽ khng gp phần tch cực vo cc tiến trnh lịch sử, nhưng trở thnh những người bng quan trong khi Hội Thnh ngy cng tr trệ hơn.

Cc đặc sủng phục vụ một sự hiệp thng truyền gio 

130. Cha Thnh Thần cũng lm phong ph ton thể Hội Thnh truyền gio bằng cc đặc sủng khc nhau. Cc n huệ ny c mục đch canh tn v xy dựng Hội Thnh.[108] Cc đặc sủng khng phải l một di vật được cất giữ an ton v được uỷ thc cho một nhm nhỏ để cất giữ; đng hơn, chng l những n huệ được Cha Thnh Thần thp nhập vo thn thể Hội Thnh, được ko về trung tm l Đức Kit v rồi được truyền vo đồng lực truyền gio. Một dấu hiệu chắc chắn về đặc sủng đch thực l đặc tnh gio hội của n, khả năng n kết hợp hi ho vo đời sống của dn thnh trung thnh của Thin Cha v lợi ch của mọi người. Một ci g thực sự mới mẻ do Cha Thnh Thần ban cho khng cần lm lu mờ cc n huệ v cc đường lối thing ling khc để n được cảm nhận r rng. Một đặc sủng cng được qui hướng nhiều về tm điểm của Tin Mừng bao nhiu th việc thực thi đặc sủng ấy sẽ cng c đặc tnh Hội Thnh nhiều hơn. Chnh trong sự hiệp thng, cả khi l một sự hiệp thng đau đớn, m một đặc sủng được coi l chn chnh v hiệu quả một cch nhiệm mầu. Trn cơ sở sự đp lại của mnh trước thch thức ny, Hội Thnh c thể l một m hnh cho ho bnh thế giới.

131. Những khc biệt giữa cc c nhn v cc cộng đồng đi khi c thể gy ra tnh trạng kh chịu, nhưng Cha Thnh Thần, Đấng l nguồn của sự đa dạng ny, c thể đem đến một điều g tốt lnh từ tất cả những khc biệt ấy, v biến n thnh một phương tiện truyền gio hấp dẫn. Sự khc biệt phải được ho giải bằng ơn trợ gip của Cha Thnh Thần; chỉ mnh Ngi c thể khơi dậy sự đa dạng, đa nguyn v phong ph, đồng thời đem lại sự duy nhất. Cn chng ta, khi muốn sự khc biệt, chng ta thường trở nn đng kn, loại trừ v gy chia rẽ; tương tự, khi chng ta cố gắng tạo sự duy nhất dựa trn cc tnh ton nhn loại của mnh, chng ta lại đi đến chỗ p đặt một sự đồng nhất đơn điệu. Tnh trạng ny khng c lợi cho việc truyền gio của Hội Thnh.

Văn ho, tư tưởng v gio dục

132. Rao giảng sứ điệp Tin Mừng cho cc nền văn ho khc nhau cũng bao hm việc rao giảng Tin Mừng cho cc lnh vực nghề nghiệp, khoa học v học thuật. Đy l một sự gặp gỡ giữa đức tin, lý tr v cc khoa học nhằm pht triển cc cch tiếp cận v lý luận mới về vấn đề gọi l tnh khả tn, một khoa hộ gio sng tạo[109] c khả năng khuyến khch mọi người mở lng ra nhiều hơn với Tin Mừng. Khi một số phạm tr của lý tr v cc khoa học được sử dụng cho việc rao giảng sứ điệp, cc phạm tr ny trở thnh những cng cụ truyền gio; nước được biến đổi thnh rượu. Bất cứ điều g được đn nhận th khng chỉ được cứu chuộc, m cn trở thnh một cng cụ của Thần Kh để soi sng v canh tn thế giới.

133. Người truyền gio tm cch đến được với từng người, hay Tin Mừng được rao giảng cho cc nền văn ho như một tổng thể, cc việc ny khng đủ. Một khoa thần học—khng chỉ thần học mục vụ—trong đối thoại với cc khoa học khc v cc kinh nghiệm của con người, l yếu tố quan trọng nhất để chng ta thấy r cch no l tốt nhất để đem sứ điệp Tin Mừng đến với cc bối cảnh v cc nhm văn ho khc nhau.[110] Trong sự dấn thn truyền gio của mnh, Hội Thnh trn trọng v khuyến khch đặc sủng của cc nh thần học v cc cố gắng học thuật của họ để thăng tiến cuộc đối thoại với thế giới văn ho v khoa học. Ti ku gọi cc nh thần học thực thi việc phục vụ ny như một thnh phần của sứ mạng cứu độ của Hội Thnh. Tuy nhin, khi lm cng việc ny, họ phải lun nhớ rằng Hội Thnh v thần học hiện hữu l để loan bo Tin Mừng, v khng được bằng lng với một thứ thần học bn giấy.

134. Cc trường đại học l những mi trường nổi bật để diễn tả mạch lạc v pht triển sự dấn thn truyền gio ny một cch lin ngnh v tch hợp. Cc trường cng gio, vốn lun cố gắng kết hợp cng việc gio dục với việc rao giảng Tin Mừng một cch minh nhin, l một nguồn lực qu gi nhất cho việc phc m ho văn ho, kể cả trong cc quốc gia v cc thnh phố m hon cảnh th nghịch ở đ thch thức chng ta phải c c sng tạo nhiều hơn trong việc tm ra những phương php thch hợp.[111]

II. BI GIẢNG

135. By giờ chng ta nhn vo việc giảng trong phụng vụ m cc mục tử cần phải xem xt nghim tc. Ti sẽ bn một cch đặc biệt, v thậm ch hơi tỉ mỉ, về bi giảng v sự chuẩn bị bi giảng, v c qu nhiều mối quan tm đ được by tỏ về tc vụ quan trọng ny v chng ta khng thể lm ngơ. Bi giảng l vin đ thử để đnh gi sự gần gũi v khả năng truyền thng của người mục tử với dn chng. Chng ta biết cc tn hữu rất coi trọng bi giảng, v cả cc tn hữu lẫn cc thừa tc vin c chức thnh đều khổ sở v cc bi giảng: gio dn v phải nghe cc bi giảng, cn cc gio sĩ v phải giảng bi! Đy l trường hợp đng buồn. Bi giảng thực ra c thể l một trải nghiệm su đậm v vui sướng về Thần Kh, một cuộc gặp gỡ đầy an ủi với lời Thin Cha, một nguồn mạch canh tn v tăng trưởng thường xuyn.

136. Chng ta hy lấy lại niềm tin tưởng nơi bi giảng, dựa trn xc tn rằng chnh Thin Cha tm cch đến với người khc thng qua người giảng thuyết, v Ngi by tỏ quyền năng của Ngi qua ngn ngữ nhn loại. Thnh Phaol ni rất mạnh về việc giảng dạy, v lời Cha muốn đến được với người khc thng qua lời của chng ta (xem Rm 10:14-17). Bằng lời của Ngi, Cha đ chinh phục tri tim của dn chng: từ khắp nơi họ tuốn đến nghe Ngi (xem Mc 1:45); họ kinh ngạc về những lời Ngi giảng (xem Mc 6:2), v họ cảm thấy Ngi ni với họ như một người c uy quyền (xem Mc 1:27). Cc tng đồ l những người đ được Đức Kit chọn để ở với Ngi v được sai đi rao giảng (Mc 3:14), cc lời giảng của cc ngi đ đem mọi dn tộc vo trong lng của Hội Thnh (xem Mt 16:15-20).

Bối cảnh phụng vụ

137. Nn nhớ rằng việc rao giảng lời Cha trong phụng vụ, đặc biệt trong cuộc tụ họp Thnh Thể, khng phải l thời gian suy niệm hay huấn gio cho bằng một cuộc đối thoại giữa Thin Cha v dn của Người, một cuộc đối thoại trong đ cc hnh vi cứu độ vĩ đại được cng bố v cc đi hỏi của giao ước được lin tục nhắc lại.[112] Bi giảng c tầm quan trọng đặc biệt v bối cảnh Thnh Thể của n: n vượt qu mọi hnh thức huấn gio v l thời điểm tột đỉnh trong cuộc đối thoại giữa Thin Cha với dn Người, v dẫn tới việc hiệp thng b tch. Bi giảng một lần nữa tiếp nối cuộc đối thoại m Cha đ thiết lập với dn Người. Người giảng thuyết phải biết lng cộng đon của mnh, để biết chỗ no ước muốn của n về Thin Cha đang sống động v chy bỏng, cũng như chỗ no m cuộc đối thoại ấy trước kia rất thn thương nay đ bị thui chột v cằn cỗi.

138. Bi giảng khng thể mang một hnh thức giải tr giống như những bi giảng trn cc phương tiện đại chng, nhưng bi giảng phải ban sức sống v ý nghĩa cho cuộc cử hnh. N l một thể loại đặc trưng, v việc giảng dạy được đặt trong khung cảnh một cuộc cử hnh phụng vụ; thế nn bi giảng phải ngắn v trnh mang dng dấp của một bi diễn văn hay thuyết trnh. Một giảng vin c thể thu ht sự ch ý của người nghe trong suốt một giờ đồng hồ, nhưng lc ấy cc lời giảng của họ trở thnh quan trọng hơn việc cử hnh đức tin. Nếu bi giảng qu di, n sẽ ảnh hưởng tới hai yếu tố đặc trưng của cử hnh phụng vụ: sự cn bằng v nhịp độ. Khi bi giảng diễn ra trong bối cảnh phụng vụ, n l một phần của lễ hiến dng ln Cha v l một trung gian cho n sủng m Đức Kit đ tun đổ trong cuộc cử hnh. Bối cảnh ny đi hỏi việc giảng phải hướng dẫn cộng đon v giảng vin tới một sự hiệp thng với Đức Kit trong b tch Thnh Thể, để gip họ thay đổi cuộc sống. Muốn được thế, cc lời giảng của giảng vin phải điều độ, để cho tm điểm của sự ch ý Cha, chứ khng phải l thừa tc vin của Cha.

Như mẹ ni chuyện với con

139. Chng ta đ ni rằng, nhờ Cha Thnh Thần lin tục hoạt động trong tm hồn, dn Cha khng ngừng tự phc m ho chnh mnh. Nguyn tắc ny c hệ luỵ g đối với cc giảng vin? N nhắc nhớ chng ta rằng Hội Thnh l một người mẹ, v Hội Thnh giảng giống như cch một người mẹ ni chuyện với con, b biết con tin rằng mẹ dạy g cũng l v lợi ch của n, v con ci biết rằng chng được yu. Hơn nữa, một người mẹ tốt c thể nhận ra mọi sự m Thin Cha đang lm nơi con của b, nn b lắng nghe cc mối quan tm của chng v học hỏi từ chng. Tnh yu thương ngự trị trong gia đnh hướng dẫn mẹ v con trong cu truyện; khi tr chuyện, mẹ v con cng dạy v học, trải nghiệm sự sửa sai v tăng trưởng trong cch đnh gi điều g l tốt. Một điều tương tự cũng xảy ra trong bi giảng. Cng một Thần Kh gợi hứng cho cc sch Tin Mừng v hnh động trong Hội Thnh cũng chnh l Thần Kh soi sng cho giảng vin để nghe đức tin của dn Cha v tm cch thch hợp để giảng vo mỗi Thnh Lễ. Bi giảng Kit gio v thế tm được nơi con tim của dn chng v nền văn ho của họ một nguồn nước sự sống, gp giảng vin bit phải ni g v ni thế no. Như tất cả chng ta đều thch được người khc ni với mnh bằng tiếng mẹ đẻ của mnh, th cũng vậy, trong đức tin, chng ta thch được người khc ni với mnh bằng văn ho mẹ của chng ta, bằng tiếng bản xứ của chng ta (xem 2 Mcb 7:21, 27), v quả tim chng ta sẵn sng nghe hơn. Ngn ngữ ny l một thứ m nhạc khu gợi sự khch lệ, sức mạnh v niềm phấn khởi.

140. Khung cảnh ny, vừa từ mẫu vừa hội thnh, trong đ diễn ra cuộc đối thoại giữa Cha v dn của Người, phải được khuyến khch bởi sự gần gũi của giảng vin, sự ấm p của m giọng, sự đơn sơ khng ph trương trong cch ni, v sự vui vẻ trong cc điệu bộ của giảng vin. Cho d bi giảng đi khi c thể c phần tẻ nhạt, nhưng nếu c tinh thần từ mẫu v hội thnh, n sẽ lun lun hiệu quả, giống như những lời khuyn bảo nhm chn của một người mẹ, khi đến lc, cũng sinh hoa kết quả trong lng cc con của b.

141. Chng ta khng thể khng thn phục những nguồn lực Cha Gisu đ dng để ni chuyện với dn của Ngi, để mặc khải mầu nhiệm của Ngi cho mọi người v li cuốn những người dn bnh thường bằng cc gio huấn v cc đi hỏi cao siu của Người. Ti tin rằng b quyết nằm ở cch Đức Gisu nhn dn chng, thấy được bn kia những yếu đuối lỗi lầm của họ: Hỡi đon chin nhỏ b, đừng sợ, v Cha anh em đ vui lng ban Nước của Người cho anh em (Lc 12:32); Đức Gisu giảng bằng tinh thần ấy. Đầy hoan lạc trong Thnh Thần, Ngi ngợi khen Cha l Đấng đ li ko những kẻ b mọn đến với Người: Lạy Cha l Cha Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, v Cha đ giấu kn khng cho bậc khn ngoan thng thi biết những điều ny, nhưng lại mặc khải cho những người b mọn (Lc 10:21). Cha thực sự vui thch ni chuyện với dn của Ngi; người giảng thuyết cũng phải cố gắng thng truyền cng một niềm vui thch ấy cho cc thnh giả của mnh.

Những lời ni lm tri tim bừng chy

142. Đối thoại khng chỉ l thng truyền một sự thật, n phong ph hơn rất nhiều. Đối thoại pht xuất từ sự vui thch khi ni v lm phong ph những ai biểu lộ tnh yu của mnh với nhau bằng lời ni. Sự phong ph ny khng nằm ở những sự vật nhưng ở những người chia sẻ với nhau trong đối thoại. Một bi giảng m chỉ nhắm dạy đạo đức hay lý thuyết, hoặc biến thnh một bi giảng về ch giải Kinh Thnh, l đi lạc khỏi sự thng truyền đch thực từ tri tim đến tri tim diễn ra trong bi giảng v mang một tnh chất gần như b tch: C đức tin l nhờ nghe giảng, m nghe giảng l nghe cng bố lời Ðức Kit (Rm 10:17). Trong bi giảng, chn-thiện-mỹ đi chung với nhau. Thay v ni về cc chn lý trừu tượng v cc kiểu lý luận kh khan, bi giảng truyền đạt vẻ đẹp của cc hnh ảnh đ được Cha dng để khuyến khch người ta hnh thiện. Ký ức của người tn hữu, như của Đức Maria, phải đầy ắp những kỳ cng Thin Cha đ thực hiện. Tm hồn cc tn hữu, đang khi lớn ln trong niềm hi vọng từ việc vui vẻ thực thi tnh yu m mnh đ nhận được, sẽ cảm nhận ra rằng từng lời của Kinh Thnh l một qu tặng trước khi l một lời xin.

143. Giảng với sự hội nhập văn ho cần phải đối diện với thch thức l cng bố một tổng hợp, chứ khng phải cc ý tưởng hay cc gi trị rời rạc. Tổng hợp của bạn ở đu th lng tr bạn ở đ. Sự khc biệt giữa những người c một tổng hợp sng suốt với những người chỉ c những ý tưởng rời rạc th giống như sự khc biệt giữa sự sốt sắng v sự nhm chn. Người giảng c nhiệm vụ tuyệt vời nhưng kh khăn l kết nối những tri tim yu thương, tri tim của Cha v của dn Người. Đối thoại giữa Thin Cha với dn của Người kiện cường giao ước giữa họ v củng cố tnh bc i. Trong bi giảng, lng cc tn hữu giữ thinh lặng để nghe Cha ni. Cha v dn Người trực tiếp ni chuyện với nhau bằng v vn cch thức m khng cần đến trung gian. Nhưng trong bi giảng, họ muốn c người lm trung gian v by tỏ tnh cảm của mnh sao cho sau bi giảng, mỗi người c thể quyết định mnh sẽ tiếp nối cuộc đối thoại theo cch no mnh thch. Tự bản chất, lời l một phương tiện v cần phải c khng chỉ l hai người đối thoại m cũng cần một người trung gian để trnh by lời đng theo nghĩa của n, với sự xc tn rằng chng ti khng rao giảng chnh mnh, m chỉ rao giảng Ðức Kit Gisu l Cha; cn chng ti, chng ti chỉ l ti tớ của anh em, v Ðức Gisu (2 Cr 4:5).

144. Ni từ tri tim c nghĩa l tri tim chng ta khng chỉ phải bừng chy, m cn phải được soi sng bởi sự sung mn của mặc khải v bởi con đường m lời Cha đ đi qua trong tri tim của Hội Thnh v dn tộc trung thnh của chng ta trong suốt lịch sử. Căn tnh Kit hữu của chng ta, như l vng tay Cha m ấp chng ta trong b tch rửa tội, lm cho chng ta, nhý những ðứa con hoang ðng—v những ðứa con cýng của Mẹ Maria— ao ýớc nhận ðýợc một vng tay khc nữa, vng tay của Cha nhn từ đang đợi chng ta trong vinh quang. Gip dn chng cảm nhận rằng họ đang sống giữa hai vng tay ny l một nhiệm vụ kh khăn nhưng đẹp đẽ của người rao giảng Tin Mừng.

III. CHUẨN BỊ GIẢNG

145. Chuẩn bị giảng l một nhiệm vụ hết sức quan trọng đi chng ta phải dnh một lượng thời gian di cho việc học hỏi, cầu nguyện, suy tư v c sng tạo mục vụ. Với tất cả tấm lng tru mến, ti muốn dừng lại chốc lt để cung cấp một phương php chuẩn bị bi giảng. C thể c người cho những gợi ý ny l đương nhin ai cũng biết, nhưng ti nghĩ ni về chng sẽ c ch để nhấn mạnh nhu cầu phải dnh thời gian chất lượng cho thừa tc vụ qu gi ny. Một số mục tử lý luận rằng một sự chuẩn bị như thế l khng khả thi v khối lượng cng việc họ phải lm qu nhiều; tuy nhin, ti muốn xin rằng mỗi tuần phải dnh một phần thời gian c nhn v cộng đon đủ cho cng việc ny, d c phải bớt xn thời gian của cc cng việc quan trọng khc . Tin Cha Thnh Thần Đấng hoạt động trong bi giảng khng phải l chỉ thụ động nhưng phải chủ động v sng tạo. N đi chng ta hiến mnh v mọi khả năng của mnh để lm cng cụ (xem Rm 12:1) cho Cha sử dụng. Một người giảng thuyết khng chuẩn bị th khng c thần kh; họ l người bất lương v v trch nhiệm đối với cc n huệ họ đ nhận.

Knh cẩn đối với sự thật

146. Bước đầu tin sau khi cầu nguyện với Cha Thnh Thần l dồn tất cả sự ch ý vo bản văn Kinh Thnh, v n phải l cơ sở cho bi giảng của chng ta. Mỗi khi ta dừng lại v tm cch hiểu sứ điệp của một bản văn cụ thể l ta đang thực hnh lng knh trọng sự thật.[113] Đy l sự khim tốn của con tim nhn nhận rằng lời lun lun vượt qu chng ta, chng ta khng phải l chủ, người sở hữu, nhưng l người giữ gn, người loan bo v người phục vụ lời.[114] Thi độ khim nhường v cung knh ny được biểu lộ qua việc dnh thời gian để học lời một cch hết sức kỹ lưỡng v với một lng knh sợ thnh thiện để khng xuyn tạc lời. Để cắt nghĩa một bản văn Kinh Thnh, chng ta cần nhẫn nại, gạt sang một bn mọi quan tm khc, v dnh cho n thời giờ, sự quan tm v cầm lng cầm tr. Chng ta phải gạt sang một bn mọi mối lo cấp bch khc v tạo ra một mi trường thanh thản để tập trung ch ý. Nếu chng ta chỉ muốn tm những kết quả chng vnh, dễ dng v c ngay lập tức th đọc bản văn Kinh Thnh l chuyện v ch. Chuẩn bị giảng đi hỏi tnh yu. Chng ta chỉ dnh những thời giờ yn tĩnh cho những sự vật v những người mnh yu; v ở đy chng ta đang ni chuyện với Thin Cha m chng ta yu, một Thin Cha muốn ni chuyện với chng ta. V tnh yu ny, chng ta c thể dnh đủ thời giờ chng ta cần, như mọi người mn đệ đch thực: Lạy Cha, xin hy ni, v ti tớ Cha đang nghe (1 S 3:9).

147. Trước hết, chng ta cần chắc chắn mnh hiểu nghĩa của những lời chng ta đọc. Ở đy ti muốn nhấn mạnh một điều c vẻ hiển nhin, nhưng khng lun lun được chng ta lưu ý: bản văn Kinh Thnh m chng ta học đ c từ hai hay ba ngn năm rồi; ngn ngữ của n rất khc với ngn ngữ chng ta ni ngy nay. Cả khi chng ta tưởng mnh hiểu những từ được dịch sang tiếng của chng ta, điều đ cũng khng c nghĩa l chng ta đ hiểu đng những g m tc giả thnh muốn ni. Chng ta thnh thạo cc cng cụ khc nhau do khoa phn tch văn chương cung cấp: ch ý tới cc từ lặp đi lặp lại hay nhấn mạnh, nhận ra cấu trc v chuyển động cụ thể của một bản văn, xem xt vai tr của cc nhn vật khc nhau, v.v Nhưng mục tiu của chng ta khng phải l hiều từng chi tiết nhỏ b của một bản văn; mục đch quan trọng nhất của chng ta l khm ph ra sứ điệp chnh của n, sứ điệp tạo nn cấu trc v sự thống nhất của bản văn. Nếu người giảng thuyết khng cố gắng lm việc ny, bi giảng của họ thường sẽ khng c sự thống nhất hay trật tự; những điều họ ni sẽ chỉ l một sự chồng chất cc ý tưởng rời rạc khng thể tạo cảm hứng cho người nghe. Sứ điệp trung tm l điều m tc giả chủ yếu muốn thng truyền; n đi hỏi phải nhận ra khng chỉ cc ý tưởng của tc giả nhưng hiệu quả m tc giả muốn tạo ra. Nếu một bản văn được viết ra để an ủi, ta khng được sử dụng n để sửa sai cc lỗi lầm; nếu n được viết để khuyến dụ, ta khng được dng n để dạy học thuyết; nếu được viết để dạy về Thin Cha, ta khng được dng n để trnh by cc ý kiến thần học khc nhau; nếu được viết để ku gọi lời ngợi khen hay ra đi truyền gio, ta đừng dng n để bn về cc tin tức mới nhất.

148. Chắc chắn để hiểu đng ý nghĩa sứ điệp trọng tm của một bản văn, chng ta cần lin kết n với gio huấn của ton bộ Kinh Thnh như được Hội Thnh truyền lại. Đy l một nguyn tắc quan trọng của khoa ch giải Kinh Thnh, n nhn nhận rằng Cha Thnh Thần đ linh hứng khng chỉ một phần Kinh Thnh, nhưng ton bộ Kinh Thnh, v trong một số lnh vực người ta đ pht triển sự hiểu biết về ý muốn của Thin Cha dựa trn kinh nghiệm bản thn của họ. Nguyn tắc ny cũng ngăn ngừa những cch giải thch sai lạc hay cục bộ c thể mu thuẫn với cc gio huấn khc của cng bộ Sch Thnh. Nhưng điều ny khng c nghĩa l chng ta c thể giảm nhẹ sự nhấn mạnh đặc trưng v cụ thể của một bản văn m chng ta phải giảng. Một trong cc khuyết điểm của một bi giảng tẻ nhạt v km hiệu quả chnh l n khng c khả năng thng truyền sức mạnh nội tại của bản văn đ được cng bố.

C nhn ho lời Cha

149. Người giảng thuyết trước hết phải pht triển một sự thn mật su xa với Lời Cha. Hiểu biết cc kha cạnh ngn ngữ hay ch giải chắc chắn l cần nhưng khng đủ. Họ cần đến với Lời Cha bằng một con tim ngoan ngon v cầu nguyện, để lời thấm su vo cc tư tưởng v tnh cảm của họ v tạo một ci nhn mới nơi họ.[115] Canh tn lng sốt sắng của chng ta mỗi ngy v mỗi Cha Nhật khi chng ta chuẩn bị bi giảng, xt mnh để xem chng ta c lớn ln trong tnh yu đối với lời chng ta giảng hay khng, đ l những điều c ch cho chng ta. Chng ta cũng khng được qun rằng sự thnh thiện của thừa tc vin cao hay thấp c một ảnh hưởng thực sự đối với việc rao giảng lời.[116] Như Thnh Phaol ni, chng ti rao giảng, khng phải để lm vừa lng người phm, m để lm đẹp lng Thin Cha, Ðấng thử luyện tm hồn chng ti (1 Tx 2:4). Nếu chng ta c một ước muốn sống động được l người đầu tin nghe lời m mnh phải giảng, chắc chắn lời ny sẽ được thng truyền cho những người dn trung thnh của Cha, v lng c đầy, miệng mới ni ra (Mt 12:34). Cc bi đọc ngy Cha Nhật sẽ vang dội với tất cả sự rạng rỡ của chng trong tim cc tn hữu nếu trước tin chng đ vang dội trong tim người mục tử của họ.

150. Đức Gisu tức giận với những hạng thầy dạy đi hi nhiều ở người khc, dạy lời Thin Cha m khng để cho lời Thin Cha soi sng mnh: Họ b những gnh nặng m chất ln vai người ta, nhưng chnh họ th lại khng buồn động ngn tay vo (Mt 23:4). Thnh Giacb tng đồ khuyn: Thưa anh em, đừng c nhiều người trong anh em ham lm thầy thin hạ, v anh em biết rằng chng ta sẽ bị xt xử nghim khắc hơn (Gc 3:1). Ai muốn giảng th trước tin phải để cho lời Thin Cha lay động mnh một cch su xa v thấm nhập vo trong đời sống hằng ngy của mnh. Như vậy, giảng chủ yếu l ở hoạt động qu su xa v hiệu quả ấy, đ l thng truyền cho người khc điều mnh đ chim ngắm.[117] V tất cả cc lý do trn, trước khi sửa soạn những ǵ ḿnh sẽ thực sự ni ra khi giảng, chng ta cần để cho lời thm nhập chng ta, cũng l lời sẽ thm nhập người khc, v đ l một lời sinh động v sắc bn, như thanh gươm xuyn thấu chỗ phn cch tm linh, cốt với tủy; lời đ ph phn tm tnh cũng như tư tưởng của lng ngườii (Dt 4:12). Đy l điều rất quan trọng trong hoạt động mục vụ. Ngy nay cũng vậy, người ta thch nghe những chứng nhn hơn: họ kht sự chn thực v đi c những người rao giảng Tin Mừng ni cho họ về một vị Thin Cha m mnh biết v thn quen, như thể đang nhn thấy Người.[118]

151. Khng ai đi chng ta phải v t tch, nhưng chng ta buộc phải khng ngừng lớn ln v muốn lớn ln khi tiến bước trn con đường của Tin Mừng; chng ta khng bao giờ được chn chn. Điều cơ bản l người giảng thuyết phải tin chắc rằng Thin Cha yu thương họ, rằng Đức Kit Gisu đ cứu họ v tnh yu của Ngi lun lun c tiếng ni cuối cng. Gặp gỡ một mối tnh đẹp như thế, người giảng thuyết sẽ thường xuyn cảm nhận rằng đời sống họ khng tn vinh Thin Cha cho đủ, v họ sẽ thnh tm muốn đp lại tnh yu khn lường ấy một cch trọn vẹn hơn. Nhưng nếu họ khng dnh thời giờ để nghe lời Thin Cha với con tim rộng mở, nếu họ khng để cho lời đnh động cuộc đời họ, thch thức họ, thc đẩy họ, v nếu họ khng dnh thời giờ cầu nguyện bằng lời ấy, th quả thực họ sẽ l một tin tri giả, một kẻ lừa đảo, một kẻ hunh hoang trống rỗng. Nhưng bằng cch nhn nhận sự ngho hn của mnh v muốn lớn ln trong sự dấn thn của mnh, họ sẽ lun lun c thẻ ph thc mnh cho Đức Kit v ni ln những lời của Thnh Phr: Vng bạc th ti khng c; nhưng ci ti c, ti cho anh đy (1 P 3:6). Cha muốn sử dụng chng ta như những con người sống động, tự do v sng tạo, những con người để cho lời Người thm nhập lng mnh trước tin rồi truyền sang cho người khc. Sứ điệp của Đức Kit phải thực sự thm nhập v chiếm hữu người giảng thuyết, khng chỉ phần tr c nhưng ton thể hiện hữ của họ. Cha Thnh Thần, Đấng linh hứng lời, hm nay, giống như lc khởi đầu của Hội Thnh, Người vẫn hoạt động trong mỗi người giảng thuyết biết để mnh được Người chiếm hữu v dẫn dắt. Cha Thnh Thần đặt trn mi người giảng thuyết những lời m họ khng thể tự mnh tm ra.[119]

Đọc sch thing

152. C một cch đặc biệt để nghe những điều Cha muốn ni với chng ta trong lời của Ngi v để mnh được biến đổi bởi Thần Kh. Chng ta gọi đ l lectio divina. Nghĩa l đọc lời Cha trong một lc cầu nguyện v để cho lời soi sng v đổi mới chng ta. Việc đọc Kinh Thnh trong cầu nguyện ny khng phải l một ci g tch biệt với việc học hỏi m người giảng thuyết thực hiện để nắm bắt được sứ điệp trọng tm của bản văn; tri lại, n phải bắt đầu với việc học hỏi ấy rồi tiếp tục phn định xem sứ điệp ấy ni thế no với đời sống của người ấy. Việc đọc sch thing ling phải bắt đầu với nghĩa chữ của bản văn. Nếu khng, chng ta c thể dễ dng bắt bản văn ni điều m chng ta nghĩ l thuận tiện, ch lợi để xc nhận cc quyết định trước đ của chng ta, hợp với lối suy nghĩ của chng ta. Rốt cuộc sẽ chẳng khc g sử dụng một điều thnh thing v lợi ch ring của chng ta rồi truyền lại sự lẫn lộn ny sang cho dn Cha. Chng ta khng bao giờ được qun rằng đi khi ngay cả Satan cũng tự ho trang thnh một thin thần nh sng (2 Cr 11:14).

153. Trong sự hiện diện của Thin Cha, đang khi hồi tm đọc bản văn, chng ta nn hỏi, chẳng hạn: Cha ơi, đoạn sch ny ni g với con? Qua bản văn ny, Cha muốn thay đổi điều g trong đời con? Bản văn c điều g lm con bối rối? Tại sao con khng quan tm tới điều ny? Hoặc c thể hỏi: Ti thấy điều g th vị trong bản văn ny? Ci g trong thế giới ny đnh động ti? Ci g li cuốn ti? Tại sao n li cuốn ti?, cc dm dỗ thường xuất hiện khi ti cố gắng nghe Cha. Một cm dỗ thường chỉ l ti cảm thấy bối rối hay kh chịu khiến ti bỏ đi. Một cm dỗ khc l nghĩ về ý nghĩa của bản văn đối với những người khc, v v thế ti trnh p dụng n cho đời sống của chnh mnh. Cũng c thể c cm dỗ khiến ti tm cớ để coi nhẹ ý nghĩa hiển nhin của bản văn. Hoặc chng ta cũng c thể thắc mắc khng biết Cha c đang đi hỏi qu nhiều ở chng ta, đi hỏi một quyết định m chng ta chưa sẵn sng để thực hiện. Những cm dỗ ny khiến nhiều người khng cn hứng th gặp gỡ lời Cha nữa; nhưng như thế l qun rằng khng một ai kin nhẫn bằng Thin Cha Cha chng ta, khng một ai cảm thng v sẵn sng chờ đợi như Người. Người lun lun mời gọi chng ta tiến tới, nhưng khng đi chng ta một cu trả lời hon chỉnh nếu chng ta chưa sẵn sng. Ngi chỉ xin chng ta thnh thật nhn vo đời sống mnh v gii by đời mnh một cch chn thật với Người, v xin chng ta sẵn sng tiếp tục lớn ln, cầu xin Người ban cho điều m bản thn chng ta chưa đạt được.

Lắng nghe dn chng

154. Người giảng thuyết cũng cần để tai nghe dn v tm xem cc tn hữu cần nghe những g. Người giảng thuyết phải nhn xem thế giới, nhưng cũng phải nhn xem người dn. Bằng cch ny họ học biết được về những ước vọng, những nguồn lực v những giới hạn, những cch cầu nguyện, yu thương, quan niệm về cuộc đời v thế giới, l những ci tạo sự khc biệt giữa một cuộc gặp gỡ ny với một cuộc gặp gỡ khc, trong khi ch ý tới những con người cụ thể, sử dụng ngn ngữ của họ, cc ký hiệu v biểu tượng của họ, trả lời cc cu hỏi họ đặt ra.[120] Họ phải c khả năng lin kết sứ điệp của bản văn Kinh Thnh với một tnh huống nhn loại, với một kinh nghiệm ku go nh sng của lời Cha. Sự quan tm ny khng c cht g l mnh lới hay tnh ton; n mang tnh chất tn gio v mục vụ su xa. Cơ bản n l một sự nhậy cảm thing lin đối với việc đọc sứ điệp của Thin Cha qua cc biến cố,[121] v đy l điều c gi trị hơn l chỉ tm xem c ci g hay để ni. Ci chng ta tm l Cha muốn ni g trong hon cảnh cụ thể ny hay hon cảnh cụ thể kia.[122] Thế nn chuẩn bị giảng trở thnh một việc luyện tập phn đon theo Tin Mừng, ở đ chng ta nhận ra—trong nh sng của Thần Kh—một tiếng gọi m Thin Cha cho dội ln trong chnh hon cảnh lịch sử. Trong hon cảnh ny, v cũng qua hon cảnh ny, Thin Cha ku gọi người c lng tin.[123]

155. Trong cố gắng ny, chng ta c thể chỉ cần nghĩ đến một kinh nghiệm thng thường no đ của con người như một cuộc tụ họp vui vẻ, một lc chn nản, nỗi sợ c đơn, niềm cảm thng những đau khổ của người khc, sự hoang mang về tương lai, sự lo lắng cho một người thn, v.v. Nhưng chng ta cần pht triển một sự nhậy cảm su rộng đối với những g tc động đến đời sống của những người khc. Chng ta cũng lưu ý khng bao giờ nn trả lời những cu hỏi m khng ai hỏi. Cũng khng nn ni về những tin tức mới nhất để li ko sự quan tm của dn chng; chng ta đ c cc chương trnh truyền hnh để lm chuyện ny rồi. Tuy nhin, c thể mở đầu bằng một sự kiện hay một cu truyện để lời Cha c thể vang dội mạnh mẽ trong tiếng gọi hon cải, thờ phượng, dấn thn cho tnh huynh đệ v phục vụ, v.v Thế nhưng vẫn sẽ lun lun c những người thch nghe người giảng thuyết bnh luận về cc chuyện thời sự trong khi bản thn họ khng để mnh bị thch thức.

Cc nguồn hỗ trợ giảng thuyết

156. Một số người nghĩ mnh c thể l người giảng giỏi v họ biết phải ni ci g, nhưng họ khng ch ý tới việc phải ni thế no, nghĩa l cụ thể phải cấu tạo một bi giảng như thế no. Họ phn nn khi người ta khng nghe hay trn trọng họ, nhưng c lẽ họ khng bao giờ chịu kh tm cch thch hợp để trnh by sứ điệp. Chng ta nn nhớ rằng nội dung loan bo Tin Mừng c tầm quan trọng hiển nhin nhưng khng được lm che mờ tầm quan trọng của cch thức v phương tiện loan bo Tin Mừng.[124] Cũng vậy, quan tm tới cch chng ta giảng l một sự quan tm thing ling su xa. N bao gồm việc đp lại tnh yu của Thin Cha bằng cch đặt tất cả cc năng khiếu v c sng tạo của mnh vo việc phục vụ sứ mạng Ngi đ trao cho chng ta; đồng thời, n chứng tỏ một tnh yu tinh tế v tch cực bằng cch từ chối khng cống hiến một sản phẩm c chất lượng tồi. Trong Kinh Thnh, chẳng hạn, chng ta c thể tm thấy những lời khuyn về cch chuẩn bị một bi giảng thế no để c thể đến được với dn một cch hiệu quả nhất: Hy ni cho gọn, t lời, nhiều ý (Hc 32:8).

157. Chỉ dng một vi v dụ, chng ta hy nhớ lại một số nguồn trợ gip thực hnh c thể lm bi giảng của chng ta phong ph v hấp dẫn hơn. Một trong những điều quan trọng nhất l học cch sử dụng hnh ảnh khi giảng, cch khu gợi hnh ảnh. Đi khi cc v dụ được dng để lm sng tỏ một điểm no đ, nhưng cc v dụ ny thường chỉ khu gợi tr khn; tri lại, cc hnh ảnh gip người nghe nhiều hơn trong việc qu chuộng v chấp nhận sứ điệp chng ta muốn truyền đạt. Một hnh ảnh hấp dẫn c thể lm cho người nghe cảm nếm được sứ điệp, đnh thức ước muốn v đnh động ý ch hướng tới Tin Mừng. Một thầy gio cũ từng ni với ti, một bi giảng tốt phải c một ý tưởng, một tnh cảm, một hnh ảnh.

158. Đức Phaol VI ni rằng cc tn hữu... mong đợi nhiều từ bi giảng, v sẽ được rất nhiều lợi ch từ bi giảng, miễn l n đơn sơ, r rng, trực tiếp v thch hợp.[125] Đơn sơ l về ngn ngữ chng ta sử dụng. Phải l ngn ngữ người dn c thể hiểu được, bằng khng chng ta như ni vo chỗ khng người. Những người giảng thuyết thường sử dụng cc từ ngữ họ đ học trong thời kỳ học tập v trong cc mi trường chuyn mn khng nằm trong ngn ngữ thng thường của người nghe. Cc từ ngữ ny thch hợp trong thần học v huấn gio, nhưng ý nghĩa của n th đa số cc Kit hữu khng hiểu được. Nguy cơ lớn nhất đối với một người giảng thuyết l họ qu quen với ngn ngữ ring của mnh khiến họ nghĩ mọi người khc tất nhin cũng hiểu v sử dụng được n. Nếu chng ta muốn thch nghi với ngn ngữ của dn chng v đem lời Cha đến được với họ, chng ta cần chia sẻ đời sống của họ v c sự quan tm tru mến đối với họ. Đơn sơ v r rng l hai chuyện khc nhau. C thể chng ta dng ngn ngữ đơn sơ nhưng cch giảng của chng ta khng r. Rốt cuộc l bi giảng kh hiểu v n v tổ chức, thiếu trnh tự lgch hay cố ni đến qu nhiều điều một lc. V vậy chng ta cần bảo đảm bi giảng của chng ta c một chủ đề thống nhất, c trật tự r rng v c sự mạch lạc giữa cc cu, để dn c thể dễ dng theo một cch dễ dng v nắm được triền lý luận của bi giảng.

159. Tch cực l một đặc trưng nữa của một bi giảng tốt. Bi giảng tốt khng quan tm nhiều tới việc ni ra điều g khng được lm, nhưng gợi ý chng ta c thể lm g tốt hơn. Bất luận thế no, nếu ku gọi ch ý tới một điều g tiu cực, n cũng phải cố gắng vạch ra một gi trị tch cực v hấp dẫn, nếu khng n sẽ bị mắc kẹt giữa những lời phn nn, than vn, ph bnh v trch mc. Giảng tch cực lun lun cống hiến hi vọng, vạch ra tương lai, khng để chng ta mắc kẹt trong tiu cực. Tốt biết bao khi cc linh mục, ph tế v gio dn định kỳ tụ họp lại với nhau để khm ph ra cc nguồn hỗ trợ c thể gip cho việc giảng thuyết hấp dẫn hơn!

II. LOAN BO TIN MỪNG V HIỂU SU SỨ ĐIỆP CƠ BẢN

160. Mệnh lệnh truyền gio của Cha bao hm một lời ku gọi lớn ln trong đức tin: Hy dạy họ tun giữ mọi điều Thầy đ truyền cho anh em (Mt 28:20). V vậy, r rng việc rao giảng đầu tin cũng đi hỏi sự đo luyện thường xuyn v sự trưởng thnh. Loan bo Tin Mừng nhắm tới một tiến trnh tăng trưởng bao gồm việc coi trọng từng con người v kế hoạch của Thin Cha cho cuộc đời của họ. Tất cả chng ta phải lớn ln trong Đức Kit. Loan bo Tin Mừng phải kch thch ước muốn tăng trưởng ny, để mỗi người chng ta c thể ni thật lng: Khng cn l ti sống, m l Đức Kit sống trong ti (Gl 2:20).

161. Sẽ khng đng nếu hiểu tiếng gọi tăng trưởng ny theo nghĩa thuần tuý hay chủ yếu l đo luyện về gio lý. Lời ku gọi ny lin quan đến việc tun giữ tất cả những g Cha đ chỉ cho chng ta như phương thế để đp lại tnh yu của Ngi. Lin quan tới cc nhn đức, điều ny c nghĩa trước hết l giới răn mới, giới răn cao trọng nhất trong cc giới răn, v l giới răn xc định r nhất chng ta l mn đệ Đức Kit: Ðy l điều răn của Thầy: anh em hy yu thương nhau như Thầy đ yu thương anh em (Ga 15:12). R rng, mỗi khi cc tc giả Tn Ước muốn trnh by tm điểm của sứ điệp lun lý của Tin Mừng, họ trnh by đi hỏi cơ bản về tnh yu đối với tha nhn: ai yu người, th đ chu ton Lề Luật yu thương l chu ton Lề Luật vậy (Rm 13:8, 10). Đy l những lời dạy của Thnh Phaol, theo ngi th giới răn yu thương khng chỉ thu tm lề luật m cn l tm điểm v mục đch của lề luật: V tất cả Lề Luật được nn trọn trong điều răn duy nhất ny l: Hy yu mến tha nhn như chnh mnh ngươi (Gl 5:14). Với cc cộng đon của ngi, Thnh Phaol m tả cuộc đời của người Kit hữu như một hnh trnh tăng trưởng trong đức i: Xin Cha cho tnh thương của anh em đối với nhau v đối với mọi người ngy cng thm đậm đ thắm thiết (1Tx 3:12). Thnh Giacb cũng khuyn nhủ cc tn hữu chu ton luật vng của Kinh Thnh: Ngươi phải yu người thn cận như chnh mnh (Gc 2:8), để khng lỗi bất cứ giới luật no.

162. Mặt khc, tiến trnh đp lời v tăng trưởng ny lun lun được ơn Thin Cha dẫn trước, v trước tin Cha ni: Anh em hy lm php rửa cho họ nhn danh... (Mt 28:19). Ơn ban nhưng khng của Thin Cha biến chng ta thnh con ci Người, v tnh ưu việt của n sủng Người (xem Ep 2:8-9; 1 Cr 4:7), gip chng ta khả năng khng ngừng thnh ho bản thn, l điều đẹp lng Cha v tn vinh Người. Bằng cch ny, chng ta để mnh được biến đổi trong Đức Kit nhờ sống một đời sống theo Thần Kh (Rm 8:5).

Huấn gio cơ bản v khai tm mầu nhiệm 

168. Gio dục v huấn gio l để phục vụ sự tăng trưởng ny. Chng ta đ c một số văn kiện của Huấn Quyền v những trợ liệu huấn gio được pht hnh bởi To Thnh v cc Hội Đồng Gim Mục khc nhau. Ti đặc biệt nghĩ tới Tng Huấn Catechesi Tradendae (1979), Hướng Dẫn Chung về Huấn Gio (1997) v cc văn kiện khc m ti nghĩ khng cần lặp lại nội dung ở đy. Ti muốn cung cấp một vi suy tư m ti tin l c tầm quan trọng đặc biệt.

164. Về huấn gio cũng vậy, chng ta đ ti khm ph vai tr cơ bản của việc loan bo tin khởi hay kerygma, n phải l trọng tm của mọi hoạt động loan bo Tin Mừng v mọi cố gắng canh tn của Hội Thnh. Lời loan bo tin khởi mang tnh Ba Ngi. Lửa của Cha Thnh Thần được ban cho dưới dạng cc ci lưỡi v gip chng ta tin vo Đức Kit, Đấng nhờ sự chết v sống lại của Ngi, mặc khải v thng truyền cho chng ta lng thương xt v bin của Cha. Trn mi miệng người dạy gio lý, lời rao giảng tin khởi phải khng ngừng vang to: Đức Gisu Kit yu bạn; Ngi hiến mạng sống mnh để cứu bạn; v by giờ Ngi đang sống bn cạnh bạn mỗi ngy để soi sng, ban sức mạnh v giải thot bạn. Lời rao giảng đầu tin ny được gọi l đầu tin khng phải v n xuất hiện lc ban đầu v rồi c thể bị lng qun hay thay thế bằng một ci g quan trọng hơn. N l đầu tin theo nghĩa phẩm tnh v n l lời rao giảng chnh, lời rao giảng m chng ta phải nghe đi nghe lại bằng nhiều cch khc nhau, phải loan bo bằng cch ny hay cch khc trong suốt tiến trnh huấn gio, ở mọi cấp độ v mọi thời điểm.[126] Cũng v lý do ny, linh mục—như mọi thnh vin khc của Hội Thnh—phải lớn ln trong sự ý thức rằng bản thn họ lun lun cần được loan bo Tin Mừng.[127]

165. Chng ta khng được nghĩ rằng trong huấn gio, lời rao giảng đầu tin (kerygma) nhường chỗ cho một sự đo luyện được cho l vững chắc hơn. Khng c g vững chắc, su xa, bảo đảm v khn ngoan hơn lời rao giảng ban đầu ny. Mọi sự đo luyện Kit gio đều bao gồm việc ngy cng đi su hơn vo kerygma, được phản nh trong huấn gio v khng ngừng soi sng huấn gio, nhờ đ n gip chng ta hiểu đầy đủ hơn tầm quan trọng của mỗi đề ti m huấn gio đề cập đến. N l sứ điệp c khả năng đp lại kht vọng về sự v bin lun nằm trong tri tim mỗi người. Vị tr trung tm của kerygma đi phải nhấn mạnh những yếu tố cần nhất hm nay: n phải diễn tả tnh thương cứu độ của Thin Cha, l ci đi trước mọi bổn phận lun lý hay tn gio của chng ta; n khng được p đặt sự thật nhưng ku gọi tự do; n phải được đnh dấu bằng niềm vui, sự khch lệ, sức sống v một sự cn bằng hi ho để khng giản lược việc rao giảng vo một t gio thuyết đi khi mang tnh triết học hơn l tnh phc m. Tất cả điều ny đi hỏi người giảng thuyết phải c một số thi độ nui dưỡng sự mở lng ra cho sứ điệp: dễ đến gần, sẵn sng đối thoại, kin nhẫn, nồng ấm, niềm nở, tựu trung l thi độ khng ph phn.

166. Một kha cạnh khc của huấn gio mới pht triển trong những thập nin gần đy l sự khai tm mầu nhiệm (mystagogic initiation).[128] Tự cơ bản, khai tm mầu nhiệm gồm hai điều: một trải nghiệm đo luyện tiệm tiến li ko sự tham gia của ton cộng đon v một sự đnh gi mới về cc dấu hiệu phụng vụ của việc khai tm Kit gio. Nhiều sch cẩm nang v chương trnh chưa lưu ý đủ về nhu cầu canh tn việc khai tm mầu nhiệm, một việc đi c những hnh thức rất khc nhau dựa trn phn đon của mỗi cộng đon gio dục. Huấn gio l một sự cng bố lời Cha v lun lun tập trung vo lời ấy, nhưng n cũng đi hỏi một mi trường v một cch trnh by hấp dẫn, việc sử dụng cc biểu tượng giu ý nghĩa, sự thp nhập vo một tiến trnh tăng trưởng rộng hơn v sự tch hợp mọi chiều kch của con người trong một lộ trnh nghe v trả lời của cộng đon.

167. Mọi hnh thức huấn gio cần ch ý tới via pulchritudinis, con đường của ci đẹp.[129] Rao giảng Đức Kit c nghĩa l cho thấy rằng tin Ngi v theo Ngi khng chỉ l điều đng v chnh đng, m cn l một ci g đẹp, c khả năng đổ đầy đời sống bằng sự rực rỡ mới mẻ v niềm vui su xa, ngay cả giữa những hon cảnh kh khăn. Thế nn mọi cch diễn tả ci đẹp đch thực đều c thể được nhn nhận l một con đường dẫn tới sự gặp gỡ Cha Gisu. N khng lin quan g tới việc cổ vũ một thứ học thuyết tương đối về thẩm mỹ[130] vốn coi nhẹ mối tương quan bất khả phn giữa chn, thiện v mỹ, nhưng đng hơn, n l một sự qu chuộng mới đối với ci đẹp như l phương tiện lm rung động tri tim con người v gip cho sự thật v sự tốt lnh của Đức Kit Phục Sinh trở nn rạng rỡ trong đ. Như Thnh Augustin ni, nếu chng ta chỉ yu ci g đẹp,[131] th Con Cha nhập thể, hiện thn của mặc khải về ci đẹp v bin, l Đấng đng yu tột độ v li ko chng ta đến với Ngi bằng sợi dy tnh yu. V vậy một sự đo luyện theo via pulchritudinis phải l một thnh phần trong cố gắng của chng ta để bước vo đức tin. Mỗi gio hội địa phương phải khuyến khch việc sử dụng nghệ thuật trong truyền gio, bằng cch dựa trn những kho tng của qu khứ nhưng đồng thời cũng sử dụng những cch thể hiện đa dạng đương thời để thng truyền đức tin bằng một ngn ngữ dụ ngn mới[132] Chng ta phải đủ mạnh dạn để khm ph ra những ký hiệu mới v những biểu tượng mới, da thịt mới để thng truyền lời, cng với những cch biểu hiện khc nhau của ci đẹp được ưa thch trong cc nền văn ho khc nhau, gồm cả những hnh thi ph cch của ci đẹp, tuy c thể t quan trọng đối với những người rao giảng Tin Mừng, nhưng lại đặc biệt hấp dẫn đối với những người khc.

168. Về yếu tố lun lý trong huấn gio, l ci gip pht huy sự tăng trưởng trung thnh với lối sống phc m, cần lin tục nhấn mạnh sự hấp dẫn v lý tưởng của một đời sống khn ngoan, hon thnh v lm phong ph bản thn. Dưới nh sng của sứ điệp tch cực ấy, chng ta c thể hiểu r hơn tại sao mnh xa trnh những điều xấu gy nguy hại cho đời sống ấy. Thay v c thi độ của những chuyn gia chỉ tin đon những tai hoạ, hay những quan to khắc nghiệt lun tm cch nhổ tận gốc mọi mối đe doạ hay hnh vi sai tri, chng ta phải tỏ ra l những sứ giả hn hoan về những đề nghị đầy thch thức, những người bảo vệ ci tốt v ci đẹp rạng ngời trong một đời sống trung thnh với Tin Mừng.

Đồng hnh với c nhn trong cc bước tăng trưởng

169. Trong một nền văn ho đầy nghịch lý giữa sự đau khổ v khng được ai biết đến v đồng thời bị m ảnh v cc tnh tiết trong cuộc đời của những người khc khiến chng ta rơi vo thi độ t m bệnh hoạn v đng xấu hổ, Hội Thnh phải nhn người khc bằng đi mắt thn tnh v thiện cảm hơn. Trong thế giới chng ta, cc mục tử c chức thnh v cc nh hoạt động mục vụ khc c thể hiện thực ho hương thơm sự gần gũi v ci nhn thn mật của Đức Kit. Hội Thnh sẽ phải dẫn đưa mọi người—linh mục, tu sĩ, v gio dn—vo trong nghệ thuật đồng hnh ny, n dạy chng ta biết cởi dp khi đứng trn nền đất thnh thing của người khc (xem Xh 3:5). Bước chn đồng hnh ny phải c nhịp đều v vững vng, phản nh thi độ gần gũi v ci nhn cảm thng của chng ta, gip chữa lnh v khch lệ sự tng trýởng trong ðời sống Kit gio.

170. Mặc d nghe c vẻ hiển nhin, sự ðồng hnh thing ling phải dẫn ðýa ngýời khc ðến gần Thin Cha hn, ni Ngýời chng ta ðạt tới tự do ðch thực. Một số ngýời nghĩ họ c tự do nếu trnh ðýợc Thin Cha; nhýng họ khng thấy ðýợc rằng họ vẫn ðang l những ngýời mồ ci, c ðộc, v gia cý. Họ khng cn l những người lữ hnh, nhưng trở thnh những nạn nhn tri dạt bồng bềnh v khng bao giờ đi đến đu. Đồng hnh với họ sẽ phản tc dụng nếu sự đồng hnh ny chỉ l một trị liệu php hỗ trợ sự tự mn của họ v khng cn l một cuộc lữ hnh với Đức Kit để đến với Cha Cha.

171. Ngy nay hơn bao giờ hết, chng ta cần những người nam người nữ biết dựa trn kinh nghiệm bản thn trong việc đồng hnh với người khc, những người thnh thạo trong cc tiến trnh đi hỏi sự thận trọng, cảm thng, kin nhẫn v ngoan ngon vng nghe Cha Thnh Thần, để họ c thể bảo vệ chin khỏi si dữ lm tan tc đn chin. Chng ta cần pht triển nghệ thuật lắng nghe, chứ khng chỉ l nghe sung. Trong lnh vực truyền thng, lắng nghe l sự mở lng để c được thi độ gần gũi m thiếu n th khng thể c sự gặp gỡ thing ling. Lắng nghe gip chng ta tm ra cử chỉ v lời ni thch hợp để chứng tỏ chng ta khng chỉ l những khch qua đường. Chỉ khi c thi độ lắng nghe với lng tn trọng v cảm thng, chng ta mới c thể bước vo con đường tăng trưởng đch thực v đnh thức một kht vọng về lý tưởng Kit gio: ước muốn đp lại trọn vẹn tnh yu của Thin Cha v lm cho những g Ngi đ gieo trong cuộc đời chng ta sinh hoa kết quả. Nhưng điều ny lun đi hỏi sự kin nhẫn của người biết r điều m Thnh Tma Aquino từng ni: ai cũng c thể c n sủng v đức i, nhưng họ do dự trong việc thực thi cc nhn đức bởi v những xu hướng tri ngược dai dẳng của họ.[133] Ni khc đi, tnh duy nhất hữu cơ của cc nhn đức lun lun tồn tại một cch tất yếu in habitu (trong thi quen), mặc d cc hon cảnh chi phối khc nhau c thể ngăn cản cc hoạt động của cc thi quen nhn đức ny. Thế nn cần c một khoa sư phạm dẫn đưa người ta từng bước một tới sự lnh hội đầy đủ mầu nhiệm.[134] Việc đạt đến một mức độ trưởng thnh m ở đ cc c nhn c thể lm cc quyết định tự do v c trch nhiệm cần nhiều thời gian v kin nhẫn. Như Chn Phước Peter Faber thường ni: Thời gian l sứ giả của Thin Cha.

172. Ai đồng hnh với người khc cần hiểu rằng mỗi tnh huống của một c nhn trước mặt Cha v đời sống trong n sủng của họ l những mầu nhiệm m khng một ai c thể hiểu đầy đủ từ bn ngoi. Tin Mừng dạy chng ta sửa lỗi cho người khc v gip họ lớn ln dựa trn việc nhn nhận sự xấu xa của cc hnh động của họ (xem Mt 18:15), nhưng khng ph phn về trch nhiệm v sự c tội của họ (xem Mt 7:1; Lc 6:37). Một số người giỏi trong việc đồng hnh ny khng đầu hng trước những thất bại hay những nỗi sợ hi. Họ mời gọi những người khc sẵn sng để mnh được chữa lnh, vc giường ln, m ấp thập gi, bỏ mọi sự lại pha sau v lun lun tiếp tục ln đường để loan Tin Mừng. Kinh nghiệm bản thn của chng ta khi được người khc đồng hnh v nng đỡ, v sự mở lng của chng ta cho người đồng hnh với mnh, sẽ dạy chng ta biết kin nhẫn v cảm thng với người khc, v tm ra đng con đường để chinh phục sự tin tưởng, sự mở lng v thi độ sẵn sng lớn ln.

173. Sự đồng hnh thing ling chn chnh lun lun bắt đầu v pht triển trong lnh vực phục vụ sứ mạng truyền gio. Mối quan hệ giữa Thnh Phaol với Timth v Tit l một v dụ điển hnh về sự đồng hnh v đo luyện ny trong hoạt động tng đồ. Khi giao cho họ nhiệm vụ ở lại tại mỗi thnh phố để hon thnh cng việc tổ chức (Tt 1:5; xem 1 Tm 1:3-5), Thnh Phaol cũng cung cấp cho họ những qui tắc cho đời sống c nhn v hoạt động mục vụ của họ. Cch lm ny r rng khc hẳn mọi kiểu đồng hnh can thiệp hay tự thể hiện độc lập. Cc mn đệ truyền gio đồng hnh với cc mn đệ truyền gio.

Tập trung vo Lời Cha

174. Khng chỉ bi giảng phải được nui dưỡng bằng Lời Cha. Mọi việc loan bo Tin Mừng cũng phải dựa trn lời ấy, phải lắng nghe, suy niệm, sống, cử hnh v lm chứng cho lời ấy. Kinh Thnh chnh l nguồn mạch của việc loan bo Tin Mừng. Do đ, chng ta cần khng ngừng được huấn luyện trong việc nghe lời Cha. Hội Thnh khng loan bo Tin Mừng nếu chnh mnh khng được nghe Tin Mừng. Lời Cha thiết yếu phải khng ngừng được đặt một cch đầy đủ hơn vo tm điểm của mọi hoạt động của Hội Thnh.[135] Lời Cha khi được lắng nghe v cử hnh, trước hết trong Thnh Thể, sẽ nui dưỡng v kiện cường tm hồn cc Kit hữu, gip họ cống hiến một chứng t đch thực cho Tin Mừng trong đời sống hằng ngy. Chng ta từ lu đ vượt qua được sự đối chọi xưa kia giữa lời v b tch. Việc giảng lời sống động v hiệu quả c tc dụng chuẩn bị cho việc lnh nhận b tch, v lời đạt được hiệu quả tối đa trong b tch.

175. Việc học hỏi Kinh Thnh phải l một cnh cửa rộng mở cho mọi tn hữu.[136] Nhất thiết lời mặc khải phải triệt để lm cho việc dạy gio lý v mọi cố gắng truyền thụ đức tin của chng ta trở nn phong ph.[137] Loan bo Tin Mừng đi hỏi sự thn mật với lời Cha, n ku gọi cc gio phận, gio xứ v cc hiệp hội Cng Gio tổ chức cc cuộc học hỏi nghim tc v thường xuyn về Kinh Thnh, đồng thời khuyến khch cc c nhn v cộng đon đọc Kinh Thnh với tm tnh cầu nguyện.[138] Chng ta khng tm kiếm Thin Cha một cch m mẫm, hay chờ đợi Ngi ni với chng ta trước, bởi v Thin Cha đ ni với chng ta rồi, v khng c g chng ta cần biết m Ngi đ khng mặc khải cho chng ta.[139] Chng ta hy đn nhận kho tng siu vời ny của lời mặc khải.

 

CHƯƠNG BỐN

CHIỀU KCH X HỘI CỦA LOAN BO TIN MỪNG

 

176. Loan bo Tin Mừng l lm cho Vương Quốc Thin Cha hiện diện trong thế giới chng ta. Thế nhưng mọi định nghĩa cục bộ hay manh mn no với tham vọng diễn tả tất cả thực tại loan bo Tin Mừng trong sự phong ph, phức tạp v năng động của n đều c nguy cơ lm cho n trở nn ngho nn v thậm ch xuyn tạc n.[140] Giờ đy ti muốn chia sẻ mối quan tm của mnh về chiều kch x hội của việc loan bo Tin Mừng, chnh l v nếu chiều kch ny khng được hiểu một cch đng đắn, th lun lun c nguy cơ xuyn tạc ý nghĩa đch thực v trọn vẹn của sứ mạng loan bo Tin Mừng.

I. TC ĐỘNG CỦA LỜI RAO GIẢNG CƠ BẢN ĐỐI VỚI CỘNG ĐỒNG V X HỘI 

177. Lời rao giảng cơ bản (kerygma) c một nội dung x hội r rệt: ở tm điểm của Tin Mừng l đời sống cộng đồng v sự tham dự với những người khc. Nội dung của lời rao giảng ban đầu ny c một hệ quả đạo đức trực tiếp được qui vo đức i.

Tuyn xưng đức tin v dấn thn x hội

178. Tin vo một người Cha yu thương mọi người với một tnh yu v bin c nghĩa l nhận ra rằng qua đ Người ban cho họ một phẩm gi v hạn.[141] Tin rằng Con Thin Cha mặc lấy xc thịt nhn loại c nghĩa l mỗi con người đ được đưa vo chnh tri tim của Thin Cha. Tin rằng Đức Gisu đ đổ mu mnh ra v chng ta c nghĩa l loại bỏ mọi nghi ngờ về tnh yu v bin lm cho mỗi một người trở nn cao qu. Ơn cứu chuộc chng ta c một chiều kch x hội bởi v Thin Cha, trong Đức Kit, khng chỉ cứu chuộc từng c nhn, nhưng cn cứu chuộc cc mối tương quan x hội giữa con người với nhau.[142] Tin rằng Cha Thnh Thần hoạt động trong mỗi người c nghĩa l nhận ra rằng Người tm cch thm nhập mọi tnh huống của con người v mọi mối lin kết x hội: C thể ni, Cha Thnh Thần c một sự sng tạo v bin, thuộc tnh ring của thần tr, n biết cch tho gỡ mọi khc mắc của thế sự, cả những khc mắc phức tạp v kh lường nhất.[143] Loan bo Tin Mừng c nghĩa l hơp tc với hoạt động giải thot ny của Cha Thnh Thần. Chnh mầu nhiệm Ba Ngi nhắc nhớ chng ta rằng chng ta đ được dựng nn theo hnh ảnh sự hiệp hng thần linh ấy, v vậy chng ta khng thể hon thnh bản thn hay được cứu độ m chỉ dựa vo cố gắng của ring mnh. Từ tm điểm của Tin Mừng chng ta thấy mối lin kết su xa giữa loan bo Tin Mừng v thăng tiến con người, sự thăng tiến ny bắt buộc phải được biểu hiện v pht triển trong mọi hoạt động loan bo Tin Mừng. Chấp nhận lời rao giảng cơ bản ny—lời rao giảng mời gọi chng ta đn nhận tnh yu của Thin Cha v đp lại tnh yu ấy bằng chnh tnh yu l qu tặng của Người—sẽ tạo ra trong đời sống v hnh động của chng ta một lời đp trước tin v cơ bản: ước muốn, tm kiếm, v bảo vệ lợi ch của người khc.

170. Mối lin kết giữa việc chng ta chấp nhận sứ điệp cứu độ v tnh yu huynh đệ đch thực được thấy trong một số bản văn Kinh Thnh m chng ta cần suy gẫm để đnh gi được hết cc hệ quả của chng. Sứ điệp l ci m chng ta thường coi l hiển nhin v c thể lặp lại hầu như một cch my mc, m khng nhất thiết bảo đảm rằng n c một hiệu ứng thực sự đối với đời sống chng ta v trong cc cộng đồng của chng ta. Tnh trạng ny qu nguy hiểm, bởi n lm chng ta mất đi sự kinh ngạc, phấn khch v nhiệt tnh để sống Tin Mừng của tnh huynh đệ v cng lý! Lời Cha dạy rằng anh chị em của chng ta l sự nối di mầu nhiệm nhập thể cho mỗi người chng ta: mỗi lần cc ngươi lm như thế cho một trong những anh em b nhỏ nhất của Ta đy, l cc ngươi đ lm cho chnh Ta vậy (Mt 25:40). Cch chng ta đối xử với người khc c một chiều kch siu việt: anh em đong bằng đấu no, th Thin Cha cũng sẽ đong cho anh em bằng đấu ấy (Mt 7:2). N tương ứng với lng thương xt m Thin Cha đ tỏ cho chng ta: Anh em hy c lng nhn từ, như Cha anh em Ðấng nhn từ. Anh em đừng xt đon, th anh em sẽ khng bị Thin cha xt đon. Anh em đừng ln n, th sẽ khng bị Thin Cha ln n. Anh em hy tha thứ, th sẽ được Thin Cha thứ tha. Anh em hy cho, th sẽ được Thin Cha cho lại... V anh em đong bằng đấu no, th Thin Cha sẽ đong lại cho anh em bằng đấu ấy (Lc 6:36-38). Cc đoạn Kinh Thnh ny cho thấy r rằng ưu tin tuyệt đối của việc đi ra khỏi bản thn chng ta để đến với cc anh chị em chng ta l một trong hai giới răn lớn lm nền tảng cho mọi qui tắc lun lý v l dấu hiệu r rng nhất để nhận ra sự tăng trưởng thing ling trong việc đp lại n huệ hon ton cho khng của Thin Cha. V lý do ny, việc phục vụ bc i cũng l một yếu tố cấu thnh của sứ mạng Hội Thnh v l một biểu hiện thiết yếu của chnh sự hiện hữu của Hội Thnh.[144] Hội Thnh tự bản chất l truyền gio; Hội Thnh trn trề đức i hiệu quả v một sự cảm thng c sức thấu hiểu, gip đỡ v pht huy.

Nước Thin Cha v thch thức của n

180. Đọc Kinh Thnh cũng cho ta thấy r rằng Tin Mừng khng chỉ thuần tuý l về mối quan hệ của chng ta với Thin Cha. Chng ta cũng khng được coi lời đp yu thương của chng ta với Thin Cha như chỉ l tập hợp cc nghĩa cử nhỏ b v ring lẻ của chng ta đối với cc c nhn gặp hon cảnh kh khăn, một kiểu gọi l bc i trn giấy, hay một chuỗi cc hnh vi chỉ cốt lm cho lương tm chng ta khỏi y ny. Tin Mừng l vềNước Thin Cha (xem Lc 4:43); về yu mến Thin Cha Đấng ngự trị trong thế giới chng ta. Bao lu Người ngự trị giữa chng ta, đời sống x hội sẽ l một mi trường của tnh huynh đệ phổ qut, cng lý, ho bnh v nhn phẩm. V vậy, cả việc rao giảng v đời sống Kit gio đều phải c một ảnh hưởng trn x hội. Chng ta đang tm kiếm Nước Cha: Trước hết hy tm kiếm Nước Thin Cha v đức cng chnh của Người, cn tất cả những thứ kia, Người sẽ thm cho (Mt 6:33). Sứ mạng Đức Kit l thiết lập vương quốc của Cha Người; Ngi truyền cho cc mn đệ đi rao giảng tin vui rằng Nước Trời đ đến gần (Mt 10:7).

181. Vương quốc ny, vốn đ hiện diện v lớn ln giữa chng ta, li ko sự tham dự của chng ta trn mọi bnh diện v nhắc nhớ chng ta về nguyn tắc phn định m Đức Phaol VI p dụng cho sự pht triển đch thực: n phải hướng tới mọi người v trọn vẹn con người.[145] Chng ta biết loan bo Tin Mừng sẽ khng hon hảo nếu n khng lưu tm tới tc động qua lại lin tục của Tin Mừng v đời sống cụ thể của con người, đời sống c nhn cũng như x hội.[146] Đy l nguyn tắc về tnh phổ qut nội tại của Tin Mừng, v Cha muốn sự cứu rỗi của mọi người, nam cũng như nữ, v kế hoạch cứu độ của Người l qui tụ mun loi trong Đức Kit, mọi loi trn trời v dưới đất (Ep 1:10). Sứ mạng chng ta l đi khắp tứ phương thin hạ, loan bo Tin Mừng cho mọi loi thọ tạo (Mc 16:15), v mun loi thọ tạo những ngong ngng đợi chờ ngy Thin Cha mặc khải vinh quang của con ci Người (Rm 8:19). Ở đy, loi thọ tạo chỉ về mọi kha cạnh của đời sống con người; do đ, sứ mạng rao giảng Tin Mừng của Đức Gisu Kit c một đch đến hon vũ. Nhiệm vụ của sứ mạng ny bao gồm mọi chiều kch của đời sống, mọi lnh vực của đời sống cộng đồng, v mọi dn tộc. Khng c g của con người c thể xa lạ với n.[147] Niềm hi vọng Kit gio đch thực l tm kiếm vương quốc cnh chung, n lun lun sinh ra lịch sử.

Gio huấn của Hội Thnh về cc vấn đề x hội

182. Cc gio huấn của Hội Thnh lin quan đến cc tnh huống trần thế đều chịu sự chi phối cc sự pht triển mới v xa hơn v c thể được mở ra cho tranh luận, nhưng chng ta phải cụ thể—tuy khng qu đi vo chi tiết—nếu khng cc nguyn tắc lớn về x hội sẽ mi mi chỉ l những điều khi qut chẳng thch thức được một ai. Cần phải rt ra những kết luận thực hnh, để chng c tc động lớn đến sự phức tạp của cc tnh huống hiện hnh.[148] Cc mục tử của Hội Thnh, trong khi lưu tm tới cc đng gp của cc khoa học khc nhau, c quyền đưa ra cc ý kiến về tất cả những g ảnh hưởng đến đời sống con người, v nhiệm vụ loan bo Tin Mừng bao hm v đi hỏi sự thăng tiến ton vẹn mỗi con người. Khng cn c thể chủ trương rằng tn gio phải được hạn chế trong lnh vực tư ring v n chỉ tồn tại để chuẩn bị cc linh hồn vo thin đng. Chng ta biết Thin Cha muốn cc con ci Người được hạnh phc cả ở đời ny nữa, mặc d họ được ku gọi để hưởng sự vin mn trong ci vĩnh cửu, v Người đ tạo dựng nn mọi sự cho chng ta hưởng dng (1 Tm 6:17), cho mọi người hưởng dng. Hệ quả l sự hon cải của người Kit hữu đi hỏi phải duyệt xt lại đặc biệt những lnh vực v những kha cạnh của đời lống lin quan đến trật tự x hội v việc theo đuổi lợi ch chung.[149]

183. Do đ, khng ai c thể đi tn gio phải b gọn vo trong nội cung của đời sống c nhn, khng c ảnh hưởng g tới đời sống x hội v quốc gia, khng quan tm g tới sự lnh mạnh của cc cơ chế dn sự, khng c quyền đng gp ý kiến về cc vấn đề ảnh hưởng tới x hội. C ai dm tuyn bố kho chặt v bắt nn lặng sứ điệp của Thnh Phanxic Assisi hay Chn Phước Trxa Calcutta? Hẳn l chnh cc ngi sẽ coi đ l chuyện khng thể chấp nhận được. Một đức tin chn chinh—khng bao giờ dễ chịu hay c nhn—lun lun bao hm một ước muốn su xa l biến đổi thế giới, truyền thng cc gi trị, lm cho thế giới ny phần no tốt hơn khi ta gặp n. Chng ta yu qu hnh tinh tuyệt vời ny, nơi Thin Cha đ đặt chng ta vo, chng ta yu qu gia đnh nhn loại đang cư ngụ ở đy, với tất cả những thảm cảnh v những đấu tranh, những hi vọng v ước mơ, những yếu đuối v sức mạnh của n. Tri đất l nh chung của chng ta v tất cả chng ta l anh chị em của nhau. Nếu quả thực việc điều ho trật tự cng bằng của x hội v nh nước l một trch nhiệm chnh trị, thi Hội Thnh khng thể đứng bn lề cuộc đấu tranh cho cng lý.[150] Mọi Kit hữu, bao gồm cả cc mục tử của họ, được ku gọi by tỏ quan tm đối với việc xy dựng một thế giới tốt đẹp hơn. Đy l điều cơ bản, v tư tưởng x hội của Hội Thnh chủ yếu l tch cực: Hội Thnh cống hiến cc đề nghị, Hội Thnh hoạt động cho sự thay đổi v theo nghĩa ny Hội Thnh vạch ra niềm hi vọng pht sinh từ tri tim yu thương của Đức Gisu Kit. Đồng thời, Hội Thnh nối kết sự dấn thn của chnh mnh với sự dấn thn trong lnh vực x hội của cc Hội Thnh v cc Cộng Đồng Hội Thnh khc, d trn bnh diện suy tư về học thuyết hay bnh diện thực hnh.[151]

184. Đy khng phải lc cũng chẳng phải chỗ để xem xt chi tiết rất nhiều vấn đề x hội đang ảnh hưởng tới thế giới hm nay, v ti cũng đ đề cập đến một số vấn đề ny ở chương hai. Tng huấn ny khng phải l một văn kiện xă hội, vŕ chng ta c một cng cụ thch hợp nhất để suy tư về cc chủ đề khc nhau ấy, đ l cuốn Tot Yếu Học Thuyết X Hội của Hội Thnh Cng Gio, l văn kiện m ti nhiệt liệt khuyến khch anh chị em đọc v học hỏi. Hơn nữa, Gio Hong hay Hội Thnh khng độc quyền về việc diễn giải cc thực tại x hội hay đề nghị cc giải php cho cc vấn đề đương đại. Ở đy ti c thể lặp lại nhận định su sắc của Đức Phaol VI: Đối diện với những tnh huống thay đổi su rộng như thế, chng ta thật kh c thể pht biểu một thng điệp thống nhất v đưa ra một giải php c gi trị phổ qut. Đy khng phải l tham vọng hay sứ mạng của chng ta. Cc cộng đồng Kit c nhiệm vụ phn tch một cch khch quan tnh huống ring của quốc gia mnh.[152]

185. Dưới đy ti muốn tập trung vo hai vấn đề lớn m ti coi l rất cơ bản trong thời kỳ ny của lịch sử. Ti sẽ trnh by hai vấn đề ny đầy đủ hơn v ti tin chng sẽ định hnh tương lai của nhn loại. Vấn đề thứ nhất l sự bao gồm người ngho trong x hội, v vấn đề thứ hai l ho bnh v đối thoại x hội.

II. SỰ BAO GỒM NGƯỜI NGHO TRONG X HỘI

186. Đức tin của chng ta vo Đức Kit, Đấng đ trở nn ngho kh v lun lun gần gũi những người ngho v những người bị hất hủi, l cơ sở cho mối quan tm của chng ta đối với sự pht triển ton diện của cc thnh vin bị lng qun nhất của x hội.

Kết hiệp với Thin Cha, chng ta nghe thấy một lời ku xin 

187. Mỗi c nhn v mỗi cộng đồng Kit hữu được ku gọi trở thnh một dụng cụ của Thin Cha cho việc giải phng v thăng tiến người ngho, v gip họ l thnh vin đầy đủ của x hội. Việc ny đi chng ta phải mở lng v chăm ch lắng nghe tiếng ku của người ngho v đến cứu gip họ. Chỉ cần lướt qua Sch Thnh cũng đủ để chng ta thấy Cha nhn từ của chng ta hằng muốn lắng nghe tiếng ku của người ngho: Ta đ thấy r cảnh khổ cực của dn Ta bn Ai-cập, Ta đ nghe tiếng chng ku than v bọn cai hnh hạ. Phải, Ta biết cc nỗi đau khổ của chng. Ta xuống giải thot chng... By giờ, ngươi hy đi! Ta sai ngươi ... (Xh 3:7-8, 10). Chng ta cũng thấy Người quan tm tới cc nhu cầu của họ như thế no: Bấy giờ con ci t-ra-en ku ln Ðức Cha, Ðức Cha liền cho xuất hiện một vị cứu tinh (Tl 3:15). Nếu chng ta, những người được Cha dng để lắng nghe người ngho, m bịt tai trước tiếng ku xin ny, chng ta chống lại ý muốn v kế hoạch của Người; người ngho kia c thể sẽ ku ln Ðức Cha tố co anh (em) v anh (em) sẽ mang tội (Đnl 15:9). Thiếu tnh lin đới với cc nhu cầu của người ngho sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến mối quan hệ của chng ta với Thin Cha: Ai cay đắng trong lng m nguyền rủa con, th Ðấng tạo thnh ra n sẽ nghe lời n thỉnh nguyện (Hc 4:6). Cu hỏi xa xưa lun lun vang vọng trở lại: Nếu ai c của cải thế gian v thấy anh em mnh lm cảnh tng thiếu, m chẳng động lng thương, th lm sao tnh yu Thin Cha ở lại trong người ấy được? (1 Ga 3:17). Chng ta cũng hy nhớ lại tng đồ Giacb đ ni thẳng như thế no về tiếng ku của người bị p bức: Cc người đ gian lận m giữ lại tiền lương của những người thợ đi cắt la trong ruộng của cc người. Ka, tiền lương ấy đang ku ln on trch cc người, v tiếng ku của những thợ gặt ấy đ thấu đến tai Cha cc đạo binh (5:4).

188. Hội Thnh đ nhận ra rằng chnh nhu cầu lắng nghe tiếng ku cứu ny pht sinh từ hnh động giải thot của n sủng trong mỗi người chng ta, v v thế đy khng phải l sứ mạng chỉ dnh ring cho một số t người: Được hướng dẫn bởi Tin Mừng của lng thương xt v tnh yu thương đối với loi người, Hội Thnh nghe thấy tiếng ku đi cng lý v muốn đp lại tiếng ku ny bằng tất cả sức lực của mnh.[153] Trong bối cảnh ny chng ta c thể hiểu lệnh truyền của Đức Gisu cho cc mn đệ: Th chnh anh em hy cho họ ăn đi! (Mc 6:37): c nghĩa l lm việc để loại trừ cc cơ cấu gy nn đi ngho, đồng thời cổ vũ sự pht triển ton diện của người ngho, cũng như c những hnh vi nho nhỏ hằng ngy để đp ứng cc nhu cầu thực sự m chng ta gặp. Từ tnh lin đới đ hơi cũ v đi khi bị hiểu một cch hạn chế, nhưng n chỉ về một ci g lớn hơn l một t hnh vi quảng đại lẻ tẻ. N muốn chỉ về việc tạo ra một no trạng biết nghĩ đến cộng đồng v vị tr ưu tin của sự sống vượt ln trn việc chiếm hữu của cải bởi một số t người.

189. Tnh lin đới l một phản ứng tự nhin của những người nhận ra rằng chức năng x hội của ti sản v mục tiu phổ qut của của cải l những thực tại đi trước quyền tư hữu. Quyền tư hữu ti sản được biện minh bởi nhu cầu bảo vệ v gia tăng chng, để chng c thể phục vụ cng ch tốt hơn; v lý do ny, tnh lin đới phải được sống như l quyết định hon trả cho người ngho những g thuộc về họ. Cc xc tn v thi quen ny về tnh lin đới, khi được đem ra thục hnh, sẽ mở đường cho những biến đổi khc về cơ cấu v lm cho chng trở thnh hiện thực. Thay đổi cc cơ cấu m khng tạo ra được những niềm tin v thi độ mới th chắc chắn chỉ lm cho cc cơ cấu ấy sớm hay muộn sẽ trở thnh tham nhũng, p bức v v bổ.

190. Đi khi đy l vấn đề lắng nghe tiếng ku của cả dn tộc, những dn tộc ngho khổ nhất trn tri đất, v ho bnh khng chỉ được đặt nền trn sự tn trọng cc quyền của con người, m cn được đặt nền trn sự tn trọng cc quyền của cc dn tộc.[154] Buồn thay, ngay cả cc quyền của con người cũng bị lợi dụng để biện minh cho một sự bnh vực cc quyền của cc c nhn hay cc quyền của cc dn tộc giu c hơn. Trong khi tn trọng chủ quyền v văn ho của mỗi quốc gia, chng ta khng bao giờ được qun rằng hnh tinh ny thuộc về ton thể nhn loại v được dnh cho ton thể nhn loại; sự kiện một số dn tộc được sinh ra tại những nơi c t ti nguyn hơn hay t pht triển hơn khng biện minh cho sự kiện họ đang sống km phẩm gi hơn. Cần phải ni lại rằng những người may mắn hơn phải từ bỏ một số quyền lợi của mnh để đặt của cải của mnh một cch quảng đại hơn vo việc phục vụ người khc.[155] Để ni đng về cc quyền của mnh, chng ta cần mở rộng tầm nhn v nghe tiếng ku của cc dn tộc v cc vng khc ngoi đất nước của chnh chng ta. Chng ta cần lớn ln trong tnh lin đới để n gip mọi dn tộc trở trở thnh những người tạo nn vận mệnh của chnh mnh,[156] v mọi người được ku gọi hon thnh bản thn mnh.[157]

191. Ở mọi nơi v trong mọi hon cảnh, với sự trợ gip của cc mục tử, người Kit hữu được ku gọi nghe tiếng ku của người ngho. Điều ny đ được pht biểu một cch hng hồn bởi cc gim mục Brazil: Chng ti muốn mang lấy những niềm vui v hi vọng, những kh khăn v đau buồn của dn tộc Brazil, đặc biệt của những người đang sống tại cc vng ngoại v nng thn—những người khng ruộng đất, khng nh cửa, thiếu lương thực v sự chăm sc y tế—khiến cc quyền lợi của họ phải thiệt thi. Nhn cảnh ngho khổ của họ, nghe những tiếng ku của họ v biết những đau khổ của họ, chng ti cảm thấy nhức nhối v biết rằng c đủ lương thực cho mọi người v nạn đi l kết quả của một sự phn phối của cải v thu nhập thấp km. Vấn đề cn tồi tệ hơn nữa v tnh trạng ph phạm trn lan.[158]

192. Nhưng chng ta cn ước ao nhiều hơn thế; ước mơ của chng ta bay cao hơn. Chng ta khng chỉ đang ni về việc bảo đảm dinh dưỡng hay một điều kiện sinh sống xứng đng cho mọi người, m cả hạnh phc v sự thịnh vượng vật chất chung của họ.[159] Điều ny c nghĩa l được hưởng một nền gio dục, chăm sc y tế, v trn hết l việc lm, v chnh nhờ lao động tự do, sng tạo, tham gia v nng đỡ lẫn nhau m con người biểu hiện v nng cao phẩm gi cuộc sống của họ. Một mức lương cng bằng sẽ gip họ tiếp cận một cch thoả đng mọi mn hng khc để sử dụng trong đời sống bnh thường.

Trung thnh với Tin Mừng, kẻo chng ta ngược xui v ch

193. Chng ta hiện thực ho bổn phận nghe tiếng ku của người ngho khi chng ta mủi lng trước cảnh đau khổ của người khc. Chng ta hy nghe lời Cha dạy chng ta như thế no về lng thương người, v để cho lời ấy vang dội trong đời sống Hội Thnh. Tin Mừng ni với chng ta: Phc thay ai xt thương người, v họ sẽ được Thin Cha xt thương (Mt 5:7). Thnh tng đồ Giacb dạy rằng lng thương người sẽ biện hộ cho chng ta trong ngy Cha phn xt: Anh em hy ni năng v hnh động như những người sẽ bị xt xử theo luật tự do. V Thin Cha khng thương xt khi xt xử kẻ khng biết thương xt. Cn ai thương xt, th chẳng quan tm đến việc xt xử (Gc 2:12-13). Ở đy Thnh Giacb trung thnh với truyền thống tinh tế nhất của linh đạo Do Thi sau thời lưu đy, l linh đạo gn cho lng thương xt một gi trị đặc biệt: Hy gỡ bỏ cc tội lỗi mnh bằng thực thi cng chnh, gỡ bỏ cc điều gian c bằng cch tỏ lng thương xt với những người bị p bức, để may ra c thể ko di thời an bnh của đức vua (Đn 4:27 [4:24]). Cc sch thuộc thể loại khn ngoan quan niệm việc bố th l một cch thực thi cụ thể lng thương xt đối với những người ngho: Việc bố th cứu cho khỏi chết v tẩy sạch mọi tội lỗi (Tb 12:9). Ý tưởng ny thậm ch được sch Huấn Ca diễn tả giu hnh ảnh hơn nữa: Nước dập tắt lửa hồng, bố th đền b tội lỗi (Hc 3:30). Tn Ước cũng c cng một tổng hợp: Anh em hy yu thương nhau nồng nn, v lng yu thương che phủ mun vn tội lỗi (1 P 4:8). Chn lý ny đ ảnh hưởng su đậm đến cc Gio Phụ v gip tạo nn một sự phản khng mang tnh tin tri v khng văn ho chống lại chủ nghĩa hưởng thụ ch kỷ của ngoại gio. Chng ta c thể đơn cử một v dụ: Nếu chng ta gặp nguy hiểm v lửa, chắc chắn chng ta sẽ chạy đi lấy nước để dập tắt lửa... cũng vậy, nếu một tia lửa tội lỗi bng ln từ đống rơm của chng ta lm chng ta gặp rắc rối, th khi c cơ hội để thực thi một việc thương người, chng ta phải vui mừng như thể đang c trước mặt một suối nước để c thể dập tắt lửa.[160]

194. Thng điệp ny qu r rng v trực tiếp, qu đơn sơ v hng hồn, nn khng một lối ch giải no của Hội Thnh c quyền tương đối ho n. Suy tư của Hội Thnh về cc bản văn ny khng được che khuất hay lm yếu đi sức mạnh của n, nhưng thi thc chng ta đn nhận những lời khuyn ny một cch can đảm v nhiệt tnh. Tại sao lại phải lm cho một điều đơn sơ trở thnh phức tạp? Cc khi niệm l những cng cụ để tăng cường sự tiếp xc với cc thực tại chứ khng phải để lm chng ta xa thực tại. Điều ny đặc biệt đng với những lời khuyn của Kinh Thnh ku gọi chng ta một cch mạnh mẽ về tnh yu thương huynh đệ, về việc phục vụ khim tốn v quảng đại, về cng bằng v lng thương xt đối với người ngho. Đức Gisu dạy chng ta cch nhn ny về người khc bằng chnh những lời ni v hnh động của Ngi. Vậy cớ g lại phải lm cho một điều đ qu r trở nn kh hiểu? Chng ta khng được chỉ quan tm trnh rơi vo những sai lạc về gio thuyết, m cn phải lo sao để trung thnh với con đường sự sống v sự khn ngoan chứa chan nh sng ny. V những người bnh vực sự chnh thống của học thuyết đi khi bị tố co l thụ động, bao dung, hay đồng lo lin quan đến những tnh huống bất cng khng thể dung thứ v cc thể chế chnh trị nui dưỡng chng.[161]

195. Khi Thnh Phaol ln Girusalem gặp cc tng đồ tại để xc định r liệu ngi đang ngược xui hay đ ngược xui v ch (Gl 2:2), th tiu ch cc ngi nu ra để đnh gi tnh xc thực l ngi khng được bỏ qun người ngho (xem Gl 2:10). Nguyn tắc quan trọng ny—nghĩa l cc cộng đon của Phaol khng được rơi vo lối sống vị kỷ của người ngoại gio—vẫn cn mang tnh thời sự hm nay, khi m lối sống vị kỷ của một thứ ngoại gio mới đang gia tăng. C thể chng ta khng lun lun suy tư đầy đủ được về vẻ đẹp của Tin Mừng, nhưng c một dấu hiệu m chng ta khng bao giờ được thiếu: chọn lựa v những người hn mọn nhất, những người bị x hội loại trừ.

196. Đi khi lng tr chng ta ra chai đ; chng ta dễ qun, dễ phn tm v bị li đi bởi những khả năng tiu thụ v giải tr v giới hạn do x hội ngy nay cung cấp. Tnh trạng ny dẫn tới một sự tha ho về mọi phương diện, v một x hội bị tha ho khi cc hnh thức tổ chức x hội, sản xuất v tiu thụ của n lm cho người ta kh trao hiến bản thn mnh v thiết lập tnh lin đới giữa những con người với nhau.[162]

Vị tr đặc biệt của người ngho trong dn của Thin Cha

197. Trong tri tim của Thin Cha c mt chỗ đặc biệt cho người ngho, v chnh Thin Cha đ trở nn ngho kh (2 Cr 8:9). Ton thể lịch sử cứu ðộ ðýợc ðnh dấu bởi sự hiện diện của ngýời ngho. n cứu ðộ ðến với chng ta qua lời thýa xin vng thốt ra từ một thiếu nữ ngho hn xuất thn từ một lng nhỏ ở ngoi ra một đế quốc vĩ đại. Đấng Cứu Thế sinh ra trong một mng cỏ, giữa đn sc vật, giống như bao trẻ em của cc gia đnh ngho; Ngi được dng trong Đền Thờ với một cặp bồ cu non, l loại lễ vật của những người khng c khả năng mua một con chin con (xem Lc 2:24; Lv 5:7); Ngi được nui dạy trong một gia đnh lao động bnh thường kiếm sống bằng bn tay lao động của mnh. Khi Ngi bắt đầu rao giảng Nước Thin Cha, đm đng dn chng ngho hn đi theo Ngi, minh hoạ cho lời tuyn bố của Ngi: Thần Kh Cha ngự trn ti, v Cha đ xức dầu tấn phong ti, để ti loan bo Tin Mừng cho kẻ ngho hn (Lc 4:18). Ngi quả quyết với những người trĩu nặng buồn phiền v bị đ nặng bởi cảnh ngho kh rằng Thin Cha c một chỗ đặc biệt cho họ trong tri tim Người: Phc cho anh em l những kẻ ngho kh, v Nước Thin Cha l của anh em (Lc 6:20); Ngi đồng ho mnh với họ: Ta đi, cc ngươi đ cho ăn, v Ngi dạy họ rằng lng thương xt đối với những người ny l cha kho để vo nước trời (xem Mt 25:5tt.).

198. Đối với Hội Thnh, lựa chọn người ngho l một phạm tr chủ yếu thần học hơn l một phạm tr x hội học, chnh trị hay triết học. Thin Cha tỏ lng thương xt của Người trước tin cho những người ngho.[163] Sự ưu i ny của Thin Cha c những hệ quả cho đời sống đức tin của người Kit hữu, v chng ta được ku gọi để c tm tnh như Cha Gisu Kit (Pl 2:5). Được gợi hứng bởi điều ny, Hội Thnh đ c sự chọn lựa v người ngho, được hiểu như l một hnh thức đặc biệt của vị tr hng đầu trong việc thực thi bc i Kit gio m ton thể truyền thống của Hội Thnh lun lm chứng.[164] Sự chọn lựa ny—như Đức Bnđict dạy—hm ẩn trong đức tin Kit gio của chng ta vo một vị Thin Cha đ trở nn ngho kh v chng ta, để chng ta trở nn giu c với sự ngho kh của Người.[165] Đy l lý do tại sao ti muốn một Hội Thnh ngho v cho người ngho. Họ c nhiều điều để dạy chng ta. Khng những họ tham dự vo cảm thức đức tin (sensus fidei), nhưng nhưng giữa những kh khăn họ biết Đức Kit chịu đau khổ. Chng ta cần phải để mnh được phc m ho bởi họ. Tn phc m ho l một lời mời gọi nhn nhận quyền năng cứu độ đang hoạt động trong đời sống của họ v đặt n vo tm điểm cuộc lữ hnh của Hội Thnh. Chng ta được ku gọi tm thấy Đức Kit nơi họ, ln tiếng bnh vực mục đch của họ, nhưng đồng thời cũng l bạn của họ, nghe họ, ni với họ v m ấp sự khn ngoan mầu nhiệm m Thin Cha muốn chia sẻ với chng ta thng qua họ.

199. Sự dấn thn của chng ta khng chỉ duy nhất hệ tại cc hoạt động hay chương trnh thăng tiến v cứu gip; ci m Cha Thnh Thần huy động khng phải l một thi độ hiếu hoạt v trật tự, nhưng trn hết l một sự ch tm coi người khc hầu như l một với chng ta.[166] Sự ch tm yu thương ny l khởi đầu cho một sự quan tm thực sự đối với nhn vị của họ, thc đẩy chng ta hoạt động để mưu cầu lợi ch cho họ. Điều ny đi hỏi sự trn trọng người ngho trong lng tốt của họ, kinh nghiệm cuộc đời của họ, văn ho của họ, v cch họ sống đức tin. Tnh yu đch thực lun lun suy gẫm v cho php chng ta phục vụ người khc khng phải v nhu cầu hay để ph trương, nhưng đng hơn v họ đẹp vượt trn dng vẻ bề ngoi của họ: Tnh yu lm chng ta thấy người khc dễ thương khiến chng ta tự ý trao tặng họ một điều g đ.[167] Khi được yu, người ngho được qu chuộng như một gi trị lớn,[168] v đy chnh l điều lm cho chọn lựa đch thực v người ngho khc với mọi ý thức hệ khc, khc với mọi cố gắng bc lột người ngho v lợi ch c nhn hay chnh trị. Chỉ trn cơ sở của sự gần gũi thực sự v chn thnh ny, chng ta mới c thể đồng hnh với người ngho trn con đường giải phng của họ. Chỉ c sự gần gũi ny mới bảo đảm rằng trong mỗi cộng đồng Kit gio, người ngho cảm thấy như ở nh mnh. Đy chẳng phải l phương php quan trọng v hiệu quả nhất để loan bo tin mừng về Nước Thin Cha sao?[169] Nếu khng c sự lựa chọn ưu tin v người ngho, việc rao giảng Tin Mừng, tự n l hnh thức cơ bản của đức i, sẽ c nguy cơ bị ngộ nhận hay bị nhấn chm bởi đại dương những lời ni hằng ngy nuốt trửng chng ta trong ci x hội truyền thng hm nay.[170]

200. V Tng Huấn ny ni với cc thnh vin Hội Thnh Cng Gio, ti muốn ni với lng đau buồn rằng sự kỳ thị tồi tệ nhất m người ngho phải chịu l thiếu chăm sc thing ling. Đa số người ngho c một sự mở lng đặc biệt với đức tin; họ cần Thin Cha v chng ta khng thể khng cống hiến cho họ tnh bạn, sự chc lnh, lời ni, việc cử hnh cc b tch v một hnh trnh lớn ln v trưởng thnh trong đức tin. Chọn lựa ưu tin của chng ta v người ngho phải chủ yếu trở thnh một sự chăm sc tn gio đặc biệt v ưu tin cho họ.

201. Khng ai được ni mnh khng thể gần gũi người ngho v nếp sống của mnh đi hỏi phải ch ý tới những lnh vực khc. Đy l một lời bao biện thường nghe thấy trong cc giới học thuật, doanh nghiệp hay chuyn mn, thậm ch cả trong giới gio sĩ. Tuy đng l ơn gọi cơ bản của người tn hữu gio dn l cố gắng lm cho cc thực tại trần thế v mọi hoạt động nhn loại được biến đổi bởi Tin Mừng,[171] nhưng khng một ai trong chng ta được miễn khỏi sự quan tm tới người ngho v cng bằng x hội: Sự hon cải thing ling, tnh yu su đậm với Thin Cha v tha nhn, nhiệt tnh đối với cng lý v ho bnh, ý nghĩa Tin Mừng của người ngho v cảnh ngho, l những điều đi hỏi mọi người.[172] Ti e rằng chnh những lời ny cũng c thể khơi dậy những lời bnh phẩm hay tranh luận m khng thực sự đem lại hiệu quả thực hnh no. Ni vậy, nhưng ti tin vo sự cởi mở của mọi Kit hữu, v ti xin anh chị em, với tư cch một cộng đồng, tm ra những cch thức sng tạo để chấp nhận lời ku gọi canh tn ny.

Kinh tế v sự phn phối nguồn thu nhập

202. Nhu cầu giải quyết cc nguyn nhn của ngho kh khng thể bị tr hon, khng chỉ v lý do thực dụng l sự cấp bch của n đối với trật tự tốt đẹp của x hội, m cn v x hội cần được chữa khỏi căn bệnh đang lm n suy yếu v thất bại v chỉ c thể dẫn tới những khủng hoảng mới. Cc chương trnh an sinh x hội đp ứng được một số nhu cầu khẩn cấp, nhưng chỉ được coi l những giải php tạm thời. Chừng no m cc vấn đề của người ngho khng được giải quyết triệt để bằng cch loại bỏ tnh tự trị tuyệt đối của cc thị trường v nạn đầu cơ ti chnh cũng như bằng cch tấn cng vo cc nguyn nhn của cơ cấu bất bnh đẳng,[173] th khng một giải php no c thể được tm thấy cho cc vấn đề của thế giới, hay cho bất cứ vấn đề no trong lnh vực ny. Bất bnh đẳng l cội rễ của mọi tệ nạn x hội.

203. Phẩm gi của mỗi con người v sự mưu cầu lợi ch chung l những mối quan tm phải định hnh mọi chnh sch kinh tế. Tuy nhin c khi chng chỉ l những thm thắt từ bn ngoi để b đắp cho một lý thuyết chnh trị thiếu tầm nhn hay thiếu kế hoạch cho một sự pht triển ton diện. Biết bao nhiu từ gy kh chịu cho hệ thống ny! Kh chịu khi vấn đề đạo đức được nu ln, khi tnh lin đới ton cầu được khơi dậy, khi sự phn phối của cải được nhắc đến, khi c m chỉ về một vị Thin Cha đi hỏi sự dấn thn cho cng lý. Khi khc, cc vấn đề ny bị khai thc bởi một hnh thức tu từ lm cho chng trở nn rẻ mạt. Thỉnh thoảng sự dửng dưng trước những vấn đề như thế lm cho cuộc đời chng ta trở nn trống rỗng v cc lời ni của chng ta mất hết ý nghĩa. Kinh doanh l một ơn gọi, một ơn gọi cao qu, miễn l những người tham gia kinh doanh thấy mnh được thch thức bởi một ý nghĩa lớn hơn trong cuộc sống; n sẽ gip họ thực sự phục vụ cng ch bằng cch cố gắng lm gia tăng của cải cho thế giới ny v lm cho mọi người c thể c nhiều của cải hơn.

204. Chng ta khng cn c thể tin vo những lực lượng giấu mặt v bn tay v hnh của thị trường. Gia tăng sự cng bằng đi hỏi một ci g lớn hơn l tăng trưởng kinh tế, trong khi vẫn nhn nhận sự tăng trưởng ny: n đi hỏi những quyết định, chương trnh, cơ chế vận hnh v cc qui trnh được thiết kế chuyn biệt để c một sự phn phối thu nhập tốt hơn, tạo ra cc nguồn lực về việc lm v một sự thăng tiến ton diện người ngho, một sự thăng tiến vượt ln trn no trạng thuần tuý an sinh. Ti hon ton khng chủ trương một thứ chủ nghĩa dn tuý v trch nhiệm, nhýng nền kinh tế khng cn c thể cậy dựa vo những liều thuốc m thực ra l những bi thuốc độc mới, như tm cch tăng lợi nhuận bằng việc giảm lực lượng lao động khiến thnh phần những người bị loại trừ tăng ln.

205. Ti cầu xin Thin Cha ban cho chng ta nhiều chnh trị gia c khả năng đối thoại chn thnh v hiệu quả nhằm chữa lnh những cội rễ su nhất—chứ khng chỉ những hiện tượng—của những sự dữ trong thế giới chng ta! Chnh trị, d thường bị ch bai, vẫn l một ơn gọi cao cả v một trong những hnh thức cao qu nhất của bc i, khi n tm kiếm lợi ch chung.[174] Chng ta cần xc tn rằng bc i l nguyn tắc khng chỉ của cc mối quan hệ vi m (với bạn b, với cc thnh vin trong gia đnh hay trong cc nhm nhỏ), m cn l nguyn tắc của cc mối quan hệ vĩ m (cc quan hệ x hội, kinh tế v chnh trị).[175] Ti cầu xin Cha cho chng ta nhiều chnh trị gia biết thực lng lo u trước tnh trạng của x hội, dn chng, v cuộc sống của những người ngho! Điều cốt tử l cc lnh đạo chnh quyền v cc lnh đạo ti chnh biết lắng nghe v mở rộng tầm nhn của mnh, lm việc để bảo đảm mọi cng dn c cng ăn việc lm, sự gio dục v chăm sc sức khoẻ xứng đng. Sao chng ta khng chạy đến với Thin Cha để xin Người soi sng cho cc kế hoạch của họ? Ti hon ton tin chắc rằng sự mở lng với Đấng Siu Việt c thể đem lại một no trạng mới về chnh trị v kinh tế c khả năng ph đổ bức tường ngăn cch giữa kinh tế v lợi ch chung của x hội.

206. Kinh tế, như chnh từ ny diễn tả, phải l nghệ thuật để đạt được một sự quản lý thch hợp cho ngi nh chung của chng ta, nghĩa l cho thế giới xt như một ton thể. Mỗi một quyết định c ý nghĩa về kinh tế được thực hiện tại một vng trn thế giới c tc động tại mọi nơi khc; do đ, khng một chnh quyền no c thể hnh động m khng quan tm tới trch nhiệm chung. Thực vậy, ngy cng kh tm ra những giải php địa phương cho những vấn đề to lớn ton cầu phủ ln cc nền kinh tế địa phương đang gặp những vấn đề kh giải quyết. Nếu chng ta thực sự muốn đạt được một nền kinh tế ton cầu vững mạnh, điều cần ở giao điểm ny của lịch sử l một cch thức tương tc hữu hiệu hơn, trong khi tn trọng chủ quyền của mỗi quốc gia, n bảo đảm sự thịnh vượng kinh tế của tất cả cc nước, chứ khng chỉ của một số t.

207. Bất cứ cộng đồng Kit gio nếu nghĩ rằng mnh c thể ung dung đi theo con đường ring của mnh m khng c sự hợp tc sng tạo v hiệu quả trong việc gip người ngho sống hợp với nhn phẩm, v khng vượt ra khỏi bản thn mnh để đến với người khc, cộng đồng ấy c nguy cơ bị đổ vỡ, cho d n c thể ni về cc vấn đề x hội hay chỉ trch chnh phủ. N sẽ dễ rơi vo thi độ thế tục thing ling được che đậy bởi những việc thực hnh tn gio, những cuộc gặp gỡ v bổ v những lời ni rỗng tuếch.

208. Nếu c ai bị xc phạm bởi những lời ti ni, ti muốn trả lời rằng ti ni với họ với lng yu mến v thiện ý, khng hề v một cht tư lợi hay ý hệ chnh trị no cả. Những lời ti ni khng phải của một kẻ th hay đối thủ. Ti chỉ muốn gip những ai đang bị lệ thuộc vo no trạng c nhn chủ nghĩa, dửng dưng v vị kỷ, để họ c thể thot khỏi những sợi dy tri buộc khng đng c v đạt được một cch sống v tư duy nhn đạo hơn, cao thượng v hiệu quả hơn, đem lại phẩm gi cho sự hiện diện của họ trn mặt đất ny.

Quan tm tới thnh phần dễ tổn thương

209. L người rao giảng Tin Mừng tuyệt hảo v l hiện thn của Tin Mừng, Đức Gisu đặc biệt tự đồng ho mnh với những người hn mọn (xem Mt 25:40). Sự kiện ny nhắc nhớ người Kit hữu chng ta rằng chng ta được ku gọi chăm sc những người dễ bị tổn thương trn thế giới ny. Nhưng m hnh hiện nay, với sự nhấn mạnh vo thnh cng v sự tự lực, xem ra khng thuận lợi cho việc đầu tư vo cc nỗ lực cứu gip những người thấp hn, yếu đuối hay t khả năng để họ c thể tm ra những cơ hội trong cuộc sống.

210. Điều cơ bản l phải tiếp cận cc hnh thức mới của tnh trạng ngho kh v dễ tổn thương m chng ta được ku gọi đi vo để nhận ra Đức Kit chịu đau khổ, cả khi việc ny c vẻ như khng mang lại cho chng ta lợi ch cụ thể v tức thời no. Ti nghĩ đến những người v gia cư, những người nghiện ngập, những người tỵ nạn, những dn tộc bản địa, những người gi đang ngy cng bị c lập v bỏ rơi, m nhiều thnh phần khc. Thnh phần di dn l một thch thức đặc biệt đối với ti, v ti l mục tử của một Gio Hội khng bin giới, một Gio Hội coi mnh l mẹ cho mọi người. V lý do ny, ti khuyến khch tất cả cc nước hy quảng đại mở cửa, v thay v sợ mất đi bản sắc địa phương của mnh, họ sẽ c khả năng tạo ra những hnh thức tổng hợp văn ho mới. Đẹp biết bao những thnh phố vượt qua được thi độ nghi kỵ t cứng của mnh để đn nhận những người khc với mnh v lm cho sự hội nhập ny trở thnh một nhn tố pht triển mới! Hấp dẫn biết bao những thnh phố m, ngay cả trong thiết kế kiến trc của họ, c đầy những khng gian để nối kết, lin hệ v tạo thuận lợi cho sự nhn nhận người khc!

211. Ti lun lun đau buồn trước số phận của nhiều người l nạn nhn của cc kiểu bun người khc nhau. Ước g tất cả chng ta nghe được tiếng ku của Thin Cha: Em ngươi đu? (St 4:9). Anh em chị em ngươi bị n lệ đang ở đu? Anh chị em người đang bị giết mỗi ngy nơi những nh kho hng lậu, nơi những ổ gi điếm, nơi nhữ trẻ em bị bắt đi ăn xin, nơi việc bc lột sức lao động khng c giấy tờ g. Chng ta đừng nhn cch khc. C một sự đồng lo nghim trọng hơn chng ta tưởng. Vấn đề lin quan đến mọi người! Mạng lưới tội phạm gh tởm by giờ đ được thiết lập hẳn hoi tại cc thnh phố của chng ta, v tay nhiều người đ vấy mu do hậu quả của sự đồng lo trong thi độ ung dung v im lặng của họ.

212. Ngho gấp đi l những phụ nữ đang phải sống trong hon cảnh bị loại trừ, đối xử tệ hại v bạo lực, v họ thường c t khả năng bảo vệ quyền lợi của họ. D vậy chng ta khng ngừng chứng kiến giữa họ những tấm gương anh hng hằng ngy trong việc bảo vệ v bnh vực cc gia đnh dễ thương tổn của họ.

213. Trong số những thnh phần dễ tổn thương m Hội Thnh muốn chăm sc bằng t́nh thương v quan tm đặc biệt l những thai nhi, những đứa trẻ v phương tự vệ v v tội nhất trong chng ta. Ngy nay người ta đang cố phủ nhận nhn phẩm của cc thai nhi v lm bất cứ điều g họ thch về chng, cướp mất mạng sống của chng v ra cc đạo luật chống lại bất cứ ai cản đường họ. Rất thường xuyn, để nhạo bng nỗ lực của Hội Thnh nhằm bảo vệ mạng sống cc thai nhi, người ta ra sức m tả lập trường của Hội Thnh như l ý thức hệ, ngu dn v bảo thủ. Nhưng việc bảo vệ sự sống chưa được sinh ra ny lin hệ mật thiết với việc bảo vệ tất cả cc quyền khc của con người. N bao hm niềm tin rằng một con người lun lun l thnh thing v bất khả xm phạm, trong mọi hon cảnh v mọi giai đoạn pht triển của n. Con người tự n l mục đch chứ khng bao giờ l phương tiện để giải quyết cc vấn đề khc. Một khi mất niềm tin ny, th cũng mất cc nền tảng vững chắc v lu bền của việc bảo vệ quyền con người, v khi ấy tất cả sẽ lệ thuộc ý thch tuỳ tiện của cc thế lực nắm quyền. Một mnh lý tr cũng đủ để nhn nhận gi trị bất khả xm phạm của mỗi mạng người, nhưng nếu chng ta cũng nhn vấn đề từ quan điểm đức tin, mọi vi phạm nhn phẩm của c nhn đi sự bo on của Thin Cha v l một sự xc phạm đối với Đấng dựng nn mỗi c nhn.[176]

214. Chnh v điều ny bao hm sự nhất qun nội tại của sứ điệp của chng ta về gi trị của nhn vị, khng thể no mong đợi Hội Thnh thay đổi lập trường của mnh về vấn đề ny. Ti muốn hon ton thnh thật trong vấn đề ny. Đy khng phải một ci g phụ thuộc vo những kiểu được cho l cải cch hay hiện đại ho. Tm cch giải quyết cc vấn ðề bằng việc loại trừ sự sống con ngýời th khng phải l tiến bộ. Mặt khc, cũng đng l chng ta đ lm qu t để hỗ trợ thoả đng cc phụ nữ trong cc tnh huống rất kh khăn, khi m việc ph thai được xem l giải php nhanh cho mối lo lắng su xa của họ, đặc biệt khi sự sống đang pht triển bn trong họ l kết quả của hnh vi cưỡng hiếp hay một hon cảnh ngho kh tột cng. Ai c thể điềm nhin trước những tnh huống đau đớn ny?

215. C những tạo vật yếu đuối v v phương tự vệ khc thường xuyn phải lm n lệ cho những lợi lộc kinh tế v sự bc lột bừa bi. Ti đang ni đến ton thể tạo thnh. Loi người chng ta khng chỉ l những người được thụ hưởng nhưng cn l những người quản lý cc tạo vật khc. Nhờ chng ta c thn xc, Thin Cha đ kết hợp chng ta qu mật thiết với thế giới xung quanh khiến chng ta cảm thấy tnh trạng sa mạc ho đất đai gần như l một căn bệnh nơi thn xc chng ta, v sự tuyệt chủng của một loi như l một sự biến dạng đau đớn. Chng ta đừng để lại sau mnh vết tch của sự tn ph v chết chc sẽ ảnh hưởng tới đời sống của chnh chng ta v của cc thế hệ tương lai.[177] Ở đy ti muốn lấy lại lm của mnh lời than thở đầy cảm động v c tnh tin tri m cc gim mục Philppin đ thốt ln t năm trước đy: Một số lượng nhiều v kể cc loi cn trng sinh sống trong rừng v bận bịu với đủ loại cng việc... Cc loi chim bay trn trời, cc bộ lng sặc sỡ cng với tiếng ht lu lo của chng tạo thm mu sắc v tiếng ca cho những cnh rừng xanh... Thin Cha muốn dnh mảnh đất ny cho chng ta, những tạo vật đặc biệt của Người, nhưng khng phải để chng ta huỷ diệt n v biến n thnh một mảnh đất hoang... Chỉ sau một đm mưa, thử nhn xuống những dng sng nu xạm mu scla tại địa phương của chng ta v nhớ rằng chng đang mang mu sự sống ra biển... Lm sao c c thể bơi lội trong những dng nước thải như con sng Pasig v biết bao nhiu con sng khc m chng ta đ lm nhiễm? Ai đ biến ci thế giới kỳ diệu của biển cả thnh những nghĩa trang dưới nước khng mu sắc v khng sự sống?[178]

216. L những tạo vật b nhỏ nhưng mạnh mẽ trong tnh yu Thin Cha giống như Thnh Phanxic, mọi người Kit hữu chng ta được ku gọi canh chừng v bảo vệ ci thế giới mong manh m chng ta đang sống, cng với tất cả dn cư của n.

 

III. CNG CH V HO BNH TRONG X HỘI

217. Chng ta đ ni nhiều về niềm vui v tnh yu, nhưng lời Cha cũng ni về những hoa quả của ho bnh (xem Gl 5:22).

218. Ho bnh trong x hội khng thể được hiểu như l sự bnh định hay vắng bng bạo lực do sự thống trị của một bộ phận x hội trn cc bộ phận khc. Ho bnh thực cũng khng phải l ci cớ để biện minh cho một cơ cấu x hội lm cho người ngho phải cm miệng hay chịu cam phận, để cho những kẻ giu c hơn c thể ung dung hưởng thụ nếp sống của họ đang khi những người khc phải cố sống được thế no hay thế ấy. Những đi hỏi về sự phn phối của cải, sự quan tm tới người ngho v cc quyền con người khng thể được dập tắt bằng ci vỏ bọc tạo ra một sự đồng thuận trn giấy tờ hay một thứ ho bnh tạm bợ cho một thiểu số mn nguyện. Phẩm gi con người v cng ch giữ vị tr cao hơn sự tiện nghi của những người khng chấp nhận từ bỏ những đặc quyền của mnh. Khi những gi trị ny bị đe doạ, cần phải ging ln một tiếng ni tin tri.

219. Ho bnh cũng khng phải chỉ l khng c chiến tranh, dựa trn một thế cn bằng lực lượng bấp bnh; ho bnh được hnh thnh bởi những cố gắng hằng ngy nhằm thiết lập một vũ trụ c trật tự theo ý muốn của Thin Cha, với một nền cng lý hon hảo hơn giữa những con người.[179] Sau cng, một nền ho bnh m khng phải l kết quả của sự pht triển ton diện th sẽ đi đến thất bại; n sẽ lun lun sinh ra những xung đột mới v những hnh thức bạo lực mới.

220. Người dn tại mọi quốc gia pht huy chiều kch x hội của cuộc sống họ bằng cch hnh động như những cng dn dấn thn v c trch nhiệm, chứ khng phải như một đm đng đu đưa theo bất cứ thế lực no. Chng ta khng được qun rằng tư cch cng dn c trch nhiệm l một nhn đức, v sự tham gia đời sống chnh trị l một bổn phận đạo đức.[180] Nhưng trở thnh một dn tộc đi hỏi nhiều hơn thế. N l một tiến trnh thường xuyn trong đ mỗi thế hệ mới phải tham gia: một cố gắng chậm chạp v vất vả đi hỏi một ước muốn ho nhập v một sự sẵn sng đạt được điều ny qua sự pht triển một nền văn ho của sự gặp gỡ trong ho bnh v đa dạng.

221. Sự tiến bộ trong việc xy dựng một dn tộc trong ho bnh, cng bằng v huynh đệ tuỳ thuộc bốn nguyn tắc lin quan tới cc mối căng thẳng thường xuyn hiện hữu trong mọi thực tại x hội. Cc nguyn tắc ny bắt nguồn từ cc cột trụ của học thuyết x hội của Hội Thnh, được dng như những thng số tham khảo hng đầu v cơ bản để giải thch v đnh gi cc hiện tượng x hội.[181] Trong nh sng ny, by giờ ti muốn nu ln bốn nguyn tắc cụ thể ny để hướng dẫn sự pht triển của đời sống trong x hội v xy dựng một dn tộc m ở đ cc khc biệt được trở nn ho hợp trong một cố gắng chung. Ti lm điều ny với niềm tin rằng việc p dụng chng c thể l một con đường đng đắn dẫn tới ho bnh trong mỗi quốc gia v trong ton thế giới.

Thời gian lớn hơn khng gian

222. C một sự căng thẳng thường xuyn giữa sự vin mn v sự giới hạn. Vin mn gợi ra ước muốn chiếm hữu hon ton, trong khi giới hạn l một bức tường chắn trước mặt chng ta. Hiểu theo nghĩa rộng, thời gian chỉ về sự vin mn như l biểu thị của chn trời khng ngừng rộng mở trước mặt chng ta, trong khi từng khoảnh khắc chỉ về sự giới hạn như l biểu thị của trạng thi đng kn. Người ta sống trong tnh trạng căng thẳng giữa từng khoảnh khắc v ci chn trời lớn hơn, sng hơn của một tương lai khng tưởng như l mục đch cuối cng li ko chng ta tới. Ở đy chng ta c một nguyn tắc đầu tin cho sự tiến bộ trong việc xy dựng một dn tộc: thời gian lớn hơn khng gian.

223. Nguyn tắc ny gip chng ta hoạt động từ từ nhưng chắc chắn, khng bị m ảnh bởi những kết quả tức th. N gip chng ta kin nhẫn chịu đựng những kh khăn v nghịch cảnh, hay những thay đổi khng trnh khỏi trong cc kế hoạch của mnh. N mời gọi chng ta chấp nhận sự căng thẳng giữa sự vin mn v sự giới hạn, v dnh ưu tin cho thời gian. Một trong cc khuyết điểm chng ta thường gặp trong hoạt động chnh trị-x hội l người ta thch khng gian v quyền lực hơn thời gian v cc qui trnh. Dnh ưu tin cho khng gian c nghĩa l đin cuồng tm cch nu ko tất cả trong hiện tại, cố gắng chiếm hữu tất cả cc khng gian của quyền lực v sự tự khẳng định mnh; l c đọng cc qui trnh v cố nu ko chng. Dnh ưu tin cho thời gian c nghĩa l quan tm tới việc khởi động cc qui trnh hơn l chiếm hữu khng gian. Thời gian điều khiển cc khng gian, soi sng chng v biến chng thnh những mắt xch trong một chuỗi xch ko di, khng c khả năng quay ngược trở lại. V vậy ci chng ta cần l dnh ưu tin cho cc hnh động pht sinh cc qui trnh mới trong x hội v li ko sự tham gia của những người khc v những nhm khc, những người c thể pht triển chng tới chỗ chng sinh hoa kết quả trong cc biến cố lịch sử quan trọng. Khng lo u, nhưng đầy những xc tn r rng v sự bền bỉ.

224. Thỉnh thoảng ti tự hỏi liệu c ai trong thế giới hm nay thực sự quan tm tới việc tạo ra cc qui trnh xy dựng con người, thay v muốn đạt được những kết quả tức th đem lại những lợi lộc chnh trị nhanh v ngắn hạn, m khng pht triển sự sung mn của con người. C lẽ lịch sử sẽ phn xt hạng người thứ hai ny với tiu ch được đề ra bởi Romano Guardini: Thước đo duy nhất để đnh gi đng một thời đại l hỏi xem n c nui dưỡng sự pht triển v thnh đạt của một cuộc sống con người sung mn v thực sự c ý nghĩa, ph hợp với nt đặc trưng v cc khả năng của thời đại ấy.[182]

225. Tiu ch ny cũng được p dụng cho việc loan bo Tin Mừng, l cng việc đi phải ch ý tới bức tranh lớn, mở ra cho cc qui trnh thch hợp v quan tm tới di hạn. Chnh Cha Gisu trong cuộc sống trần thế ny thường khuyến co cc mn đệ rằng c những điều by giờ họ chưa hiểu v họ sẽ phải chờ Cha Thnh Thần đến (xem Ga 16:12-13). Dụ ngn cỏ lng giữa ruộng la (xem Mt 13:24-30) minh hoạ cho một kha cạnh quan trọng của loan bo Tin Mừng: kẻ th c thể xm nhập vo Nước Cha v gieo tai hoạ, nhưng cuối cng hắn sẽ bị đnh bại bởi sự tốt lnh của cy la.

Hiệp nhất lướt thắng xung đột

226. Xung đột khng thể được lm ngơ hay che giấu. Phải đối diện n. Nhưng nếu chng ta bị mắc kẹt trong xung đột, chng ta mất tầm nhn, chn trời của chng ta bị thu nhỏ lại v chnh thực tại bắt đầu tan r. Ở trong xung đột, chng ta mất ý thức về sự duy nhất su xa của thực tại.

227. Khi xảy ra xung đột, một số người chỉ biết nhn rồi bỏ đi như thể chẳng c g xảy ra; họ phủi tay rồi tiếp tục cuộc sống của mnh. Những người khc th bm chặt lấy n khiến họ trở thnh t nhn của n; họ bị mất phương hướng, phng chiếu sự hoang mang v bất mn của họ vo cc tổ chức v v thế lm cho khng thể no c được sự hiệp nhất. Nhưng cũng c một cch thứ ba, v đy l cch tốt nhất để xử lý xung đột. Đ l sẵn sng trực diện với xung đột, giải quyết n v lm n trở thnh mắt xch trong sợi dy của một qui trnh mới. Phc cho những ai xy dựng ho bnh! (Mt 5:9).

228. Bằng cch ny, việc xy dựng hiệp thng giữa những bất đồng l điều c thể, nhưng n chỉ c thể đạt được bởi những con người tuyệt vời biết vượt ln trn bề mặt của xung đột v nhn người khc trong nhn phẩm su xa nhất của họ. Điều ny đi hỏi phải nhn nhận một nguyn tắc thiết yếu cho việc xy dựng tnh bạn trong x hội: đ l hiệp nhất lớn hơn xung đột. Như thế tnh lin đới, hiểu theo nghĩa su xa nhất v thch thức nhất của n, trở thnh một cch để lm lịch sử trong một mi trường sống m cc xung đột, căng thẳng v đối khng c thể đạt được một sự hiệp nhất đa dạng v đem lại sức sống. Đy khng phải l chọn một thi độ ba phải, hay chọn cch ho tan người ny vo người kia, nhưng l chọn một cch giải quyết trn bnh diện cao hơn v giữ lại điều g c gi trị v ch lợi ở cả hai bn.

229. Đy l nguyn tắc được rt ra từ Tin Mừng, n nhắc nhớ chng ta rằng Đức Kit đ qui tụ mọi sự nơi bản thn Ngi: trời v đất, Thin Cha v con người, thời gian v vĩnh cửu, thể xc v tinh thần, con người v x hội. Dấu hiệu của sự hiệp nhất v ho giải mun loi ny trong Ngi chnh l ho bnh. Đức Kit chnh l sự bnh an của chng ta (Ep 2:14). Sứ điệp Tin Mừng lun lun bắt đầu bằng một cu chc bnh an, v bnh an ở mọi thời đều lm rạng danh v xc nhận cc mối quan hệ giữa cc mn đệ Đức Kit. Ho bnh l điều c thể, v Cha đ thắng thế gian v sự xung đột thường xuyn của n bằng cch ha giải nhờ mu Ngi đổ ra trn thập gi (Cl 1:20). Nhưng nếu chng ta nhn kỹ hơn những đoạn Kinh Thnh ny, chng ta sẽ thấy rằng quĩ đạo của sự ho giải cc khc biệt ny nằm trong chnh chng ta, trong cuộc đời chng ta, vốn lun lun bị đe doạ bởi sự chia rẽ v đổ vỡ.[183] Nếu cc tri tim bị phn tn thnh hng ngn mảnh, th khng dễ tạo được ho bnh đch thực trong x hội.

230. Thng điệp ho bnh khng ni về một sự dn xếp qua thương lượng, nhưng l một niềm tin chắc rằng sự hiệp nhất m Cha Thnh Thần đem đến c thể ho giải mọi khc biệt. N khắc phục mọi xung đột bằng cch tạo ra một tổng hợp mới v đầy triển vọng. Sự khc biệt l một nt đẹp khi n c thể khng ngừng đi vo một qui trnh ho giải v đng ấn cho một thứ giao ước văn ho dẫn đến một sự đa dạng ho giải. Như cc gim mục Congo đ diễn tả: Sự đa dạng sắc tộc của chng ta l ti sản qu bu của chng ta... Chỉ trong sự hiệp nhất, nhờ sự hon cải của cc tm hồn v sự ho giải, chng ta c thể gip đất nước mnh pht triển trn mọi bnh diện.[184]

Thực tại lớn hơn ý tưởng

231. Cũng c một sự căng thẳng thường xuyn giữa cc ý tưởng v cc thực tại. Cc thực tại th hiện hữu, cn cc ý tưởng th được lm ra. Phải c sự đối thoại lin tục giữa thực tại v ý tưởng, nếu khng cc ý tưởng sẽ trở thnh xa rời thực tại. Thật nguy hiểm khi chỉ dừng lại ở những lời ni sung, những hnh ảnh v những bi diễn văn hay. V vậy chng ta c một nguyn tắc thứ ba: cc thực tại lớn hơn cc ý tưởng. Nguyn tắc ny đi chng ta phải bc bỏ cc phương tiện khc nhau nhằm che giấu thực tại: cc dạng tinh tuyền siu phm, sự chuyn chế của chủ nghĩa tương đối, những lời ni so rỗng, những mục tiu lý tưởng nhưng khng thực tế, những nhn hiệu của chủ nghĩa cực đoan phi lịch sử, những hệ thống đạo đức khng c tnh thương, những nghị luận tr thức khng c minh triết.

232. Cc ý tưởng l kết quả của sự khai triển cc khi niệm, chng được dng để truyền thng, hiểu biết v thực hnh. Cc ý tưởng tch rời khỏi thực tại thường tạo ra những hnh thức duy tm v duy danh v bổ, cng lắm cũng chỉ gip phn loại v định nghĩa, nhưng chắc chắn khng dẫn đến hnh động. Cc thực tại được lý tr soi sng mới thc đẩy chng ta đến hnh động. Thi độ duy danh hnh thức phải nhường chỗ cho tnh khch quan hi ho. Nếu khng, chn lý sẽ bị xuyn tạc, đồ mỹ phẩm sẽ thế chỗ cho sự chăm sc thn xc thực sự.[185] C những chnh trị gia—thậm ch cả lnh đạo tn gio—thường thắc mắc tại sao người ta khng hiểu v theo họ, v cc đề nghị của họ qu r rng v hợp lý. Lý do c lẽ l v họ bị mắc kẹt trong lnh vực cc ý tưởng thuần tuý, dẫn đến việc giản lược chnh trị v đức tin vo văn chương ngn từ. C những người khc bỏ hẳn sự đơn sơ để miệt mi với một thứ lý luận xa lạ với đa số dn chng.

233. Cc thực tại lớn hơn cc ý tưởng. Nguyn tắc ny lin quan tới sự nhập thể của lời v được đưa vo thực hnh: Căn cứ vo điều ny, anh em nhận ra Thần Kh của Thin Cha: thần kh no tuyn xưng Ðức Gisu Kit l Ðấng đ đến v trở nn người phm, th thần kh ấy bởi Thin Cha (1 Ga 4:2). Nguyn tắc về thực tại, về một lời đ nhập thể v khng ngừng cố gắng nhập thể mi, l nguyn tắc cơ bản cho việc loan bo Tin Mừng. N gip chng ta thấy rằng lịch sử Hội Thnh l một lịch sử cứu độ, gip chng ta nhớ đến những vị thnh đ đưa Tin Mừng nhập thể vo đời sống của cc dn tộc v gặt hi những hoa của của truyền thống hai ngn năm của Hội Thnh, m khng cần lm ra một hệ tư tưởng tch rời kho tng ny, như thể chng ta muốn pht minh ra Tin Mừng một lần nữa. Đồng thời, nguyn tắc ny thc đẩy chng ta đưa lời ra thực hnh, thể hiện những cng cuộc bc i v cng bằng để lm cho lời ấy sinh hoa kết quả. Khng đưa lời vo thực hnh, khng biến lời thnh thực tại, tức l xy trn ct, dừng lại ở trạng thi thuần ý tưởng v dẫn đến tnh trạng bất động v v hiệu quả của chủ nghĩa vị kỷ v ngộ đạo.

Ton thể lớn hơn thnh phần

234. Cũng c một sự căng thẳng tự nhin giữa ton cầu ho v địa phương ho. Chng ta cần ch ý tới ci ton cầu để trnh sự hẹp hi v tầm thường. Nhưng chng ta cũng cần nhn đến ci địa phương để giữ chn lun chạm đất. Đi chung với nhau, cả hai gip chng ta trnh rơi vo một trong hai thi cực. Ở thi cực thứ nhất, người ta bị mắc kẹt vo một vũ trụ ton cầu ho trừu tượng, họ lẽo đẽo theo sau bước chn mọi người khc, trầm trồ khen ngợi ci thế giới ho nhong của những người khc, h hốc miệng v vỗ tay khi gặp lc. Ở thi cực thứ hai, người ta tm đến với một bảo tng của cc truyện dn gian địa phương, một thế giới ring, cứ quanh quẩn mi với cng những ci cũ, v khng c khả năng để mnh được thch thức bởi ci mới hay qu chuộng ci đẹp m Thin Cha ban bn ngoi đường bin giới của họ.

235. Ton thể lớn hơn thnh phần, nhưng cũng lớn hơn tổng số cc thnh phần. V vậy, khng cần bị m ảnh qu nhiều bởi những vấn đề hạn hẹp v ring biệt. Chng ta cần khng ngừng mở rộng chn trời của mnh để thấy ci tốt lớn hơn m tất cả chng ta đều được hưởng. Nhưng phải lm điều ny m khng tm cch trốn trnh hay nhổ bỏ gốc rễ. Chng ta cần cắm su cc gốc rễ của mnh vo mảnh đất ph nhiu v lịch sử của qu qun mnh, đ l một qu tặng của Thin Cha. Chng ta c thể lm ở qui m nhỏ, trong khu vực chng ta ở, nhưng với một nhn quan rộng hơn. V những người sống hết lng trong một cộng đồng cũng khng cn mất đi c tnh hay che giấu căn tnh của họ; tri lại, họ nhận được những động lực mới để thăng tiến bản thn. Khng cần bp nghẹt ci ton thể, cũng khng cần lm cho ci đặc th trở nn cằn cỗi.

236. Ở đy m hnh của chng ta khng phải l hnh cầu, n khng lớn hơn cc thnh phần của n, ở đ mọi điểm đều cch đều tm, v khng c khc biệt no giữa chng. Tri lại, m hnh của chng ta l hnh khối đa diện, phản chiếu sự đồng qui của tất cả cc thnh phần, mỗi thnh phần vẫn giữ được tnh đặc trưng của n. Hoạt động mục vụ cũng như hoạt động chnh trị cố gắng qui tụ vo khối đa diện ny ci g l tốt nhất của mỗi loại hoạt động. C chỗ cho những người ngho v văn ho của họ, cc kht vọng v tiềm năng của họ. Ngay cả những người c thể bị coi l đng ngờ do những sai lầm của họ, họ cũng c phần đng gp m chng ta khng thể bỏ qua. Chnh sự đồng qui của cc dn tộc l ci duy tr c tnh của họ trong trật tự vũ trụ ny; chnh tổng số những con người trong một x hội theo đuổi cng ch l ci thực sự c một chỗ đứng cho mọi người.

237. Đối với người Kit hữu, nguyn tắc ny cũng khơi dậy tnh ton thể hạy ton vẹn của Tin Mừng m Hội Thnh truyền lại cho chng ta v sai chng ta đi rao truyền. Sự sung mn v phong ph của Tin Mừng đn nhận cc nh nghin cứu cũng như người lao động, cc doanh nhn cũng như cc nghệ sĩ, tm lại, mọi người. Ti năng thin bẩm của mỗi dn tộc, theo cch ring của mnh, đn nhận trọn vẹn Tin Mừng v hội nhập Tin Mừng trong cc cch biểu hiện của mnh về cầu nguyện, tnh bằng hữu, cng lý, sự đấu tranh v việc cử hnh. Tin mừng l niềm vui của Cha, Đấng muốn rằng khng một người b mọn no của Người bị hư mất, niềm vui của Cha Chin Lnh khi tm thấy con chin lạc v đưa n trở về dn. Tin Mừng l men lm dậy bột v l thnh phố trn đồi dọi nh sng soi cho mọi dn tộc. Tự trong Tin Mừng c một nguyn tắc ton thể: n sẽ lun lun l tin mừng bao lu n cn được cng bố cho mọi dn tộc, bao lu n cn chữa lnh v kiện cường mọi kha cạnh của nhn loại, bao lu n cn đưa mọi người nam cũng như nữ vo đon tụ tại bn tiệc của Nước Thin Cha. Ton thể lớn hơn thnh phần.

IV. ĐỐI THOẠI X HỘI L MỘT ĐNG GP CHO HO BNH

238. Loan bo Tin Mừng cũng bao gồm con đường đối thoại. Đối với Hội Thnh hm nay, nổi bật ln ba lnh vực đối thoại m Hội Thnh phải c mặt trong đ để cổ vũ sự pht triển đầy đủ con người v để mưu cầu cng ch: đối thoại với nh nước, đối thoại với x hội—bao gồm đối thoại với cc nền văn ho v khoa học—v đối thoại với cc tn đồ khc khng thuộc Hội Thnh Cng Gio. Trong mỗi lnh vực, Hội Thnh ni từ nh sng của đức tin,[186] cống hiến kinh nghiệm hai ngn năm của mnh v lun lưu ý tới đời sống v những đau khổ của con người. nh sng ny vượt tầm lý tr con người, nhưng n cũng c thể c ý nghĩa v lm phong ph cho những ai khng phải l tn hữu v n kch thch lý tr mở rộng nhn giới của n.

239. Hội Thnh cng bố Tin Mừng bnh an (Ep 6:15) v muốn hợp tc với mọi nh chức trch quốc gia v quốc tế trong việc bảo vệ lợi ch bao la của thế giới. Bằng việc rao giảng Đức Kit, Đấng l chnh sự bnh an (xem Ep 2:14), cuộc tn phc m ho ku gọi mọi người đ rửa tội trở thnh những người xy dựng ho bnh v những chứng nhn đng tin cho một đời sống ho giải.[187] Trong một nền văn ho ưu tin coi đối thoại l một hnh thức gặp gỡ, đy chnh l lc để thiết kế một phương tiện xy dựng sự đồng thuận v nhất tr đồng thời theo đuổi mục tiu một x hội cng bằng, thiện ch v bao gồm. Tc giả chnh, chủ thể lịch sử của tiến trnh ny, l cả một dn tộc v nền văn ho của n, chứ khng phải một giai cấp, một thiểu số, một nhm hay một tập thể ưu việt. Chng ta khng cần đến những kế hoạch do một t người soạn cho một t người, hay một thiểu số sng suốt v to miệng đi ni thay cho mọi người. Nhưng chng ta cần sự đồng thuận để chung sống với nhau, một khế ước x hội v văn ho.

240. Nh Nước c trch nhiệm bảo vệ v cổ vũ lợi ch chung của x hội.[188] Dựa trn cc nguyn tắc phn quyền v lin đới, v hon ton dấn thn cho đối thoại chnh trị v xy dựng sự đồng thuận, Nh Nước đng một vai tr cơ bản khng thể thoi thc trong việc hoạt động cho sự pht triển ton diện của mọi người. Ở thời điểm hiện nay, vai tr ny đi hỏi một sự khim tốn x hội su xa.

241. Hội Thnh, trong đối thoại với Nh Nước v x hội, khng c giải php cho từng vấn đề cụ thể. Cng với cc lnh vực khc nhau của x hội, Hội Thnh ủng hộ cc chương trnh no đp ứng tốt nhất cho nhn phẩm của mỗi người v lợi ch chung. Bằng cch ny, Hội Thnh đề nghị r rng cc gi trị cơ bản của đời sống con người v cc niềm tin, từ đ chng c thể được biểu hiện trong hoạt động chnh trị.

Đối thoại giữa đức tin, lý tr v khoa học

242. Đối thoại giữa khoa học v đức tin cũng thuộc về cng cuộc loan bo Tin Mừng nhằm phục vụ ho bnh.[189] Trong khi thuyết duy nghiệm v duy khoa học khng chấp nhận gi trị của cc hnh thức hiểu biết khc ngoi cc khoa học thực nghiệm,[190] Hội Thnh đề nghị một con đường khc, ku gọi một sự tổng hợp giữa việc sử dụng c trch nhiệm cc phương php ring của cc khoa học thực nghiệm v cc lnh vực hiểu biết khc như triết học, thần học, cũng như chnh đức tin, l ci nng cao chng ta tới mầu nhiệm vượt trn tự nhin v tr khn của con người. Đức tin khng sợ lý tr; ngược lại, n tm kiếm v tin tưởng lý tr, v ҇nh sng của lý tr v nh sng của đức tin, cả hai đều bắt nguồn từ Thin Cha[191] v khng thể mu thuẫn nhau. Loan bo Tin Mừng ch ý tới cc tiến bộ khoa học v muốn dọi trn chng nh sng của đức tin v của luật tự nhin để chng tn trọng địa vị trung tm v gi trị tối thượng của con người ở mọi giai đoạn của sự sống. Mọi sự của x hội c thể được phong ph nhờ sự đối thoại ny, n mở ra những chn trời mới cho tư tưởng v mở rộng cc khả năng của lý tr. Đy cũng l một con đường của sự ho hợp v ho bnh.

243. Hội Thnh khng muốn cản bước tiến kỳ diệu của khoa học. Ngược lại, Hội Thnh vui mừng v thậm ch phấn khch nhn nhận những tim năng to lớn m Thin Cha đ ban cho tr tuệ loi người. Khi m cc khoa học—tập trung nghim ngặt vo lnh vực tra cứu chuyn mn của n—đạt được một kết luận m lý tr khng thể phi bc, đức tin khng bao giờ ni ngược lại. V cc tn hữu cũng khng thể coi một ý kiến khoa học tuy hấp dẫn nhưng khng được kiểm chứng đủ m c cng gi trị như một tn điều của đức tin. Thỉnh thoảng một số nh khoa học đ vượt qu những giới hạn thẩm quyền khoa học của họ khi đưa ra một số lời pht biểu hay tuyn bố. Nhưng vấn đề ở đy khng lin quan đến lý tr, m lin quan đến việc cổ vũ một ý thức hệ ring ngăn cản con đường đi tới đối thoại chn chnh, bnh tĩnh v hiệu quả.

Đối thoại đại kết

244. Dấn thn cho đại kết đp ứng lời cầu nguyện của Cha Gisu xin cho tất cả nn một (Ga 17:21). Tnh khả tn của sứ điệp Kit gio sẽ lớn hơn rất nhiều nếu cc Kit hữu c thể khắc phục sự những mối chia rẽ của họ v Hội Thnh c thể thể hiện sự sung mn của đặc tnh cng gio độc đo của họ nơi cc con ci của mnh, những người tuy kết hợp với Hội Thnh nhờ php rửa tội nhưng khng hiệp thng đầy đủ với Hội Thnh.[192] Chng ta khng bao giờ được qun mnh l những lữ khch đang snh vai nhau trn đường. C nghĩa l chng ta phải c sự tin tưởng chn thnh đối với người bạn đường của mnh, gạt sang một bn mọi ngờ vực v nghi kỵ, v hướng ci nhn của mnh về điều chng ta đang kiếm tm: sự an bnh rạng rỡ nơi khun mặt của Thin Cha. Tin tưởng người khc l một nghệ thuật, v ho bnh cũng l một nghệ thuật. Đức Gisu ni với chng ta: Phc cho những ai xy dựng ho bnh (Mt 5:9). Khi đảm đương nhiệm vụ ny, cả giữa chng ta với nhau, chng ta hiện thực ho lời ngn sứ xưa kia: Họ sẽ đc gươm đao thnh cuốc thnh cy (Is 2:4).

245. Trong viễn tượng ny, đại kết c thể được nhn như l một đng gp cho sự hiệp nhất của gia đnh nhn loại. Tại Thượng Hội Đồng Gim Mục, sự hiện diện của Đức Thượng Phụ Constantinopli, Đức Bartholomaios, ti, v Tổng Gim Mục Canterbury, Đức Rowan Williams, l một hồng n của Thin Cha v l một chứng t Kit gio qu gi.[193]

246. Trước sự phản chứng t nghim trọng của tnh trạng chia rẽ giữa cc Kit hữu, đặc biệt tại Chu v Chu Phi, việc tm ra những con đường dẫn tới hiệp nhất trở nn cấp bch hơn bao giờ. Cc nh truyền gio tại cc chu lục ấy thường nhắc đến những lời chỉ trch, than phiền v nhạo bng m gương m của cc Kit hữu chia rẽ gy nn. Nếu chng ta tập trung vo cc niềm tin chung của chng ta, v nếu chng ta lưu tm đến nguyn tắc phẩm trật của cc chn lý, chng ta sẽ c khả năng dứt khot tiến tới những cch diễn tả chung về việc rao giảng, phục vụ v chứng t. Con số đng v kể những người chưa đn nhận Tin Mừng của Cha Gisu Kit khiến chng ta khng thể no dửng dưng. Do đ, dấn thn cho một sự hiệp nhất để gip họ chấp nhận Đức Gisu Kit khng cn l vấn đề thuần tuý ngoại giao hay gượng p, m l một con đường thiết yếu để loan bo Tin Mừng. Cc dấu hiệu chia rẽ giữa cc Kit hữu tại cc nước bị tn ph v bạo lực cũng thm vo cho cc nguyn nhn gy xung đột nơi những người lẽ ra phải l men của ho bnh. C biết bao điều quan trọng hiệp nhất chng ta lại! Nếu chng ta thực sự tin vo hoạt động hon ton tự do của Cha Thnh Thần, chng ta c thể học được lẫn nhau rất nhiều điều! Khng chỉ l vấn đề biết thng tin tốt hơn về người khc, nhưng l gặt hi những g Cha Thnh Thần đ gieo nơi họ, cũng c nghĩa l một n huệ cho chng ta. Để đơn cử một v dụ, trong cuộc đối thoại với cc anh chị em Chnh Thống Gio, người Cng Gio chng ta c cơ hội học được nhiều hơn về ý nghĩa của tnh gim mục đon v kinh nghiệm của họ về tnh chất thượng hội đồng. Qua việc trao đổi cc n huệ, Cha Thnh Thần c thể dẫn chng ta ngy cng đầy đủ hơn vo chn lý v sự thiện.

 

Quan hệ với Do Thi gio

247. Chng ta nhn người Do Thi gio với một ci nhn đặc biệt v giao ước của họ với Thin Cha khng bao giờ bị huỷ, v khi Thin Cha đ ban ơn v ku gọi, th Người khng hề đổi ý (Rm 11:29). Cng chia sẻ với người Do Thi một phần quan trọng của Sch Thnh, Hội Thnh nhn dn của giao ước v đức tin của họ như một trong cc cội nguồn thnh thing của căn tnh Kit gio của mnh (xem Rm 11:16-18). L Kit hữu, chng ta khng thể coi Kit gio như một tn gio ngoại lai; chng ta cũng khng kể những người Do Thi trong số những người được ku gọi từ bỏ t thần v phụng sự một Thin Cha thật (xem 1 Tx 1:9). Cng với họ, chng ta tin vo một Thin Cha Đấng hnh động trong lịch sử, v cng với họ chng ta chấp nhận lời mặc khải.

248. Đối thoại v tnh bạn với con ci Israel l một phần đời sống của cc mn đệ Cha Gisu. Tnh bạn đ lớn ln giữa chng ta lm cho chng ta cảm thấy cay đắng v thực sự n hận v những cuộc bch hại kinh hong m họ đ phải chịu v đang tiếp tục phải chịu, đặc biệt cc cuộc bch hại m người Kit hữu c dnh lu vo.

249. Thin Cha tiếp tục hoạt động nơi dn của Giao Ước Cũ v lm pht sinh những kho tng khn ngoan tun chảy từ việc họ gặp gỡ lời Cha. V lý do ny, Hội Thnh cũng được thm phong ph khi đn nhận những gi trị của Do Thi gio. Tuy đng l một số niềm tin của Kit gio khng thể chấp nhận được đối với Do Thi gio, v Hội Thnh khng thể khng rao giảng Đức Gisu l Cha v Đấng Msia, nhưng cũng c một sự tương ứng phong ph cho php chng ta đọc chung với nhau cc bản văn Kinh Thnh của Do Thi gio v gip nhau đo su kho tng phong ph của Lời Cha. Chng ta cũng c thể chia sẻ những xc tn đạo đức v một mối quan tm chung đối với sự cng bằng v sự pht triển cc dn tộc.

Đối thoại lin tn

250. Một thi độ cởi mở trong chn lý v tnh yu phải l nt đặc trưng của đối thoại với cc tn đồ của cc tn gio ngoi Kit gio, bất chấp những trở ngại v kh khăn khc nhau, đặc biệt cc hnh thức của chủ nghĩa cực đoan ở cả hai pha. Đối thoại lin tn l điều kiện cần để c ho bnh trn thế giới, v v thế đy l một bổn phận của cc Kit hữu cũng như cc cộng đồng tn gio khc. Sự đối thoại ny trước hết l một cuộc tr chuyện về nhn sinh, hay, như lời cc gim mục Ấn Độ đ pht biểu, chỉ đơn giản l cởi mở với họ, chia vui sẻ buồn với họ.[194] Bằng cch ny chng ta học cch chấp nhận người khc v cc lối sống, suy nghĩ v ni năng của họ. Chng ta c thể tham gia với nhau trong bổn phận phục vụ cng lý v ho bnh, l điều phải trở thnh một nguyn tắc cơ bản cho cc cuộc trao đổi của chng ta. Tự n, một sự đối thoại tm kiếm ho bnh v cng bằng x hội, vượt ln trn mọi suy xt thuần tuý thực tiễn, l một hnh vi dấn thn đạo đức gip pht sinh một tnh hnh x hội mới. Cc cố gắng được thực hiện trong việc xử lý một số đề ti chuyn biệt c thể trở thnh một tiến trnh m trong đ, nhờ biết lắng nghe nhau, cả hai bn đều c thể được thanh tẩy v thm phong ph. Do đ, cc cố gắng ny cũng c thể biểu thị tnh yu đối với chn lý.

251. Trong cuộc đối thoại thn thiện v chn thnh ny, phải lun lun lưu ý tới dy lin kết cơ bản giữa đối thoại v rao giảng, n gip Hội Thnh duy tr v kiện cường mối quan hệ với những người ngoi Kit gio.[195] Một chủ trương tạp gio dễ di rốt cuộc sẽ l một cử chỉ chuyn chế của những người muốn coi thường cc gi trị cao cả m họ khng c thẩm quyền. Thi độ cởi mở đch thực đi hỏi sự gắn b với cc xc tn su xa nhất của mnh, r rng v vui vẻ trong căn tnh của mnh, đồng thời mở lng mnh ra để hiểu pha bn kia v biết rằng đối thoại c thể lm giu lẫn cho nhau.[196] Ci khng c lợi l một thứ cởi mở ngoại giao ni c với mọi thứ để trnh cc vấn đề, v thi độ ny c thể l cch đnh lừa ngừoi khc v chối bỏ điều tốt m chng ta được cng chia sẻ một cch quảng đại với những người khc. Loan bo Tin Mừng v đối thoại lin tn hon ton khng đối chọi nhau, chng hỗ trợ lẫn nhau v nui dưỡng lẫn nhau.[197]

252. Mối quan hệ giữa chng ta với cc tn đồ Hồi gio c tầm quan trọng lớn, v by giờ họ đang hiện diện đng kể tại cc nước c truyền thống Kit gio, ở đ họ c thể tự do thờ phượng v trở thnh thnh phần đầy đủ của x hội. Chng ta khng bao giờ được qun rằng họ tuyn xưng đức tin của Abraham, v cng với chng ta họ tn thờ một Thin Cha độc nhất v từ bi, Đấng sẽ xt xử loi người vo ngy tận thế.[198] Sch Thnh của Hồi gio c giữ lại một số gio lý của Kit gio; Đức Gisu v Đức Maria được tn knh đặc biệt v điều đng cảm phục l thấy những người Hồi gio, gi cũng như trẻ, nam cũng như nữ, dnh thời giờ cầu nguyện hằng ngy v trung thnh dự cc lễ nghi tn gio. Họ cũng nhn nhận nhu cầu đp lời Thin Cha bằng sự cam kết sống đạo đức v c lng thương xt đối với những người cng khổ.

253. Để duy tr đối thoại với Hồi gio, nhất thiết phải c sự huấn luyện thch hợp cho tất cả những ai c lin quan, khng những để họ c thể gắn b chặt chẽ v vui vẻ với căn tnh ring của họ, m cn để họ cũng c thể nhn nhận cc gi trị của những người khc, trn trọng cc mối quan tm trong cc đi hỏi của người khc v soi sng cho cc niềm tin chung. Người Kit hữu chng ta phải mở rộng vng tay yu thương của mnh để đn nhận v tn trọng những người di dn Hồi gio tại đất nước chng ta giống như chng ta hi vọng v xin được tiếp nhận v tn trọng tại cc đất nước Hồi gio. Ti xin v khẩn khoản ni xin cc nước ấy cho php người Kit gio được tự do thờ phượng v thực hnh đức tin, giống như quyền tự do m cc tn đồ Hồi gio được hưởng tại cc nước Phương Ty! Đứng trước những sự việc đng lo ngại của chủ nghĩa cực đoan bạo lực, lng tn trọng của chng ta đối với cc tn đồ Hồi gio chn thực phải gip chng ta trnh những kiểu vơ đũa cả nắm v th hằn, bởi v Hồi gio chn chnh v việc đọc Kinh Koran đng đắn chống lại mọi hnh thức bạo lực.

254. Những người ngoi Kit gio, bởi sng kiến yu thương của Thin Cha, khi họ trung thnh với lương tm của họ, họ c thể sống cng chnh nhờ n sủng Thin Cha,[199] v như vậy họ được lin kết với mầu nhiệm vượt qua của Đức Gisu Kit.[200] Nhưng do chiều kch b tch của ơn thnh sủng, hoạt động của Thin Cha nơi họ thường lm pht sinh những dấu hiệu v nghi thức, những biểu thị thnh thing để đưa những người khc vo một trải nghiệm cộng đồng về cuộc hnh trnh đến với Thin Cha.[201] Tuy những dấu hiệu ny thiếu ý nghĩa v hiệu năng của cc b tch do Đức Kit thiết lập, chng c thể l những đường knh Cha Thnh Thần dng để giải thot những người ngoi Kit gio khỏi chủ nghĩa tự tại v thần hay khỏi những kinh nghiệm tn gio thuần tuý c nhn. Cng một Thần Kh ở mọi nơi tạo ra những hnh thức khn ngoan thực tiễn khc nhau để gip người ta chịu đựng đau khổ v sống trong ho bnh v ho hợp hơn. L Kit hữu, chng ta cũng c thể thụ hưởng những kho tng ny đ được tch luỹ từ nhiều thế kỷ, chng c thể gip chng ta sống niềm tin của mnh tốt đẹp hơn.

Đối thoại x hội trong bối cảnh tự do tn gio

255. Cc Nghị Phụ Thượng Hội Đồng ni đến tầm quan trọng của sự tn trọng tự do tn gio, được coi l một quyền cơ bản của con người.[202] Quyền ny bao gồm tự do chọn theo tn gio m mnh xt l thật v tự do biểu lộ cc niềm tin của mnh nơi cng cộng.[203] Một chế độ đa nguyn lnh mạnh, thực sự tn trọng cc khc biệt v đnh gi chng đng bản chất của chng, sẽ khng đi hỏi tư ring ho cc tn gio nhằm mục đch giản lược chng vo vng tăm tối yn tĩnh của lương tm mỗi c nhn hay giới hạn chng vo khun vin cc nh thờ [Kit gio], cc hội đường [Do Thi gio] hay cc nh thờ [Hồi gio]. Đ sẽ l một dạng mới của chủ nghĩa kỳ thị v độc ti. Sự tn trọng cần thiết dnh cho những thiểu số theo thuyết bất khả tri hay khng tin khng thể được p đặt một cch tuỳ tiện khiến cho cc niềm tin của đa số những người c lng tin phải cm lặng hay cc truyền thống tn gio phong ph bị coi thường.

256. Khi xt đến cc hiệu ứng của tn gio đối với đời sống cng cộng, chng ta phải phn biệt cc cch thức khc nhau tn gio được thực hnh. Cc nh tr thức v cc nh bo thường sử dụng những lối khi qut ho th thiển v hời hợt để ni về những khiếm khuyết của tn gio, v thường tỏ ra khng c khả năng nhận ra rằng khng phải tất cả cc tn đồ—hay cc lnh đạo của họ—đều giống nhau. Một số chnh trị gia lợi dụng sự lẫn lộn ny để biện minh cho cc hnh vi kỳ thị. C khi người ta khinh rẻ những tc phẩm phản nh cc niềm tin tn gio, họ qun mất sự thực l cc tc phẩm tn gio kinh điển c thể c ý nghĩa cho mọi thời đại; chng c sức bền bỉ mở ra những chn trời mới, kch thch tư tưởng, mở rộng tr tuệ v tm hồn. Sự khinh rẻ ny l do chứng cận thị của một số chủ nghĩa duy lý. C hợp lý v sng suốt khng khi loại trừ một số tc phẩm chỉ v chng xuất hiện trong một bối cảnh niềm tin tn gio? Cc tc phẩm ny gồm những nguyn tắc mang đậm tnh nhn đạo, v mặc d chất chứa những biểu tượng v gio huấn tn gio, chng c một gi trị nhất định cho lý tr.

257. L tn hữu, chng ta cũng cảm thấy gần gũi những người khng nhận mnh thuộc về một truyền thống tn gio no, nhưng chn thnh tm kiếm chn, thiện, mỹ, những điều m chng ta tin l được biểu hiện cao nhất nơi Thin Cha v bắt nguồn từ Thin Cha. Chng ta coi họ l những đồng minh qu trong sự dấn thn bảo vệ nhn phẩm, xy dựng một sự chung sống ho bnh giữa cc dn tộc v trong việc bảo vệ tạo thnh. Cc diễn đn Aeropagi mới, chẳng hạn như Sn của Dn Ngoại, cung cấp cho chng ta một chỗ gặp gỡ đặc biệt, ở đ những người c đức tin v những người khng tin c thể tham gia đối thoại về những vấn đề cơ bản trong cc lnh vực đạo đức, nghệ thuật v khoa học, v về việc tm kiếm Đấng Siu Việt.[204] Đy cũng l một con đường dẫn tới ho bnh trong thế giới hỗn loạn của chng ta.

258. Xuất pht từ một số vấn đề x hội c tầm quan trọng cho tương lai của loi người, ti đ thử trnh by r một lần nữa chiều kch x hội tất yếu của sứ điệp Tin Mừng v khch lệ mọi Kit hữu chứng minh cho điều ny bằng lời ni, thi độ v hnh động của họ.

 

CHƯƠNG NĂM

NHỮNG NGƯỜI LOAN BO TIN MỪNG ĐẦY THNH THẦN

 

259. Những người loan bo Tin Mừng đầy Thnh Thần l những người dũng cảm mở lng mnh ra cho hoạt động của Cha Thnh Thần. Vo ngy lễ Ngũ Tuần, Cha Thnh Thần đ lm cho cc tng đồ ra khỏi chnh mnh v biến họ thnh sứ giả cng bố cc kỳ cng của Thin Cha, c khả năng ni cho mỗi người bằng thứ tiếng ring của họ. Cha Thnh Thần cũng ban cho họ ơn can đảm để cng bố sự mới mẻ của Tin Mừng một cch dạn dĩ (parrhesa) mọi thời v mọi nơi, cả khi gặp chống đối. Chng ta hy chạy đến với Người hm nay, vững vng trong kinh nguyện, v khng cầu nguyện th mọi hoạt động của chng ta c nguy cơ v hiệu quả v sứ điệp của chng ta trở thnh trống rỗng. Đức Gisu muốn những người loan bo Tin Mừng khng chỉ rao giảng bằng lời ni, nhưng trn hết bằng một đời sống được biến đổi bởi sự hiện diện của Thin Cha.

260. Trong chương cuối ny, ti khng muốn trnh by một tổng hợp về linh đạo Kit gio, hay khai triển cc chủ đề lớn như cầu nguyện, thờ lạy Thnh Thể, hay việc cử hnh đức tin trong phụng vụ. Về tất cả cc chủ đề ny, chng ta đ c những bản văn c gi trị của Huấn Quyền v những tc phẩm nổi tiếng của cc tc giả lớn rồi. Ti khng dm thay thế hay lm tốt hơn cc kho tng ny. Ti chỉ muốn cung cấp một t tư tưởng về tinh thần của việc tn phc m ho.

261. Mỗi khi ta ni một ci g l c kh thế, n thường chỉ về một sức thc đẩy bn trong gy khch lệ, tạo động lực, nui dưỡng v cống hiến ý nghĩa cho hoạt động c nhn v cộng đồng của chng ta. Việc phc m ho đầy Thnh Thần khng đồng nghĩa với một tập hợp cc cng việc được thực hiện v bổn phận bất chấp cc xu hướng v ước muốn ring của một người. Ước g ti c được những lời thch hợp để khơi dậy niềm phấn khch cho một chương mới của việc phc m ho đầy nhiệt huyết, vui tươi, quảng đại, can đảm, yu thương v bờ v hấp dẫn! Nhưng ti nhận ra rằng khng c lời khch lệ no l đủ trừ khi lng chng ta chy lửa của Cha Thnh Thần. Việc phc m ho đầy Thần Kh l cng việc được hướng dẫn bởi Cha Thnh Thần, v Người l linh hồn của Hội Thnh được gọi để cng bố Tin Mừng. Trước khi cống hiến một số động lực v gợi ý thing ling, một lần nữa ti cầu xin Cha Thnh Thần ngự đến. Ti ni xin Người đến v đổi mới Hội Thnh, khuấy động v thc đẩy Hội Thnh mạnh bạo ra đi loan bo Tin Mừng cho mọi dn mọi nước.

I. CC LÝ DO CANH TN ĐỘNG LỰC TRUYỀN GIO 

262. Những người loan bo Tin Mừng đầy Thnh Thần l những người cầu nguyện v lm việc. C cc khi niệm thần b m khng c một sự vươn ra x hội v truyền gio th chẳng ch g cho việc loan bo Tin Mừng, cũng như những bi ni hay hoặc những thực hnh x hội hay mục vụ m thiếu một linh đạo th chẳng thể cải ho cc tm hồn. Cc phương thế đơn phương v bất cập ny chỉ c thể tiếp cận được một t nhm người v tỏ ra khng c thể toả sng bn ngoi những nhm ny v chng cắt xn Tin Mừng. Ci cần l khả năng vun trồng một khng gian nội tm c thể đem lại ý nghĩa cho sự dấn thn v hoạt động.[205] Nếu khng c những thời khắc lu để thờ phượng, gặp gỡ Lời Cha trong kinh nguyện, hay đối thoại chn thnh với Cha, cng việc của chng ta dễ dng trở thnh v nghĩa; chng ta mất năng lượng do sự chn ngn v những kh khăn, v nhiệt huyết của chng ta tắt dần. Hội Thnh cấp thiết cần hơi thở su của kinh nguyện, v ti rất mừng khi thấy ngy cng tăng số những nhm người ở mọi cấp trong đời sống Hội Thnh chuyn tm cầu nguyện v chuyển cầu, đọc lời Cha trong kinh nguyện v lin lỷ chầu Thnh Thể. D vậy, chng ta phải bc bỏ ci cm dỗ cung cấp một thứ linh đạo tư ring v c nhn, v n khng ph hợp với những đi hỏi của đức i, chưa ni đến những hệ luỵ của sự nhập thể.[206] Lun lun c nguy cơ l một số thời khắc cầu nguyện c thể trở thnh ci cớ để từ chối hiến thn truyền gio; một lối sống tư ring c thể khiến người Kit hữu tm tr ẩn nơi một số hnh thức linh đạo sai lạc.

263. Chng ta nn nghĩ đến cc Kit hữu thời kỳ đầu v nhiều anh chị em chng ta trong suốt dng lịch sử, họ l những người trn trề niềm vui, can đảm khng mệt mỏi v nhiệt tnh trong việc rao giảng Tin Mừng. Một số người ngy nay thường tự an ủi mnh rằng hon cảnh by giờ khng dễ dng như xưa, nhưng chng ta biết rằng đế chế Roma thời ấy khng hề thuận lợi cho sứ điệp Tin Mừng, cho cuộc đấu tranh v cng lý, hay việc bảo vệ phẩm gi con người. Mỗi thời kỳ lịch sử đều ghi dấu những yếu đuối của con người, tnh tham lam, tự mn v ch kỷ, chưa ni g đến những dục vọng lun rnh rập chng ta. Nhũng chuyện ny lun lun hiện hữu dưới hnh thức ny hay hnh thức khc,; chng bắt nguồn từ những giới hạn của con người hơn l từ những hon cảnh cụ thể. V vậy chng ta đừng ni rằng thời buổi ngy nay kh khăn hơn; n chỉ khc hơn thi; Nhưng chng ta cũng hy học nơi cc thnh l những người đ đi trước chng ta, đ đối diện với những kh khăn của thời họ. V thế ti đề nghị chng ta dừng lại để tm ra một số lý do c thể gip chng ta hm nay bắt chước họ.[207]

Gặp gỡ thn tnh với tnh yu cứu độ của Đức Gisu

264. Lý do đầu tin cho việc loan bo Tin Mừng l tnh yu của Cha Gisu m chng ta đ lnh nhận, kinh nghiệm cứu độ thi thc chng ta ngy cng yu mến Ngi nhiều hơn. C tnh yu no khng cảm thấy nhu cầu ni với người yu, chỉ ra người yu, lm cho người yu được biết đến? Nếu chng ta khng cảm thấy chy bỏng ước muốn chia sẻ tnh yu ny, chng ta cần phải tha thiết cầu nguyện để Ngi một lần nữa đnh động lng chng ta. Chng ta cần ni xin ơn Ngi hằng ngy, xin Ngi mở những tri tim lạnh nhạt của chng ta v khuấy động đời sống ơ hờ v hời hợt của chng ta. Đứng trước mặt Ngi với tri tim rộng mở v để Ngi nhn chng ta, chng ta thấy được ci nhn yu thương m ng Nathanael đ nhn thấy hm Đức Gisu ni với ng: Ti đ nhn thấy anh dưới cy vả (Ga 1:48). Tốt biết bao khi đứng trước tượng chịu nạn, hay qu gối trước Thnh Thể, v chỉ đơn giản ở trong sự hiện diện của Ngi! Tốt biết bao khi một lần nữa ngi đnh động cuộc đời chng ta v thc đẩy chng ta chia sẻ sự sống mới của Ngi! Điều xảy ra sau đ l chng ta ni ra điều chng ta đ thấy v đ nghe! (1 Ga 1:3). Sự khch lệ tốt nhất để chia sẻ Tin Mừng l qua việc suy niệm Tin Mừng với tnh yu, dừng lại ở mỗi trang v đọc bằng tri tim. Nếu chng ta đến với Tin Mừng bằng cch ny, vẻ đẹp của n sẽ lm chng ta kinh ngạc v khng ngừng kch thch chng ta. Nhưng muốn được như thế, chng ta cần lấy lại một tinh thần chim niệm để c thể gip chng ta khng ngừng nhận ra rằng mnh được thừa hưởng một kho tng lm chng ta người hơn v gip chng ta sống một đời sống mới. Khng c g qu hơn m chng ta c thể trao ban cho người khc.

265. Cả cuộc đời Đức Gisu, cch ngi đối xử với người ngho, cc hnh động, tnh chnh trực, cc hnh vi quảng đại đơn sơ hằng ngy, v sau cng sự hiến thn hon ton của Ngi, tất cả l điều qu gi v mặc khải mầu nhiệm sự sống thần linh của Ngi. Mỗi khi chng ta khm ph lại điều ny một cch mới mẻ, chng ta trở nn xc tn rằng đ chnh l điều m những người khc đang cần, cho d c thể họ khng nhận ra: Ðấng quý vị khng biết m vẫn tn thờ, th ti xin rao giảng cho quý vị (Cv 17:23). Đi khi chng ta mất nhiệt tnh truyền gio l v chng ta qun rằng Tin Mừng thoả mn cc nhu cầu thm su nhất của chng ta, bởi v chng ta được dựng nn để hưởng nhận điều m Tin Mừng cống hiến cho chng ta: tnh bạn với Đức Gisu v tnh yu của cc anh chị em chng ta. Nếu chng ta diễn tả được đầy đủ v đẹp đẽ nội dung cơ bản của Tin Mừng, chắc chắn sứ điệp ny sẽ ni với những kht vọng thm su nhất của tri tim con người: Người truyền gio xc tn rằng, qua hoạt động của Cha Thnh Thần, đ hiện hữu trong cc c nhn v cc dn tộc, d chỉ trong tiềm thức, một sự mong đợi được biết chn lý về Thin Cha, về con người, v về cch lm thế no để được giải thot khỏi tội lỗi v sự chết. Sự phấn khởi của người truyền gio trong việc loan bo Đức Kit xuất pht từ niềm xc tn rằng Ngi đang đp ứng niềm mong đợi ấy.[208] Niềm phấn khởi loan bo Tin Mừng dựa trn sự xc tn ny. Chng ta c một kho tng sự sống v tnh yu khng thể lừa dối, v một sứ điệp khng thể lm chng ta lạc đường hay thất vọng. N thấm nhập tận thm cung lng chng ta, nng đỡ v lm chng ta thm cao qu. N l một chn lý khng bao giờ lỗi thời v n chạm đến phần trong con người chng ta m khng g khc chạm đến được. Cảm gic buồn sầu v hạn của chng ta chỉ c thể được chữa lnh bởi một tnh yu v bin.

266. Nhưng niềm xc tn ny phải được nng đỡ bởi trải nghiệm khng ngừng được đổi mới của chng ta về sự nếm cảm tnh bạn v sứ điệp của Đức Kit. Khng thể kin tr trong việc nhiệt tnh loan bo Tin Mừng nếu chng ta khng xc tn từ kinh nghiệm bản thn rằng biết Đức Kit v khng biết Đức Kit th hon ton khc nhau, đi cng với Ngi th khc với đi m qung, nghe thấy lời Ngi khc với khng biết Ngi, chim ngắm Ngi, tn thờ Ngi, tm bnh an nơi Ngi th khc với khng lm cc điều ấy. Cố gắng xy dựng thế giới với Tin Mừng của Ngi th khc với xy dựng n với nh sng ring của chng ta. Chng ta biết r rằng với Đức Kit, cuộc đời trở nn phong ph hơn v với Ngi ta sẽ dễ tm thấy ý nghĩa trong mọi sự hơn. Đ l lý do chng ta loan bo Tin Mừng. Một người truyền gio đch thực, người khng bao giờ thi l một mn đệ, biết rằng c Đức Kit cng đi với mnh, ni với mnh, thở với mnh, lm việc với mnh. Họ cảm nhận được Đức Gisu sống với mnh giữa cng cuộc truyền gio. Nếu khng nhn thấy Ngi hiện diện tại tm điểm sự dấn thn truyền gio của chng ta, lng phấn khởi của chng ta sẽ sớm nhạt nho v chng ta khng cn chắc chắn mnh đang thng truyền điều g; chng ta thiếu sinh lực v đam m. Một người khng c xc tn, khng phấn khởi, khng chắc chắn v khng yu, người ấy chẳng thuyết phục được ai.

267. Hiệp nhất với Đức Kit, chng ta tm điều Ngi tm v yu điều Ngi yu. Chung cuộc, ci chng ta tm l vinh quang của Cha, chng ta sống v hnh động để ngợi khen n sủng rạng ngời của Người (Ep 1:6). Nếu chng ta muốn dấn thn hon ton v cho đến cng, chng ta cần bỏ lại đng sau mọi động cơ khc. Đy l động cơ dứt khot, su nhất v mạnh nhất của chng ta, lý do v ý nghĩa tối hậu đng sau tất c những g chng ta lm: vinh quang của Cha m Đức Gisu tm kiếm từng giy từng pht trong cuộc đời Ngi. L Người Con, Ngi vui mừng v hằng ở nơi cung lng Cha (Ga 1:18). Sở dĩ chng ta l những người truyền gio, chủ yếu l v Đức Gisu đ ni với chng ta rằng, điều lm Cha Cha được tn vinh l: anh em sinh nhiều hoa tri (Ga 15:8). Vượt ln trn mọi sở thch v lợi ch ring, mọi hiểu biết v động cơ của mnh, chng ta loan bo Tin Mừng l v vinh quang cao cả của Cha, Đấng yu thương chng ta.

Sự nếm cảm thing ling được l một dn tộc

268. Lời Cha cũng mời gọi chng ta nhận ra rằng chng ta l một dn tộc: Xưa anh em chưa phải l một dn, nay anh em đ l dn của Thin Cha (1 P 2:10). L những người loan bo Tin Mừng cho cc linh hồn, chng ta cần pht triển hương vị thing ling của việc sống chan ho với dn v khm ph ra rằng điều ny tự n l một nguồn vui tuyệt vời. Truyền gio vừa l một niềm say m Đức Gisu, vừa đồng thời l niềm say m dn của Người. Đứng trước Đức Gisu chịu đng đinh, chng ta thấy được chiều su tnh yu của Ngi, tnh yu nng chng ta ln v kiện cường chng ta, nhưng đồng thời, trừ khi chng ta m, chng ta cũng bắt đầu nhận ra rằng ci nhn chy bỏng yu thương của Đức Gisu mở ra m ấp ton thể dn của Ngi. Chng ta một lần nữa nhận ra rằng Ngi muốn dng chng ta để đến gần với dn yu dấu của Ngi hơn. Ngi chọn chng ta từ giữa dn của Ngi v sai chng ta đến với dn của Ngi; nếu khng c ý thức thuộc về dn ny, chng ta khng thể hiểu được căn tnh thm su của mnh.

269. Chnh Đức Kit l mẫu mực của phương php loan bo Tin Mừng ny, n đưa chng ta vo tận lng của dn Ngi. Tốt biết bao cho chng ta khi được chim ngắm sự thn mật gần gũi của Ngi với mọi người! Nếu Ngi ni chuyện với ai, Ngi nhn thẳng vo mắt họ với một tnh yu v sự quan tm su thẳm: Ðức Gisu đưa mắt nhn anh ta v đem lng yu mến (Mk 10:21). Chng ta thấy Ngi dễ đến gần như thế no, khi ngi lại gần người m (xem Mc 10:46-52) v ăn uống với những kẻ tội lỗi (xem Mc 2:16) m khng sợ bị người khc nghĩ mnh l kẻ m ăn uống v say sưa (xem Mt 11:19). Chng ta thấy được sự tế nhị của Ngi khi cho php người phụ nữ tội lỗi lấy dầu thơm xức chn Ngi (xem Lc 7:36-50), v khi tiếp ng Nicđm ban đm (xem Ga 3:1-15). Hi sinh của Đức Gisu trn thập gi khng l g khc hơn tột đỉnh của cch m Ngi đ sống suốt cả đời Ngi. Được gương sng Ngi đnh động, chng ta muốn hon ton đi vo cc thnh phần cấu tạo của x hội ny, chia sẻ cuộc sống với mọi người, lắng nghe cc mối quan tm của họ, gip đỡ họ vật chất v tinh thần trong cc nhu cầu của họ, vui với người vui, khc với người khc; tay trong tay với những người khc, chng ta dấn thn xy dựng một thế giới mới. Nhưng chng ta lm điều ny khng phải v ý thức về sự b buộc, khng phải như một bổn phận nặng nề, nhưng l kết quả của một quyết định bản thn, n cho chng ta niềm vui v ý nghĩa cho cuộc sống.

270. Đi khi chng ta bị cm dỗ trở thnh kiểu Kit hữu đứng xa để nhn cc vết thương của Cha. Nhưng Đức Gisu muốn chng ta chạm vo sự khốn cng của con người, chạm vo da thịt đau khổ của người khc. Ngi hi vọng chng ta ngưng tm kiếm những ci thp ng của c nhn hay cộng đồng để che chở chng ta khỏi vng xoy những nỗi bất hạnh của con người; tri lại, ngi muốn chng ta đi vo thực tế đời sống của những người khc v biết được sức mạnh của sự dịu dng. Mỗi khi lm như thế, đời sống chng ta sẽ trở nn ho nhập một cch kỳ diệu v chng ta cảm nghiệm su xa thế no l một dn tộc, thế no l thnh phần của một dn tộc.

271. Đng l trong cc hnh vi ứng xử của chng ta với thế giới, chng ta phải trnh by cc lý do cho niềm hi vọng của mnh, nhưng khng phải theo cch của một kẻ th chỉ trch v ln n. Chng ta được dạy kh r: phải trả lời cch hiền ha v với sự knh trọng (1 P 3:15 [3:16]) v hy lm tất cả những g anh em c thể lm được, để sống ha thuận với mọi người (Rm 12:18). Chng ta cũng được dạy phải lấy thiện m thắng c (Rm 12:21) v lm điều thiện cho mọi người (Gl 6:10). Thay v tm cch tỏ ra hơn người khc, chng ta phải lấy lng khim nhường m coi người khc hơn mnh (Pl 2:3). Chnh cc tng đồ của Cha đ được ton dn thương mến (Cv 2:47; 4:21, 33; 5:13). R rng Cha Gisu khng muốn chng ta l những nhn vật quan trọng coi khinh kẻ khc, nhưng l những người nam người nữ của dn chng. Đy khng phải ý tưởng của gio hong, hay một chọn lựa giữa cc chọn lựa khc, m l lệnh truyền trong lời Cha qu r rng, thẳng thắn v thuyết phục khng cần giải thch, nếu khng n sẽ mất đi sức mạnh thch thức chng ta. Chng ta chỉ việc sống cc lời ấy m khng cần giải thch, khng cần bnh luận. Sống như thế chng ta sẽ biết được niềm vui của việc chia sẻ cuộc sống với dn trung thnh của Thin Cha khi chng ta cố gắng đốt ln một ngọn lửa trong lng thế giới.

272. Yu thương người khc l một sức mạnh thing ling ko chng ta vo sự hiệp nhất với Thin Cha; thực vậy, ai khng yu thương th đi trong bng tối (1 Ga 2:11), ở trong sự chết (1 Ga 3:14) v khng biết Thin Cha (1 Ga 4:8). Đức Bnđict XVI ni rằng nhắm mắt trước người thn cận cũng l bịt mắt chng ta trước Thin Cha,[209] v rằng tnh yu, xt cho cng, l nh sng duy nhất c thể lun lun chiếu sng một thế giới đang tối đi v cho chng ta can đảm cần thiết để tiếp tục sống v lm việc.[210] Khi chng ta sống một thứ linh đạo gần gũi với người khc v tm kiếm hạnh phc của họ, lng chng ta được mở rộng trước cc qu tặng tuyệt vời v đẹp nhất của Cha. Khi chng ta gặp gỡ người khc với lng yu thương, chng ta học được một điều g mới về Thin Cha. Mỗi khi mắt chng ta mở ra để nhn nhận người khc, chng ta lớn ln trong nh sng của đức tin v của sự hiểu biết Thin Cha. Nếu chng ta muốn tiến bộ trong đời sống thing ling, chng ta phải khng ngừng l người truyền gio. Hoạt động loan bo Tin Mừng lm giu cho tr c v tm hồn; n mở ra những chn trời thing ling; n lm chng ta ngy cng thm mẫn cảm đối với cc tc động của Cha Thnh Thần, v n đưa chng ta vượt qua những cấu trc thing ling giới hạn. Một người truyền gio nhiệt tnh cảm nhận được niềm vui mnh l một suối nước vọt ra để tưới mt người khc. Chỉ người no cảm thấy hạnh phc khi tm lợi ch cho người khc, mong muốn hạnh phc cho họ, người ấy mới c thể l người truyền gio. Sự mở lng ny l một nguồn vui, v cho th c phc hơn l nhận (Cv 20:35). Chng ta khng sống tốt hơn được khi trốn trnh, nu ẩn, từ chối chia sẻ, ngừng trao ban v đng kn mnh trong những tiện nghi của mnh. Một nếp sống như thế khng khc g một cuộc tự st từ từ.

273. Sứ mệnh của ti giữa lng dn khng chỉ l một phần của đời ti hay một ci ph hiệu m ti c thể gỡ bỏ; n khng phải một ci g phụ thm hay chỉ l một khoảnh khắc khc trong cuộc đời. Tri lại, n l một ci g ti khng thể dứt bỏ khỏi mnh nếu khng muốn tiu diệt chnh mnh.Ti l một sứ mệnh trn tri đất ny; đ l lý do tại sao ti c mặt trn tri đất ny. Chng ta phải coi ḿnh như được đng ấn, thậm ch được in nhn bởi sứ mệnh mang nh sng, phc lnh, tạo sức sống, nui dưỡng, chữa lnh v giải thot. Nhn khắp quanh mnh, chng ta bắt đầu nhận thấy những người điều dưỡng cho linh hồn, những thầy dạy cho linh hồn, những chnh trị gia cho linh hồn, những người đ chọn ho mnh vo với người khc v cho người khc. Nhưng một khi chng ta tch rời hoạt động khỏi đời sống ring tư của mnh, mọi thứ đổi thnh mu xm v chng ta sẽ lun lun cố đi tm sự nhn nhận hay khẳng định cc nhu cầu của mnh. Chng ta hết cn l một dn tộc.

274. Nếu chng ta muốn chia sẻ đời mnh với người khc v quảng đại trao ban, chng ta cũng phải nhận ra rằng mọi người xứng đng với sự trao ban của chng ta. Khng phải v dng dấp nơi thn hnh của họ, những khả năng của họ, ngn ngữ của họ, cch suy nghĩ của họ, hay bất cứ sự thoả mn no m chng ta c thể nhận được, nhưng v họ l cng trnh của Thin Cha, l tạo vật của Thin Cha. Thin Cha đ dựng nn con người ấy theo hnh ảnh Ngi, v người ấy phản chiếu phần no vinh quang của Thin Cha. Mọi con người đều l đối tượng của lng nhn từ v bin của Thin Cha, v chnh Thin Cha hiện diện trong cuộc đời họ. Đức Gisu đ hiến mu thnh chu bu của Ngi trn thập gi v người ấy. Bất kể hnh hi họ thế no, mỗi người đều v cng thnh thiện v xứng đng với tnh yu của chng ta. Do đ, nếu ti c thể gip t l một người c một cuộc sống tốt hơn, th sự hiến mnh của ti đ được biện minh rồi. L dn trung thnh của Thin Cha quả l tuyệt vời. Chng ta đạt được sự thnh ton khi ph đổ cc bức tường ngăn cch v trong tim chng ta chứa đầy những khun mặt v những ci tn!

Hoạt động nhiệm mầu của Đức Kit phục sinh v của Thần Kh Ngi

275. Trong chương 2, chng ta đ suy tư về sự thiếu vắng một linh đạo thm su dẫn đến thi độ bi quan, tất định v hoi nghi. Một số người khng dấn thn cho truyền gio bởi v họ nghĩ sẽ chẳng thay đổi được g v c cố gắng bao nhiu cũng v ch. Họ nghĩ: Sao ti phải từ bỏ cc tiện nghi v th vui nếu ti chẳng thấy c kết quả g? Thi độ ny khiến người ta khng thể lm người truyền gio. Đy chỉ l một ci cớ dối tr để tiếp tục bị vướng mắc trong tiện nghi, lười biếng, bất mn một cch vu vơ v ch kỷ, trống rỗng. N l một thi độ tự huỷ diệt, v người ta khng thể sống m khng c hi vọng: cuộc đời sẽ trở nn v nghĩa v khng thể chịu đựng nổi.[211] Nếu chng ta nghĩ rằng khng ci g thay đổi được, chng ta phải nhớ rằng Đức Gisu Kit đ chiến thắng tội lỗi v sự chết v by giờ l Đấng ton năng. Đức Gisu Kit đang sống thực sự. Ni cch khc, nếu Ðức Kit đ khng chỗi dậy, th lời rao giảng của chng ti trống rỗng (1 Cr 15:14). Tin Mừng kể cho chng ta rằng khi cc tng đồ bắt đầu đi rao giảng, Cha cng hoạt động với cc ng, v dng những dấu lạ km theo m xc nhận lời cc ng rao giảng (Mc 16:20). Đ cũng l điều xảy ra hm nay. Chng ta được mời gọi khm ph v trải nghiệm điều đ. Đức Kit sống lại v được tn vinh l nguồn suối hi vọng của chng ta, v Ngi sẽ khng từ chối gip đỡ chng ta trong việc thực thi sứ mạng Ngi đ uỷ thc cho chng ta.

276. Sự sống lại của Đức Kit khng phải l một biến cố của qu khứ; n chứa đựng một sức mạnh cốt thiết đ thấm nhuần thế giới ny. Ở đu m tất cả c vẻ như đ chết, ở đ cc dấu hiệu phục sinh đột nhin xuất hiện. Đ l một sức mạnh khng thể cưỡng lại được. Thường chng ta thấy Thin Cha c vẻ như khng hiện hữu: chng ta thấy khắp quanh mnh những cảnh bất cng, tội c, thờ ơ, tn bạo khng ngớt. Nhưng cũng đng l giữa cảnh tối tăm lun lun c một ci g mới pht sinh v sớm hay muộn sẽ sinh hoa kết quả. Trn mặt đất bị san bằng, sự sống vẫn bng dậy một cch ngoan cường. Bất kể hon cảnh đen tối đến đu, sự thiện lun lun xuất hiện trở lại v lan toả. Mỗi ngy trong thế giới của chng ta, ci đẹp lun lun ti sinh, n lớn ln xuyn qua những bo tố của lịch sử. Cc gi trị lun lun c khuynh hướng xuất hiện trở lại dưới những dạng mới, v loi người cũng đ ti sinh hết lần ny qua lần khc từ những tnh huống xem như l đ tận số. Sức mạnh của sự sống lại l như thế, v tất cả những người loan bo Tin Mừng l những cng cụ của sức mạnh ấy.

277. Trong khi ấy, cc kh khăn mới cũng khng ngừng xuất hiện: cc trải nghiệm về thất bại v yếu đuối lm chng ta rất đau buồn. Qua kinh nghiệm, tất cả chng ta biết rằng đi khi một cng việc khng đem lại cho chng ta sự thoả mn m chng ta tm kiếm, cc kết quả th t v cc sự thay đổi th chậm chạp, v chng ta bị cm dỗ trở nn mệt mỏi. Nhưng hạ kh giới tạm thời v mệt mỏi khng đồng nghĩa với vĩnh viễn đầu hng do sự bất mn v sự bất lực lm nứt nẻ linh hồn. Cũng c khi chng ta c thể chn nản trong cuộc đấu tranh v cuối cng chng ta bị mắc kẹt trong chnh mnh, trong một thi độ vụ nghề nghiệp muốn tm sự nhn nhận, vỗ tay, tưởng thưởng v địa vị. Trong trường hợp ny chng ta khng bung vũ kh, nhưng khng cn nắm bắt được điều chng ta tm kiếm, sự sống lại khng c ở đ. Trong cc trường hợp như thế, Tin Mừng khng cn được đn nhận như l sứ điệp tuyệt vời nhất m thế giới ny c thể cng hiến, nhưng bị chn vi dưới một đống những lời bao biện.

278. Đức tin cũng c nghĩa l tin vo Thin Cha, tin rằng Người thực sự yu chng ta, Người c khả năng can thiệp một cch mầu nhiệm, Người khng bỏ rơi chng ta v Người rt ra điều thiện từ điều c bằng quyền năng v tnh sng tạo v bin của Ngưới. Đức tin c nghĩa l tin rằng Thin Cha tiến bước khải hon trong lịch sử cng với những người được gọi, được chọn v trung thnh (Kh 17:14). Chng ta hy tin vo Tin Mừng khi Tin Mừng ni với chng ta rằng Nước Thin Cha đ hiện diện trong thế giới ny v đang lớn ln, ở đy v ở kia, cch ny hay cch khc: giống như hạt cải nhỏ xu lớn ln thnh một cy to (xem Mt 13:31-32), giống như nắm men lm cho dậy cả đấu bột (xem Mt 13:33), v giống như hạt giống tốt mọc ln giữa cỏ dại (xem Mt 13:24-30) v lun lun c thể lm chng ta ngạc nhin thch th. Nước Cha đang ở đy, n trở lại, n đấu tranh để khng ngừng pht triển. Sự phục sinh của Đức Kit khắp nơi lm pht sinh những hạt giống cho thế giới mới ấy; nếu chng bị yếu đi, chng lại mọc trở lại, v sự phục sinh đ m thầm được đan vo trong cơ cấu của lịch sử ny, v Đức Gisu đ khng sống lại một cch v ch. Chng ta chớ bao giờ đứng bn lề cuộc diễn hnh của niềm hi vọng sống động ny!

279. V khng lun lun nhn thấy cc hạt giống ny lớn ln, chng ta cần c một sự chắc chắn nội tm, một niềm xc tn rằng Thin Cha c khả năng hnh động trong mọi tnh huống, ngay cả giữa những ci bề ngoi c vẻ l thất bại: chng ti chứa đựng kho tng ny trong những bnh snh (2 Cr 4:7). Niềm tin chắc ny thường được gọi l một cảm thức về mầu nhiệm. Đ l biết một cch chắc chắn rằng tất cả những ai tin tưởng ph thc vo Thin Cha trong tnh yu sẽ sinh nhiều hoa tri (xem Ga 15:5). Sự sinh hoa kết quả ny thường khng nhn thấy, kh nắm bắt v khng thể định lượng. Chng ta c thể biết kh chắc l cuộc đời chng ta sẽ c kết quả, mặc d khng biết được như thế no, ở đu hay khi no. Chng ta c thể biết chắc rằng khng một hnh vi yu thương no của mnh bị mất đi, hay bất cứ hnh vi quan tm no của chng ta đối với người khc. Khng một hnh vi yu mến no của chng ta đối với Thin Cha sẽ bị mất đi, khng một cố gắng quảng đại no l v nghĩa, khng một sự chịu đựng đau đớn no bị ph phạm. Tất cả cc hnh vi ny bao bọc thế giới chng ta giống như một lực sống. Đi khi cng việc chng ta lm c vẻ như v hiệu, nhưng truyền gio khng giống như một vụ giao dịch kinh doanh hay đầu tư, hay thậm ch như một hoạt động nhn đạo. N khng phải l một buổi trnh diễn ở đ chng ta đếm xem c bao nhiu khn giả đến xem do quảng co của chng ta; n l một ci g su hơn nhiều, khng lấy thước no m đo được. C thể Cha dng cc hi sinh của chng ta để ban phc lnh cho cc miền khc của thế giới m chng ta sẽ khng bao giờ đến thăm. Cha Thnh Thần hoạt động theo Người muốn, khi Người muốn v ở nơi no Người muốn; chng ta ph thc cho Người m khng đi nhn thấy cc kết quả ấn tượng. Chng ta chỉ biết rằng dấn thn của chng ta l cần thiết. Chng ta hy học để biết nghỉ ngơi trong vng tay u yếm của Cha giữa cc hoạt động quảng đại v sng tạo của mnh. Chng ta hy tiếp tục tiến tới; chng ta hy dng cho Người mọi sự, để Người lm cho cc cố gắng của chng ta sinh hoa kết quả đng thời đng lc.

280. Duy tr nhiệt tnh truyền gio sống động đi chng ta vững vng tin cậy vo Cha Thnh Thần, v chnh Người l Đấng cứu gip những nỗi yếu hn của chng ta (Rm 8:6). Nhưng sự tin cậy quảng đại ny cần được nui dưỡng, v thế chng ta cần lin lỷ ku xin Cha Thnh Thần. Người c thể chữa lnh những g lm chng ta suy giảm nhiệt tnh truyền gio. Đng l sự tin cậy ny vo Đấng v hnh c thể lm chng ta cảm thấy mất phương hướng: n giống như chm xuống biển su v khng biết mnh sẽ gặp những g. Bản thn ti từng thường xuyn trải nghiệm tnh cảnh ny. Nhưng khng c sự tự do no lớn hơn l để mnh được Cha Thnh Thần hướng dẫn, khng tm cch vạch kế hoạch v kiểm sot mọi sự từng chi tiết, tri lại để cho Người soi sng, hướng dẫn v điều khiển chng ta, dẫn đưa chng ta đi đu tuỳ theo ý Người. Cha Thnh Thần biết r ci g cần ở đu v lc no. Hiệu quả một cch mầu nhiệm c nghĩa l như thế.

 

Sức mạnh truyền gio của kinh nguyện chuyển cầu

281. C một hnh thức cầu nguyện thc đẩy chng ta đặc biệt dấn thn cho cng cuộc truyền gio v tm kiếm lợi ch của người khc, đ l: kinh nguyện chuyển cầu. Chng ta hy dừng lại t pht v nhn vo ci lng của Thnh Phaol để xem kinh nguyện của ngi như thế no. Kinh nguyện của ngi đầy ắp những con người: ...Ti lun vui sướng mỗi khi cầu nguyện cho anh em hết thảy, ... bởi v ti mang anh em trong lng ti (Pl 1:4, 7). Ở đy chng ta thấy kinh nguyện chuyển cầu khng ko tm tr chng ta ra khỏi việc chim niệm thực sự, v chim niệm đch thực lun lun c chỗ cho người khc.

282. Thi độ ny trở thnh một kinh nguyện tạ ơn Thin Cha cho người khc: Ti hằng cảm tạ Thin Cha của ti v anh em, về n huệ Người đ ban cho anh em nơi Ðức Kit Gisu (1 Cr 1:4); Ti cảm tạ Thin Cha của ti, mỗi lần nhớ đến anh em (Pl 1:3). Hon ton khng ngờ vực, tiu cực hoặc gy thất vọng, thi độ ny l một ci nhn thing ling xuất pht từ đức tin su xa biết nhn nhận những g Thin Cha đang lm nơi cuộc đời của những người khc. Đồng thời, đy l lng biết ơn tun ra từ một tri tim quan tm tới người khc. Khi người truyền gio đứng dậy sau khi cầu nguyện, lng của họ được mở rộng hơn; khng cn chỉ quan tm đến bản thn mnh, họ ho hức lm việc thiện v chia sẻ cuộc sống với những người khc.

283. Những người nam người nữ tuyệt vời của Thin Cha đều l những người chuyển cầu tuyệt vời. Lời kinh chuyển cầu giống như men trong tri tim của Thin Cha Ba Ngi. Đ l cch để đi su vo tri tim của Cha Cha v khm ph ra những kha cạnh c thể dọi nh sng trn những tnh huống cụ thể v thay đổi chng. C thể ni tim của Thin Cha bị lời chuyển cầu của chng ta đnh động, nhưng trn thực tế Người lun lun c ở đ trước. Ci m lời chuyển cầu của chng ta đạt được l sức mạnh, tnh yu v sự trung tn của Người được tỏ lộ r rng hơn giữa dn chng.

II. ĐỨC MARIA, MẸ CỦA VIỆC TN PHC M HO

284. Cng với Cha Thnh Thần, Đức Maria lun lun hiện diện giữa dn [Cha]. Ngi cng với cc mn đệ cầu nguyện để xin Cha Thnh Thần ngự đến (Cv 1:14) v nhờ đ diễn ra cuộc bng pht truyền gio vo ngy lễ Ngũ Tuần. Đức Maria l Mẹ của Hội Thnh truyền gio, v khng c Mẹ, chng ta khng bao giờ c thể thực sự hiểu r tinh thần của cuộc tn phc m ho.

Mn qu của Cha Gisu cho dn của Ngi

285. Trn thnh gi, khi đang chịu đựng nơi thn thể mnh cuộc hội ngộ đầy kịch tnh giữa tội của thế gian v lng thương xt của Thin Cha, Đức Gisu c thể cảm nhận được sự hiện diện đầy an ủi của Mẹ v cc bạn của Ngi dưới chn thnh gi. Vo giờ pht quyết định ấy, trước khi hon tất cng trnh m Cha đ giao ph cho Ngi, Đức Gisu ni với Đức Maria: Thưa B, đy l con của B. Rồi ngi ni với người bạn dấu yu của Ngi: Đy l mẹ của anh (Ga 19:26-27). Những lời ny của Đức Gisu trong cơn hấp hối chủ yếu khng phải l để by tỏ lng tn sng v quan tm đối với Mẹ của Ngi; đng hơn, đ l một cng thức của mặc khải để tỏ lộ mầu nhiệm của một sứ mạng cứu rỗi đặc biệt. Đức Gisu trối lại cho chng ta Mẹ của Ngi. Chỉ sau khi lm xong việc ny, Đức Gisu biết rằng by giờ mọi sự đ hon tất (Ga 19:28). Dưới chn thập gi, vo giờ pht tột đỉnh ny của cuộc tạo dựng mới, Đức Kit đưa chng ta đến với Đức Maria. Ngi đưa chng ta đến với Mẹ v Ngi khng muốn chng ta đi trn đường đời m khng c một người mẹ, v dn của chng ta đọc được nơi hnh ảnh từ mẫu ny tất cả cc mầu nhiệm của Tin Mừng. Đức Kit khng muốn rời Hội Thnh m khng để lại biểu tượng ny của tnh mẫu tử. L người đ đem Đức Gisu vo thế gian với một đức tin tuyệt vời, Mẹ Maria cũng đồng hnh với những người cn lại trong dng di b, l những người tun theo cc điều răn của Thin Cha v giữ lời chứng của Ðức Gisu (Kh 12:17). Mối lin kết mật thiết giữa Đức Maria, Hội Thnh v từng tn hữu, dựa trn sự kiện mỗi người sinh ra Đức Kit theo cch ring của mnh, đ được Chn Phước Isaac stella diễn tả thật tuyệt vời: Trong Sch Thnh được linh hứng, những g được ni về người trinh nữ lm mẹ theo một nghĩa phổ qut l Hội Thnh, đều được hiểu theo một nghĩa đặc th l Trinh Nữ Maria... Tương tự, mỗi Kit hữu cũng được gọi l hiền th của Lời Thin Cha, l mẹ của Đức Kit, l con gi v em gi của Ngi, vừa đồng trinh vừa đng con ci... Đức Kit đ ở chn thng trong nh tạm cung lng của Đức Maria. Ngi ở trong nh tạm đức tin của Hội Thnh cho tới ngy tận thế. Ngi sẽ ở mi mi trong sự hiểu biết v tnh yu của mỗi linh hồn tn hữu.[212]

286. Đức Maria đ c thể biến ci chuồng b lừa thnh một mi ấm cho hi nhi Gisu, với những mảnh t ngho nn v một tnh yu thương chan chứa. Mẹ l nữ tỳ của Cha để ca ht tn tụng Cha. Mẹ l người bạn lun lun quan tm để cuộc đời chng ta khng thiếu rượu. Mẹ l người phụ nữ c tri tim bị lưỡi gươm đm thu v đồng cảm với những nỗi đau của chng ta. L mẹ của mọi người, Mẹ l dấu hiệu hi vọng cho cc dn tộc đang quặn đau để sinh ra cng lý. Mẹ l người truyền gio đến gần chng ta v đồng hnh với chng ta suốt dng đời, dng tnh mẫu tử để mở lng chng ta ra đn nhận đức tin. L người mẹ thực sự, mẹ đi bn cạnh chng ta, chia sẻ cc phấn đấu của chng ta v hằng bao bọc chng ta bằng tnh thương của Thin Cha. Bằng nhiều tước hiệu khc nhau, thường gắn liền với cc đền đi của Mẹ, Mẹ Maria chia sẻ lịch sử của mỗi dn tộc đ đn nhận Tin Mừng v trở thnh một phần của căn tnh lịch sử của dn tộc ấy. Nhiều cha mẹ Kit hữu xin cho con ci họ được rửa tội tại một đền Đức Mẹ, để biểu lộ niềm tin của họ vo tnh từ mẫu của Mẹ, tnh từ mẫu sinh ra cc con ci mới cho Thin Cha. Tại nhiều đền thờ Đức Mẹ, chng ta c thể thấy Mẹ Maria tập họp đng đảo cc con ci Mẹ, những người con hết sức cố gắng hnh hương đến đ để được nhn thấy Đức Mẹ v được Đức Mẹ nhn thấy mnh. Tại đy họ tm được sức mạnh Thin Cha ban để chịu đựng những vất vả mệt nhọc v những đau khổ trong cuộc sống. Như Mẹ an ủi Thnh Juan Diego, Mẹ cũng ban cho họ niềm an ủi v tnh thương từ mẫu, v th thầm vo tai họ: Con đừng lo lắng... Khng phải Mẹ của con đang ở đy sao?[213]

Ngi Sao của cuộc tn phc m ho

287. Chng ta xin Mẹ của Tin Mừng sống chuyển cầu để lời mời gọi ny cho một giai đoạn mới của việc loan bo Tin Mừng được ton thể cộng đồng Hội Thnh đn nhận. Đức Maria l người phụ nữ đầy đức tin, sống v tiến bước trong đức tin,[214] v cuộc lữ hnh đức tin phi thường của Mẹ biểu thị một điểm qui chiếu cho Hội Thnh.[215] Đức Maria để mnh được Cha Thnh Thần hướng dẫn trong hnh trnh đức tin hướng tới sứ mạng phục vụ v sinh hoa kết quả. Ngy nay chng ta hướng về Mẹ v xin Mẹ gip chng ta loan bo sứ điệp cứu độ cho mọi người v gip những người mới trở thnh mn đệ đến lượt họ cũng trở thnh những người loan bo Tin Mừng.[216] Trn con đường loan bo Tin Mừng ny, chng ta sẽ gặp những lc kh khan, tăm tối v cả mệt mỏi. Bản thn Đức Maria đ từng trải nghiệm những thử thch ny trong những năm tuổi thơ của Đức Gisu tại Nadart: Đy l khởi đầu của Tin Mừng, tin mừng hn hoan. Tuy nhin, khng kh để nhận thấy nơi khởi đầu ấy một sự nặng nề đặc biệt của tri tim, gắn liền với một thứ đm tối đức tin—những từ được Thnh Gioan Thnh Gi sử dụng—một thứ mn che m qua đ chng ta phải đến gần Đấng V Hnh v sống trong sự thn mật với mầu nhiệm. V đy chnh l cch m Đức Maria trong suốt nhiều năm đ sống trong sự thn mật với mầu nhiệm Con của ngi, v tiến bước trong cuộc lữ hnh đức tin của ngi.[217]

288. Cng cuộc loan bo Tin Mừng của Hội Thnh c một phong cch Maria. Mỗi khi nhn ln Đức Mẹ, chng ta một lần nữa tin vo bản chất cch mạng của tnh thương v sự dịu dng. Nơi Mẹ ta thấy rằng lng khim nhường v dịu dng khng phải l nhn đức của kẻ những kẻ yếu đuối, nhưng của những người mạnh khng cư xử tồi tệ với người khc để cảm thấy mnh l quan trọng. Chim ngắm Đức Maria, chng ta nhận ra rằng ngi l người từng ca ngợi Thin Cha v đ hạ bệ những kẻ quyền thế v đuổi người giu c trở về tay trắng (Lc 1:52-53) cũng l người đem đến một hơi ấm gia đnh cho cuộc theo đuổi cng lý của chng ta. Ngi cũng l người cẩn thận ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, v suy đi nghĩ lại trong lng (Lc 2:19). Đức Maria c khả năng nhận ra những dấu vết của Thần Kh Thin Cha trong những sự kiện lớn cũng như nhỏ. Mẹ lin lỷ chim ngắm mầu nhiệm Thin Cha trong thế giới chng ta, trong lịch sử nhn loại v trong đời sống thường ngy của chng ta. Mẹ l người phụ nữ cầu nguyện v lao động ở Nadart, v cũng l Đức B Ph Gip, rời lng mnh một cch vội v (Lc 1:39) để đi phục vụ người khc. Sự giao thoa ny giữa cng bằng v nhn hậu, giữa chim niệm v lo cho người khc, l ci lm cho cộng đồng Hội Thnh nhn ln Đức Mẹ như l mẫu gương cho việc loan bo Tin Mừng. Chng ta ni xin sự chuyển cầu từ mẫu của Mẹ để Hội Thnh c thể trở thnh một mi ấm cho nhiều dn tộc, một người mẹ cho mọi dn tộc, v mở đường để một thế giới mới c thể được sinh ra. Chnh Đức Kit phục sinh đ ni với chng ta với một quyền năn lm chng ta trn trề tin tưởng v hi vọng: Ny đy Ta đổi mới mọi sự (Kh 21:5). Với Đức Mẹ, chng ta tin tưởng tiến bước về sự hon thnh lời hứa ny, v chng ta cầu nguyện với Mẹ:

Maria, Trinh Nữ, Mẹ dấu yu

bởi tc động của Cha Thnh Thần, 

Mẹ đ đn nhận Lời Sự Sống 

tự thẳm su đức tin khim cung của Mẹ: 

Như Mẹ đ tự hiến hon ton cho Đấng Hằng Hữu, 

xin gip chng con cũng biết thưa vng 

trước tiếng gọi ngy cng cấp bch, 

đi rao giảng Tin Mừng của Đức Gisu.

Đầy trn sự hiện diện của Đức Kit trong lng, 

Mẹ đem niềm vui đến cho Gioan Tẩy Giả, 

khiến thnh nhn trong lng mẹ mnh nhảy mừng. 

Rộn rng niềm vui sướng hn hoan, 

Mẹ ca ht những kỳ cng của Cha. 

Đứng dưới chn thập gi với lng tin kin vững, 

Mẹ vui sướng nhận niềm an ủi phục sinh, 

v cng cc mn đệ ngng đợi Thnh Thần đến, 

để Hội Thnh truyền gio được khai sinh.

Nay xin Mẹ chuyển cầu cho chng con 

được một nhiệt huyết mới bắt nguồn từ phục sinh, 

để chng con đem cho mọi người 

Tin Mừng của sự sống chiến thắng tử thần. 

Xin cho chng con niềm can đảm thnh thiện 

biết tm ra những lối đi mới 

để qu tặng của ci đẹp khng phai 

c thể đến được với mọi người.

i Trinh Nữ hằng lắng nghe v chim ngắm, 

Mẹ tnh yu, C Du của tiệc cưới vĩnh cửu, 

xin cầu cho Hội Thnh m Mẹ l biểu tượng tinh tuyền, 

để Hội Thnh khng bao giờ đng kn 

hay đnh mất niềm say m thiết lập Nước Cha.

i Ngi Sao của cuộc tn phc m ho, 

xin gip chng con trở thnh những chứng nhn rạng rỡ 

cho tnh hiệp thng v phục vụ, 

cho đức tin nồng chy v quảng đại, 

cho cng lý v tnh thương đối với người ngho, 

để niềm vui của Tin Mừng chạm đến tận cng tri đất, 

soi sng cả những bờ ra thế giới.

Lạy Mẹ của Tin Mừng sống động, 

suối hạnh phc cho những người hn mọn của Thin Cha, 

xin cầu cho chng con. 

Amen. Allluia!

 

Ban hnh tại Roma, cạnh Đền Thờ Thnh Phr, ngy 24 thng 11 năm 2013, năm đầu tin sứ vụ Gio Hong của ti, nhn ngy đại lễ Cha Gisu Kit, Vua Vũ Trụ, v ngy kết thc Năm Đức Tin.

PHANXIC

 

 

 

CH THCH

[1] PHAOL VI, Tng Huấn Gaudete in Domino (9-5-1975), 22: AAS 67 (1975), 297.

[2] Ibid. 8: AAS 67 (1975), 292.

[3] Thng Điệp Deus Caritas Est (25-12-2005), 1: AAS 98 (2006), 217.

[4] ĐẠI HỘI LẦN THỨ V CỦA CC GIM MỤC CHU MỸ LATINH V CARIB, Văn Kiện Aparecida, 29-6-2007, 360.

[5] Ibid.

[6] PHAOL VI, Tng Huấn Evangelii Nuntiandi (8-12-1975), 80: AAS 68 (1976), 75.

[7] Spiritual Canticle, 36, 10.

[8] Adversus Haereses, IV, c. 34, n. 1: PG 7, pars prior, 1083: Omnem novitatem attulit, semetipsum afferens.

[9] PHAOL VI, Tng Huấn Evangelii Nuntiandi (8-12-1975), 7: AAS 68 (1976), 9.

[10] Cf. Propositio 7.

[11] BNĐICT XVI, Bi giảng Thnh Lễ Bế Mạc Thượng Hội Đồng Gim Mục (28-10-2012): AAS 104 (2102), 890.

[12] Ibid.

[13] BNĐICT XVI, Bi giảng Thnh Lễ Khai Mạc Đại Hội Lần Thứ V của cc Gim Mục Chu Mỹ Latinh v Carib (13-5-2007), Aparecida, Brazil: AAS 99 (2007), 437.

[14] Thng Điệp Redemptoris Missio (7-12-1990), 34: AAS 83 (1991), 280.

[15] Ibid., 40: AAS 83 (1991), 287.

[16] Ibid., 86: AAS 83 (1991), 333.

[17] ĐẠI HỘI LẦN THỨ V CỦA CC GIM MỤC CHU MỸ LATINH V CARIB, Văn kiện Aparecida, 29-6-2007, 548.

[18] Ibid., 370.

[19] Cf. Propositio 1.

[20] GIOAN PHAOL II, Tng Huấn hậu Thượng Hội Đồng Christifideles Laici (30-12-1988), 32: AAS 81 (1989) 451.

[21] ĐẠI HỘI LẦN THỨ V CỦA CC GIM MỤC CHU MỸ LATINH V CARIB, Văn kiện Aparecida, 29-6-2007, 201.

[22] Ibid., 551.

[23] PHAOL VI, Thng Điệp Ecclesiam Suam (6-8-1964), 9, 10, 11: AAS 56 (1964), 611-612.

[24] CNG ĐỒNG VATICAN II, Sắc Lệnh về Đại Kết Unitatis Redintegratio, 6.

[25] GIOAN PHAOL II, Tng Huấn hậu Thượng Hội Đồng Ecclesia in Oceania (22-11-2001), 19: AAS 94 (2002), 390.

[26] GIOAN PHAOL II, Tng Huấn hậu Thượng Hội Đồng Christifideles Laici (30-12-1988), 26: AAS 81 (1989), 438.

[27] Cf. Propositio 26.

[28] Cf. Propositio 44.

[29] Cf. Propositio 26.

[30] Cf. Propositio 41.

[31] CNG ĐỒNG VATICAN II, Sắc Lệnh về Nhiệm Vụ của Gim Mục Christus Dominus, 11.

[32] Cf. BNĐICT XVI, Diễn từ nhn Kỷ Niệm 40 Năm Sắc Lệnh Ad Gentes (11-3-2006): AAS 98 (2006), 337.

[33] Cf. Propositio 42.

[34] Cf. Gio Luật 460-468; 492-502; 511-514; 536-537.

[35] Thng Điệp Ut Unum Sint (25-5-1995), 95: AAS 87 (1995), 977-978.

[36] CNG ĐỒNG VATICAN II, Hiến Chế Tn Lý về Hội Thnh Lumen Gentium, 23.

[37] GIOAN PHAOL II, Tự Sắc Apostolos Suos (21-5-1998): AAS 90 (1998), 641-658.

[38] CNG ĐỒNG VATICAN II, Sắc Lệnh về Đại Kết Unitatis Redintegratio, 11.

[39] Cf. S. Th., I-II, q. 66, a. 4-6.

[40] S. Th., I-II, q. 108, a. 1.

[41] Chng ta thờ phương Thin Cha khng phải bằng những lễ vật hay những qu tặng vật chất cho Người, nhưng đng hơn l cho chng ta v cho tha nhn. Thin Cha khng cần cc lễ vật của chng ta, nhưng Người đi chng ta dng những lễ vật ấy để tn thờ Người v để mang lại lợi ch cho anh chị em chng ta. Đối với Người, lng thương xt l lễ vật đẹp lng Cha nhất, v n c sức khắc phục cc khiếm khuyết trong việc tn thờ v trong lễ vật của chng ta, v v hơn tất cả cc thứ khc, lng thương xt t́m kiếm lợi ch cho đồng loại của chng ta (S. Th., II-II, q. 30, a. 4, ad 1).

[42] CNG ĐỒNG VATICAN II, Sắc Lệnh về Mặc Khải Dei Verbum, 12.

[43] Tự Sắc Socialium Scientiarum (1-1-1994): AAS 86 (1994), 209.

[44] Thnh Tma Aquin cắt nghĩa rằng số lượng lớn cc tạo vật v sự đa dạng của chng l ý muốn của tc nhn đệ nhất, Người muốn rằng ci g m một c thể cn thiếu để phản chiếu sự tốt lnh của Thượng Đế th được b lại bởi cc c thể khc, v sự tốt lnh của Tạo Ho khng thể được phản chiếu đầy đủ bởi chỉ một tạo vật m thi (S. Th., I, q. 47, a. 1). V vậy chng ta cần hiểu r sự đa dạng của cc chủng loại trong cc mối lin hệ của chng với nhau (cf. S. Th., I, q. 47, a. 2, ad 1; q. 47, a. 3). Tương tự, chng ta cần lắng nghe v bổ sung cho nhau trong nhận thức cục bộ của chng ta về thực tại v về Tin Mừng.

[45] GIOAN XXIII, Diễn từ Khai Mạc Cng Đồng Vatican II (11-10-1962): AAS 54 (1962), 792: Est enim aliud ipsum depositum fidei, seu veritates, quae veneranda doctrina nostra continentur, aliud modus, quo eaedem enuntiantur.

[46] GIOAN PHAOL II, Thng Điệp Ut Unum Sint (25-5-1995), 19: AAS 87 (1995), 933.

[47] S. Th., I-II, q. 107, a. 4.

[48] Ibid.

[49] Số 1735

[50] Cf. GIOAN PHAOL II, Tng Huấn hậu Thượng Hội Đồng Familiaris Consortio (22-11-1981), 34: AAS 74 (1982), 123.

[51] Cf. THNH AMBROSI, De Sacramentis, IV, 6, 28: PL 16, 464: Ti phải lun lun lnh nhận b tch ny để được tha thứ tội lỗi. Nếu ti lin tục phạm tội, ti phải c thuốc chữa; ID., op. cit., IV, 5, 24: PL 16, 463: Những người ăn manna đều đ chết; những ai ăn thnh thể ny sẽ được ơn tha cc tội của họ ; SAINT CYRIL OF ALEXANDRIA, In Joh. Evang., IV, 2: PG 73, 584-585: Ti xt mnh v thấy mnh bất xứng. Với những người ni như vậy, ti ni: Vậy khi no bạn sẽ xứng đng? Khi cuối cng bạn ra trnh diện trước to Cha Kit ư? Vậy nếu cc tội lỗi ngăn cản bạn khng đến gần [Ngi] v bạn khng bao giờ ngưng phạm tội—v như Thnh Vịnh ni, no ai biết lỗi của mnh?—bạn sẽ tiếp tục khng dự phần vo ơn thnh ho ban sự sống đời đời sao?

[52] BNĐICT XVI, Diễn từ cho cc Gim Mục Brazil tại Nh Thờ Chnh To So Paolo, (11-5-2007), 3: AAS 99 (2007), 428.

[53] GIOAN PHAOL II, Tng Huấn hậu Thượng Hội Đồng Pastores Dabo Vobis (25-3-1992), 10: AAS 84 (1992), 673.

[54] PHAOL VI, Thng Điệp Ecclesiam Suam (6-11-1964), 19: AAS 56 (1964), 609.

[55] THNH GIOAN CHRYSOSTOM, De Lazaro Concio, II, 6: PG 48, 992D.

[56] Cf. Propositio 13.

[57] GIOAN PHAOL, Tng Huấn Ecclesia in Africa (11-9-1995), 52: AAS 88 (1996), 32-33; ID.,Thng Điệp Sollicitudo Rei Socialis (30 December 1987), 22: AAS 80 (1988), 539.

[58] GIOAN PHAOL II, Tng Huấn Ecclesia in Asia (11-11-1999), 7: AAS 92 (2000), 458.

[59] HỘI ĐỒNG GIM MỤC CNG GIO HOA KỲ, Mục vụ cho những người c xu hướng đồng tnh luyến i: Hướng dẫn chăm sc mục vụ (2006), 17.

[60] HỘI ĐỒNG GIM MỤC PHP, Tư Vấn Gia Đnh v X Hội, Mở rộng hn nhn cho những người đồng giới? Hy mở cuộc tranh luận! (28-9-2012).

[61] Cf. Propositio 25.

[62] CNG GIO TIẾN HNH Ý, Sứ Điệp của Đại Hội Ton Quốc Gửi Gio Hội v Tổ Quốc (8-5-2011).

[63] J. RATZINGER, The Current Situation of Faith and Theology. Giảng huấn tại Hội nghị cc Chủ Tịch cc Uỷ Ban Gim Mục Chu Mỹ Latinh về Gio Lý Đức Tin, Guadalajara, Mexico, 1996. Bản dịch tiếng Anh trong LOsservatore Romano, Ấn bản tiếng Anh, 6-12-1996. Cf. ĐẠI HỘI LẦN THỨ V CỦA CC GIM MỤC CHU MỸ LATINH V CARIB, Văn kiện Aparecida, 29-6-2007, 12.

[64] G. BERNANOS, Journal dun cur de campagne, Paris, 1974, 135.

[65] Diễn từ Khai mạc Cng Đồng Vatican II (11-10-1962): 4, 2-4: AAS 54 (1962), 789.

[66] J.H. NEWMAN, Thư ngy 26-1-1833, trong The Letters and Diaries of John Henry Newman, vol. III, Oxford 1979, 204.

[67] BNĐICT XVI, Bi giảng Thnh Lễ Khai mạc Năm Đức Tin (11-10-2012): AAS 104 (2012), 881.

[68] THOMAS KEMPIS, De Imitatione Christi, Lib. I, IX, 5: . Imaginatio locorum et mutatio multos fefellit (Dreaming of different places, and moving from one to another, has misled many).

[69] Chng ta c thể học được từ chứng từ của Thnh Trsa Lisieux khi ngi kể về một chị nữ tu kia rất kh tnh nhưng một trải nghiệm nội tm đ c một tc động quyết định đối với chị ấy: Một chiều ma đng ti đang lm cng tc thường xuyn của mnh. Trời lạnh v tối dần... Thnh lnh ti nghe từ đng xa những tiếng đn nhạc nhịp nhng. Ti bắt đầu tưởng tượng ra một căn phng thắp sng, dt vng, v trong phng c cc qu b cn trẻ ăn mặc lịch lm đang trao đổi cho nhau những lời tng bốc x giao. Rồi ti nhn sang người phụ nữ ngho bị bệnh m ti đang chăm sc. Thay v tiếng nhạc du dương, ti nghe thấy tiếng b rn rỉ v than thở... Ti khng thể diễn tả nổi điều g đang xảy ra trong tm hồn mnh. Ti chỉ biết rằng Cha đ soi sng tm hồn ti bằng những tia sng chn lý vượt qu sự ho nhong ph du của những th vui trần thế, khiến ti kh c thể tin vo niềm hạnh phc của mnh (Ms. C, 29v-30r, in Oeuvres Compltes, Paris, 1992, 274-275).

[70] Cf. Propositio 8.

[71] H. DE LUBAC, Mditation sur lՃglise, Paris, 1968, 321.

[72] HỘI ĐỒNG GIO HONG VỀ CNG LÝ V HO BNH, Tot Yếu Học Thuyết X Hội của Hội Thnh, 295.

[73] GIOAN PHAOL II, Tng Huấn hậu Thượng Hội Đồng Christifideles Laici (30-12-1988), 51: AAS 81 (1989), 413.

[74] THNH BỘ GIO LÝ ĐỨC TIN, Tuyn Bố Inter Insigniores về Vấn đề chấp nhận phụ nữ vo chức linh mục thừa tc (15-10-1976): AAS 68 (1977) 115, dẫn trong GIOAN PHAOL II, Tng Huấn hậu Thượng Hội Đồng Christifideles Laici (30-12-1988), ch thch 190: AAS 81 (1989), 493.

[75] GIOAN PHAOL II, Tng Thư Mulieris Dignitatem (15-8-1988), 27: AAS 80 (1988), 1718.

[76] Cf. Propositio 51.

[77] GIOAN PHAOL II, Tng Huấn hậu Thượng Hội Đồng Ecclesia in Asia (6-11-1999), 19: AAS 92 (2000), 478.

[78] Ibid., 2: AAS 92 (2000), 451.

[79] Cf. Propositio 4.

[80] Cf. CNG ĐỒNG VATICAN II, Hiến Chế Tn Lý về Hội Thnh Lumen Gentium, 1.

[81] Bi Suy Niệm trong Phin Họp Chung I tại Hội Nghị Thường Kỳ XIII của Thượng Hội Đồng Gim Mục (8-10-2012): AAS 104 (2012), 897.

 [82] Cf. Propositio 6; CNG ĐỒNG VATICAN II, Hiến Chế Mục Vụ về Hội Thnh trong Thế Giới Hm Nay Gaudium Spes, 22.

[83] Cf. CNG ĐỒNG VATICAN II, Hiến Chế Tn Lý về Hội Thnh Lumen Gentium, 9.

[84] Cf. ĐẠI HỘI LẦN THỨ III CỦA CC GIM MỤC CHU MỸ LATINH V CARIB,Văn Kiện Puebla, 23-3-1979, Nos. 386-387.

[85] Cf. CNG ĐỒNG VATICAN II, Hiến Chế Mục Vụ về Hội Thnh trong Thế Giới Hm Nay Gaudium Spes, 36.

[86] Ibid., 25.

[87] Ibid., 53.

[88] GIOAN PHAOL II, Tng Thư Novo Millennio Ineunte (6-1-2001), 40: AAS 93 (2001), 295.

[89] Ibid.

[90] GIOAN PHAOL II, Thng Điệp Redemptoris Missio (7-12-1990), 52: AAS 83 (1991), 300; cf. Tng Huấn Catechesi Tradendae (16 October 1979) 53: AAS 71 (1979), 1321.

[91] GIOAN PHAOL II, Tng Huấn hậu Thượng Hội Đồng Ecclesia in Oceania (22-11-2001), 16: AAS 94 (2002), 383.

[92] GIOAN PHAOL II, Tng Huấn hậu Thượng Hội Đồng Ecclesia in Africa (14-9-1995), 61: AAS 88 (1996), 39.

[93] THNH TMA AQUIN, S. Th. I, q. 39, a. 8 cons. 2: Nếu khng c Cha Thnh Thần l sợi dy nối kết cả hai, chng ta khng thể hiểu được sự hiệp nhất lin kết giữa Cha v Con; cf. I, q. 37, a. 1, ad 3.

[94] GIOAN PHAOL II, Tng Huấn hậu Thượng Hội Đồng Ecclesia in Oceania (22-11-2001), 17: AAS 94 (2002), 385.

[95] GIOAN PHAOL II, Tng Huấn hậu Thượng Hội Đồng Ecclesia in Asia (6-11-1999), 20: AAS 92 (2000), 478-482.

[96] Cf. CNG ĐỒNG VATICAN II, Hiến Chế Tn Lý về Hội Thnh Lumen Gentium, 12.

[97] GIOAN PHAOL II, Thng Điệp Fides et Ratio (14-9-1998), 71: AAS 91 (1999), 60.

[98] ĐẠI HỘI LẦN THỨ III CỦA CC GIM MỤC CHU MỸ LATINH V CARIB, Văn Kiện Puebla, 23-3-1979, 450; cf. ĐẠI HỘI LẦN THỨ V CỦA CC GIM MỤC CHU MỸ LATINH V CARIB, Văn Kiện Aparecida, 29-6-2007, 264.

[99] GIOAN PHAOL II, Tng Huấn hậu Thượng Hội Đồng Ecclesia in Asia (6-11-1999), 21: AAS 92 (2000), 482-484.

[100] Số 48: AAS 68 (1976), 38.

[101] Ibid.

[102] Diễn từ Khai Mạc Đại Hội Lần Thứ V của cc Gim Mục Chu Mỹ Latinh v Carib (13-5-2007), 1: AAS 90 (2007), 446.

[103] ĐẠI HỘI LẦN THỨ V CỦA CC GIM MỤC CHU MỸ LATINH V CARIB, Văn Kiện Aparecida, 29-6-2007, 262.

[104] Ibid., 263

[105] Cf. THNH TMA AQUIN, S. Th., II-II, q. 2, a. 2.

[106] ĐẠI HỘI LẦN THỨ V CỦA CC GIM MỤC CHU MỸ LATINH V CARIB,Văn Kiện Aparecida, 29-6-2007, 264.

[107] Ibid.

[108] Cf. CNG ĐỒNG VATICAN II, Hiến Chế Tn Lý về Hội Thnh Lumen Gentium, 12.

[109] Cf. Propositio 17.

[110] Cf. Propositio 30.

[111] Cf. Propositio 27.

[112] GIOAN PHAOL II, Tng Thư Dies Domini (31 May 1998), 41: AAS 90 (1998), 738-739.

[113] PHAOL VI, Tng Huấn Evangelii Nuntiandi (8-12-1975), 78: AAS 68 (1976), 71.

[114] Ibid.

[115] GIOAN PHAOL II, Tng Huấn hậu Thượng Hội Đồng Pastores Dabo Vobis (25-3-1992), 26: AAS 84 (1992), 698.

[116] Ibid., 25: AAS 84 (1992), 696.

[117] THNH TMA AQUIN, S. Th. II-II, q. 188, a. 6.

[118] PHAOL VI, Tng Huấn Evangelii Nuntiandi (8-12-1975), 76: AAS 68 (1976), 68.

[119] Ibid., 75: AAS 68 (1976), 65.

[120] Ibid., 63: AAS 68 (1976), 53

[121] Ibid., 43: AAS 68 (1976), 33

[122] Ibid.

[123] GIOAN PHAOL II, Tng Huấn hậu Thượng Hội Đồng Pastores Dabo Vobis (25-3-1992), 10: AAS 84 (1992), 672.

[124] PHAOL VI, Tng Huấn Evangelii Nuntiandi (8-12-1975), 40: AAS 68 (1976), 31.

[125] Ibid., 43: AAS 68 (1976), 33.

[126] Cf. Propositio 9.

[127] GIOAN PHAOL II, Tng Huấn hậu Thượng Hội Đồng Pastores Dabo Vobis (25-3-1992), 26: AAS 84 (1992), 698.

[128] Cf. Propositio 38.

[129] Cf. Propositio 20.

[130] Cf. CNG ĐỒNG VATICAN II, Sắc Lệnh về Phương Tiện Truyền Thng Inter Mirifica, 6.

[131] Cf. De Musica, VI, 13, 38: PL 32, 1183-1184; Confessiones, IV, 13.20: PL 32, 701.

[132] BNĐICT XVI, Diễn từ cho buổi trnh chiếu phim ti liệu Art and Faith—Via Pulchritudinis (25-10-2012): LOsservatore Romano (27-10-2012), 7.

[133] S. Th., I-II, q. 65, a. 3, ad 2: propter aliquas dispositiones contrarias.

[134] GIOAN PHAOL II, Tng Huấn hậu Thượng Hội Đồng Ecclesia in Asia (6-11-1999), 20: AAS 92 (2000), 481.

[135] BNĐICT XVI , Tng Huấn hậu Thượng Hội Đồng Verbum Domini (30-9-2010), 1: AAS 102 (2010), 682.

[136] Cf. Propositio 11.

[137] Cf. CNG ĐỒNG VATICAN II, Hiến Chế Tn Lý về Mặc Khải Dei Verbum, 21-22.

[138] Cf. BNĐICT XVI, Tng Huấn hậu Thượng Hội Đồng Verbum Domini (30-9-2010), 86-87: AAS 102 (2010), 757-760.

[139] BNĐICT XVI, Diễn từ trong Hội Nghị Khong Đại Lần Thứ Nhất của Thượng Hội Đồng Gim Mục (8-10-2012): AAS 104 (2012), 896.

[140] PHAOL VI, Tng Huấn hậu Thượng Hội Đồng Evangelii Nuntiandi (8-12-1975), 17: AAS 68 (1976), 17.

[141] GIOAN PHAOL II, Sứ Điệp cho Người Khuyết Tật, Angelus (16-11-1980): Insegnamenti, 3/2 (1980), 1232.

[142] HỘI ĐỒNG GIO HONG VỀ CNG LÝ V HO BNH, Tot Yếu Học Thuyết X Hội của Hội Thnh, 52.

[143] GIOAN PHAOL II, Catechesis (24 April 1991): Insegnamenti, 14/1 (1991), 853.

[144] BNĐICT XVI, Tự Sắc Intima Ecclesiae Natura (11-11-2012): AAS 104 (2012), 996.

[145] Thng Điệp Populorum Progressio (16-3-1967), 14: AAS 59 (1967), 264.

[146] PHAOL VI, Tng Huấn Evangelii Nuntiandi (8-12-1075), 29: AAS 68 (1976), 25.

[147] ĐẠI HỘI LẦN THỨ V CỦA CC GIM MỤC CHU MỸ LATINH V CARIB,Văn Kiện Aparecida, 29-6-June 2007, 380.

[148] HỘI ĐỒNG GIO HONG VỀ CNG LÝ V HO BNH, Tot Yếu Học Thuyết X Hội của Hội Thnh, 9.

[149] GIOAN PHAOL II, Tng Huấn hậu Thượng Hội Đồng Ecclesia in America (22-1-1999), 27: AAS 91 (1999), 762.

[150] BNĐICT XVI, Thng Điệp Deus Caritas Est (25-12-2005), 28: AAS 98 (2006), 239-240.

[151] HỘI ĐỒNG GIO HONG VỀ CNG LÝ V HO BNH, Tot Yếu Học Thuyết X Hội của Hội Thnh, 12.

[152] Tng Thư Octogesima Adveniens (14-5-1971), 4: AAS 63 (1971), 403.

[153] THNH BỘ GIO LÝ ĐỨC TIN, Huấn Thị Libertatis Nuntius (6-8-1984), XI, 1: AAS 76 (1984), 903.

[154] HỘI ĐỒNG GIO HONG VỀ CNG LÝ V HO BNH, Tot Yếu Học Thuyết X Hội của Hội Thnh, 157.

[155] PHAOL VI, Tng Thư Octogesima Adveniens (14-5-1971), 23: AAS 63 (1971), 418.

[156] PHAOL VI, Thng Điệp Populorum Progressio (26-3-1967), 65: AAS 59 (1967), 289.

[157] Ibid., 15: AAS 59 (1967), 265.

[158] CONFERNCIA NACIONAL DOS BISPOS DO BRAZIL, Exigncias evanglicas e ticas de superao da misria e da fome (April 2002), Introduction, 2.

[159] GIOAN XXIII, Thng Điệp Mater et Magistra (15-5-1961), 3: AAS 53 (1961), 402.

[160] THNH AUGUSTIN, De Catechizandis Rudibus, I, XIX, 22: PL 40, 327.

[161] THNH BỘ GIO LÝ ĐỨC TIN, Huấn Thị Libertatis Nuntius (6-8-1984), XI, 18: AAS 76 (1984), 907-908.

[162] GIOAN PHAOL II, Thng Điệp Centesimus Annus (1-5-1991), 41: AAS 83 (1991), 844-845.

[163] GIOAN PHAOL II, Bi giảng trong Thnh Lễ cầu cho việc Loan Bo Tin Mừng cho cc Dn Tộc tại Santo Domingo (11-10-1984), 5: AAS 77 (1985), 358.

[164] GIOAN PHAOL II, Thng Điệp Sollicitudo Rei Socialis (30-12-1987), 42: AAS 80 (1988), 572.

[165] Diễn từ tại Phin Khai Mạc Hội Nghị Khong Đại Lần Thứ V của cc Gim Mục Chu Mỹ Latinh v Carib (13-5-2007), 3: AAS 99 (2007), 450.

[166] THNH TMA AQUIN, S. Th., II-II, q. 27, a. 2.

[167] Ibid., I-II, q. 110, a. 1.

[168] Ibid., I-II, q. 26, a. 3.

[169] GIOAN PHAOL II, Tng Thư Novo Millennio Ineunte (6-1-2001), 50: AAS 93 (2001), 303.

[170] Ibid.

[171] Cf. Propositio 45.

[172] THNH BỘ GIO LÝ ĐỨC TIN, Huấn Thị Libertatis Nuntius (6-8-1984), XI, 18: AAS 76 (1984), 908.

[173] Cố gắng ny bao gồm sự dấn thn nhằm loại trừ cc nguyn nhn thuộc cơ chế khiến cho kinh tế ton cầu khng hoạt động tốt: BNĐICT XVI, Diễn từ cho Ngoại Giao Đon (8-1-2007): AAS 99 (2007), 73.

[174] Cf. UỶ BAN X HỘI CỦA HĐGM PHP, Rhabiliter la politique (17-2-1999); cf. PIUS XI, Message of 18-12-1927.

[175] BNĐICT XVI, Thng Điệp Caritas in Veritate (29-6-2009), 2: AAS 101 (2009), 642.

[176] GIOAN PHAOL II, Tng Huấn hậu Thượng Hội Đồng Christifideles Laici (30-12-1988), 37: AAS 81 (1989), 461.

[177] Cf. Propositio 56.

[178] HĐGM CNG GIO PHILPPIN, Thư Mục Vụ What is Happening to our Beautiful Land? (29-1-1988).

 [179] PHAOL VI, Thng Điệp Populorum Progressio (26-3-1967), 76: AAS 59 (1967), 294-295.

[180] HĐGM CNG GIO HOA KỲ, Thư Mục Vụ Forming Conscience for Faithful Citizenship (Thng 11-2007), 13.

[181] HỘI ĐỒNG GIO HONG VỀ CNG LÝ V HO BNH, Tot Yếu Học Thuyết X Hội của Hội Thnh, 161.

[182] Das Ende der Neuzeit, Wrzburg, 1965, 30-31.

[183] Cf. I. QUILES, S.J., Filosofa de la educacin personalista, Buenos Aires, 1981, 46-53.

[184] UỶ BAN THƯỜNG VỤ HĐGM CONGO, Thư Chung về tnh hnh an ninh trong nước (5-12-2012), 11.

 [185] Cf. PLATO, Gorgias, 465.

[186] BNĐICT XVI, Diễn từ cho Gio Triều Rma (21-12-2012): AAS 105 (2013), 51.

[187] Cf. Propositio 14.

[188] Cf. Gio Lý của Hội Thnh Cng Gio, 1910; HỘI ĐỒNG GIO HONG VỀ CNG LÝ V HO BNH, Tot Yếu Học Thuyết X Hội của Hội Thnh, 168.

[189] Cf. Propositio 54.

[190] GIOAN PHAOL II, Thng Điệp Fides et Ratio (14-9-1998), 88: AAS 91 (1999), 74.

[191] THNH TMA AQUIN, Summa contra Gentiles, I, 7; cf. GIOAN PHAOL II, Thng Điệp Fides et Ratio (14-9-1998), 43: AAS 91 (1999), 39.

[192] SECOND VATICAN COUNCIL, Sắc Lệnh về Đại Kết Unitatis Redintegratio, 4.

[193] Cf. Propositio 52.

[194] HĐGM ẤN ĐỘ, Tuyn Bố Chung của Đại Hội XXX: Vai tr của Hội Thnh cho một nước Ấn Độ tốt đẹp hơn (8-3-2013), 8.9.

[195] Cf. Propositio 53.

[196] GIOAN PHAOL II, Thng Điệp Redemptoris Missio (7-12-1990), 56: AAS 83 (1991), 304.

[197] Cf. BNĐICT XVI, Diễn từ cho Gio Triều Rma (21-12-2012): AAS 105 (2006), 51; CNG ĐỒNG VATICAN II, Sắc Lệnh về Hoạt Động Truyền Gio của Hội Thnh Ad Gentes, 9; Gio Lý của Hội Thnh Cng Gio, 856.

[198] CNG ĐỒNG VATICAN II, Hiến Chế Tn Lý về Hội Thnh Lumen Gentium, 16.

[199] UỶ BAN THẦN HỌC QUỐC TẾ, Kit gio v cc Tn Gio trn Thế Giới (1996), 72: Enchiridion Vaticanum 15, No. 1061.

[200] Ibid.

[201] Cf. ibid., 81-87: Enchiridion Vaticanum 15, Nos. 1070-1076.

[202] Cf. Propositio 16.

[203] BNĐICT XVI, Tng Huấn hậu Thượng Hội Đồng Ecclesia in Medio Oriente (14-9-2012), 26: AAS 104 (2012), 762.

[204] Cf. Propositio 55.

[205] Cf. Propositio 36.

[206] GIOAN PHAOL II, Tng Thư Novo Millennio Ineunte (6-1-2001), 52: AAS 93 (2001), 304.

[207] Cf. V.M. FERNNDEZ, Espiritualidad para la esperanza activa. Discurso en la apertura del I Congreso Nacional de Doctrina Social de la Iglesia (Rosario 2011), in UC Actualidad, 142 (2011), 16.

[208] GIOAN PHAOL II, Thng Điệp Redemptoris Missio (7-12-1990), 45: AAS 83 (1991), 292.

[209] BNĐICT XVI, Thng Điệp, Deus Caritas Est (25-122005), 16: AAS 98 (2006), 230.

[210] Ibid., 39: AAS 98 (2006), 250.

[211] HỘI NGHỊ ĐẶC BIỆT LẦN THỨ HAI CHO CHU U CỦA THƯỢNG HỘI ĐỒNG GIM MỤC, Sứ điệp cuối, 1: LOsservatore Romano, Ấn bản hằng tuần tiếng Anh, 27-10-1999, 5.

[212] ISAAC OF STELLA, Sermo 51: PL 194, 1863, 1865.

[213] Nican Mopohua, 118-119.

[214] Cf. CNG ĐỒNG VATICAN II, Hiến Chế Tn Lý về Hội Thnh Lumen Gentium, 52-69.

[215] GIOAN PHAOL II, Thng Điệp Redemptoris Mater (25-3-1987), 6: AAS 79 (1987), 366-367.

[216] Cf. Propositio 58.

[217] GIOAN PHAOL II, Thng Điệp Redemptoris Mater (25-3-1987), 17: AAS 79 (1987), 381.

 

[] Phụ ch của người dịch:

 Bản dịch tiếng Việt ny dựa trn bản tiếng Anh chnh thức của Vatican, POPE FRANCIS, The Joy of the Gospel, Vatican Press (2013). Cc cu trch Kinh Thnh lấy từ bản dịch của Nhm PVCGK với một t thch nghi theo bản tiếng Anh. 

Đ c kh nhiều phản ứng tri chiều, đồng tnh (như Michael Novak), hay chống đối (như Rush Limbaugh) về Tng Huấn ny, v từ cả cc phe cực hữu lẫn cấp tiến tại Hoa Kỳ, hay phe tả (như cc bo Guardian, Reuters của Anh), đặc biệt lin quan tới cc quan điểm của Đức Gio Hong về chnh trị v kinh tế. Tuy nhin muốn hiểu đng tư tưởng của Đức Gio Hong, cần phải đọc Tng Huấn ny theo chủ đch của chnh ngi l lnh vực mục vụ. C thể xem thm chi tiết tại cc đường link dưới đy:

http://vaticaninsider.lastampa.it/en/world-news/detail/articolo/usa-us-estados-unidos-papa-pope-el-papa-30384/

http://www.vietcatholic.net/News/Html/119628.htm

Ở số 54, điểm gy tranh ci l thuật ngữ trickle-down (sự nhỏ giọt) của bản dịch tiếng Anh m một số người cho l dịch khng chnh xc v c ý tiu cực. Bản gốc tiếng Ty Ban Nha viết l derame (ci g trn ra, vung vi ra), bản tiếng Php dịch l rechute favorable (ci trn ra c lợi). Trong bản tiếng Việt ny, chng ti tạm dịch l lọt sng xuống nia, một cu ni quen dng trong tiếng Việt v xem ra hợp với bản tiếng Ty Ban Nha v bản tiếng Php v c lẽ phần no lột tả đng ý của tc giả hơn.

Xem bi phỏng vấn Đức Thnh Cha của ký giả bo La Stampa tại đy: http://www.vietcatholic.net/News/Html/119628.htm

Đặc biệt xem nhận định kh chi tiết của Michael Novak tại đy:

http://www.nationalreview.com/article/365720/agreeing-pope-francis-michael-novak; bản dịch tiếng Việt của Vũ Văn An trn Vietcatholic.org:http://vietcatholic.org/News/Html/119583.htm

 

Tc giả bi viết: UB/LBTM/HĐGMVN chuyển ngữ

 

 

Trang chủ