THNG ĐIỆP SPLENDOR VERITATIS

(NH RẠNG NGỜI CHN LÝ)

CỦA ĐỨC GIO HONG GIOAN PHAOL II

GỞI TẤT CẢ CC GIM MỤC THUỘC GIO HỘI CNG GIO

BN VỀ MỘT VI VẤN ĐỀ CƠ BẢN

TRONG GIO HUẤN LUN LÝ CỦA GIO HỘI

Ban Hnh ngy 6 - 8 - 1993

Chuyển ngữ từ ấn bản tiếng Php trong bo LOsservatore Romano, số 40, ngy 5-10-1993.

 

MỤC LỤC

 

– GIỚI THIỆU THNG ĐIỆP

– VO ĐỀ:

+ Đức Gisu Kit. nh Sng Thật Chiếu Soi Mọi Người [số 1-3].

+ Mục tiu của thng điệp hiện được ban hnh [số 4-5]

 CHƯƠNG I

THƯA THẦY, TI PHẢI LM ĐIỀU TỐT NO? (Mt 19, 16)

Đức Kit v Lời Giải Đp Cho Vấn Nạn Lun Lý

+ Người kia tiến lại gần... (Mt 19, 16) [số 6-7]

+ Thưa Thầy, ti phải lm điều tốt no để đạt được sự sống vĩnh cửu? (Mt 19,16) [số 8]

 + Chỉ c một Đấng duy nhất Tốt Lnh m thi (Mt 19,17) [số 9-11]

+ Nếu anh muốn tiến vo sự sống, hy tun giữ cc giới răn (Mt 19,17) [số 12-15]

+ Nếu anh muốn nn trọn hảo (Mt 19,21) [số 16-18]

+ Hy đến, hy nối gt theo Thầy (Mt 19,21) [số 19-21]

 + Đối với Thin Cha, mọi sự đều c thể (Mt 19,26) [số 22-24]

   + V ny đy Thầy ở với anh em lun mu cho đến tận thế (Mt 28,20) [số 25-27]

CHƯƠNG II

ANH EM CHỚ UỐN MNH THEO THẾ GIAN NY (Rm 12,2)

Gio Hội v Phn Định Về Một Số

Khuynh Hướng Thần Học Lun Lý Hiện Nay

+ Giảng dạy những g hợp với đạo lý lnh mạnh (x. Tt 2,1) [số 28-30]

+ Anh em sẽ nhận biết chn lý v chn lý sẽ giải thot anh em (Ga 8,32) [số 31-34]

 I. Tự do v Lề Luật

+ Ngươi chớ c ăn tri nơi cy biết thiện biết dữ (St 2,17) [số 35-37]

+ Thin Cha đ muốn để cho con người tự bn bạc với chnh mnh (Hc 15,14) [số 38-41]

+ Phc thay người vui th với Lề luật Cha (x. Tv 1.1-2) [số 42-45]

+ Họ nu dẫn cho thấy Lề Luật đ được khắc ghi trong lng họ (Rm 2,15) [số 46-50]

+ Nhưng thoạt đầu th khng như thế (Mt 19,8) [số 51-53]

 II. Lương tm v chn lý

+ Thnh điện của con người [số 54-56]

+ Phn quyết của lương tm [số 57-61]

+ Tm kiếm chn lý v sự thiện [số 62-64]

III. Lựa chọn cơ bản v những hnh vi ứng xử cụ thể

+ Ước chi tự do đừng nn cớ cho người ta thỏa mn xc thịt (Gl 5,13) [số 65-68]

+ Tội trọng v tội nhẹ [số 69-70]

 IV. Hnh vi lun lý

+ Cứu cnh luận v thuyết duy cứu cnh [số 71-75]

+ Đối tượng của hnh vi c suy tnh [số 76-78]

+ Điều tự n l dữ: khng được php lm điều dữ nhằm mục đch đạt tới điều thiện (x. Rm 3,8) [số 79-83]

CHƯƠNG III

SAO CHO THẬP GI CỦA ĐỨC KIT KHNG BỊ GIẢN LƯỢC THNH HƯ V (1Cr 1,17)

Sự Thiện Lun Lý Đối Với Đời Sống Của Gio Hội V Của Thế Giới.

+ Chnh v để chng ta được mi tự do m Đức Kit đ giải thot chng ta (Gl 5,1) [số 84-87]

+ Bước đi trong nh sng (x. Ga 1,7) [số 88-89]

+ Tử đạo, một hnh thức tn dương sự thnh thiện bất khả xm phạm của Luật Thin Cha [số 90-94]

+ Những chuẩn mực lun lý phổ qut v bất biến nhằm phục vụ con người v x hội [số 95-97]

+ Lun lý v cuộc canh tn đời sống x hội v chnh trị [số 98-101]

+ n sủng v sự tun phục Luật Thin Cha [số 102-105]

+ Lun lý v cng cuộc phc m ha mới [số 106-108]

+ Dịch vụ của cc nh thần học lun lý [số 109-113]

+ Trch nhiệm mục tử của chng ti [số 114-117]

KẾT LUẬN

Đức Maria, Mẹ Từ i [số 118-120]

CH THCH 

 

 

GIỚI THIỆU THNG ĐIỆP

 

Mục tiu của văn kiện

Trong thng điệp ny, Đức Gioan Phaol II bn về một vi yếu tố cơ bản trong học thuyết lun lý cng gio, như Ngi đ từng bo trước trong Tng thư Spiritus Domini phổ biến ngy 1 – 8 – 1987, nhn dịp giỗ 200 năm Thnh An-phong-x Li-g-ri, quan thầy của cc tiến sĩ v cc nh lun lý.

Nếu như một văn kiện đ từng được mong đợi v đ dy cng soạn thảo như văn kiện ny m mi tới nay mới được phổ biến, đ l bởi v theo thẩm định chung nn để n ra sau sch Gio lý của Gio Hội Cng gio trong đ nền lun lý Kit gio được trnh by đầy đủ v c hệ thống. Như vậy thng điệp ny nại tới sch Gio Lý bản văn qui chiếu vững chắc v chnh qui để giảng dạy về học thuyết cng gio v thng điệp c thể chủ tm bn luận một vi vấn đề cơ bản trong gio huấn lun lý của Gio Hội, dưới dạng phn quyết của Huấn Quyền Gio Hội về một số đề ti hiện đang được tranh ci trong thần học lun lý.

Những đối tượng được nhắm đến

Đức Gio Hong ngỏ lời một cch trực tiếp v trước hết với cc Gim Mục v cc ngi, cng với Vị Kế Nhiệm thnh Phr v dưới quyền tối thượng của vị ny c bổn phận gn giữ học thuyết lnh mạnh (2Tm 4,3) bằng cch chăm lo cho Lời Cha vốn cần được tin v đem ra thực hnh, được giảng dạy một cch trung thnh. Điều ny nằm trong khun khổ của sứ mệnh tng đồ được Đức Gisu trao ban ngay từ buổi đầu (Mt 28, 16-20), sứ mệnh cần được tiếp nối vo mọi thời đại, nhờ vo sức mạnh của Cha Thnh Thần, ng hầu pht triển mối hiệp thng Gio Hội, việc Phc m ha v cuộc đối thoại về chn lý v về sự thiện m Gio Hội bảo tồn cng với mọi người v mọi dn tộc.

Cc nguyn do v động lực

Di sản phong ph gồm những suy tư lun lý như đ được trải di một cch đặc biệt nơi Huấn Quyền Gio Hong trong hai thế kỷ vừa qua về những phương diện khc biệt của đời sống nhn linh, hiện nay đang phải đương đầu với thch đố của một tnh huống mới đ từng xuất hienẹ trong x hội cũng như trong chnh cộng đon Kit hữu. Đ c những nỗ lực lớn lao v đng ca ngợi được thi thố nhằm canh tn lun lý, như Cng Đồng Vatican II đ từng mong ước, thế nhưng cũng một lc người ta chứng kiến cảnh lan trn, ngay cả trong thần học lun lý cng gio, những hnh thức nghi hoặc v bnh phẩm đối với cc gio huấn lun lý của Gio Hội: cng ngy cng lộ r hơn điều ny l những ln sng phản bc khng chỉ mang tnh chất phiếm diện v ty cơ về một số chuẩn mực lun lý đặc th no đ m thi, nhưng đ trở thnh một cuộc xt lại trọn khối v c hệ thống đối với di sản lun lý như hiện c, l di sản xy trn những quan điểm nhn học v đạo đức nhất định.

Cch ring, một số tro lưu thần học loại bỏ học thuyết cổ truyền về luật tự nhin, về tnh phổ qut v về uy thế bền vững của những mệnh lệnh pht xuất từ luật tự nhin. Người ta đặt lại vấn đề về thế gi của Huấn Quyền những khi Huấn Quyền can thiệp vo lnh vực lun lý để dng quyền giảng dạy về những đi buộc bất khả trnh n nơi cc giới răn của Thin Cha. Ngoi ra người ta cn cho rằng c thể yu mến Thin Cha v tha nhn m khng nhất thiết lun lun v trong mọi trường hợp phải tun thủ những giới răn m Gio Hội truyền dạy. Người ta đặt nghi vẫn về mối lin kết nội tại v bất khả phn chia giữa đức tin v lun lý, đến độ vạch ra lý thuyết cho rằng c thể đi tới nhiều hnh thức đa nguyn vốn khng thể dung hợp với sự hiệp thng Gio Hội.

Trước tnh trạng lan trn của cc lập trường ni trn, ai ai cũng nhận thức được rằng những vấn đề hiện nay mang tầm mức quan trọng tột bậc đối với Gio Hội, đối với đời sống của cc tn hữu v cả đối với tnh hữu nghị v mối gio hảo nhn loại ni chung. Những kh khăn về mục vụ v x hội v những lý do trn đ xẩy ra trn mọi bnh diện v đ tạo thnh một cuộc khủng hoảng thực sự đến độ Huấn Quyền Gao Hong khng thể khng cảm thấy trch nhiệm phải xc định những kha cạnh gio thuyết cần thiết để c thể giải quyết tnh huống một cch tch cực.

Tm điểm của vấn đề

Phăng ngược ln tận cội nguồn của những phản bc v những giải php bất dung hợp với học thuyết cng gio ấy, người ta nhận ra tầm ảnh hưởng của những tro lưu tư tưởng cuối cng đ dẫn đến chỗ cắt đứt mối tương giao mang tnh chất cấu tạo v thuộc về yếu tnh giữa tự do nhn linh, khi được hnh xử, với chn lý. Một quan niệm thi qu như thế về tnh tự lập của tự do (autonomie de la libert) sẽ tn dương tự do đến độ biến tự do thnh ci tuyệt đối v coi tự do l nguồn pht sinh cc gi trị, vượt qua mọi lệ thuộc đối với chn lý.

Chắc chắn người ta phải cng nhận rằng trong nền thần học cng gio người ta khng gặp thấy những lập trường qu mức như thế v đồng thời cũng cần phải cng nhận rằng, với một lối tư duy vốn đề cao ngi vị, nn thần học cng gio đ lặp lại v khai triển một cch tch cực hơn học thuyết cổ điển hon thiện nhất m truyền thống để lại về gi trị của tinh thần trch nhiệm c nhn, về vai tr của lý tr v của lương tm trong quan niệm về bổn phận lun lý. Dầu vậy, trong một số trường hợp, người ta đ đi tới chỗ tư duy lại tận căn những vai tr hỗ tương giữa lý tr v đức tin, để rồi lập nn những chuẩn mực lun lý lin quan tới những cch cư xử nhất định giữa đời, bằng cch giao cng việc xc định những chuẩn mực lin quan tới thiện ch nhn linh cho lý tr tự lập (độc lập đối với Mạc Khải, đối với Truyền Thống, đối với Huấn Quyền, v ngay cả đối với Chn Lý vốn hiện hữu trước lý tr), để cho lý tr được sng tạo theo cch ring của mnh.

C khi cn triệt để hơn như thế nữa, người ta ngả theo một quan niệm no đ về tnh tự lập v người ta đi xt lại mối lin kết nội tại giữa đức tin v lun lý. Dầu thế no đức tin vẫn khng l một sự gắn b thuần ty tr thức vo những chn lý trừu tượng. Đức tin cn mang một nội dung lun lý: đức tin khơi dậy v đi buộc một sự dấn thn nhất qun trong đời sống; đức tin bao gồm việc tun giữ cc giới răn v kiện ton việc tun giữ ấy Khng phải cứ thốt ln: Lạy Cha, Lạy Cha l được vo Nước Trời đu, nhưng l phải thực hiện ý Cha Ta ở trn trời (Mt 7,21).

Đức Kit, nh sng mun dn.

Đứng trước những vấn nạn như vừa trnh by v nhằm mục đch đưa ra sự phn định cần thiết để bảo tồn kho tng học thuyết cng gio. Đức Gio Hong quay về Đức Gisu Kit, ҇nh sng mun dn (Cộng đồng Vatican II, Hiến chế Lumen Gentium, GH, số 1). Chnh Đức Kit đ dậy cho chng ta con đường tự do đch thực: Chn lý sẽ giải thot anh em (Ga 8, 32) v cng lc Người đ cng bố: Thầy l Đường, l Chn lý v l Sự Sống (Ga 14,6).

Tri ngược hẳn với tất cả những hnh thức biến dạng v tất cả những hnh thức ngụy tại xem ra tăng gi trị cho tự do, những kỳ thực tước bỏ hết ý nghĩa của tự do, tự do chỉ trọn vẹn l tự do một khi được nối liền với chn lý, với Chn lý nguyn thủy vốn chiếu tỏa một cch tuyệt mỹ (Veritatis spendor) trn dung nhan của Đức Kit (x. 2Cr 3. 5 – 18).

Như vậy, thng điệp khng chỉ nhắm mục đch duy nhất v thiết yếu l ku gọi cảnh gic trước những sai lầm, trn tất cả, thng điệp nhằm một lần nữa, với tất cả kh phch của mnh, cng bố nguyn lý trung tm l nguyn lý xc định tnh chất cho sứ điệp về tự do Kit gio: chỉ trong chn lý th tự do của con người mới c được một phẩm chất gọi l nhn bản v c trch nhiệm. Đng vậy, thng điệp khởi đi từ tm điểm của sứ điệp Kit gio v đồng thời mong muốn ngỏ lời với tất cả mọi người thnh tm thiện ch để dng nh sng nền tảng pht triển từ đức tin, trong giai đoạn lịch sử hiện tại, m soi đường cho tự do hướng đền điều thiện, chiếu dọi lối nẻo cho một đời sống nhn bản, c vị v x hội, thật sự tốt đẹp.

Những đường nt lớn của văn kiện.

Diễn tiến của thng điệp gồm ba giai đoạn:

– Thng điệp mở đầu bằng việc suy niệm Thnh Kinh dựa trn cuộc đối thoại giữa Cha Gisu với người thanh nin giu c (Mt 19,16-22), để nhờ đ m nu bật những yếu tố then chốt trong nền lun lý Kit Gio.

– Tiếp diễn, trong chương giữa mang tầm vc gio thuyết, thng điệp thực hiện cng việc phn định v ph phn (discernement critique) trước một số khuynh hướng thần học lun lý hiện đại, dưới nh sng Thnh Kinh v Truyền thống sống động của Gio Hội, đặc biệt dưới nh sng Cng Đồng Vatican II.

– Sau cng, trong chương ba mang tnh chất mục vụ, thng điệp nu ln tầm lợi ch m học thuyết lun lý Cng gio c thể v phải tạo được đối với đời sống Gio Hội v đời sống nhn loại trn lnh vực thiện bảo lun lý.

Suy niệm Tin Mừng về cuộc đối thoại giữa Cha Gisu với người thanh nin giu c

Đoạn văn khởi đầu bằng một cu hỏi do người đối thoại trẻ tuổi của Cha Gisu nu ln, nhưng đ cũng l cu hỏi tiềm năng nơi con tim của mọi người: Thưa Thầy, ti phải lm điều tốt no để đạt được cuộc sống vĩnh cửu?. Đặt cu hỏi về điều thiện v về điều dữ th, xt theo cấp độ thm su nhất, cũng l truy tm ý nghĩa trn đầy trong cuộc sống, truy tm sự sống v hạnh phc. Sở dĩ Gio hội đ được cưu mang trong ý muốn của người thuộc mọi thời đại c thể gặp được Người v tm được nơi Người cu trả lời duy nhất khả dĩ thỏa mn họ một cch trọn vẹn v khả dĩ vượt xa hơn cả cuộc truy tm sự sống của họ đến độ lm họ phải ngỡ ngng.

Cu trả lời của Đức Gisu, dưới một hnh thức vắn gọn, đ ni ln chnh tm điểm v chnh guồng năng động của nền lun lý Kit Gio: cu trả lời ny đ lm nổi bật nội dung chnh trong Mạc Khải của Cựu Ước v Tn Ước về hnh động lun lý. Điểm đầu đim đ l sự tun phục của hanh động nhn linh đối với Thin Cha, đối với Đấng tốt lnh duy nhất. Điểm thứ hai đ l mối quan hệ chặt chẽ nối kết sự thiện chn lý của cc hnh vi nhn linh với đời sống vĩnh cửu: cc giới răn của Thin Cha m Đức Gisu xc quyết lặp lại trong luật yu thương mới của Người chnh l đường dẫn đến sự sống. Điểm thứ ba, đ l Đức Gisu nu dẫn con đường trọn hảo với tư thế ứng sẵn, bỏ hết mọi sự m theo Người, noi gương Người để trao hiến chnh mnh như Người đ trao hiến mnh cho Cha Cha v cho anh em của Người trong tnh yu v trong phục vụ. Như thế, c thể nhận ra rằng lun lý Kit gio chnh l sự chu ton lề luật một cch trọn vẹn, v đy l điều c thể thực hiện nhờ ơn huệ ho phng của Cha Thnh Thần, l nguồn cột v chỗ dựa lun lý cho cuộc tạo dựng mới.

Truyền Thống sống động của Gio Hội, gồm Huấn Quyền, cng việc đo su gio thuyết, phụng vụ v gương sống thnh thiện, đ lun lun duy tr sự hon thiện giữa đức tin với đời sống. Cch ring, với sự trợ gip của Cha Thnh Thần, Huấn Quyền do những mục tử đ cắt nghĩa Lề Luật của Cha một cch trung thực cho cc thế hệ nối tiếp nhau trải qua những hon cảnh đổi thay của lịch sử.

Cng việc phn định v ph phn đối với một số khuynh hướng thần học

Tiếp nối trch vụ cắt nghĩa ny. Đức Gio Hong thực hiện một cuộc phn định v ph phn đối với một số khuynh hướng ngy nay trong thần học lun lý hiện đại.

Trn tất cả, cần phải nhắc lại mối tương quan mang tnh chất cấu tạo giữa tự do v chn lý. Tnh tự lập đch thực về mặt lun lý, khả dĩ dung hợp với học thuyết cng gio, l tĩnh chất m ty theo đ tự do của con người v lề luật của Thin Cha gặp gỡ nhau v xm nhập vo với nhau. L sự hiện diện của lề luật vĩnh cửu của Thin Cha nơi tạo vật c lý tr, luật tự nhin thật ra bao băm sự tun phục thiết yếu của lý tr v của cc mệnh lệnh pht sinh từ lý tr với sự khn ngoan của Thin Cha. Ngược lại với hết mọi chủ nghĩa tương đối, tnh chất phổ qut v trường tồn của cc mệnh lệnh thuộc lề luật lun lý được khẳng định, v cc mệnh lệnh ny biểu lộ chn lý nguyn thủy về thiện ch của con người v nu ln đường nẻo để tự do được thể hiện một cch đch thực. Nền tảng tối hậu của cc mệnh lệnh ny nhằm ở nơi Đức Kit. Đấng mu mi l một, hm qua, hm nay v mọi thời (x. Dt 13,8; Hiến chế Gaudium et Spes, MV, số 10).

Bằng chứng từ ngữ của Cng Đồng Vatican II (x. Hiến chế Gaudium et spes, MV, số 16) lương tm lun lý lại một lần nữa được định nghĩa như l thnh điện của con người ở đ tiếng Thin Cha dội ln v khng ngừng ku mời yu mến, lm điều lnh, trnh điều dữ. Dầu vậy, ngược lại với mọi thứ chủ trương duy chủ thể, c sự ti khẳng định rằng lương tm khng phải l một bộ phận c sức sng tạo đối với điều thiện, nhưng lương tm cần phải được đo luyện dưới nh sng của chn lý. Phn quyết tội cng của lương tm cần phải để cho luật Thin Cha soi sng v luật Thin Cha l chuẩn mực phổ qut v khch quan trong địa hạt chn lý.

Dầu vẫn cng nhận tnh chất nền tảng của một chọn lựa trong đời sống, cch ring chọn lựa sống đức tin thng điệp từ chối tất cả mọi hnh thức tch la giữa một bn l lựa chọn cơ bản (option fondamentale) mang tnh chất siu nghiệm với bn kia l những chọn lựa c suy tnh gắn liền với những hnh vi cụ thể. Lựa chọn cơ bản đnh dấu v nng đỡ đời sống lun lý của người Kit hữu, lựa chọn ny bị khng cự mỗi lần m con người để cho tự do của mnh can dự vo những lựa chọn cố tnh v tự ý theo hướng đối nghịch v bao hm những chất thể lun lý trầm trọng (tội nặng).

Ngược lại với những chủ thuyết lun lý c thể mệnh danh l thuyết duy cứu cnh, thuyết duy hiệu quả hoặc thuyết cn xứng, văn kiện của Đức Gio Hong khẳng định rằng việc thẩm định gi trị lun lý của cc hnh vi nhn linh khng chỉ độc nhất bắt nguồn từ việc đnh gi những hậu quả tin liệu trước hoặc đnh gi tỷ lệ cn xứng giữa những điều thiện hay những điều dữ tiền-lun-lý pht snh từ đ. Ý hướng ngay thẳng m thi th khng đủ để biện minh cho sự hon chỉnh của một lựa chọn. Ngay cả khi ch trọng đến ý hướng chủ quan v đến những hậu quả, tnh chất lun lý của hnh vi trước tin phải nẩy sinh từ đối tượng lựa chọn m lý tr cưu mang v đề nghị cho ý ch. Bởi đ, người ta quả quyết rằng c thể đnh gi một số hnh vi ứng xử vốn đối nghịch lại với chn lý v với thiện ch của con người l xấu tự bn trong bản chất. Lựa chọn no nghing về những hnh vi ấy sẽ khng bao giờ l tốt ngay cả khi đi km với ý tưởng tốt lnh xt về pha chủ quan v nhắm tới những hậu quả tch cực. Ngay cả với những nguyn do rất nghim trọng, khng thể no được php lm điều dữ nhằm mục đch đạt tới điều thiện (x. Rm 3,8: Thng Điệp Sự Sống Con Người, Humanae Vitae, số 14). Chnh v thế m c những mệnh lệnh lun lý tiu cực (nghĩa l những mệnh lệnh nhằm ngăn cấm một số hnh vi ứng xử no đ) vốn mang gi trị phổ qut v khng bao giờ được php miễn trừ.

Sự thiện lun lý nhằm phục vụ cho đời sống Gio Hội v đời sống nhn loại

Đưa mắt nhn về Cha Gisu, Gio Hội khm ph ra ý nghĩa thực sự của tự do: trao hiến chnh mnh v tnh yu nhằm phục vụ Thin Cha v phục vụ tha nhn. Gio Hội khm ph ra rằng, trong cc giới răn v trong tnh chất tuyệt đối của cc giới răn, Luật Thin Cha diễn đạt những đi buộc tnh yu. Những chuẩn mực lun lý phổ qut v bất biến l nhằm phục vụ con người v x hội. Cuộc canh tn su rộng về đời sống x hội v chnh trị m nhn loại hiện nay ngy cng dần đến chỉ c thể thực hiện nếu tự do nối liền với chn lý. Thật vậy, cho dẫu bề ngoi c như thế no, chủ thuyết tương đối về lun lý khng thể no khng dẫn đến một thể chế chuyn quyền để rồi hủy diệt con người. Đem lun lý ra phản xử chnh l đem con người v tự do của con người ra phn xử, khng thể no đứng về pha bnh vực nếu chống lại chn lý v chống lại Thin Cha. Trong lịch sử cứu độ cc anh hng tử đạo đ th chết hơn phạm tội, đ lm chứng cho sự thnh thiện bất khả xm phạm của luật Thin Cha v đ lm chứng cho sự tn trọng v điều kiện m bất cứ ai l con người đều đng được hưởng do những đi buộc của nhn phẩm. Trong địa hạt lm chứng ny, khng những chỉ c người Kit hữu m thi: cảm thức lun lý của cc dn tộc, những truyền thống lớn về đạo gio v minh triết ở Ty Phương v Đng Phương cũng mang nhiều xc quyết cho lập trường của cc Kit hữu.

Cho dấu tự do của con người vốn mỏng manh, con người c những khả năng cụ thể để hnh động theo sự thật lun lý v tất cả những khả năng ấy đều nằm trong mầu nhiệm cứu chuộc nhờ Đức Kit. Trong Đức Kit, chẳng những Cha Cha ban cho chng ta chn lý về điều thiện (giới răn yu thương xt cho cng cũng lập lại mười giới răn), nhưng cn ban cho chng ta Luật mới l Thần Kh trong chng ta v n Sủng của Thần Kh, để nhờ đ chng ta mới c khả năng yu thương v lm điều thiện. Trong Đức Kit, lượng từ i của Thin Cha đạt thấu chng ta, hết mực cảm thng đối với sự yếu đuối của con người nhưng khng bao giờ x xch cỡ của điều thiện v điều dữ bằng những thỏa nhượng hng thch nghi với từng hon cảnh.

Chnh v thế, vốn mật thiết gắn liền với cng cuộc Phc m ha mới, việc rao giảng lun lý Kit gio đp lại lời cảnh co của Thnh Tng Đồ Phaol: Chớ để cho Thập Ga Đức Kit bị giản lược thnh hư v (1Cr 1,17). Đối với trch nhiệm loan bo khng khinh giảm về sự cng chnh v lượng từ i vốn rực chiếu trn Thập Ga, tc vụ của cc thần học gia lun lý mang tnh chất định đoạt, bởi v họ thi hnh một sứ mệnh thực sự mang chiều kch Gio Hội, trong nỗi hiệp thng với cc mục tử. Cc mục tử c trch nhiệm chăm lo sao cho Lời Cha được cng bố v p dụng vo đời sống một cch trung thnh trong việc giảng thuyết cho cc tn hữu, trong cng cuộc Phc m ha, trong lnh vực giảng dạy thần học v nền đo tạo do cc chủng viện ban hnh, hoặc cả trong sinh hoạt của cc tổ chức cng gio.

Cậy dựa vo Mẹ Từ i

Để kết thc thng điệp, Đức Thnh Cha hướng về pha Đức Maria. Mẹ Từ i v biểu tượng của tự do Kit gio chn chnh. Đức Thnh Cha cầu xin với Mẹ Maria để cho trong đời sống lun lý của cc tn hữu ngời chiếu Chn Lý của Con Ngi, nhằm lm vinh danh Thin Cha. Trong đoạn cuối ny, Đức Gio Hong nhắc lại lần nữa sự đơn giản lạ thường của nền lun lý Kit gio, đ l đi theo Cha Kit, đ l để cho mnh được n sủng Người biến đổi v được lượng từ i Người canh tn: đy chnh l những hồng n m chng ta lnh nhận trong đời sống hiệp thng với Gio Hội của Người.

 

 

 

THNG ĐIỆP

VERITATIS SPLENDOR

NH RẠNG NGỜI CỦA CHN LÝ

CỦA ĐỨC THNH CHA GIOAN PHAOL II

GỞI TẤT CẢ CC GIM MỤC THUỘC GIO HỘI CNG GIO

BN VỀ MỘT VI VẤN ĐỀ CƠ BẢN TRONG GIO HUẤN LUN LÝ CỦA GIO HỘI.

 

Xin gửi đến Chua Huynh Khả Knh trong hng Gim Mục lời cho v lời chc lnh của Ti với tư cch tng đồ.

VỀ RẠNG NGỜI CỦA CHN LÝ phản chiếu nơi tất cả mọi cng trnh của Đấng Tạo Ha v, một cch đặc biệt, nơi con người được tạo dựng theo hnh ảnh của Thin Cha v giống như Thin Cha (x. St 1.26): chn lý soi sng tr khn v tạo hnh dạng cho tự do của con người v con người, nhờ đ, được dẫn đến chỗ nhận biết v yu mến Cha. Tc giả thnh vịnh chắc hẳn nhắm đến điều ny khi cầu nguyện rằng: Xin tỏa nh tn nhan Ngi trn chng con (Tv 4.7)

 

 

VO ĐỀ

 

ĐỨC GISU KIT,

NH SNG THẬT CHIẾU SOI MỌI NGƯỜI

 

1. Được mời gọi hưởng ơn cứu độ nhờ đức tin vo Cha Gisu Kit, nh sng đch thực chiếu soi mọi người (Ga 1,9), loi người trở thnh ҇nh sng trong Cha v con ci sự sng (Ep 5,8), v loi người được thnh ha nhờ tun phục lun lý (1Pr 1,22).

Việc tun phục chn lý khng phải lc no cũng dễ. Từ khi phạm nguyn tội b nhiệm, do sức quyến rũ của Satan, tn lường gạt v tổ sư dối tr (Ga 8,44), con người lin lỉ bị cm dỗ rời nh mắt mnh khỏi Thin Cha hằng sống v chn thật để quay sang cc ngẫu tượng (x. Tx 1,9), đem chn lý của Thin Cha đổi lấy dối tr (Rm 1,25): từ đ cả đến khả năng nhận biết chn lý cũng bi suy yếu. V cứ thế, con người để mnh bung theo chủ nghĩa tương đối v chủ nghĩa hoi nghi (x. Ga 18,38) để rồi đi tm cầu một thứ tự do tạm bợ ở bn ngoi chn lý tự thn.

Tuy nhin, những bng tối do lầm lạc v do tội khng thể no hon ton xa tan nh sng của Thin Cha Tạo Ha nơi con người. Do sự kiện ny, nơi tm khm của con người lun lun tồn tại một hoi niệm về chn lý tuyệt đối v một kht vọng đạt tới mức nhận biết chn lý một cch vin mn. Bằng chứng hng hồn, đ l sự truy tầm bất tận của con người trong mọi lnh vực v địa hạt. R hơn nữa, đ l sự truy tầm của con người về ý nghĩa của cuộc đời. L chứng từ tuyệt hảo cho thấy những khả năng của tr thng minh v sức dai dẳng của loi người, sự pht triển khoa học v kỹ thuật vẫn khng miễn trừ cho nhn loại khỏi phải nu ln những vấn nạn thiết yếu mang chiều kch tn gio: đng hơn sự pht triển ny thc đẩy nhn loại đương đầu với những đấu tranh đau xt nhất v quyết liệt nhất, đ l những đấu tranh của con tim v của lương tm lun lý.

2. Khng một người no c thể trốn trnh những vấn nạn như: Ti phải lm g? Lm sao để phn định điều thiện với điều dữ? Lời giải đp chỉ c thể c được nhờ vo vẻ rạng ngời của chn lý vốn soi chiếu những vng thm su của tr c con người, đng như lời xc nhận của tc giả thnh vịnh: Biết bao kẻ ni rằng: Ai sẽ cho ta thấy hạnh phc? Lạy Cha, xin tỏ nh tn nhan Ngi trn chng con (Tv 4,7).

nh sng nơi dung nhan Thin Cha chiếu dọi ton bộ vẻ rạng rỡ ln khun mặt của Đức Gisu Kit, hnh ảnh của Thin Cha v hnh (Cl 1,15), sự tỏa rạng của vinh quang Ngi (Dt 1,3). Đấng trn đầy n sủng v chn lý (Ga 1,14): Người l đường, l chn lý v l sự sống (Ga 14,6). Do vậy, lời giải đp dứt khot cho mọi nỗi băn khoăn thắc mắc của con người, đặc biệt cho những vấn nạn của con người về phương diện tn gio v lun lý, đ được Đức Gisu Kit ban tặng: hơn thế nữa, lời giải đp ấy chnh l đch thn Cha Gisu Kit, như Cng Đồng Vatican II đ từng nhắc nhở: Thật ra, mầu nhiệm con người chỉ thực sự được soi sng trong mầu nhiệm Ngi Lời Nhập Thể. Qủa vậy, Ađam, con người tin khởi, chnh l hnh bng của Đấng phải đến l Cha Kit. Đức Kit l Ađam mới v trong khi mạc khải mầu nhiệm của Cha Người v của tnh yu Người, Người tỏ lộ trọn vẹn con người cho con người v gip con người khm ph ra sự cao cả của ơn gọi mnh (1)

L ҇nh sng mun dn, Đức Kit chiếu sng khun mặt Gio Hội m Người sai đi khắp thế giới để loan bo Tin Mừng cho mọi tạo vật (x. Mc 16,15) (2). Bởi thế, l dn Cha giữa mun dn, hằng ch tm đến những thch đố mới của lịch sử v đến những nỗ lực m loi người thể hiện trong cuộc truy tm ý nghĩa cho cuộc đời. Gio Hội đề nghị với mọi người lời giải đp pht xuất từ chn lý của Đức Gisu Kit v từ Tin Mừng của Người. Gio Hội lun ý thức thắm thiết về bổn phận của mnh vo mọi lc, l d thấu những dấu chỉ thời đại v cắt nghĩa những dấu chỉ ấy dưới nh sng của Tin Mừng sao cho Gio Hội c thể vận dụng phương cch thch ứng với từng thời đại m giải đp những vấn nạn mun thủa của con người về ý nghĩa của cuộc sống hiện tại v tương lai v về những tương quan hỗ tương giữa hai cuộc sống ấy (4)

3. Hiệp thng với Vị Kế Nhiệm Thnh Phr, cc mục tử trong Gio Hội kề cận với cc tn hữ trong nỗ lực ny, snh bước với họ v hướng dẫn họ bằng quyền gio huấn, lun tm ra những lối diễn rả mới mẻ về tnh yu v lượng từ i để chẳng những quay về pha những kẻ c đức tin m cn quay về pha mọi người thnh tm thiện ch. Cộng Đồng Vatican II vẫn lun l chứng từ phi thường cho tho độ rộng mở của Gio Hội vốn l chuyn gia về vấn đề con người (5) v vốn dấn thn phục vụ mọi người v ton thể thế giới (6).

Gio Hội hiểu r rằng vấn đề lun lý chạm tới chốn su thẳm của bất cứ người no v bao hm tất cả mọi người, kể cả những người khng nhận biết cả Đức Kit lẫn Tin Mừng của Người v thậm ch khng nhận biết Thin Cha. Gio Hội hiểu r rằng chnh ngay trn lối nẻo của đời sống lun lý m con đường cứu độ được mở ra cho tất cả mọi người, như Cng Đồng Vatican II đ nhắc nhở một cch r rệt: Những ai khng v lỗi của mnh m v tri đối với Tin Mừng của Đức Kit v đối với Gio Hội Người nhưng dẫu vậy vẫn tm kiến Thin Cha với lng chn thnh v vẫn cố gắng, dưới ảnh hưởng của n sủng Người, hnh động bằng cch thực hnh ý Cha theo như lương tm tỏ lộ v chỉ vẽ cho họ, những người ấy c thể đạt tới ơn cứu độ vĩnh cửu. V Cng Đồng cn ni thm: Cả đối với những ai, khng v lỗi tự mnh, chưa đạt tới nhận thức minh thị về Thin Cha nhưng ra sức, dĩ nhim với n sủng của Thin Cha, sống một cuộc đời ngay thẳng, Thin Cha Quan Phng khng từ chối những trợ gip cần thiết cho ơn cứu độ của họ. Thật vậy, tất cả những g nơi họ l tốt lnh v chn thật, Gio Hội đều coi như l một sự chuẩn bị cho Tin Mừng v như l hồng n của Đấng vốn soi chiếu mọi người, để chung qui, mọi người được c sự sống (7).

 

MỤC TIU CỦA THNG ĐIỆP ĐƯỢC BAN HNH

4. Từ trước tới nay, nhưng cch ring từ hai thế kỷ vừa qua, cc vị Gio Chủ, hoặc đch thn hoặc cng với Gim Mục Đon đ khai triển v đề xướng một nền gio huấn lun lý về cc kha cạnh đa tạp v khc biệt của đời sống nhn linh. Nhn danh Cha Kit v với uy quyền của Người, cc vị ấy đ khuyến dụ, tố co v giải thch: một mực trung thnh với sứ mệnh của mnh, trong những đấu tranh v lợi ch cho con người, cc vị ấy đ bổ sức, nng đỡ v an ủi: với niềm xc quyết về sự trợ gip của Thnh Thần Chn Lý, cc vị ấy đ gp phần để c được một nhận thức hon bị hơn về những đi buộc lun lý trong lnh vực tnh dục con người, lnh vực gia đnh, lnh vực đời sống x hội, kinh tế v chnh trị. Trong truyền thống Gio Hội v trong lịch sử nhn loại, gio huấn của cc vị ấy khng ngừng mang lại một nhận thức lun lý ngy cng su rộng hơn (8).

Dẫu vậy, ngy nay, thiết tưởng cần phải đọc lại ton bộ gio huấn lun lý của Gio Hội, với mục đch chnh xc l nhắc nhở một vi chn lý cơ bản, trong học thuyết Cng gio xt thấy đang c nguy cơ bị lệch lạc hoặc bị loại bỏ trong bối cảnh hiện nay. Thật ra, một tnh huống mới đ l dạng ngay trong cộng đon Kit hữu, ở đ người ta gieo rắc nhiều nghi hoặc v nhiều cng kch, thuộc cấo trật nhn bản v tm lý, x hội v văn ha, tn gio v ngay cả thần học thuần ty, về vấn đề cc gio huấn lun lý của Gio Hội. Ở đy khng cn phải l những đối khng hạn hẹp v ty cơ, nhưng l đem di sản lun lý ra tranh ci một cch trọn khối v c hệ thống, dựa vo những quan niệm nhn học v đạo đức học nhất định. Ở nơi khởi điểm của những quan niệm ny, người ta ghi nhận tầm ảnh hưởng vốn đi tới chỗ tch la tự do nhn linh ra khỏi mối tương quan man tnh chất cấu tạo v thiết yếu của n với chn lý. Từ đ, người ta loại bỏ học thuyết cổ truyền về luật tự nhin: một số gio huấn lun lý của Gio Hội chỉ đơn giản bị tuyn bố l khng thể chấp nhận; người ta lượng định rằng Huấn Quyền nếu c quyền can thiệp vo trong lnh vực lun lý th chỉ l để khuyn nhủ cc lương tm v để đề nghị cc gi trị rồi tiếp đến mỗi người sẽ dựa vo đ để đi vo những quyết định v những lựa chọn sống của mnh.

Một cch đặc biệt, cần phải ghi nhận tnh trạng lạc điệu giữa lời giải đp cổ truyền của Gio Hội với một số lập trường thần học, hiện đang lan trn ngay cả trong cc chủng viện v trong cc phn ban khoa thần học, về những vấn đề mang tầm quan trọng bậc nhất đối với Gio Hội v đối với đời sống đức tin của cc Kit hữu, cũng như đối với tnh hữu nghị v mối giao hảo ni chung của nhn loại. Người ta thường thắc mắc như sau: những giới răn của Thin Cha vốn được ghi khắc trong lng con người v vốn thuộc về Giao Ước, những giới răn ấy c thực sự c khả năng soi sng cho những lựa chọn thường nhật của từng người v của ton bộ cc x hội khng? C thể vng lời Thin Cha được khng v bởi đ; c thể yu mến Thin Cha v tha nhn m khng tn trọng cc giới răn ấy trong mọi tnh huống được khng? Hoi nghi về mối lin kết nội tại v bất khả phn ly giữa đức tin v lun lý với nhau, đ cũng l một quan điểm kh phổ biến, như thể nếu c quyết định về tnh trạng thuộc về Gio Hội v về tnh trạng thống nhất nội tại của Gio Hội th chỉ cần quyết định trong tương quan với đức tin m thi, cn trong địa hạt lun lý c thể chấp nhận tnh đa nguyn đối với những quan điểm v những cch thế ứng xử, mặc cho lương tm chủ quan của từng c nhn phn đon v ty vo sự khc biệt của những bối cảnh x hội v văn ha.

5. Trong một bối cảnh như thế, ngy cng như thế, quyết định đ từ lu ấp ủ của Ti – như Ti đ loan bo trước đy trong Tng Thư Spiritus Domini phổ biến ngy 1 – 8 – 1987 nhn dịp kỷ niệm 200 qua đời của thnh Anphongs Liguori – nay chn muội v Ti viết thng điệp ny nhằm mục đch bn luận su xa hơn v rộng ri hơn về những vấn đề lin quan tới chnh cc nền tảng trong thần học lun lý (9), những nền tảng hiện đang bị một số tro lưu hiện đại tấn cng.

Ti xin ngỏ lời với cc chư huynh, những người anh em khả knh của Ti trong hng Gim mục đang cng Ti chia sẻ trch nhiệm bảo vệ học thuyết lnh mạnh (2Tm 4,3), với ý hướng xc định một số kha cạnh đạo lý được kể l mấu chốt để đương đầu với ci tnh huồng chắc hẳn c thể gọi l một cuộc khủng hoảng thực sự, một cuộc khủng hoảng đ gy ra biết bao kh khăn nghim trọng biết mấy cho đời sống lun lý của cc tn hữu, cho mối dy hiệp thng trong Gio Hội cũng như cho một cuộc sống cng bằng v lin đới trong x hội.

Nếu như một thng điệp được mong chờ từ bấy lu nay như thế m mi tới giờ ny mới được phổ biến, đ l v để cho n ra sau cuốn Gio Lý của Gio Hội Cng Gio trong đ c phần trnh by đầy đủ v c hệ thống về học thuyết Lun Lý Kit gio, th xem ra thch hợp hơn. Sch gio lý trnh by đời sống lun lý của cc tn hữu, trong cc nền mng v cc kha cạnh đa phc gồm chứa trong đời sống ấy, coi đời sống ấy như l đời sống của con ci Thin Cha: Trong đức tin cc Kit hữu nhận ra được phẩm vị mới của mnh, v từ nay cc Kit hữu được mời gọi sống sao cho xứng đng với Tin Mừng (Pl 1,27). Nhờ cc b tch v kinh nguyện, cc Kit hữu lnh nhận ơn phc của Cha Kỉ v cc n huệ của Cha Thnh Thần nhờ đ họ c đủ khả năng sống theo lời mời gọi. (10). Như thế, thng điệp ny nại tới Sch Gio Lý như l bản văn qui chiếu vững chắc v chnh qui để giảng dạy về học thuyết cng gio (11), v thng điệp sẽ đặt giới hạn cho mnh ở chỗ khai triển một vi vấn đề cơ bản trong gio huấn lun lý của Gio Hội, bằng cch đưa ra một sự phn định cần thiết về những đề ti hiện đang được tranh ci giữa cc nh chuyn mn đạo đức học v thần học lun lý. Đ l mục tiu chnh xc của thng điệp hiện được ban hnh, trong đ c khi đề cập đến cc đề ti đang gy tranh luận c phần trnh by về những nguyn do của một nền gio huấn lun lý bn rề trong Thnh Kinh v trong Truyền Thống sống động của cc tng đồ (12), đồng thời đưa ra nh sng những tiền đề cũng như những hậu quả m khi nhắm vo nền gio huấn ny cc luồng cng kch đ nu ln hoặc dẫn đến.

 

 

CHƯƠNG I

 

THƯA THẦY, TI PHẢI LM ĐIỀU TỐT NO?

(Mt 19,16)

ĐỨC KIT V LỜI GIẢI ĐP CHO VẤN NẠN LUN LÝ

 

Người kia tiến lại gần (Mt 19,16)

6. Cuộc đối thoại giữa Đức Gisu với người thanh nin giu c được Tin Mừng thnh Mt-thu thuật lại trong chương 19, c thể dng lm khung cửi hữu ch để dệt lại, một cch sống động v trực tiếp, nền gio huấn lun lý của Đức Gisu: V ny c người kia tiến lại gần v hỏi Người: Thưa Thầy, ti phải lm điều tốt no để đạt được sự sống vĩnh cửu? Người ni lại: Sao anh lại hỏi Ti về điều tốt lnh? Chỉ c một Đấng duy nhất Tốt Lnh m thi. Nếu anh muốn tiến vo sự sống, anh hy tun giữ cc giới răn. Người ấy hỏi: Giới răn no?. Đức Gisu ni tiếp: Chớ giết người, chớ ngoại tnh, chớ trộm cắp, chớ lm chứng gian, hy thảo knh cha mẹ v hy yu thương tha nhn như chnh mnh. Chng thanh nin ni với Người: Tất thảy những điều ấy, ti đ tun giữ rồi: ti cn thiếu điều chi nữa? Đức Gisu tuyn bố với anh: Nếu anh muốn nn trọn bảo, hy về, hy bn những g anh c rồi đem tặng cho người ngho, như thế anh sẽ c được một kho tng trn trời, rồi hy đến v nối gt theo Thầy (Mt 19,16-21) (13).

7. V ny c người kia. Ở nơi người thanh nin m Tin Mừng thnh Mt-thu khng gọi tn, chng ta c thể nhận ra bất kỳ người no, hữu ý hoặc v tnh, đang tiến lại gần Đức Kit, Đấng Cứu Chuộc loi người, v đang nu ln Người vấn nạn lun lý. Đối với người thanh nin, vấn nạn về cc quy luật phải tun giữ đến sau vấn nạn về ý nghĩa trn đầy của cuộc sống. Qủa vậy, đ chnh l niềm khao kht nằm ở nơi nguồn cội của mọi quyết định v mọi hoạt động thuộc về con người, l cuộc truy tầm thầm kn v l kh phch thẳm su vốn tc động đến tự do, xt cho cng, vấn nạn ny ph diễn một kht vọng hướng về Sự Thiện tuyệt đối vốn hằng li cuốn chng ta v mời mọc chng ta tiến đến: vấn nạn ny l tiếng vọng của ơn gọi đến từ Thin Cha. Đấng l nguồn cội v l cng đch của đời sống con người. Cũng trong viễn tượng vừa nu. Cng Đồng Vatican II đ mời gọi đo su thần học lun lý phải lm nổi bật được ơn gọi rất cao cả m cc tn hữu đ lnh nhận trong Cha Kit (14), Đấng l giải đp độc nhất c sức lấp đầy một cch dư trn nỗi khao kht của con tim nhn loại.

Chnh v muốn cho con người gặp gỡ được Đức Kit trong cuộc sống m Gio Hội đ nằm trong ý định của Thin Cha. Thật vậy, Gao Hội chỉ mong muốn phục vụ c một mục tiu duy nhất: đ l lm sao cho mọi người c thể gặp thấy Đức Kit, ng hầu Đức Kit c thể bước đi trn đại lộ sự sống, lm bạn đường với mỗi người (15).

Thưa Thầy, ti phải lm điều tốt no để đạt được sự sống vĩnh cửu? (Mt 19.16)

8. Chnh từ nơi đy lng m người thanh nin đ đem vấn nạn ny ngỏ với Đức Gisu Na-gia-rt, một vấn nạn thiết cốt v bất khả trnh n đối với đời sống của bất ký người no: vấn nạn ny thật ra lin quan đến sự thiện lun lý phải thực hnh v tới đời sống vĩnh cửu. Người đối thoại với Đức Gisu linh cảm được rằng c một mối dy lin kết giữa sự thiện lun lý với sự thể hiện trọn vẹn vận mệnh c nhn của mnh. Anh l một người t-ra-en đạo đức, c thể ni, đ lớn ln dưới bng phủ của Luật Cha. Nếu anh nu cu hỏi ấy với Đức Gisu, chng ta c quyn tưởng tượng rằng đ khng phải l v anh thiếu hiểu biết về cu trả lời đ được ghi khắc trong L Luật. Điều ci nhin hơn, đ l sức thu ht của Đức Gisu đ lm nảy sinh nơi anh những thắc mắc mới về sự thiện lun lý. Chng thanh nin như thể cảm nghiệm sự đi buộc phải tiến lại gần Đấng đ khởi đầu cng trnh thuyết giảng của mnh bằng lới loan bo mới mẻ v quyết liệt ny: Giờ đ điểm v Nước Trời đ gần kề: anh em hy thống hối v hy tin vo Tin Mừng (Mc 1,15).

Thật xứng hợp nếu con người ngy nay lại một lần nữa quay về pha Đức Kit để đn nhận từ nơi Người lời giải đp về ci gọi l thiện v về ci gọi l dữ. Đức Kit l vị Tn Sư, l Đấng Phục Sinh c sự sống nơi mnh v l Đấng lun mi hiện diện trong Gio Hội v trong thế giới. Người mở sch Thnh Kinh ra cho cc tn hữu v trong khi mạc khải trọn vẹn thnh ý của Cha Cha. Người giảng dạy sự thật về hnh động lun lý. Ở đầu nguồn v ở nơi đỉnh cao của kế hoạch cứu độ, l Alpha v l mga của lịch sử nhn loại (x. Kh 1, 8; 21,6; 22,13). Đức Kit mặc khải thn phận của con người v ơn gọi ton vẹn của con người. Chnh v thế, người no muốn hiểu chnh mnh cho tường tận th khng thể no bằng lng p dụng cho bản thn mnh những tiu chuẩn v thước đo vốn chỉ l cấp thời, thin lệch, rất thường nng cạn v thậm ch chỉ c b mặt m thi: ngược lại người ấy phải mang theo những nỗi băn khoăn, những mối vu vơ, cả đến sự yếu đuối v tội lỗi, sự sống v ci chết v tiến lại gần Đức Kit. C thể ni được rằng người ấy phải đi vo trong Cha Kit với tất cả hữu thể của mnh, người ấy phải biến ha thnh của mnh v phải thắm nhuần ci thực tại Nhập Thể v Cứu Chuộc trong ton bộ để c thể tm gặp chnh mnh. Nếu để cho tiến trnh ny được thể hiện một cch su đậm nơi mnh, người ấy sẽ sản sinh được nhiều thnh quả chẳng những về mặt thờ lậy đối với Thin Cha, m cn về mặt ngỡ ngng thn phục đối với chnh mnh. (16)

Bởi vậy, nếu chng ta muốn tiến vo giữa lng lun lý Tin Mừng v muốn thu lượm nội dung su xa v bất biến của nền lun lý ấy, chng ta cần phải điều nghin kỹ lưỡng ý nghĩa của lời thắc mắc m người thanh nin giu c trong Tin Mừng đ nu, v hơn thế nữa, chng ta cần phải tm ti ý nghĩa nơi lời giải đp của Đức Gisu, bằng cch để cho Người hướng dẫn chng ta, Thật ra, với một mối quan tm tế nhị mang tnh chất sư phạm, Đức Gisu đ trả lời bằng cch dường như cầm tay người thanh nin m dắt đi, từng bước một, theo hướng chn lý trọn vẹn.

Chỉ c một Đấng duy nhất Tốt Lnh m thi (Mt 19,17)

9. Đức Gisu ni: Sao anh lại hỏi Ti về điều tốt lnh? Chỉ c một Đấng duy nhất Tốt Lnh m thi. Nếu anh muốn tiến vo sự sống, anh hy tun giữ cc giới răn (Mt 19,17). Dưới ngi bt của cc tc giả Tin Mừng Mc-c v Lu-ca, cu hỏi đ được diễn đạt như sau: Tại sao anh gọi Ti l tốt lnh? Khng c ai tốt lnh ngoại trừ một mnh Thin Cha (Mc 10, 18; x. Lc 18,19).

Trước khi đp lại vấn nạn, Đức Gisu muốn người thanh nin phải minh giải cho chnh anh đu l động lực thc đẩy anh xử tr như thế. V Thầy Tốt Lnh chứng tỏ cho người đối thoại – v cho tất cả chng tằng chỉ tm gặp được lời giải đp cho thắc mắc: ti phải lm điều tốt no để đạt được sự sống vĩnh cửu? nếu biết qui hướng tr tuệ v tm hồn về Đấng duy nhất Tốt Lnh: Khng c ai tốt lnh ngoại trừ một mnh Thin Cha (Mc 10, 18; x. Lc 18,19). Chỉ một mnh Thin Cha mới c thể giải đp vấn nạn về điều thiện, bởi v Ngi l Sự Thiện.

Thật ra, thắc mắc về điều thiện th cung qui lại c nghĩa l quay về pha Thin Cha, nơi tro trn lng nhn hậu. Đức Gisu tỏ cho thầy yu cầu của người thanh nin thật ra l một yu cầu tn gio v sự tốt lnh nhn hậu vốn li cuốn con người v đồng thời khiến con người phải dấn thn th bắt nguồn từ nơi Thin Cha, v hơn thế nữa, sự tốt lnh nhn hậu l chnh Thin Cha. Đấng duy nhất đng được yu mến hết lng, hết tm hồn v hết tr khn (Mt 22,37). Đấng l cội nguồn hạnh phc của con người. Đức Gisu đưa vấn nạn về hnh động tốt theo nghĩa lun lý lại gần những cội rễ tn gio của vấn nạn v lại gần sự nhn nhận Thin Cha, sự tốt lnh duy nhất, sự sống vin mn, cng đch tối hậu của hnh động nhn linh, ci phc trọn hảo.

10. Nhớ lời Thầy chỉ dạy, Gio Hội tin tưởng rằng con người, được tạo dựng theo hnh ảnh của Tạo Ha, được sự cứu chuộc nhờ mu Đức Kit v được thnh ha nhờ sự hậu ny l lm sao để: ca ngợi vinh quang Thin Cha (x. Ep 1,12), lm sao để cho mỗi một hnh động của mnh đều l hnh ảnh phản chiếu nh ngời của Thin Cha. Thnh Ambrsi viết: Bởi vậy, hỡi linh hồn đẹp xinh, hy nhận biết chnh mnh ngươi: ngươi l hnh ảnh của Thin Cha. Hỡi con người, hy nhận biết chnh mnh ngươi: ngươi l vinh quang của Thin Cha (1Cr 11, 7). Hy lắng nghe cho biết ngươi l vinh quang của Ngi như thế no. Đy l lời của ngn sứ: Sự khn ngoan của ngươi đ nn kỳ diệu bởi v n pht xuất từ nơi Ta (Tv 138, 6), nghĩa l, trong cc cng trnh của Ta, vẻ huy hong của ngươi l kỳ diệu nhất, sự khn ngoan của ngươi được tn dương trong tm tưởng con người. Trong khi Ta nhn ngắm chnh mnh v trong khi ngươi d thấy những tư tưởng thầm kn v những tnh cảm thẳm su của Ta. Ta nhận ra những mầu nhiệm của tr tri ngươi. V vậy, hởi con người, hy nhận biết chnh mnh ngươi rồi ngươi sẽ khm ph ra rằng ngươi cao cả biết mấu, hy ch tm đến ngươi (17).

Con người l g v con người phải lm g, đ l những điều được khm ph vo lc Thin Cha tự tỏ lộ chnh mnh. Thật vậy, Thập Giới dựa trn những lời ny: Ta l Cha, l Thin Cha ngươi, chnh Ta đ đưa ngươi ra khỏi xư sở Ai Cập, ra khỏi căn nh n lệ. Ngươi chớ đem những thầm minh khc ra trước mặt Ta. (Xh 20, 2-23). Trong mười lời Giao Ước với t-ra-en, v trong ton thể Lề Luật. Thin Cha tự xưng mnh v được nhn nhận l Đấng duy nhất Tốt Lnh; l Đấng, bất kể tội con người, cứ tiếp tục lm mẫu mực cho hnh động lun lý theo như lời ku gọi Ngi xướng ln: Cc ngươi hy nn thnh bởi v Ta, Cha v Thin Cha cc ngươi l thnh (Lv 19, 2): l Đấng, một mực trung thnh với tnh yu của Ngi đối với con người, ban tặng Lề Luật cho con người (x. Xh 19, 9-24; 20, 18-21) để ti lập sự ha diệu nguyn thủy với Đấng Tạo Ha v với cng trnh tạo dựng, v hơn thế nữa, để đưa con người vo trong tnh yu của Ngi: Ta sẽ sống giữa cc ngươi, Ta sẽ l Thin Cha của cc ngươi v cc ngươi sẽ l dn Ta (Lv 26,12).

Đời sống lun lý được coi như l lời giải đp do bởi những sng kiến ho phng m tnh yu Thin Cha đ khng ngừng gia tăng trong những mối quan hệ của Ngi với con người. Đ l một lời giải đp tnh yu, theo như giới răn cơ bản trong sch Đệ Nhị Luật pht biểu: Hỡi t-ra-en hy nghe đy: Đức Cha Thin Cha ngươi l Cha duy nhất. Ngươi hy yu mến Đức Cha Thin Cha ngươi hết lng, hết linh hồn v hết sức ngươi. Hy tm niệm những lời Ta tuyn xướng cho ngươi hm nay. Hy lặp lại những điều ny cho con ci ngươi (Đnl 6, 4-7). Bởi đ, v nối liền với sự ho phng trong tnh yu của Thin Cha, đời sống lun lý được ku mời phản chiếu vinh quang: Đối với người yu mến Thin Cha th chỉ cần lm vừa lng Đấng mnh yu mến l đủ: Bởi v người ta khng cn mong chờ một phần thưởng no lớn hơn l tnh yu ấy: thật vậy, tnh yu đến từ Thin Cha bởi v Thin Cha chnh l tnh yu (18).

11. Lời khẳng định chỉ c một Đấng duy nhất Tốt Lnh đưa chng ta về với tấm bia thứ nhất chứa đựng cc giới răn, nơi đ c lời mời gọi nhận biết Thin Cha l Cha duy nhất v tuyệt đối, v c lời mời gọi chỉ tn thờ một mnh Ngi m thi, do sự thnh thiện v bin của Ngi (x. Xh 20, 2-11). Sự thiện, đ l thuộc về Thin Cha, đ l vng phục Ngi, l khim tốn bước đi với Ngi đồng thời thực thi cng chnh v yu quý lng từ i (x. MK 6,8). Nhn nhận Cha l Thin Cha: đ l hạt nhn cơ bản, l tm điểm của Lề Luật, từ đ pht xuất những mệnh lệnh đặc th v dựa vo đ m cc mệnh lệnh đặc th được phối tr. Do việc thực hnh lun lý qua cc giới răn m tỏ lộ sự kiện ny l dn t-ra-en thuộc về Cha, bởi v chỉ một mnh Thin Cha l Đấng Tốt Lnh m thi. Thnh Kinh lm chứng về điều đ với từng trang sch thấm nhuần cảm thức sắc bn về sự thnh thiện tuyệt đối của Thin Cha: Thnh, Thnh, Thnh, Cha của vũ hon l Đấng Thnh (Is 6,3).

Nhưng nếu chỉ một mnh Thin Cha l Sự Thiện, khng c bất cứ nỗ lực nhn linh no, kể cả việc tun giữ giới răn một cch chi li nhất, c thể đạt tới chỗ chu ton Lề Luật, nghĩa l tới chỗ nhận biết Cha l Thin Cha v dng ln Ngi sự thờ lạy m chỉ mnh Ngi đng được hưởng (x. Mt 4,10). Sự chu ton chỉ c thể đạt được nhờ ơn Thin Cha: N l qu tặng do tham dự vo lng nhn hậu thần thing được tỏ lộ v được thng chuyển nơi Đức Gisu; Đấng m người thanh nin gọi l Thầy Nhn Lnh (Mc 10, 17; Lc 18, 18). Điều m c lẽ lc ny người thanh nin mới chỉ linh cảm được m thi th về sau sẽ được vn mở một cch trn đầy nhờ chnh Đức Gisu qua lời mời của Người: Hy đến v nối gt theo Ta (Mt 19, 21).

Nếu anh muốn liền vo sự sống, hy tun giữ cc giới răn (Mt 19, 17).

12. Chỉ một mnh Thin Cha l c thể giải đp vấn nạn về điều thiện, bởi v Ngi l Sự Thiện. M Thin Cha đ giải đp vấn nạn ny rồi: Ngi đ giải đp bằng cch tạo dựng con người v qui hướng con người một cch khn ngoan v trong tnh yu về pha cứu cnh của con người, với phương thể l lề luật khắc ghi trong lng con người (x. Rm 2,1), tức luật tự nhin. Luật ny khng l g khc hơn nh sng pht xuất từ tr tuệ, được Thin Cha ph bẩm trong chng ta. Nhờ nh sng ấy, chng ta biết được điều chng ta phải thực hiện v điều chng ta phải trnh. nh sng ấy v luật ấy, Thin Cha đ ban tặng trong cng trnh tạo dựng (19). Sau đ Thin Cha đ tiếp tục ban tặng theo dng lịch sử t-ra-en, cch ring qua thập ngn, nghĩa l qua cc giới răn ở Sinai, m Ngi đ dng để xy dựng nền tảng cho cuộc sống của dn Giao Ước (x. Xh 24) v để ku gọi dn ấy trở nn sự thiện đặc biệt của Ngi giữa mun dn, một dn tộc thnh thiện (Xh 19, 5-6) khả dĩ tỏa chiếu sự thnh thiện của Ngi ở giữa mọi dn (x. Kn 18,4: Ed 20, 41). Qa tặng Thập Giới l lời hứa v l dấu chỉ của Tn Ước, lc m Luật mới sẽ được ghi tạc vĩnh viễn trong quả tim con người (x. Gr 31, 31-34) thay thế cho luật tội lỗi đ ph hỏng bản chất của quả tim ấy (x. Gr 17, 1). Lc ấy con người sẽ được ban tặng một quả tim mới, bởi v một thần kh mới sẽ cư ngụ nơi quả tim ấy, đ l Thần Kh của Thin Cha (x. Ed 36, 24-28) (20).

Chnh v thế, sau khi xc định điều quan trọng rằng chỉ c một Đấng duy nhất Tốt Lnh. Đức Gisu đp lại người thanh nin: Nếu anh muốn tiến vo sự sống, hy tun giữ cc giới răn (Mt 19,17). Điều được pht biểu qua cch thức ny, đ l mối lin kết chặt chẽ giữa đời sống vĩnh cửu với việc tun phục cc giới răn của Thin Cha: chnh cc giới răn của Thin Cha chỉ cho con người thấy con đường sự sống v dẫn đến sự sống. Qua miệng của Đức Gisu, l Mis mới, cc giới răn của Thập Giới lại một lần nữa được ban tặng cho loi người: chnh Người xc quyết cc giới răn ấy một cch dứt khot v đề nghị chng lm đường nẻo v lm điều kiện cứu độ cho chng ta. Giới răn gắn liền với một lời hứa: trong Cựu Ước, đối tượng của lời hứa l sự chiếm hữu một vng đất để cho dn c chỗ m sống cuộc đời mnh trong tự do v theo đức cng chnh (x. Đnl 6, 20-25): trong Tn Ước, đối tượng của lời hứa l Nước Trời theo như Đức Gisu quả quyết trong phần đầu của Bi Giảng trn Ni – bi giảng trong đ Luật mới được pht biểu một cch rộng ri nhất v đầy đủ nhất (x. Mt 5-7) –, chắc hẳn trong tương quan với Thập Giới đ được Thin Cha giao ph cho Mis trn ni Si-nai. Thnh ngứ sự sống đời đời được nối liền với thực tại Nước Thin Cha v c nghĩa l tham gia vo chnh sự sống của Thin Cha: sự sống ny chỉ sau ci chết mới được thể hiện han ton, thế nhưng trong đức tin, ngay tự by giờ đ l nh sng chn lý, đ l nguồn mạch ý nghĩa cho cuộc sống v đ l bước đầu thng phần vo sự vin mn trong cuộc nốu gt theo Cha Kit. Thật ra, sau cuộc gặp gỡ với người thanh nin giu c, Đức Gisu ni với cc mn đệ của Người: Những ai bỏ nh cửa, anh chị em, cha mẹ, con ci hoặc ruộng đồng v danh Thầy th sẽ nhận được gấp bội v sẽ c sự sống vĩnh cửu lm gia nghiệp (Mt 19,29).

13. Cu trả lời của Đức Gisu chưa đủ cho người thanh nin v người thanh nin cn nhấn mạnh để hỏi Thầy thm về những giới răn phải tun giữ, anh hỏi Người: Giới răn no? (Mt 19, 18). Anh hỏi xem anh phải lm g trong cuộc sống để chứng tỏ anh nhận biết sự thnh thiện của Thin Cha. Sau khi đ hướng nh mắt của người thanh nin về pha Thin Cha, Đức Gisu nhắc lại cho anh những giới răn trong Thập Giới lin quan tới tha nhn: Đức Gisu ni tiếp: Chớ giết người, chớ ngoại tnh, chớ trộm cắp, chớ lm chứng gian, hy thải knh cha mẹ, hy yu tha nhn như chnh mnh (Mt 19, 18-19).

Trong bối cảnh của cuộc trao đổi, đặc biệt khi đem đối chiếu bản văn của Mtthu với những đoạn song song trong Mc-c v Luca, điều nổi bật l Đức Gisu khng cố ý liệt k danh sch gồm tất cả mọi giới răn cần thiết để tiến vo sự sống nhưng đng hơn Người cố ý đưa người thanh nin quay về với ci gọi l trung tm điểm của Thập Giới snh với mọi mệnh lệnh khc, nghĩa l quay về với lời khẳng định Ta l Cha, l Thin Cha ngươi l lời mang ý nghĩa đặc biệt đối với con người. Như thế chng ta khng thể khng ch tm đến cc giới răn của Lề Luật m Cha Gisu nhắc nhở cho người thanh nin, đ l những giới răn nằm trong ci gọi l tấm bia thứ hai của Thập Giới m tm tắt lại (x. Rm 13, 8-10) v tự nền tảng chỉ l giới răn tnh yu đối với tha nhn: Hy yu tha nhn như chnh mnh ngươi (Mt 19, 19; x. Mc 12, 31). Trong giới răn ny điều được diễn tả l phẩm gi ring biệt của con người, tạo vật duy nhất trn mặt đất m Thin Cha muốn dựng nn để lm đối tượng cho tnh yu Ngi (Seule crature que Dieu a voulue pour elle-mme). Những giới răn khc nhau trong Thập Giới thật ra chỉ l tiếng vang dội của giới răn duy nhất về sự thiện của con người, ở nơi từng cấp độ của nhiều điều thiện tạo thnh tnh chấy cho căn tnh con người l hữu thể vừa thing ling vừa c thn xc trong tương quan với Thin Cha, với tha nhn v với thế giới vật chất. Như chng ta đọc thấy trong Sch Gio lý Cng gio. mười giới răn thuộc về những g được Thin Cha mạc khải. Mười giới răn đồng thời dạy cho chng ta về nhn tnh đch thực của con người. Mười giới răn nu r những bổn phận cốt yếu v do đ, một cch gin tiếp, nu r những quyền lợi căn bản, mật thiết gắn liền với bản chất của con người (22).

Những giới răn m Đức Gisu nhắc nhở cho người đối thoại trẻ tuổi nhằm vo mục đch bảo tồn sự thiện của con người, hnh ảnh của Thin Cha, bằng việc bnh vực những điều thiện của con người. Chớ giết người, chớ ngoại tnh, chớ trộm cắp, chớ lm chứng gian, đ l những chuẩn mực lun lý được pht biểu thnh những điểu ngăn cấm. Những mệnh lệnh tiu cực ny diễn tả một cch mạnh mẽ sự cần thiết khn lường đối với việc bảo vệ sự sống con người, bảo vệ mối dy hiệp thng lin vị trong hn nhn, bảo vệ tư hữu, bảo vệ sự thật v bảo vệ danh thơm tiếng tốt.

Như vậy, cc giới răn nu ln điều kiện lm nền cho tnh yu tha nhn, đồng thời cc giới răn l phương cch kiểm nghiệm tnh yu tha nhn. Cc giới răn l giai đoạn cần thiết đầu tin trn nẻo đường tiến đến tự do, l bước đầu, như thnh Augustin viết: Tự do đệ nhất, đ l khng phạm tội trọng như giết người, ngoại tnh, dm , trộm cắp, lừa đảo, phạm thnh v mọi thứ tội khc đại loại như thế. Khi một con người no đ nhất quyết từ chối vi phạm những thứ tội ấy – thật ra bất cứ Kit hữu no cũng c bổn phận khng được vi phạm những thứ tội ấy – th người ấy khởi sự ngước đầu về pha tự do, nhưng đ mới chỉ l bước đầu của tự do chớ chưa phải l tự do hon ton... (23).

14. Tuy nhim điều ny khng c nghĩa l Đức Gisu muốn đặc biệt ch trọng tnh yu tha nhn, lại cng khng c nghĩa l Người cố ý tch tnh yu tha nhn ra khỏi tnh yu Thin Cha: cuộc đối thoại giữa Người với vị tiến sĩ luật, đ chứng tỏ cho thấy: vị ny, sau khi đặt một cu hỏi rất giống với cu hỏi của người thanh nin, đ nhận ra rằng Đức Gisu đưa mnh quay về với hai giới răn yu mến Thin Cha v yu thương tha nhn (x. Lc 10, 25 – 27) v đ được mời gọi để ghi nhớ rằng chỉ c việc tun giữ cc giới răn ấy mới dẫn đến sự sống vĩnh cửu: Cứ lm như vậy th người sẽ được sống (Lc 10, 28). Điều đng ni đ l chnh giới răn thứ hai đ khơi dậy tnh t m v mối thắc mắc nơi vị tiến sĩ luật: Ai l tha nhn của ti? (Lc 10, 29). Đấng l Thầy đ trả lời bằng dụ ngn người Samaria nhn hậu, dụ-ngn-mấu-chốt gip nắm bắt trọn vẹn giới răn yu thương tha nhn (x. Lc 10, 30-37).

Hai giới răn m ton thể Lề Luật cũng như cc ngn sứ đều qui về đ (Mt 22, 40) lại nối kết với nhau một cch su đậm v xen chặt vo nhau. Bằng lời ni v bằng cuộc sống. Đức Gisu lm chứng cho mối hiệp nhất bất khả phn chia của hai giới răn ny: sứ mệnh của Người đạt tới đỉnh cao l Thập Ga cứu chuộc (x. Ga 3, 14-15), dấu chỉ của tnh yu khng thể tch rời đối với Cha Cha v đối với nhn loại (x. Ga 13,1).

Cựu Ước v Tn Ước quả quyết một cch r rệt rằng, khng yu thương tha nhn m cụ thể l tun giữ cc giới răn th khng thể thực sự yu mến Thin Cha được. Thnh Gioan viết điều ny với một sức mạnh phi thường: Nếu ai ni ti yu Thin Cha m lại ght anh em mnh, th người ấy l kẻ dối tr: người anh em mnh xem thấy m người ấy khng yu thương th lm sao người ấy yu mến được Thin Cha m mnh khng xem thấy (1 Ga 4,20). Thnh Gioan đ để cho vang vọng lại lời thuyết giảng lun lý của Đức Kit, được diễn tả một cch tuyệt vời v xc đng trong dụ ngn người Samaria nhn hậu (x. Lc 10, 30-37) v trong diễn tử ngy pht xt cuối cng (x. Mt 25, 31-46).

15. Trong Bi Giảng trn Ni vốn được coi l đạt hiến chương (magna carta) của nền lun lý Tin Mừng (24). Đức Gisu ni: Cc anh em đừng tưởng rằng ti đến để ph hủy Lề Luật v cc Ngn Sứ: ti khng đến để ph hủy nhưng để han thnh (Mt 5, 17). Đức Kit l cha kh gip mở Thnh Kinh: Cc anh em d tm Thnh Kinh, [] chnh Thnh Kinh lm chứng về Ti (Ga 5, 39). Người l trung tm của kế hoạch cứu độ, l Đấng thu gồm Cựu Ước v Tn Ước, thu gồm những lời hứa do bởi Lề Luật v sự ứng nghiệm những lời hứa ấy trong Tin Mừng. Người l mối dy hằng sống v vĩnh cửu nối liền Cựu Ước v Tn Ước. Khi ch giải lời khẳng định của Thnh Phaol cng đch của lề luật chnh l Đức Kit, thnh Ambrsi viết: Cng đch, khng phải xt theo nghĩa lề luật khng cn hiện diện nữa, nhưng xt theo nghĩa lề luật trong tnh trạng vin mn: lề luật được han thnh nơi Đức Kit (plenitudo legis in Christo est), do bởi Người đến khng phải để xa bỏ Lề Luật nhưng để đưa Lề Luật đến chỗ han thnh. Cũng giống như c một Cựu Ước nhưng ton bộ chn lý lại nằm trong Tn Ước, đối với Lề Luật cũng vậy: lề luật đ được ban qua trung gian Ms l hnh bng của Luật đch thực. Vậy, Luật Mis l bản gốc (prototype) của chn lý (25).

Đức Gisu đưa cc giới răn của Thin Cha đến chỗ hon thnh, cch ring giới răn yu thương tha nhn, bằng cch nội tm ha v triệt để ha những đi buộc của giới răn; tnh yu tha nhn tun ra từ một con tim đang yu,một con tim, bởi v đang yu, chực sẵn để sống những đi buộc cao xa nhất. Đức Gisu nu r rằng khng được coi cc giới răn như một giới hạn tối thiểu cấm vượt qua, đng hơn phải coi cc giới răn l đại lộ rộng mở cho một cuộc hnh trnh lun lý v thing ling tiến tới sự trọn hảo, m trung tm l tnh yu (x. Cl 3, 14). Như thế giới răn chớ giết người trở thnh lời mời yu thương để rồi mau mắn nng đỡ v thăng tiến đời sỗng của tha nhn; mệnh lệnh ngăn cấm ngoại tnh trở thnh lời mời thanh luyện nh mắt, đạt tới khả năng tn trọng ý nghĩa phu thu của thn xc: Anh em đ biết cha ng chng ta được dạy rằng: Chớ giết người: v nếu c người no giết người, người ấy sẽ phải biện bạch trước ta n. Cn ti, ti bảo anh em: Ai nổi giận với anh em mnh sẽ phải trả lẽ trước ta n: [] Anh em đ nghe người xưa được dạy rằng: Chớ ngoại tnh. Cn ti, ti bảo anh em: Ai nhn phụ nữ m thm muốn th đ phạm tội ngoại tnh trong lng rồi (Mt 5, 21-22. 27-28). Đức Gisu l sự chu ton Lề Luật một cch sống động xt theo nghĩa l Người thể hiện ý nghĩa đch thực của Lề Luật bằng việc trao hiến chnh mnh han ton: chnh Người trở thnh Luật hằng sống đồng ha với ngi vị, Người mời gọi nối bước theo Người v, nhờ Thần Kh, Người ban cho ơn thng chia sự sống của Người v thng chia cả tnh yu của Người, Người ban cho sức mạnh cần c để lm chứng về sự thng chia ấy bằng những lựa chọn v những hnh vi (x. Ga 13, 34-35).

Nếu anh muốn nn trọn hảo (Mt 19,21)

16. Bằng cch nhắc lại cc giới răn, cu trả lời chưa lm người thanh nin thỏa mn, người ấy hỏi Cha Gisu: Tất cả những giới răn ấy, ti đều đ tun giữ; vậy ti cn thiếu điều chi nữa? (Mt 19, 20). Khng dễ dầu g m một lương tm tốt cho php tuyn bố tất cả những giới răn ấy, ti đều đ tun giữ nếu chỉ mới hiều sơ si tầm mức hữu hiệu của những đi buộc gồm chứa trong Luật của Thin Cha. Tuy nhin, nếu người thanh nin giu c đ c thể đưa ra cu đp tương tự, nếu người thanh nin giu c đ theo đuổi lý tưởng lun lý một cch nghim minh v quảng đại ngay từ thời thơ ấu, người ấy biết rằng mnh cn xa mới tới đch: đứng trước Đức Gisu, anh nghiệm ra rằng anh cn thiếu một điều chi đ. Chnh khi người thanh nin ý thức về tnh trạng bất tc của anh m Cha Gisu mới ngỏ với anh cu trả lời cuối cng: Khi nhận thấy c nỗi hoi vọng hướng đến một sự vin mn vượt trn cch giải thch vị luật về cc giới răn. Vị Thầy Tốt Lnh mời người thanh nin tiến vo con đường trọn hảo: Nếu anh muốn nn trọn hảo, hy về, hy bn những g anh c v đem tặng cho người ngho, anh sẽ c được kho tng trn trời: rồi sau đ hy đến v nối gt theo Thầy (Mt 19, 21).

Như đ lm đối với phần đầu của lời Đức Gisu giải đp, chng ta cũng phải đọc v cắt nghĩa phần ny trong khun khổ của ton bộ sứ điệp lun lý Tin Mừng v một cch đặc biệt, trong khun khổ của Bi Giảng Trn Ni, của cc Mối Phc Thật (x. Mt 5, 3-12), m mỗi phc đầu tin l dnh cho người ngho, những người c tinh thần ngho kh theo kiểu xc định của thnh Mt-thu, hoặc cho những người b mọn. Trong chiều hướng ny c thể ni được rằng cc Mối Phc Thật cũng chiếm vị tr trong khoảng khng gian được mở ra do lời giải đp Đức Gisu đưa ra trước vấn nạn của người thanh nin: Ti phải lm điều tốt no để đạt được sự sống vĩnh cửu?. Thật vậy, hẳn nhin mỗi mối phc thật, theo từng viễn tượng ring, đều hứa hẹn một điều thiện sẽ mở lối vĩnh cửu cho sự sống con người, v hơn thế nữa, sẽ chnh l sự sống vĩnh cửu.

Đối tượng ring của cc Mối Phc Thật khng phải l những chuẩn mực đặc th gip ứng xử, cc Mối Phc Thật gợi ln những thi độ v những tư thế cơ bản cho cuộc sống v v thế chng khng hon ton trng hợp với cc giới răn. Đng khc, khng hề c tch biệt hoặc đối chọi giữa cc mối phc thật v cc giới răn: cả hai đều qui về điều thiện v qui về sự sống vĩnh cửu. Bi Giảng trn Ni mở đầu bằng việc cng bố cc mối phc thật nhưng cũng gồm chứa sự qui chiếu về cc giới răn (x. Mt 5, 20-48). Đồng thời. Bi Giảng trn Ni cho thấy cc giới răn mở lối v nhắm hướng tiến đến sự trọn hảo, cũng l hướng của cc Mối Phc Thật. Cc Mối Phc Thật trước tin l những lời hứa, nhưng một cch gin tiếp, những lời hứa ấy cũng khơi nguồn cho những chỉ dẫn mang tnh chuẩn mực dnh cho đời sống lun lý. Trong chiều su nguyn thủy, cc mối phc thậy c thể v như bức chn dung tự họa của Đức Kit v chnh v lẽ ấy, cc mối phc thật l những lời mời nối gt theo Người v sống Hiệp thng với Người (26).

17. Chng ta khng biết được người thanh nin trong Tin Mừng đ hiểu đến mức độ no nội dung su sắc v khắt khe trong cu trả lời thứ nhất m Cha Gisu đưa ra. Nếu anh muốn tiến vo sự sống, hy tun giữ cc giới răn, tuy nhin điều chắc chắn l người thanh nin đ by tỏ sự cam kết tun thủ tất cả mọi đi buộc lun lý pht xuất từ cc giới răn v bởi đ đ tạo nn mảnh đất cần thiết để cho kht vọng trọn hảo c thể nẩy mầm v mọng chn trong đ, nghĩa l để c thể thực hiện những g m cc giới răn chỉ dẫn v để chu ton những điều ấy bằng nối gt theo Cha Kit. Cuộc đối thoại giữa Đức Gisu với người thanh nin gip chng ta năm bắt những điều kiện gip cho con người được mời gọi sống trọn hảo c thể tăng trưởng về mặt lun lý; cho dầu đ tun giữ tất cả cc giới răn, người thanh nin đ tỏ ra bất lực, khng thể tự sức mnh cất thm bước nữa, Để c khả năng nầy rất cần đến một tự do nhn linh chn muồi. Nếu anh muốn v rất cần đến qu tặng n sủng của Thin Cha, hy đến, hy nối gt theo Thầy.

Sự trọn hảo đi buộc phải chn chắn trong việc trao chnh mnh, trong đ tự do con người được mời gọi can dự. Đức Gisu nu cc giới răn cho người thanh nin lm điều kiện tin quyết khng thể khng truyền khiến để c được sự sống vĩnh cửu: ngược lại, việc từ bỏ những g người thanh nin sở hữu v việc nối gt theo chn Cha Kit lại mang tnh chấy của một lời đề nghị: Nếu anh muốn. Lời của Đức Gisu vn mở cho thấy sự năng động đặc biệt của tự do trong đ tăng triẻn tiến đến trưởng thnh v, đồng thời, tỏ lộ mối tương quan cơ bản giữa tự do v Luật Thin Cha. Tự do con người v Luật Thin Cha khng hề đối chọi nhau nhưng, ngược lại, nại đến nhau một cch hỗ tương.

Người mn đệ của Đức Kit biết rằng ơn gọi của mnh l ơn gọi hướng đến tự do. Thnh Phaol đ cng bố một cch vui mừng v kiu hnh: Thật vậy, anh em thn mến, anh em đ được ku gọi hưởng nếm tự do. Thế nhưng, ngay tức khắc thnh nhn xc định: anh em đừng lấy tự do ấy lm cớ để thỏa mn xc thịt, nhưng hy lấy đức i m phục vụ lẫn nhau (Gl 5, 13). Thi độ kin quyết của Thnh Tng Đồ khi phản đối những ai tưởng rằng mnh c thể nn cng chnh ha tự sức mnh th khng lin can cht no đến tnh trạng con người được giải thot do bởi cc mệnh lệnh, ngược lại, vốn dng lm phương tiện phục vụ để thực hnh tnh yu: Ai yu mến tha nhn th kể như đ chu ton lề luật. Thật ra, mệnh lệnh: Chớ ngoại tnh, chớ giết người, chớ trộm cắp, chớ tham lam ganh tị v tất cả cc mệnh lệnh khc đều gồm tm trong cng thức ny: Hy yu thương tha nhn như chnh mnh (Rm 13, 8-9). Sau khi đ đề cập đến sự tun giữ cc giới răn như l tự do bất ton buổi đầu, thnh Augustin nối tiếp như sau: C người hỏi tại sao đ lại khng phải l tự do hon hảo? Bởi v ti nhn thấy trong cc chi thể ti trổi dậy một luật khc chống lại luật của tr tuệ ti []. Đ l tự do một phần no đ v l n lệ một phần no đ: đ chưa phải l tự do han ton, tự do thuần ty, tự do trn đầy bởi v đ chưa phải l vĩnh cửu. Thật ra sự yếu đuối một phần no đ đ nặng ln chng ta nhưng chng ta cũng đ lnh nhận một phần tự do no đ rồi. Tất cả những g l tội chng ta đ phạm trước đy th nay đ được xa sạch nhờ b tch rửa tội. C phải v sự bất chnh được được tẩy xa han ton cho nn khng cn cht yếu đuối no nữa chăng? Nếu khng cn yếu đuối nữa th chng ta đ chẳng cn phạm tội trn ci đời ny. Thế nhưng no ai dm tự ho đến thế nếu khng l kẻ kiu căng, nếu khng l kẻ bất xứng trước lượng từ i của Đấng Gii Thot? []. Do vậy, bởi v chng ta vẫn cn một nỗi yếu đuối no đ, ti dm ni rằng chng ta được tự do ty theo mức độ m chng ta phụng sự Thin Cha v rằng chng ta vẫn cn bị n lệ ty theo mức độ m chng ta lụy phục lề luật của tội (27).

18. Ai sống theo xc thịt th cảm nhận Luật Thin Cha như một gnh nặng v thậm ch như một sự chối bỏ hoặc t ra một sự hạn chế tự do của ring mnh. Ngược lại, ai được thi thc bởi tnh yu, ai để cho Thần Kh hướng dẫn (Gl 5, 16) v mong ước phục vụ tha nhn th tm gặp nơi Luật Thin Cha con đường cơ bản v cần thiết để c thể thực thi tnh yu mnh đ tự do lựa chọn v đn nhận trong cuộc sống. Hơn nữa, người ấy nhận ra được sự khẩn cấp ở bn trong tm hồn – một nổi cấp bch thật sự chớ khng phải một sự cưỡng bức – đi khng được dừng lại ở những b buộc tối thiểu của Luật nhưng phải sống những b buộc ấy cho tới mức vin mn. Đ vẫn cn l một con đường bất trắc v mỏng manh bao lu chng ta cn ở dương thế, nhưng l con đường chng ta c thể tiến bước nhờ n sủng được ban cho chng ta để chng ta c trn đầy tự do của những người lm con Thin Cha (x. Rm 8, 21) v do đ để chng ta dng đời sống lun lý m đp lại ơn gọi cao cả của chng ta: lm con trong Con.

Ơn gọi hướng đến tnh yu trọn hảo khng phải chỉ dnh ring cho một nhm người no đ m thi. Lời mời hy về. hy bn những g anh c v hy đem tặng cho người ngho cng với lời hứa anh sẽ c được kho tng trn trời l lời mời được ngỏ với mọi người, bởi v đ chỉ l giới răn yu thương tha nhn được triệt để ha, cũng như lời mời hy đến, hy nối gt theo Thầy chỉ l một hnh thức mới v cụ thể của giới răn yu mến Thin Cha. Cc giới răn v lời mời Đức Gisu ngỏ với người thanh nin đều nhằm phục vụ một đức i độc nhất bất khả phn chia, một đức i đương nhin hướng đến sự trọn hảo m chỉ c Thin Cha mới l thước đo: Bởi đ, anh em hy nn trọn hảo như Cha của anh em trn trời l Đấng trọn hảo (Mt 5, 48). Trong Tin Mừng thnh Luca, Đức Gisu diễn giải tầm vc của sự trọn hảo ny như sau: Anh em hy c lng tư i như Cha của anh em l Đấng từ i (Lc 6, 36).

Hy đến, hy nối gt theo Thầy (Mt 19, 21)

19. Đường nẻo v đồng thời nội dung của sự trọn hảo hệ tại chỗ nối gt theo chn Cha Kit, bước đi theo Đức Gisu sau khi đ từ bỏ những của cải thuộc về mnh v từ bỏ chnh mnh. Đ đng l kết luận của cuộc đối thoại giữa Đức Gisu v người thanh nin: Rồi sau đ hy đến, hy nối gt theo Thầy (Mt 19, 21). Chiều su kỳ diệu của lời mời ny sẽ được cc mn đệ nhận ra một cch trọn vẹn sau biến cố phục sinh của Đức Kit, khi Cha Thnh Thần đưa họ vo trong tan bộ Sự Thật (x. Ga 16, 13).

Chnh Đức Gisu l người khởi xướng v cất tiếng mời gọi theo Người. Lời mời trước hết được ngỏ với những kẻ m Người giao ph một sứ mệnh đặc biệt, khởi đầu với Nhm Mười Hai: thế nhưng điều tỏ tường l bất cứ ai tin vo Đức Kit cũng đều phải thỏa mn điều kiện lm mn đệ Người (x. Cv 6, 1). Do bởi sự kiện ny, nối bước theo Cha Kit chnh l nền tảng thiết yếu v nguyn sơ của nền lun lý Kit gio: tựa như dn t-ra-en xưa kia cất bước theo Thin Cha v đ được Thin Cha dẫn dắt qua hoang địa tiến đến Đất Hứa (x. Xh 13, 21), người mn đệ cũng phải nối bước theo Đức Gisu v được Cha Cha li kp để tiến đến với Người (x. Ga 6, 44).

Vấn đề ở đy khng phải l để tm lắng nghe một lời gio huấn hay đn nhận một giới răn trong thi độ vng phục: một cch triệt để hơn, điều phải lm l gắn b với chnh Đức Gisu, chia sẻ sự sống v vận mệnh của Người thng phần vo sự vng phục tự do v đầy tnh yu thương của Người đối với thnh ý của Cha Cha. Bước theo Đấng Khn Ngoan đ ha nn xc phm, do thi độ đp trả của đức tin, người mn đệ của Đức Gisu thực sự trở thnh mn đệ của Thin Cha (x. Ga 6, 45). Qủa vậy, Đức Gisu l nh sng soi chiếu thế gian, l nh sng soi chiếu cuộc đời (x. Ga 8, 12); Người l mục tử dẫn dắt v nui dưỡng đn chin (x. Ga 10, 11-16); Người l đường, l chn lý v l sự sống (x. Ga 14, 6-10). Do đ, noi gương Cha Con, hnh ảnh của Thin Cha v hnh (Cl 1, 15) th c nghĩa l noi gương Cha Cha.

20. Đức Gisu yu cầu nối bước theo Người v noi gương Người trn con đường tnh yu, một tnh yu tự hiến hon ton cho anh em v yu mến Thin Cha: Giới răn của Thầy l thế ny: anh em hy yu thương nhau như Thầy đ yu anh em (Ga 15, 12). Tiếng như đi phải noi gương bắt chước Đức Gisu, bắt chước tnh yu của Người, tnh yu m việc rửa chn l dấu chỉ: Nếu Thầy l Cha v l Tn Sư m đ rửa chn cho anh em th anh em cũng vậy, anh em phải rửa chn cho nhau. Bởi v đ l tấm gương Thầy nu cho anh em để cả anh em cũng lm như Thầy đ lm cho anh em (Ga 13, 14-15). Hnh động của Đức Gisu v Lời Người, những sinh hoạt của Người v những mệnh lệnh của Người lm thnh quy tắc lun lý cho đời sống Kit hữu. Thật ra, cc hoạt động của Người v một cch đặc biệt cuộc khổ nạn v ci chết trn Thập Ga của Người l mạc khải sống động về tnh yu của Người đối với Cha Cha v đối với loi người Tnh yu ấy, Đức Gisu yu cầu những kẻ nối bước theo Người noi gương bắt chước. Đ l giới răn mới.Thầy ban cho anh em một giới răn mới: đ l anh em hy yu thương nhau: anh em hy yu nhau như Thầy đ yu anh em. Cứ dấu ny m mọi người sẽ nhận biết anh em l mn đệ Thầy: đ l anh em yu thương nhau (Ga 13, 34 – 35).

Tiếng như cn ni ln tầm mức Đức Gisu đ yu v cc mn đệ Người phải yu nhau. Sau khi ni: Giới răn của Thầy l thế nầy: anh em hy yu nhau như Thầy đ yu anh em (Ga 15, 12). Đức Gisu tiếp lời bằng cch mạc khải sự trao hiến mạng sống của Ngi lm hy lễ trn Thập Ga, lm chứng cho tnh yu đến tận cng (Ga 13, 1): khng ai c tnh yu no lớn hơn tnh yu nầy: l hiến mạng sống mnh cho bạn hữu (Ga 15, 13).

Khi ku gọi người thanh nin nối bước theo Người trn đường trọn hảo. Đức Gisu yu cầu anh sống vẹn ton giới răn tnh yu, giới răn của Người: nhập vo trong chuyển động trao hiến han ton của Người, noi theo v sống chnh tnh yu của Vị Thầy tốt lnh, của Đấng đ yu mến cho đến tận cng. Đ l điều Đức Gisu yu cầu bất cứ ai muốn dn bước theo Người: Ai muốn theo Thầy th hy từ bỏ chnh mnh, hy vc lấy thập gi của mnh v hy cất bước theo Thầy (Mt 16, 24).

21. Nối gt theo Đức Kit khng thể chỉ l một sự noi gương bắt chước bề ngoi, bởi v điều ny lin can tới con người v tới ci nội tm su xa của con người. L mn đệ của Đức Gisu c nghĩa l được nn đồng hnh dạng với Đấng đ tự nguyện lm đầy tớ đến độ hiến dng chnh mnh trn Thập Ga (x. Pl 2, 5-8). Nhờ đức tin. Đức Kit cư ngụ trong lng người tn hữu (x. Ep 3, 17), v nhờ đ người mn đệ được đồng ha với Cha của mnh v được nn đồng hnh dạng với Người. Đ l hoa tri của n sủng, của sự hiện diện đầy sức tc động của Cha Thnh Thần trong chng ta.

Được thp nhập vo thn thể Đức Kit, người Kit hữu trở thnh chi thể của Thn Thể Người l Gio Hội (x. 1 Cr 12, 13-27). Dưới sự thc đẩy của Cha Thnh Thần, b tch Rửa Tội lm cho tn hữu nn đồng hnh dạng với Đức Kit một cch triệt để, trong mầu nhiệm vượt qua gồm ci chết v sự phục sinh: b tch ny lm cho tn hữu mặc lấy Đức Kit (x. Gl 3, 27), như thnh Augustin đ thốt ln khi ngỏ lời với cc thụ nhn b tch Rửa Tội: Chng ta hy reo vui v hy tạ ơn, chng ta chẳng những đ trở nn Kit hữu nhưng cn trở nn chnh Đức Kit. [] Hy ngạc nhin v mừng rỡ. Chng ta đ trở nn chnh Đức Kit! (28). Chết cho tội, người thụ tẩy lnh nhận đời sống mới (x. Rm 6, 3- 11): sống cho Cha trong Đức Gisu Kit, người ấy được ku gọi tiến bước dựa theo Thần Kh v biểu lộ những hoa tri của Thần Kh ra trong đời sống mnh (x. Gl 5, 16-25). Thm vo đ, việc tham dự vo b tch Thnh Thể, b tch của Giao Ước mới (x. 1 Cr 11, 23-29), l cấp độ cao nhất trong tiến trnh đồng ha với Đức Kit, Đấng l nguồn mạch sự sống vĩnh cửu (x. Ga 6, 51-58), l nguyn lý v l sức mạnh cho sự tự hiến han ton, sự tự hiến m Đức Gisu, theo lời chứng Phaol truyền đạt lại, yu cầu phải tưởng niệm trong nghi thức cử hnh cũng như trong cuộc sống: Thật vậy, mỗi lần ăn bnh ny v uống chn ny, anh em loan bo sự chết của Cha Kit cho tới khi Người đến (1 Cr 11, 26).

Đối với Thin Cha mọi sự đều c thể (Mt 19, 26).

22. Cuộc đối thoại giữa Đức Gisu v người thanh nin giu c đ kết thc một cch chua xt: nghe lời ấy người thanh nin bỏ đi với vẻ mặt sầu no, bởi v anh em c những ti sản kếch s (Mt 19, 22). Chẳng những người giu m thi nhưng cả cc mn đệ nữa cũng hoảng hốt trước lời mời gọi đi theo Người của Đức Gisu, lời mời gọi m những đi buộc vượt qu những kht vọng v những sức lực của con người: Nghe ni thế, cc mn đệ hết sức cuống cuồng: Thế th no cn ai c thể được cứu thot?, họ buột miệng như vậy (Mt 19, 25). Thế nhưng Đấng l Thầy nại tới quyền năng của Thin Cha: Đối với loi người th khng thể được, nhưng đối với Thin Cha mọi sự đều c thể (Mt 19, 26).

Cũng trong chương trnh ny của Tin Mừng Thnh Mt-thu (19, 3-10), khi ch giải luật Mis về hn nhn. Đức Gisu phủ nhận quyền rẫy vợ bằng cch nại tới nguyn lý cổ nhất v c uy thế nhất so với luật Mis: kế hoạch ban đầu của Thin Cha về con người l kế hoạch trong đ con người đ trở nn bất tương ứng (non conforme) do hậu quả của tội: chnh v lng anh em ra chai cứng m Mis đ cho php anh em rẫy vợ, nhưng ngay từ đầu th khng như thế (Mt 19, 8). Việc nại tới nguyn lý lm cho cc mn đệ hoảng sợ v cc mn đệ đ bnh luận với những lời ny: Nếu điều kiện của đn ng đối với đn b l như thế, th đừng kết hn th hơn (Mt 19, 10). Khi quy chiếu cch ring đến đặc sủng sống độc thn v Nước Trời (Mt 19, 12), đồng thời vẫn nu ln một qui tắc chung. Đức Gisu đưa trở về với một sự khả thi mới mẻ v đng kinh ngạc m n sủng Thin Cha cống hiến cho con người: Người ni với họ: Khng phải mọi người đều hiểu được ngn ngữ ny, chỉ những ai được ban cho mới hiểu thi (Mt 19, 11).

Con người khng thể noi gương bắt chước v sống m phỏng tnh yu của Đức Kit bằng sức lực đơn phương của mnh. Con người chỉ c khả năng đối với tnh yu ấy một khi cậy dựa vo n huệ của Thin Cha m thi. Như đ lnh nhận tnh yu từ Cha Người. Cha Gisu, đến lượt Người, cũng thng truyền tnh yu ấy một cch ho phng cho cc mn đệ của Người: Như Cha đ yu mến Thầy, Thầy cũng yu mến anh em. Anh em hy ở trong tnh yu của Thầy (Ga 15, 9). n huệ của Đức Kit, đ l Thần Kh Người m hoa tri đầu tin (x. Gl 5, 22) l lng yu thương: Nhờ Cha Thnh Thần được ban cho chng ta m tnh yu Thin Cha đ tun đổ trn đầy tm hồn chng ta (Rm 5,5). Thnh Augustin tự hỏi: c phải tnh yu thc đẩy tun giữ cc giới răn hay l nhờ tun giữ cc giới răn m tnh yu mới nảy sinh?, v thnh nhn trả lời: Nhưng no ai dm nghi ngờ rằng tnh yu c trước rồi mới c tun giữ? Qủa thế, au khng yu th khng c lý do để phải tun giữ cc giới răn (29).

23. Luật của Thần Kh vốn mang lại sự sống trong Đức Gisu Kit đ giải phng ngươi khỏi luật của tội v của sự chết (Rm 8,2). Với những lời ny, thnh Tng Đồ đưa chng ta đi vo viễn tượng của lịch sử cứu độ được hon thnh trong Đức Kit để nhận định về mối tương quan giữa Luật (cũ) v n sủng (Luật mới). Thnh nhn cng nhận vai tr sư phạm của Luật: nhờ gip con người ti cảm nghiệm tầm mức bất lực của mnh v nhờ cắt khỏi con người kỹ vọng chỉ cậy dựa vo mnh. Luật mở lối cho con người đi vo thi độ khẩn cầu v tiếp nhận sự sống trong Thần Kh. Chỉ c thể thực hnh cc giới răn của Thin Cha trong đời sống mới ny m thi. Qủa vậy, chnh nhờ đức tin vo nơi Đức Kit m chng ta được nn cng chnh (x. Rm 3, 28): Sự cng chnh m Luật đi buộc nhưng lại khng thể ban cho một ai,sự cng chnh ấy bất cứ ai l tn hữu cũng đều nhận thấy được tỏ lộ v được ban cho mnh nhờ Cha Gisu. Biện chứng Phaol về Luật v n sủng lại cn được thnh Augustin tổng hợp lại, cũng khng km phần tuyệt diệu: Như vậy Luật đ được ban tặng để cho người ta cầu xin n sủng: n sủng đ được ban tặng để cho người chu ton những điều Luật buộc (30).

Mới đầu m đ nhn tnh yu v sự sống được đề cập trong Tin mừng dưới lng knh mệnh lệnh th thật khng đng bởi v những đi buộc của chng vượt xa sức lực con người. Chỉ c thể sống tnh yu v sự sống ấy như l hoa tri của hồng n Thin Cha, Đấng dng n sủng cứu chữa v biến đổi lng người: Bởi Lề Luật đ được ban hnh do Mis, cn n sủng v chn lý th đến từ Đức Gisu Kit (Ga 1, 17). Do vậy, lời hứa về sự sống vĩnh cửu gắn liền với qu tặng n sủng v ơn Cha Thnh Thần m chng ta đ lnh nhận đ l bảo chứng cho gia nghiệp của chng ta (Ep 1, 14).

24. Như thế chng ta được mạc khải về kha cạnh đch thực v nguyn tuyền của giới răn yu thương v của đườn trọn hảo m giới răn yu thương được phối tr để đạt tới: ở đy l một sự khả thi được cung cấp cho con người một cch tuyệt nhin nhờ vo n sủng, nhờ hồng n Thin Cha, nhờ tnh yu của Ngi. Đng khc, nhờ ý thức mnh đ lnh nhận hồng n ấy, nhờ ý thức mnh chiếm hữu tnh yu Thin Cha trong Đức Gisu Kit m c sự nảy sinh v c nguồn nng đỡ cho thi độ đp trả c trch nhiệm của một tnh yu hon ton đối với Thin Cha v đối với anh em, như thnh Tng Đồ Gioan thiết tha nhắc nhở trong Thư thứ nhất của ngi: Ny cc con yu dấu, chng ta hy yu thương nhau, bởi v tnh yu từ Thin Cha m đến, ai yu mến th sinh bởi Thin Cha v nhận biết Thin Cha. Ai khng yu mến th khng nhận biết Thin Cha, bởi lẽ Thin Cha l Tnh Yu []. Cc con yu dấu, nếu Thin Cha đ yu thương chng ta như thế th đến lượt chng ta, chng ta cũng phải yu thương nhau []. Phần chng ta, chng ta hy yu mến, bởi v Ngi đ yu thương chng ta trước (1 Ga 4, 7-8.11.19).

Mối lin kết khng thể tch rời giữa n sủng của Cha với tự do của con người, giữa n huệ với bổn phận, đ được thnh Augustin diễn tả bằng những lời lẽ đơn giản v su sắc với tm tnh cầu khẩn như sau Da quod jubes et jube quod vis (Hy cho điều Người truyền khiến v hy truyền khiến điều Người ước mong ) (31).

n huệ khng khinh giảm nhưng tăng cường đi buộc lun lý của tnh yu: M giới răn của Ngi l thế ny: tin vo Danh của Con Ngi l Đức Gisu Kit v yu thương nhau như chng ta đ được Ngi truyền lệnh (1Ga 3, 23). Người ta chỉ c thể ở lại trong tnh yu với điều kiện tun giữ cc giới răn, như lời quả quyết của Đức Gisu: Nếu anh em tun giữ giới răn của Thầy, anh em sẽ ở lại trong tnh yu của Thầy, cũng như Thầy đ tun giữ những giới răn của Cha Thầy v Thầy ở lại trong tnh yu của Cha (Ga 15, 10).

Khi tm tắt những g nằm ở tm điểm sứ điệp lun lý của Đức Gisu v tm điểm thuyết giảng của cc Tng Đồ, v khi lặp lại truyền thống lớn mạnh của cc Nghị Phụ Đng Phương v Ty Phương – đăc biệt của Thnh Augustin (32) – trong một tổng luận tuyệt vời, Thnh Tma đ c thể viết ln rằng: Luật Mới l n sủng của Cha Thnh Thần được ban cho nhờ đức tin vo Cha Kit (33). Những giới răn bn ngoi m Tin Mừng cũng đề cập tới dọn đường cho n sủng ấy v trải rộng những hiệu quả của n sủng ấy trong đời sống. Thực ra Luật Mới khng chỉ dừng lại ở chỗ mch bảo điều phải lm nhưng cn ban sức mạnh để thể hiện chn lý (x. Ga 3, 21). Trong cng chiều hướng ấy, thnh GioanKim Khẩu đ gip nhận định rằng Luật Mới được ban hnh đng vo lc Cha Thnh Thần từ trời đến trong ngy lễ Ngũ Tuần v rằng cc Tng Đồ đ khng như Mis từ trn ni đi xuống tay mang những bia đ, nhưng đ quay trở về mang Cha Thnh Thần trong lng v nhờ ơn Cha Thnh Thần m trở thnh luật sống động v sch sống động (34).

V ny đy Thầy ở với anh em lun mi cho đến tận thế (Mt 28, 20)

25. Cuộc đối thoại giữa Đức Gisu v người thanh nin giu c đ c nối tiếp, một cch no đ, trong mọi giai đoạn lịch sử v hm nay vẫn cn tiếp diễn. Vấn nạn Thưa Thầy, ti phải lm điều tốt no để đạt được sự sống vĩnh cửu? vẫn nảy sinh trong lng mọi người v lc no cũng l Đức Kit, v chỉ một mnh Người, mới mang lại lời giải đp trọn vẹn v chung kết. Đấng l Thầy, Đấng giảng dạy cc giới răn, Đấng mời gọi nối bước theo Người. Đấng ban n sủng cho một đời sống mới, Đấng ấy vẫn lun hiện diện v hnh động ở giữa chng ta theo như Người đ hứa: V ny đy Thầy ở với anh em lun mi cho đến tận thế (Mt 28, 20). Sự hiện diện của Đức Kit với mọi người thuộc mọi thời đại được diễn ra trong thn thể Người l Gio Hội. Để thực hiện điều ấy. Người đ hứa ban Thnh Thần cho cc mn đệ để Thnh Thần nhắc nhở cho họ v gip họ hiểu cc giới răn của Người (x. Ga 14, 26) v để Ngi lm nguyn lý v nguồn cội cho một đời sống mới trn thế gian (x. Ga 3, 5-8; Rm 8, 1-13). Được Thin Cha ban trong Cựu Ước, đạt tới mức trọn hảo trong Giao Ước mới v Giao Ước Vĩnh Cửu, nơi chnh Ngi Con lm người, cc lệnh truyền lun lý phải được bảo tồn một cch trung thnh v phải được hiện đại ha lin lỉ trong cc nền văn ha khc nhau theo dng lịch sử. Nhiệm vụ giải thch cc lệnh truyền ấy đ được Đức Gisu giao ph cho cc Tng Đồ v những người kế nhiệm cc ngi, được Thnh Thần Chn Lý trợ gip đặc biệt: Ai nghe anh em l nghe Thầy (Lc 10, 16). Với nh sng v với sức mạnh của Thần Kh, cc Tng Đồ đ thực thi sứ mệnh rao giảng Tin Mừng v chỉ vẽ đường nẻo của Cha (x. Cv 18, 25), bằng cch trước tin dạy người ta nối bước theo chn v noi gương bắt chước Đức Kit: Đối với ti, sống chnh l Đức Kit (Pl 1, 21).

26. Trong gio huấn lun lý của cc Tng Đồ, song song với cc lời khuyn răn v cc chỉ dẫn lin quan đến bối cảnh lịch sử v văn ha, c một giảng trnh đạo đức với những chuẩn mực xử sự chnh xc. Giảng trnh by cũng c chỗ đứng trong cc Thư, vốn chứa đựng phần giải thch, dưới sự hướng dẫn của Cha Thnh Thần, về những mệnh lệnh của Cha phải thi hnh trong những tnh cảnh văn ha khc nhau (x. Rm 12-15; 1Cr 11-14; Gl 5-6; Ep 4-6; Cl 3-4; 1Pr; Gc). Vo buổi đầu của Gio Hội, với trọng trch rao giảng Tin Mừng, cc Tng Đồ đ chăm lo cho hạnh kiểm của cc Kit hữu được hon chỉnh (35), bằng cch dựa vo trch nhiệm mục vụ của cc ngi, như cc ngi đồng thời cũng chăn lo cho đức tin được tinh tuyền v cho cc n huệ thần thing được chuyển thoiong nhờ cc b tch (36). Xuất thn từ dn Do Thi hoặc từ cc quốc gia khc, cc Kit hữu tin khởi khc với lương dn chẳng những ở nơi đức tin v phụng vụ của họ, nhưng cn ở nơi việc lm chứng bằng hạnh kiểm lun lý, bắt nguồn từ Luật Mới (37). Qủa vậy, Gio Hội cng một lc l mối hiệp thng đức tin v sự sống; chuẩn mực của Gio Hội l đức tin tạo hiệu quả nhờ đức i (Gl 5,6).

Khng được để cho bất cứ nạn rứt no ph vỡ mối ha điệu giữa đức tin v sự sống: sự hiệp nhất Gio Hội chẳng những bị đả thương do những Kit hữu từ chối hoặc bp mo chn lý đức tin, nhưng cn do những người khng biết g về cc đi buộc lun lý m Tin mừng ku mời đn nhận (x. 1Cr 5, 9-13). Một cch kin quyết, cc Tng Đồ đ từ chối bất cứ sự tch biệt no giữa cam kết bn trong với những hnh vi bn ngoi biểu lộ v củng cố cam kết ấy (x. 1Ga 2, 3-6).

V kể từ thời cc tng đồ, cc Mục Tử trong Gio Hội đ tố gic một cch minh bạch phương cch hnh động của những người đ reo giắc chia rẽ, bằng những lời giảng dạy v bằng những cch ứng xử sự của cc ngi (38).

27. Trong mối hiệp nhất Gio Hội, cổ v v gn giữ đức tin v đời sống lun lý, đ l trch vụ Đức Gisu đ giao cho cc Tng Đồ (x. Mt 28, 19-20), trch vụ được tiếp nối trong thừa tc vụ của những người kế nhiệm cc Tng Đồ. Đy l điều gặp thấy trong Truyền Thống sống động l truyền thống, theo như lời giảng dạy của Cng Đồng Vatican II, nhờ đ Gio Hội cứ tiếp tục trường tồn trong đạo lý, đời sống v phượng tự, v Gio Hội lưu truyền cho từng thế hệ tất cả những g Gio Hội đang l v tất cả những g Gio Hội tin. Xuất pht từ cc Tng Đồ, Truyền Thống ny được nối tiếp trong Gio Hội, dưới sự trợ gip của Cha Thnh Thần (39). Trong Cha Thnh Thần, Gio Hội tiếp nhận v lưu truyền Thnh Kinh như l chứng từ của những sự việc cao cả m Thin Cha thực hiện trong lịch sử (x. Lc 1,49); qua mi miệng cc Nghị Phụ v cc Tiến sĩ, Gio Hội tuyn xưng chn lý của Ngi Lời Nhập Thể: Gio Hội thực hnh cc giới mệnh v đức i nơi đời sống của cc thnh nam thnh nữ v nơi hy lễ của cc vị tử đạo: Gio Hội cử hnh niềm trng cậy trong phụng vụ: nhớ truyền thống ny, cc Kit hữu đn nhận tiếng ni sống động của Tin Mừng (40), coi đ l biểu hiện trung thnh của sự khn ngoan v của thnh ý Thin Cha.

Giữa lng Truyền Thống, với sự trợ gip của Cha Thnh Thần, cng việc diễn giải một cch chnh qui Luật Cha được pht triển. L Đấng hiện hữu ngay từ cội nguồn của Mặc Khải, của cc giới răn v của cc gio huấn do Đức Gisu, Cha Thnh Thần chăm lo cho Mạc Khải, cc giới răn v những lời gio huấn ấy được gn giữ một cch thnh thiện, được trnh by một cch trung thực v được p dụng một cch chuẩn xc trong mọi thời đại v trong mọi tnh huống. Cc giới răn được hiện đại ha như thế l dấu chỉ v l thnh quả của một sự hiểu biết su xa về Mặc Khải v của một sự thấu suốt đng đề cao, dưới nh sng đức tin, về những tnh huống lịch sử v văn ha mới. Dầu vậy, cng việc hiện đại ha chẳng qua cũng chỉ xc quyết gi trị vững bền của Mạc Khải v cũng chỉ l lồng vo trong đường hướng diễn giải m Truyền Thống lớn mạnh của Gio Hội để lại qua gio huấn v đời sống của mnh. Truyền Thống đ được minh chứng bằng học thuyết của cc Nghị Phục, đời sống của cc thnh, phụng vụ của Gio Hội v gio huấn của Huấn Quyền.

Đặc biệt, như Cng Đồng quả quyết, trch vụ diễn giải Lời Cha một cch chnh qui, thnh văn hoặc truyền khẩu, đ được giao ph cho ring Huấn Quyền sống động của Gio Hội, uy thế của Huấn Quyền vốn được ph diễn nhn danh Đức Gisu Kit (41). Như thế, trong đời sống cũng như trong cng việc giảng dạy, Gio Hội được coi như trụ cột v gi đỡ nng chn lý (1Tm 3, 15), kể cả chn lý trong lnh vực hnh động lun lý. Thật vậy, Gio Hội c thẩm quyền cng bố cc nguyn tắc lun lý vo mọi thời v khắp mọi nơi, cả khi lin hệ đến trật tự x hội.Gio Hội cũng c thẩm quyền phn quyết về tất cả cc vấn đề nhn linh, ty theo mức độ đi hỏi do những quyền lợi cơ bản của con người hay do ơn cứu độ của cc linh hồn (42).

Hẳn nhin l về những vấn đề hiện nay đang l đối tượng của cuộc tranh ci lun lý v đ gy ra nhiều khuynh hướng mới cũng như nhiều lý thuyết mới. Huấn Quyền, một mực trung thnh với Đức Gisu Kit v trong dng lin tục của Truyền Thống Gio Hội, xt thấy bổn phận cấp bch của mnh l đưa ra lời phn định v lời gio huấn, hầu gip đỡ con người trn bước đường tiến tới chn lý v tiến tới tự do.

 

 

CHƯƠNG II

 

ANH EM CHỚ UỐN MNH THEO THẾ GIAN NY

(Rm 12,2)

GIO HỘI V PHN ĐỊNH VỀ MỘT SỐ KHUYNH HƯỚNG

THẦN HỌC LUN LÝ HIỆN NAY

 

Giảng dạy những g ph hợp với đạo lý lnh mạnh (x. Tt 2,1).

28. Khi suy niệm về cuộc đối thoại giữa Đức Gisu với người thanh nin giầu c, chng ta đ nắm bắt được nội dung cốt yếu của Mạc Khải Cựu Ước v Tn Ước về lnh vực hnh động lun lý. Nội dung ấy gồm c: sự tng phục của con người v của hnh động con người đối với Thin Cha, Đấng duy nhất tốt lnh; mối tương quan, được m chỉ trong cc giới răn của Thin Cha, giữa sự thiện lun lý của cc hnh vi nhn linh với sự sống vĩnh cửu, hnh trnh nối bước theo Đức Kit. Đấng mở ra cho con người viễn tượng về tnh yu trọn hảo; v sau hết, n huệ của Cha Thnh Thần, nguồn cội v chỗ cậy dựa cho đời sống lun lý của tạo vật mới (x. 2Cr 5, 17).

Tương tư duy lun lý của mnh. Gio Hội đ lun ch trọng đến những lời Đức Gisu ngỏ với người thanh nin giu c. Thật ra, Thnh Kinh vẫn mi l nguồn mạch tươi thắm v sai nở cho học thuyết lun lý của Gio Hội, như Cng Đồng Vatican II đ từng nhắc nhở. Tin Mừng [] [l] nguồn mạch của mọi chn lý cứu độ v của mọi quy tắc lun lý (43). Gio Hội đ gn giữ một cch trung thực những g m Lời Cha dạy, chẳng những về cc chn lý phải tin những cả về lnh vực hnh động lun lý, nghĩa l hnh động lm đẹp lng Thin Cha (x. 1 Tx 4.1), đồng thời thực hiện trong lnh vực ny một cng việc khai triển học thuyết tương tự với cng việc đ được hnh thnh trong lnh vực cc chn lý đức tin. Với sự st cnh của Cha Thnh Thần l Đấng dẫn dắt Gio Hội tiến đến chn lý trọn vẹn (x. Ga 16, 13). Gio Hội đ khng ngừng v sẽ khng bao giờ ngừng d xt mầu nhiệm Ngi Lời Nhập Thể trong đ mầu nhiệm con người thật sự được chiếu sng (44).

29. Lun được nh sng của Đức Kit l vị Thầy tốt lnh soi dẫn, cng cuộc tư duy lun lý của Gio Hội cũng đ diễn ra dưới dạng chuyn biệt của khoa học thần học gọi l thần học lun lý, một khoa học vừa đn nghe vừa tra vấn Mạc Khải của Thin Cha v đồng thời đp lại những đi hỏi của lý tr con người. Thần học lun lý v tư duy về lun lý tnh, nghĩa l về tnh chất tốt hoặc xấu của cc hnh vi nhn linh v của đương sự chủ thể cc hnh vi ấy gy ra v, hiểu theo nghĩa ny, bộ mn lin hệ đến tất cả mọi người: bộ mn ny cũng l Thần học bởi v nhn nhận nguyn lý v cng đch của hnh động lun lý ở nơi Đấng duy nhất tốt lnh v ở nơi Đấng tặng ban mối phc sống cuộc sống thần linh cho con người khi tự hiến cho con người trong Đức Kit.

Cng Đồng Vatican II đ ku mời cc nh chuyn mn hy cần mẫn trau dồi thần học lun lý với một mối chăm sc cch ring để cho việc trnh by bộ mn một cch khoa học, nhờ được bồi đắp nhiều hơn bằng học thuyết của Thnh Kinh, sẽ lm nổi bật được sự cao cả nơi ơn gọi của cc tn hữu trong Đức Kit v lm nổi bật được trch nhiệm b buộc của họ l mang lại hoa tri trong đức i cho đời sống của nhn loại (45). Cũng cng một Cng Đồng đ ku mời cc nh thần học. một mặt tun thủ cc phương php v cc quy tắc dnh ring cho cc khoa học thần học, [] mặt khc tm cho ra phương thức ngy cng thch ứng hơn để truyền đạt cho con người thuộc từng thời đại; bởi lẽ chnh kho tng hoặc cc chn lý đức tin th khc, cn phương cch để diễn đạt cc chn lý ấy lại khc nữa, miễn sao trong mọi trường hợp đều bảo tồn được ý nghĩa v hướng lối (46). Từ đ m c lời ku mời sau đy, được p dụng cho mọi tn hữu nhưng được đặc biệt ngỏ với cc thần học gia: Cc tn hữu hy sống sao cho c sự đon kết thật chặt chẽ với những người khc trong thời đại mnh v hy ra sức thấu hiểu cho tường tận những lối suy nghĩ v cảm nhận của họ, đng như chng được biểu lộ trong nền văn ha (47).

Được đỡ nng bởi những khch lệ của Cng Đồng cc nỗ lực của nhiều thần học gia đ trổ sinh hoa tri, qua những suy tư lý th v hữu ch về những chn lý đức tin đức tin phải tm v phải p dụng trong đời sống, dưới những hnh thức trnh by ph hợp hơn với cảm quan v với những thắc mắc của con người thời đại. Gio Hội, cch ring cc gim mục v những người trước tin được Đức Kit giao ph thừa tc vụ giảng huấn; đn nhận những nỗ lực ấy với lng tri n v khuyến khch cc thần học gia nối tiếp cng trnh của họ với sự thi thc của một niềm kinh sợ Cha l nguyn lý kiến thức thật su đậm v trung thực (Cn 1,7)

Dầu vậy cng một lc, trong khun khổ của những tranh luận thần học hậu Cng Đồng, c một số hnh thức diễn giải lun lý khng dung hợp với đạo lý lnh mạnh ( 2 Tm 4, 3) đ được quảng b. Dĩ nhin, Huấn Quyền của Gio Hội khng hề c ý p đặt cho cc tn hữu một hệ thống thần học ring biệt, lại cng khng p đặt một hệ thống triết học. Tuy nhin để giữ gn một cch thnh thiện v gii by một cch trung thực Lời Cha (48) Gio Hội c bổn phận tuyn bố rằng một số đường hướng suy tư thần học no đ v một khẳng định triết học ny hoặc một khẳng định thần học kia l bất dung hợp với chn lý Mạc Khải (49).

30. Chư Huynh thn mến trong hng gim mục, khi gửi đến chư huynh thng điệp ny, Ti muốn nu dẫn những nguyn tắc cần thiết để gip phn định điều g l tri nghịch với đạo lý lnh mạnh, v nhắc lại những yếu tố trong gio huấn lun lý của Gio Hội xem ra ngy nay đang đặc biệt lm mồi cho lầm lạc, cho hồ đồ v cho qun lng. Đy cũng chnh l những yếu tố để dựa vo đ m c được lời giải đp cho những vấn đề nan giải tiềm ẩn của thn phận lm người, l những vấn đề, hm qua cũng như hm nay, khuấy động lng người một cch su xa: con người l g? Cuộc đời c nghĩa g v nhắm mục đch no? Chết, phn xt v thưởng phạt sau khi chết l g? Sau hết, mầu nhiệm cuối cng v khn tả hằng vy bủa cuộc sống chng ta, mầu nhiệm từ đ chng ta bắt nguồn v tới đ chng ta đang nhắm hứớng, mầu nhiệm ấy l g? (50).

Những vấn nạn ấy – v cn nhiều vấn nạn khc như: tự do l g v đu l mối tương quan giữa tự do với chn lý hm chứa trong luật Thin Cha? đu l vai tr của lương tm trong tiến trnh hnh thnh diện mại lun lý của con người? lm sao để phn định, cho ph hợp với chn lý về điều thiện, đu l những quyền lợi v đu l những bổn phận cụ thể của con người? – c thể tm tắt lại trong vấn nạn cơ bản m người thanh nin trong Tin Mừng đặt ra với Đức Gisu: Thưa Thầy ti phải lm điều tốt no để được sự sống vĩnh cửu? Được Đức Gisu sai đi rao giảng Tin Mừng v chiu tập mn đồ từ khắp mun dn, dạy họ tun giữ mọi điều Người đ chỉ thị (Mt 28, 19-20). Gao Hội, ngy nay vẫn thế, lấy lại lời giải đp của Thầy để cống hiến, bởi lẽ Gio Hội sở hữu nh sng v sức mạnh khả dĩ giải quyết được cả những vấn đề gy cấn nhất v những vấn đề phức tạp nhất. Sức mạnh ấy v nh sng ấy thc đẩy Gio hội khai triển một cch thường hằng, chẳng những nền tư duy tn lý m thi nhưng cả nền tư duy lun lý trong một khun khổ c kỉ cương nội bộ, vốn l khun khổ hết sức cần thiết cho những vấn đề mới đang được đặt ra (51)

Lc no cũng l dưới nh sng ny v với sức mạnh nầy m huấn quyền Gio Hội thực thi cng trnh phn định, lại đn nghe v lại lấy lm của mnh lời khuyến nhủ m thnh Phaol ngỏ với Timth: Trước nhan Thin Cha v trước nhan Đức Gisu Kit, Đấng xẽt xử người sống v kẻ chết, nhn danh cuộc Hiển Dung của Người v nhn danh triều đại Người, cha ni nỉ con: hy cng bố Lời, hy nhấn mạnh lc thuận cũng như lc nghịch, hy sửa trị, đe loi v khuyn bảo với hết lng nhẫn nại với mối quan tm gio huấn. Bởi lẽ sẽ đến thời con người khng cn muốn chấp nhận đạo lý lnh mạnh, nhưng ngược lại họ sẽ để cho dục vọng xui khiến v sẽ chiều theo những điếu lọt tai m chạy theo v số những bậc thầy v sẽ ngoảnh tai xa chn lý để quay về pha những điều huyền hoặc. Phần con, con hy thận trọng trong mọi sự, hy cam chịu thử thch, hy ra sức rao giảng Tin Mừng, hy chu ton han hảo thừa tc vụ của con (2 Tm 4, 1-5; x. Tt 1, 10. 13-14)

Anh Em Sẽ Nhận Biết Chn Lý V Chn Lý Sẽ Giải Thot Anh Em (Ga 8, 32)

31. Tất cả những vấn đề nhn linh được tranh ci nhiều nhất v được giải quyết một cch khc biệt nhau, đều gắn liền với một vấn đề trọng yếu, l vấn đề tự do của con người.

Chắc hẳn rằng thời đại chng ta đ đạt tới một cảm nhận hết sức mnh liệt v bn nhạy về tự do. Thời nay, phẩm gi con người l đối tượng một ý thức ngy cng mnh liệt, theo như Cng Đồng đ nhận định trong tuyn ngn Dignitatis humanae về tự do tn gio (52). Do đ mới c vấn đề đi lại cho con người quyền được hnh động dựa theo những lựa chọn ring tư của mnh v trong tinh thần trch nhiệm tự do thật sự, khng phải dưới sức p của một cưỡng bức, nhưng được hướng dẫn bởi ý thức về bổn phận của mnh (53). Quyền tự do tn gio v tn trọng lương tm trong hnh trnh tiến diễn chn lý ngy cng được cảm nhận như l nền tảng của cc quyền lợi con người xt trong ton thể (54).

Như vậy, điều kh chắc chắn l cảm thức sắc bn nhất về phẩm gi con người v về tnh chất độc nhất v nhị của con người, cng như về sự tn trọng phải c đối với tiến trnh lương tm đ l thnh tựu tch cực của nền văn ha hiện đại. Cảm thức ấy, vốn tự n rất trung thực, đ được diễn dịch bằng v vn hnh thi biểu hiện, c khi thỏa đng c khi khng, v trong những hnh thi biểu hiện ấy c một số, tiếc thay đang lệch xa chn lý về con người xt như l tạo vật v l hnh ảnh của Thin Cha v bởi đ, đang cần được chỉnh đốn v thanh lọc dưới nh sng đức tin (55).

32. Trong một số tro lưu tư tưởng hiện đại, người ta đi tới chỗ tn dương tự do qu mức đến độ biến tự do thnh một thứ tuyệt đối như thể tự do l nguồn cội của mọi gi trị. Đ chnh l hướng đi của một số chủ thuyết chẳng cn cảm thức về siu việt hoặc của nhũng thứ thuyết cng khai tuyn bố mnh v thần. Người ta đ gắn cho lương tm c nhn những đặc quyền tối hậu trong phn đon lun lý, nghĩa l quyền ấn định một cch dứt khot v khng thể sai lầm đu l điều thiện v đu l điều dữ. Vừa khẳng định bổn phận phải tun theo lương tm, người ta vừa nhất nhất khẳng định thm rằng phn quyết tm lý c ph hợp với chn lý hay khng l chỉ do sự kiện n pht xuất từ lương tm. Thế nhưng, bằng cch ấy, tnh đi buộc cần c của chn lý đ biến mất nhượng chỗ cho tiu chuẩn chn thnh, chnh tng, ha hợp với chnh mnh, đến nỗi người ta đi đến quan niệm triệt để chủ quan về phn đon lun lý.

Như đ nhận ra ngay từ thoạt đầu, cuộc khủng hoảng về vấn đề chn lý khng xa lạ g với diễn biến tư tưởng vừa nu. Một khi đ đnh mất khi niệm chn lý phổ qut nhn theo gc độ của sự thiện m lý tr con người c thể nhận thức được, quan niệm về lương tm khng thể trnh khỏi bị biến đổi: lương tm khng cn được xt đến trong thực thể nguyn sơ nữa, nghĩa l khng cn được coi như một hnh vi của tr tuệ con người vốn c vai tr đem p dụng tr thức phổ qut về điều thiện vo trong một tnh huống nhất định v bởi thế c vai tr đưa ra một phn quyết về cch xử sự đng đắn phải lựa chọn ở đy v lc ny: người ta c khuynh hướng gn cho lương tm c nhn đặc quyền ấn định những tiu chuẩn thiện dữ, một cch tự động, v từ đ cũng ấn định những tiu chuẩn hnh động. Nhn quan ny chẳng c g l khc biệt so với nền đạo đức học duy c nhn vốn cho rằng mỗi người phải đương đầu với chn lý của mnh, khc biệt với chn lý của những người khc. Đẩy mạnh đến những hậu quả tột cng, chủ trương duy c nhn thậm ch chối bỏ lun cả khi niệm bản chất con người.

Cc quan niệm khc biệt trn đy chnh l nguồn gốc từ đ pht sinh những cao tro tư tưởng chủ trương duy tr cuộc đối khng giữa luật lun lý v lương tm, giữa bản chất v tự do.

33. Song song với việc tuyn dương tự do v một cch nghịch lý đối nghịch với sự kiện ấy, nền văn ha hiện đại đem lại chnh tự do ấy ra đặt vấn đề một cch triệt để. Một tập hợp những bộ mn, được gom lại dưới tn gọi khoa học nhn văn, đng theo chiều hướng ny, đ li cuốn sự ch ý đến những yếu tố chi phối thuộc cấp trật tm lý v x hội vốn đ nặng ln con người khi thi thố tự do. Sự hiểu biết những yếu tố chi phối ấy v thi độ ch trọng đối với chng l những thnh tựu quan trọng đ được đem ra p dụng trong nhiều lnh vực của cuộc sống, chẳng hạn trong ngnh sư phạm hoặc trong việc xt xử cng lý. Thế nhưng c một số người khng chỉ dừng lại ở những kết luận c thể rt từ những nhận xt ấy một cch hợp php m đ đi tới chỗ hoi nghi hay chối bỏ ngay cả thực tại tự do con người.

Cũng cần phải nhắc lại một số cắt nghĩa mang tnh lạm dụng của ngnh nghin cứu khoa học trong lnh vực nhn học. Lấy cớ rằng hiện đang c rất nhiều những phong tục, tập qun v định chế khc nhau trong nhn loại, người ta đ tiến đến chỗ, nếu khng lun lun chối bỏ những gi trị nhn tnh phổ qut, t ra mặc cho lun lý một quan niệm duy tương đối.

34. Thưa Thầy ti phải lm điều tốt no để đạt được sự sống vĩnh cửu?. Vấn nạn lun lý đ nhận được lời giải đp của Đức Kit khng thể loại trừ vấn nạn về tự do, nhưng đặt vấn nạn về tự do vo ngay giữa trung tm, bởi lẽ khng c lun lý nếu khng c tự do. Con người quay về điều thiện lun lun trong tnh trạng tự do (56). Thế nhưng tự do no? Những người đương thời với chng ta rất ư đề cao tự do v hăng say đeo đuổi tự do, nhưng lại thường cưng chiều tự do một cch thiếu ngay thẳng; coi tự do như l quyền được lm bất cứ điều g, miễn sao tạo được thỏa thch, kể cả điều xấu. Đối lại với họ, Cng Đồng trnh by tự do thật như sau. Tự do thật l dấu chỉ đi ngộ nơi con người chứng tỏ con người l hnh ảnh của Thin Cha. Bởi v Thin Cha đ muốn để cho con người tự bn hỏi với chnh mnh (x. Hc 15, 14) ng hầu con người c thể tự mnh tm kiếm Đấng Tạo Ha v nhờ gắn b với Ngi một cch tự do m đạt mức thnh ton trong một tnh trạng vin mn chn phc (57). Nếu trong hnh trnh truy tầm chn lý, mnh c quyền được tn trọng th trước đ mọi người đều đ c b buộc lun lý nghim trọng l phải tm kiếm chn lý v một khi đ nhận biết chn lý, phải gắn b với chn lý (58). Trong chiều hướng ny, Đức Hồng Y. J.H Newman, nh bảo vệ lừng danh quyền lợi của lương tm, quả quyết một cch mạnh mẽ: lương tm c những quyền lợi bởi v n c những bổn phận (59)

Dưới ảnh hưởng của cc tro lưu duy chủ quan v duy c nhn vừa nu trn đy, một số khuynh hướng thần học lun lý hiện đại cắt nghĩa theo lối mới nhưng tương quan giữa tự do với luật lun lý, giữa bản tnh con người với lương tm, để đnh gi cc hnh vi về mặt lun lý, cc khuynh hướng ny đề nghị những tiu chuẩn chưa từng thấy. Mặc dầu nhiều v khc biệt nhau, cc khuynh hướng ny đều đồng quy với nhau ở một sự kiện l hạ thấp hoặc thậm ch chối bỏ sự lệ thuộc của tự do đối với chn lý.

Nếu chng ta muốn thực hiện một cuộc phn định v bnh phẩm những khuynh hướng ấy sao cho đạt tới mức nhận ra được những điều chnh đng, hữu ch v qu gi v đồng thời vạch ra được những điểm lập lờ, nguy hiểm v sai lạc, chng ta phải xem xt chng dưới nh sng sự lệ thuộc cơ bản của tự do đối với chn lý, như Đức Kit đ diễn đạt một cch r rệt nhất v c uy quyền nhất: Anh em sẽ nhận biết chn lý v chn lý sẽ giải thot anh em (Ga 8,32).

 

I. TỰ DO V LỀ LUẬT

Ngươi Chớ C Ăn Tri Cy Biết Thiện Biết Dữ (St 2,17)

35. Trong Sch Sng Thế chng ta đọc thấy: Cha l Thin Cha truyền lệnh cho người đn ng như thế ny: Người được quyền ăn tri nơi tất cả cc cy trong vườn. Thế nhưng ngươi chớ c ăn tri nơi cy biết thiện biết dữ, bởi v ngy m ngươi ăn thứ tri cy ny, ngươi sẽ phải chết (St 2, 16-17).

Qua hnh ảnh ny, Mạc Khải dạy cho chng ta rằng quyền quyết định điều thiện điều dữ khng thuộc về con người nhưng thuộc về Thin Cha m thi. Dĩ nhin, con người được tự do bởi v con người c thể hiểu v chấp nhận cc giới răn của Thin Cha v tự do con người được hưởng rất đng kể, bởi v con người được quyền ăn tri nơi tất cả cc cy trong vườn. Thế nhưng tự do ấy khng phải l v hạn định: tự do ấy phải dừng lại trước cy biết thiện biết dữ, bởi v tự do ấy được ku mời chấp nhận luật lun lý m Cha ban cho con người. Thật ra, chnh trong sự chấp nhận nầy m tự do nhn linh được thể hiện một cch trn đầy v đch thực. Thin Cha, Đấng duy nhất tốt lnh biết rất r điều no l tốt cho con người nhn danh chnh tnh yu của Ngi, Ngi đề nghị điều tốt cho con người nơi cc giới răn.

Luật Thin Cha như vậy, khng hề khinh giảm tự do của con người v lại cng khng gạt bỏ tự do; ngược lại, luật Thin Cha bảo vệ v cổ v tự do. Thế m, đi theo một hướng khc hẳn, khuynh hướng văn ha hiện đại đ khơi dậy rất nhiều tro lưu đạo đức học, chủ trương đặt vo giữa trung tm của suy tư họ ci gọi l sự xung khắc giữa tự do v lề luật. Đ l trường hợp những chủ thuyết gắn cho c nhn hoặc cc tập thể x hội khả năng ấn định điều thiện v điều dữ: như vậy c nghĩa l tự do nhn linh c quyền tạo ra gi trị v được hưởng quyền điều hnh chn lý, đến độ chn lý tự n sẽ bị coi như l sản phẩm của tự do. V như vậy tự do sẽ đi quyền tự lập về lun lý như thế trong thực tế tự do c quyền tối thượng tuyệt đối.

36. Yu sch tự lập hiện đại cũng đ khng khỏi tạo ảnh hưởng trong lnh vực thần học lun lý cng gio. Nếu thần học lun lý cng gio chắc chắn chưa bao giờ đem tự do nhn linh đối chọi với luật Thin Cha, cũng chưa bao giờ đem đặt lại vấn đề về việc cc chuẩn mực lun lý lun c nền tảng tn gio tối hậu, thần học ấy dầu sao cũng đ buộc phải suy nghĩ lại một cch ton bộ về vai tr của lý tr v của đức tin trong việc ấn định những chuẩn mực lun lý dnh cho những hnh vi xử thế nhất định giữa đời, nghĩa l trong tương quan chnh mnh, với tha nhn v với thế giới sự vật.

Phải nhn nhận rằng, khởi đầu nỗ lực canh tn tư duy ny, c một số yu sch tch cực, nếu hiểu theo một mức độ rộng ri, cũng thuộc về truyền thống tốt đẹp của tư tưởng Cng gio. Theo lời mời gọi của Cng Đồng Vatican II (60), đ c ước muốn tạo thuận lợi cho việc đối thoại với nền văn ha hiện đại, bằng cch nu r tnh chất hữu lý – cả tnh chất khả tri v khả thng đạt mang chiều kch phổ qut – của những chuẩn mực lun lý vốn thuộc về địa hạt lun lý tự nhin (61). Người ra, người ta cn muốn nhấn mạnh đến tnh chất nội tại của những đi hỏi đạo đức vốn bắt nguồn từ địa hạt ấy v vốn chỉ p đặt cho ý ch với tư cch l một b buộc khi c sự cng nhận trước của lý tr v, một cch cụ thể của lương tm từng người.

Thế nhưng v qun rằng lý tr con người lệ thuộc sự Khn Ngoan của Thin Cha v trong tnh trạng của bản tnh hiện đ bị thoi ha, v qun rằng Mạc Khải của Thin Cha l cần thiết v l thiết thực hiệu nghiệm để c thể nhận biết cc sự thật lun lý kể cả trong cấp trật tự nhin (62), một số người đ đi tới chỗ xy dựng lý thuyết về quyền thống trị hon ton của lý tr trong lnh vực chuẩn mực lun lý dẫn đến cch xử sự ngay thẳng trong cuộc sống giữa đời: cc chuẩn mực ny sẽ tạo thnh địa hạt cho một nền lun lý thuần ty nhn bản, nghĩa l sẽ được coi l biểu hiện của luật m con người tự động tự ý gn cho mnh, v sẽ chỉ bắt nguồn từ nơi lý tr con người m thi. Thin Cha sẽ khng thể no được coi l tc giả của luật nếu khng phải trong mức độ m lý tr con người vận dụng nhiệm vụ điều ha một cch tự lập dựa vo sự ủy thc hon ton m ngay từ đầu Thin Cha đ gn cho con người. Đối lại với Thnh Kinh v với học thuyết trường tồn của Gio Hội những cch thức suy nghĩ như thế đ phủ nhận rằng Thin Cha l Tc giả của luật lun lý tự nhin v rằng con người, nhờ lý tr của mnh, tham gia vo Luật vĩnh cửu m mnh khng c thẩm quyền thiết lập.

37. Cũng một lc v muốn bảo tồn đời sống lun lý trong một bối cảnh Kit gio, một số thần học gia lun lý đ du nhập một lối phn biệt r rệt tri ngược học thuyết cng gio (63), giữa một cấp trật đạo đức (unordre thique) sẽ chỉ bắt nguồn từ con người v sẽ chỉ c gi trị trần thế với một cấp trật cứu độ (ordre du salut) theo đ chỉ l một số ý hướng v một số thi độ bn trong đối với Thin Cha v đối với tha nhn mới quan trọng m thi. Từ đ, người ta đi đến chỗ phủ nhận sự hiện hữu trong Mạc khải Thin Cha, của một nội dung lun lý đặc loại v nhất định, c gi trị phổ qut v trường tồn: Lời Cha sẽ phải dừng lại ở chỗ đưa ra một lời khuyến dụ, một lời răn bảo chung chung để rồi sau đ chỉ một mnh lý tr tự lập l c bổn phận xc định r bằng những ứng dụng chuẩn mực khch quan thực sự, nghĩa l thch ứng với tnh huống lịch sử cụ thể. Một quan niệm như thế về tnh chất tự lập sẽ tức khắc dẫn đến chỗ phủ nhận thẩm quyền đặc bit của Gio Hội v của Huấn Quyền về mặt gio thuyết trn cc chuẩn mực lun lý nhất định lin quan tới ci gọi l thiện ch nhn linh: những chuẩn mực ấy sẽ chẳng thuộc về nội dung ring của Mạc Khải v tự chng sẽ chẳng quan trọng g đối với ơn cứu độ.

Khng thể no khng nhận ra rằng một lối cắt nghĩa như thế về tnh tự lập của lý tr con người sẽ bao hm những luận đề bất khả dung hợp với học thuyết cng gio.

Trong bối cảnh ny, điều tuyệt đối cần thiết l phải lm sng tỏ, dưới sự soi chiếu của Lời Cha v của Truyền Thống Gio Hội sống động, những khi niệm cơ bản về tự do nhn linh v về luật lun lý, cũng như những mối tương quan su xa nối kết chng lại chặt chẽ với nhau. Chỉ bằng cch ấy mới c thể đp lại được những thỉnh nguyện chnh đng của lý tnh con người, đồng thời hội nhập những yếu tố c gi trị của một số tro lưu thần học lun lý hiện đại, m khng lm phương hại di sản lun lý của Gio Hội bằng những luận đề nảy sinh từ một quan niệm sai lầm về tnh tự lập.

Thin Cha đ muốn để cho con người tự bn bạc với chnh mnh (Hc 15,14).

38. Mượn lại lời của sch Huấn Ca, Cng Đồng Vatican II giải thch như sau về tự do thật vốn l dấu chỉ đi ngộ của hnh ảnh Thin Cha nơi con người: Thin Cha đ muốn để cho [con người] tự bn bạc với chnh mnh ng hầu con người c thể tự mnh tm kiếm Đấng Tạo Ha v một khi tự do gắn b với Ngi, được thnh ton trong tnh trạng vin mn chn phc (64). Những lời ny chứng tỏ con người đ được mời gọi thng phần vo quyền thống trị của Thin Cha tới mức su xa tuyệt vời biết mấy; những lời ny minh chứng rằng, theo một nghĩa no đ, quyền hnh của con người được thi thố trn chnh con người. Đy l một kha cạnh vẫn khng ngừng được nhấn mạnh trong tư duy thần học về tự do nhn linh. Hiểu như l một hnh thức vương quyền. Chẳng hạn Grgri thnh Nysse viết rằng tm hồn biểu lộ tnh chất vương đế của n bằng quyền tự trị, bằng quyền độc lập v bằng sự kiện ny l, trong cch xử sự, tm hồn lm chủ ước muốn của n. Nt đặc trưng ny l của ai, nếu khng phải của một vị vua? [] Bởi thế, vốn được tạo dựng để cai quản thế giới, v giống với Đức Vua hon vũ, bản tnh con người đ được tc thnh như một bức ảnh sống động thng phần vo bản mẫu do sự cao cả v do danh xưng (65).

Lm chủ thế giới đối với con người đ l một bổn phận quan trọng v một trch nhiệm lớn lao đi tự do phải dấn bước để tun phục Đấng Tạo Ha: Hy sinh si nảy nở cho đầy mặt đất v hy lm b chủ tri đất (St 1, 28). Xt từ gc độ ny, c một tnh trạng tự lập chnh đng thuộc về từng c nhn cũng như thuộc về từng cộng đon, theo như đ được Hiến Chế Gaudium et spes của Cng Đồng dnh cho một sự ch tm đặc biệt: ở đy phải hiểu l tnh trạng tự lập của những thực tại trần thế, tự lập c nghĩa l cc sự vật được tạo thnh v chnh cc x hội đều c những luật ring v những gi trị ring m con người phải dần d học biết, học sử dụng v tổ chức (66).

39. Khng phải chỉ thế giới m thi, nhưng chnh con người cũng đ được giao ph cho chnh con người để con người coi sc v mang lấy trch nhiệm. Thin Cha đ để con người tự bn hỏi chnh mnh (Hc 15, 14) ng hầu con người tm kiếm Đấng Tạo Ha v đạt tới mức trọn hảo một cch tự do. Đạt tới mức trọn hảo c nghĩa l bản thn mnh xy dựng nơi chnh mnh sự trọn hảo ấy. Thật thế, khi lm chủ thế giới con người đ dng tr khn v ý ch của mnh m tạo hnh dạng cho thế giới như thế no th khi thực hnh những hnh vi tốt xt về mặt lun lý, con người cũng đ xc quyết, pht huy v củng cố sự tương đồng của mnh với Thin Cha như thế ấy.

Dầu vậy, Cng Đồng yu cầu phải ch ý đến một quan niệm sai lạc về tnh tự lập của cc thực tại trần thế, quan niệm ny hệ tại chỗ nhận định rằng: những sự vật được tạo thnh khng lệ thuộc Thin Cha v con người được quyền cắt đặt những sự vật ấy m khng cần nại tới Đấng Tạo Ha (67). Quan niệm tự lập ny gy những hiệu quả hết sức tai hại cho con người, bởi v thế no rồi cũng đi tới theo hướng v thần: Tạo vật m khng c Tạo Ha sẽ chỉ lụi tn []. Hơn thế nữa, chỉ qun lng Thin Cha thi th đ l cho chnh tạo vật nn mờ tối rồi (68).

40. Một đng, gio huấn Cng Đồng nhấn mạnh vai tr của lý tr con người trong việc ấn định v p dụng luật lun lý: đời sống lun lý giả thiết đương sự phải c tnh sng tạo v c khn kho bởi v đời sống lun lý l nguồn mạch v l nguyn nhn của những hnh vi c suy tnh. Đng khc, lý tr kn mc phần chn lý của mnh v thẩm quyền của mnh ở nơi Luật Vĩnh Cửu, cũng l nơi chnh sự Khn Ngoan của Thin Cha (69). Như thế, tự nền tảng đời sống lun lý, c nguyn lý về một sự tự lập đng đắn (70) của con người, chủ thể cc hnh vi: Luật lun lý đến từ Thin Cha v lun lun tm gặp nguồn cội của n nơi Ngi: do bởi lý tr tự nhin vốn bắt nguồn từ Khn Ngoan Thin Cha, luật lun lý cũng đồng thời l luật đặc trưng của con người. Qủa vậy, như chng ta đ thấy, luật tự nhin chẳng khc g nh sng tr tuệ m Thin Cha đ đặt vo trong chng ta. Nhờ nh sng ny, chng ta biết được điều phải lm v điều phải trnh. nh sng ấy l luật ấy, Thin Cha đ ph ban qua cng trnh tạo dựng (71). Sự tự lập đng đắn của lý tr thực dụng c nghĩa l con người sở hữu nơi chnh mnh lề luật đ lnh nhận từ Tạo Ha. Dẫu sao, sự tự lập của lý tr khng hề m chỉ rằng lý tr tự n c thể sng tạo những gi trị v lập ra những chuẩn mực lun lý (72). Nếu tự lập bao hm việc chối bỏ sự thng phần của lý tr thực dụng vo trong khn ngoan của Đấng Tạo Ha v Đấng Lập Php tối cao, hoặc nếu tự lập gợi tự do để tạo ra những chuẩn mực lun lý ty thuộc vo những bấp bnh lịch sử v vo tnh chất đa nguyn của những x hội v những nền văn ha, một kỳ vọng tự lập như thế sẽ đi ngược lại với gio huấn Gio Hội về chn lý của con người (73). Như thế chẳng khc no giết chết tự do đch thực: Ngươi chớ ăn tri nơi cy biết thiện biết dữ, bởi v ngy m ngươi ăn thứ tri ấy, ngươi sẽ phải chết (St 2, 17).

41. Con người được tự lập thật sự về mặt lun lý th khng hề c nghĩa l con người từ chối nhưng đn nhận luật lun lý, giới răn của Thin Cha: Cha l Thin Cha truyền lệnh cho con người (St 2, 16). Tự do của con người v Luật của Thin Cha đồng qui với nhau v được mời gọi thấm nhập vo nhau, nghĩa l c vấn đề con người tự do vng phục Thin Cha v Thin Cha chăm lo cho con người một cch ho phng. Do đ, khng như một số người vẫn tưởng, vng phục Thin Cha th khng phải l một sự ngoại thuộc (htronomie), như thể đời sống lun lý phải lụy phục ý muốn của một quyền lực v song tuyệt đối, nằm ngoi con người v tri ngược với sự khẳng định của tự do con người. Trong thực tế, nếu sự ngoại thuộc lun lý truất bỏ khỏi con người quyền tự mnh ấn định hoặc p đặt cho con người những chuẩn mực nằm ngoi sự thiện của con người, sự ngoại thuộc ấy sẽ mu thuẩn với Mạc khải của Giao Ước v của Mầu Nhiệm Nhập Thể cứu chuộc. Sự ngoại thuộc ấy sẽ chỉ l một hnh thức vong thn, ngược lại với Khn Ngoan Thin Cha v với phẩm gi con người.

Một số người, với từ ngữ chỉnh hơn, ni đến sự thần thuộc (thonomie) hay sự dự phần thần thuộc (thonomie participe), bởi v việc con người tự do vng phục Luật Thin Cha nhất thiết bao hm sự thng phần của lý tr v ý ch con người vo trong lượng khn ngoan v đường lối quan phng của Thin Cha. Khi cấm con người khng được ăn tri nơi cy biết thiện biết dữ (St 2, 17). Thin Cha khẳng định rằng ngay từ đầu con người khng tự mnh c được sự hiểu biết ấy, nhưng con người chỉ dự phần vo sự hiểu biết ấy bằng nh sng của lý tr tự nhin v của mạc khải thần thing để nhỡ đ m nhận ra được những đi buộc v những mời gọi của Khn Ngoan vĩnh cửu. Như vậy, phải ni rằng luật l biểu hiện của Khn Ngoan Thin Cha: chnh khi tng phục lề luật, tự do tng phục chn lý của cng cuộc sng tạo. V thế điều xứng hợp l phải nhận ra nơi tự do của con người hnh ảnh v sự thn cận của Thin Cha, Đấng hiện diện trong mọi người (x. Ep 4,6): cũng vậy, cần phải tuyn xưng sự uy nghi của Thin Cha vũ hon v tn knh sự thnh thiện của Luật Thin Cha v cng siu việt. Deus semper major (74).

Phc thay người vui th với Lề Luật Cha (x. Tv 1, 1-2).

42. Được hnh thnh theo mẫu mực tự do của Thin Cha, tự do con người khng v tun phục Lề Luật thần thing m bị xa bỏ nhưng ngược lại chnh nhờ sự tun phục m tự do ở trong chn lý v tự do ph hợp với phẩm gi con người, như được diễn tả r rệt trong Cng Đồng: Phẩm gi con người đi buộc con người hnh động theo một lựa chọn c ý thức v tự do, được thc đẩy v ấn định bởi một niềm xc tn tự thn chờ khng đơn thuần bởi hiệu quả của những thi thc bản năng hoặc của một cưỡng bức từ bn ngoi. Con người đạt được phẩm gi ấy một khi thot khỏi ch n lệ của dục vọng; con người tự do lựa chọn sự thiện, tiến bước đến vận mệnh của mnh v để tm tm cho ra những phương thế tiến bước nhờ vo sự khn kho của mnh (75).

Trong khi tiến bước hướng về Thin Cha, hướng về Đấng duy nhất Tốt Lnh, con người phải thực thi điều thiện v n trnh điều dữ một cch tự do. Nhưng để được như vậy, con người phải biết phn biệt điều thiện v điều dữ. Cng việc ny được thể hiện đặc biệt nhờ vo nh sng của lý tr tự nhin, l nh phản chiếu vẻ rạng ngời của dung nhan Thin Cha nơi con người. Theo hướng ny, Thnh Tma khi bnh giải một cu trong Thnh Vịnh 4 đ viết: Sau khi ni: Hy tiến dng những lễ tế cng chnh (Tv 4,6). Thnh Vịnh như thể ni thm thay cho những người thắc mắc tự hỏi đu l những hoạt động cng chnh: Biết bao kẻ ni rằng: Ai sẽ chỉ cho ta thấy điều thiện?, rồi Thnh Vịnh trả lời cho họ: Lạy Cha, chng con đang c nh sng tn nhan Ngi in hằn nơi chng con, nghĩa l nh sng của lý tr tự nhin, nh sng gip chng ta phn định đu l điều thiện đu l điều dữ – đy l lnh vực của luật tự nhin – th chẳng khc no nh sng của Thin Cha tr hằn trong chng ta (76). Bởi đ chng ta hiểu được tại sao luật ny được gọi l luật tự nhin: n được gọi như vậy khng phải v đem so với bản chất của những hữu thể khng lý tr, nhưng bởi v lý tr ban bố luật ấy đng l lý tr của bản chất nhn linh (77).

43. Cng Đồng Vatican II nhắc nhở rằng chuẩn mực tột bậc của đời sống nhn linh l chnh Luật thần thing, vĩnh cửu, khch quan v phổ qut m Thin Cha dng trong kế hoạch khn ngoan v yu thương của Ngi, để điều hnh, hướng dẫn v cai quản ton thể thế giới, cũng như tất cả những đường lối của cộng đon nhn loại. Thin Cha cho con người được dự phần vo Luật ấy l Luật của chnh Ngi, để nhờ vo một sự sắp đặt v quan phng kỳ diệu của Ngi, con người ngy cng c thể tiến gần đến chn lý bất di bất dịch (78).

Cng Đồng nại tới học thuyết cổ điển về Luật vĩnh cửu của Thin Cha. Luật ny được thnh Augustin định nghĩa như l lý lẽ hoặc thnh ý của Thin Cha gip bảo vệ trật tự tự nhin v ngăn cấm khuấy động trật tự ấy (79): Thnh Tma th đồng ha Luật ny với lý lẽ do sự khn ngoan thần thing vốn l động cơ gip mọi sự chuyển động đến cng đch phải đạt tới (80). V sự khn ngoan của Thin Cha l đường lối quan phng, l tnh yu n cần chăm sc, hiểu theo nghĩa st nhất v cơ bản nhất, đối với ta thể cng trnh sng tạo (x. Kn 7, 22; 8, 11). Thin Cha chăm lo cho con người một cch khc với những hữu thể phi ngi vị: khng phải từ bn ngoi với những định luật của thin nhin vật lý, nhưng từ bn trong bằng lý tr, một lý tr do nhận thức được Luật vĩnh cửu của Thin Cha nhờ nh sng tự nhin nn đủ sức chỉ dẫn cho con người thấy được đu l hướng nẻo đng đắn để con người tự do hnh động (81). Bằng cch ấy, Thin Cha ku gọi con người dự phần vo sự quan phng của Ngi với ý muốn cậy nhờ chnh con người, nghĩa l cậy nhờ hoạt động hữu lý v hữu trch của con người để hướng dẫn thế giới, chẳng những thế giới thin nhin, nhưng cả thế giới, những ngi vị nữa. Luật tự nhin nằm trong bối cảnh ny, với tư cch l biểu hiện nhn linh cho Luật vĩnh cửu của Thin Cha, như thnh Tma đ viết:Trong số ton bộ cc hữu thể, tạo vật c lý tr được đặt dưới sự quan phng của Thin Cha một cch tuyệt hảo hơn do bởi tạo vật nầy dự phần vo sự quan phng ấy bằng cch tự mnh cung ứng cho nhu cầu của mnh v của tha nhn. Như vậy nơi tạo vật nầy, c sự dự phần vo lý tr vĩnh cửu, nhờ đ tạo vật nầy c được một thin hướng tự nhin nghing về thể thức hnh động v nghing về cng đch theo như phải đạt tới. Sự dự phần vo luật vĩnh cửu nầy, ở nơi tạo vật c lý tr, gọi l luật tự nhin (82).

44. Gio Hội vẫn thường qui chiếu vo học thuyết của Thnh Tma về luật tự nhin v đ đem hội nhập học thuyết nầy vo trong gio huấn lun lý của mnh. Đức L XIII, Vị Tiền Nhiệm khả knh của ti, đ v thế m nhấn mạnh đến sự tng phục thiết yếu của lý tr v của lề luật nhn linh đối với Khn Ngoan của Thin Cha v đối với Lề Luật của Ngi. Sau khi đ pht biểu rằng: luật tự nhin được ghi chp v khắc su trong lng mỗi người, bởi v đ chnh l lý tr của con người truyền khiến con người lm lnh v ngăn cấm con người phạm tội, Đức L XIII nại tới lý tr cao hơn của Nh Lập Php thần thing: Thế nhưng điều lệnh nầy của lý tr nhn linh sẽ khng c được sức mạnh của luật nếu khng l bộ phận hay l thng ngn của một lý tr cao hơn m tr tuệ v tự do của chng ta phải tun phục. Thật ra, uy lực của luật nằm ở chỗ n c quyền p đặt những bổn phận, chuyển giao những quyền lợi hay trừng phạt một số hnh vi no đ: Thế m tất cả những điều ấy sẽ khng thể no hiện hữu nơi con người nếu con người tự đặt mnh lm qui tắc cho những hnh vi của mnh như thế mnh l nh lập php tối cao. V Đức L XIII kết luận: Từ đ suy ra, luật tự nhin chnh l Luật vĩnh cửu ghi khắc trong những hữu thể được ph bẩm lý tr v thc đẩy chng nghing chiều về hnh vi v về cng đch đặc trưng của mnh, v luật tự nhin chỉ l lý tr vĩnh cửu của Thin Cha. Đấng tạo dựng v điều ha thế giới (83).

Con ngừơi c thể nhận ra điều thiện v điều dữ nhờ việc phn định thiện dữ m chnh con người thực hiện bằng lý tr của mnh, đặc biệt bằng lý tr được soi chiếu bởi Mạc Khải Thin Cha v bởi đức tin, nhn danh Lề Luật Thin Cha đ ban cho dn tuyển chọn, trước hết l cc giới răn ở Sinai. Dn t-ra-en được mời gọi đn nhận v sống Luật Thin Cha như hồng n đặc biệt v dấu chỉ của việc Thin Cha tuyển chọn v thiết lập Giao Ước; v đồng thời như l chứng cớ xc nhận phc lnh của Thin Cha. V thế Mis đ c thể ngỏ lời với con ci t-ra-en v hỏi họ: C dn tộc lớn mạnh no được cc thần minh ở gần như Cha l Thin Cha chng ta ở gần với chng ta mỗi khi chng ta ku cầu Người hay khng? V c dn tộc lớn mạnh no m những lề luật v những tập tục lại hon chỉnh như ton bộ Lề Luật m ti truyền lại cho anh chị em hm nay khng? (Đnl 4, 7-8). Trong cc Thnh Vịnh, chng ta đọc thấy biểu hiện của ca ngợi, của tri n v của tn knh m dn tuyển chọn được mời gọi ấp ủ đối với Luật Thin Cha, đồng thời chng ta đọc thấy huấn dụ hiểu biết, suy niệm v đem Luật ấy ra thực hnh trong đời sống. Phc thay người chẳng nghe theo bọn c nhn, chẳng bước vo đường qun tội lỗi, khng nhập bọn với phường ngạo mạn kiu căng, nhưng vui th với Lề Luật Cha, nhẩm đi nhẩm lại suốt đm ngy! (Tv 1, 1-2). Luật php Cha quả l hon thiện, bổ sức cho tm hồn; thnh ý Cha thật l vững chắc, cho người dại nn khn. Huấn lệnh Cha hon ton ngay thẳng, lm hoan hỹ ci lng: mệnh lệnh Cha xiết bao minh bạch, cho đi mắt rạng ngời (Tv 19/18, 8-9).

45. Gio Hội đn nhận với tm tnh tri n ton bộ kho tng Mạc Khải v bảo ton kho tng ấy với lng quý mến: Gio Hội dnh cho kho tng Mạc Khải một niềm tn knh thing ling mỗi lần Gio Hội thực thi sứ mệnh cắt nghĩa Lề luật Thin Cha một cch chnh tng dưới nh sng Tin Mừng. Ngoi ra, như một mn qu tặng, Gio Hội lnh nhận Luật Mới, sự kiện ton của Luật Thin Cha nơi Đức Gisu Kit, trong Thần Kh của Người: đ l một lề luật trong lng (x. Gr 31, 31-33). khng phải viết bằng mực nhưng bằng Thần Kh của Thin Cha hằng sống, khng phải trn những bia đ nhưng trn những mảnh thịt, trn những quả tim (2 Cr 3,3): đ l luật của trọn hảo v tự do (x. 2 Cr 3, 17).; đ l Luật Thần Kh mang lại sự sống trong Đức Kit Gisu (Rm 8,2). Bn về luật ny, thnh Tma viết: C thể ni rằng đ l luật [] hiểu theo nghĩa thứ nhất: luật của tinh thần l Cha Thnh Thần []. Ngi cư ngụ trong tm hồn, chẳng những giảng dạy điều phải lm bằng cch soi sng cho tr khn về những hnh vi phải lm. Ngi cn li ko con người thin về hnh động ngay thẳng [] Hiểu theo nghĩa thứ hai, luật của tinh thần c thể m chỉ hiệu quả đặc trưng của Cha Thnh Thần, nghĩa l đức tin hnh động nhờ đức i (Gl 5,6) v luật ấy, bởi đ, gio huấn trong lng về những sự việc phải lm [] v gip tm tnh chuyển sang hnh động (84).

Trong tư duy thần học v lun lý, người ta vẫn quen phn biệt Luật Thin Cha l luật tch cức đ được mạc khải với luật tự nhin: trong nhiệm cuộc cứu độ, người ta phn biệt luật cũ với luật mới. Dầu vậy, chng ta khng thể qun rằng những phn biệt hữu ch ấy v cả những phn biệt khc cn lại đều lun lun quy chiếu về Lề Luật m tc giả l chnh Thin Cha duy nhất v người nhận l con người. Những phương cch khc nhau m Thin Cha dng để chăm sc thế giới v chăm sc con người trong lịch sử chẳng những khng loại trừ nhau, nhưng ngược lại, tăng cường lẫn cho nhau, v thấm nhập vo nhau một cch hỗ tương. Mọi phương cch đều bắt nguồn từ kế hoạch vĩnh cửu đầy khn ngoan v yu thương trong đ Thin Cha tiền định cho mọi người m phng hnh ảnh Con Ngi (Rm 8, 29), chứng tỏ lộ kế hoạch ấy. Kế hoạch ấy khng hề gồm chứa một mối đe dọa no đối với tự do đch thực của con người: ngược lại, đn nhận kế hoạch ấy l đường lối duy nhất để khẳng định tự do.

Họ nu dẫn cho thấy Lề Luật đ được khắc ghi trong lng họ (Rm 2, 15).

46. Điều được mệnh danh l xung khắc giữa tự do v lề luật ngy nay lại lần nữa được nu ra với một cường độ đặc biệt trong những g lin quan đến luật tự nhin, nhất l về pha bản chất tự nhin. Thật ra, những tranh luận về tự nhin v tự do đ lun lun đi km với lịch sử tư duy lun lý, mang một tầm vc gay cấn vo thời Phục Hưng v thời Cải Cch, như chng ta c thể nhận xt nơi những gio huấn của Cng Đồng Trent (85). Thời buổi đượng đại cũng được đnh dấu bằng một sự đi co tương tự, mặc dầu chiều hướng c khc biệt: xu hướng quan st mang chiều kch duy nghiệm, những tiến trnh để c được tnh khch quan khoa học, tiến bộ kỹ thuật, một số hnh thức chủ trương phng tng, tất cả đ dẫn đến chỗ đối chọi hai từ ngữ, như thể biện chứng php – nếu chưa muốn ni đến xung khắc – giữa tự do v tự nhin l một điểm cấu tạo nn lịch sử nhn loại. Vo những thời khc, xem ra tự nhin bắt con người hon ton lụy phục những guồng năng động của n v cả những quy trnh của n nữa. Ngy nay, chưa hết, đối với rất nhiều người, những tọa độ khng gian v thờigian của thế giới khả gic, những hằng số vật lý v ha học, những năng động của cơ thể, những sự thc bch tm lý, những yếu tố chi phối của x hội đều được coi l những thnh tổ duy nhất thật sự mang tnh chất định đoạt dẫn đến những thực tại nhn linh. Trong bối cảnh ny, chnh những sự kiện mang bản chấy lun lý, bắt chấp tnh đặc loại của chng, rất thường bị xt đến như thể đ l vấn đề của những dữ kiện c thể nắm bắt v đem thống k, những hnh vi quan st được v giải thch được m chỉ cần dựa vo cc dữ kiện do những guồng my tm lý v x hội cung cấp. Bởi vậy m một số chuyn gia về đạo đức học, do nghiệp vụ được mời gọi xem xt cc sự kiện v cc động tc của con người, c thể bị cm dỗ do lường đối tượng của kiến thức họ hoặc thậm ch đo lường những mệnh lệnh của họ, bằng cch khởi đi từ một bản thống k những hnh vi nhn linh cụ thể v những gi trị được đa số cng nhận.

Ngược lại, c những nh lun lý khc, vốn quan tm gio dục về cc gi trị, vẫn lun nhạy cảm với uy thế của tự do, nhưng thường quan niệm tự do trong thế đối nghịch hoặc xung khắc với bản tnh tự nhin của vật chất v của sự sống m tự do sẽ phải lần hồi truyền khiến. Về vấn đề ny, c nhiều quan niệm khc biệt nhau nhưng lại gặp nhau ở chỗ cng bỏ qun phẩm chất tạo thnh của tự nhin v ở chỗ khng nhận thức được tnh ton vẹn của tự nhin. Đối với một số lun lý gia, tự nhin bị giản lược thnh một thứ chất liệu của hnh vi nhn linh v của quyền năng nhn linh: tự nhin sẽ bị tự do biến đổi một cch su xa v thậm ch tự do sẽ vượt qua tự nhin, bởi v tự nhin sẽ như l giới hạn v l sự phủ nhận đối với tự do. Đối với cc nh lun lý khc, chỉ bằng cch để cho quyền năng của con người hoặc tự do của con người được thăng tiến một cch v hạn th mới tạo được những gi trị kinh tế, x hội, văn ha, cả những gi trị lun lý nữa: trong những trường hợp ny, tự nhin sẽ chỉ bao gồm tất cả những g, nơi con người v trong thế giới, nằm ngoi lnh thổ của tự do. Tự nhin trước hết sẽ gồm c cơ thể con người, cấu trc v những guồng năng động của con người: đối lại với dữ liệu thể lý ny l ci được xy dựng, nghĩa l văn ha, với tư cch l cng quả v l sản phẩm của tự do. Bản tnh tự nhin của con người, hiểu như vậy, sẽ c thể chỉ giản lược thnh một chất liệu c sự sống hoặc một chất liệu x hội tha hồ sử dụng. Như thế c nghĩa l, tựu trung, tự do sẽ tự mnh định nghĩa cho chnh mnh v sẽ tự mnh tạo ra chnh mnh v tạo ra cc gi trị. Chnh v vậy m xt cho cng con người sẽ chẳng c bản tnh tự nhin nữa, v con người sẽ chỉ l dự phỏng tồn tại cho chnh n m thi. Con người sẽ chẳng l g khc hơn l tự do của mnh!

47. Chnh trong bối cảnh ny m đ xuất hiện những bnh phẩm của chủ thuyết duy vật lý v chủ thuyết duy tự nhin, chống lại quan niệm cổ truyền về luật tự nhin: những điều luật lun lý m luật tự nhin nu ra chẳng qua sẽ chỉ l những qui luật sinh học. Từ d, một cch qu hời hợt, người ta sẽ gn cho một số hnh vi nhn linh tnh chất trường tồn bất biến v lấy đ lm khởi điểm, người ta sẽ tr liệu lập cng thức cho những chuẩn mực lun lý c gi trị phổ qut. Theo một số thần học gia, lập luận theo kiểu sinh học v duy tự nhin như thế cũng l lập luận c thể tm gặp trong một số văn kiện của Huấn Quyền Gio Hội, đặc biệt trong những văn kiện đề cập tới lnh vực lun lý tnh dục v gia đnh. Người ta sẽ dựa vo một quan niệm duy tự nhin về hnh vi tnh dục để ln n l khng thể chấp nhận về mặt lun lý những sự việc như ngừa thai, triệt sản trực tiếp, tự do luyến i, những quan hệ tiền hn nhn, những giao du đồng tnh luyến i, kể cả việc thụ thai nhn tạo. Vậy m, theo ý kiến của cc thần học gia ny đnh gi cc hnh vi ấy một cch tiu cực, xt về mặt lun lý th kể l chưa coi trọng cho đủ tnh chất c lý tr v c tự do của con người cũng như coi trọng cho đủ tầm chi phối về mặt văn ha của mọi chuẩn mực lun lý. Cc nh thần học ny cho rằng con người, với tư cch l hữu thể c lý tr, chẳng những c thể m cn phải ấn định ý nghĩa cho cc hnh vi của mnh một cch tự do. Cng việc ấn định ý nghĩa dĩ nhin sẽ phải ch trọng đến v vn giới hạn của hữu thể nhn linh vốn ở trong một cảnh huống thể xc v lịch sử. Cng việc ny cũng phải ch trọng đến những mẫu mực xử sự, đến ý nghĩa m những mẫu mực ấy tạo được trong một nền văn ha đặc th. Trn tất cả, cng việc ny phải tn trọng giới răn cơ bản l giới răn yu thương Thin Cha v tha nhn. Thế nhưng Thin Cha – đy l điều m tiếp đ cc thần học gia quả quyết – đ tạo dựng con người như l hữu thể c lý tr v c tự do. Ngi đ để cho con người tự bn bạc với chnh mnh, tin cậy con người v mong chờ con người tự mnh khun đc cuộc đời mnh một cch hợp lý. Yu tha nhn th trước hết hoặc trong mọi trường hợp sẽ chỉ c nghĩa l tn trọng quyền tự do ấn định của tha nhn. Những guồng my xử sự của con người v cả những g m người ta gọi l xu hướng tự nhin chẳng qua cũng sẽ chỉ tạo được – theo lời của họ – một phương hướng chung chung cho hnh vi ngay thẳng, chớ khng thể ấn định gi trị lun lý cho những hnh vi nhn linh trong những trường hợp c biệt, vốn rất ư phức tạp ty theo từng tnh huống.

48. Đứng trước lối cắt nghĩa vừa nu, thiết tưởng cần phải xem xt một cch chăm ch mối quan hệ chuẩn xc vốn c giữa tự do v bản chất nhn linh tự nhin đặc biệt xem xt vị thế của cơ thể con người nhn từ quan điểm luật tự nhin.

Tự do no tự xưng mnh l tuyệt đối th cuối cng sẽ đối xử với cơ thể nhn linh như thế đ l một dữ kiện th sơ, chưa c ý nghĩa v gi trị lun lý bao lu chưa được tự do mang vo trong dự phng của n. Do vậy, bản tnh con người v cơ thể được coi l những tiền kiện hoặc những yếu tố chuẩn bị về mặt chất thể rất cần thiết cho sự lựa chọn của tự do, nhưng nằm bn ngoi con người, bn ngoi chủ thể v hnh vi nhn linh. Những guồng năng động của chng khng thể trở thnh những điểm qui chiếu cho sự lựa chọn lun lý, bởi v cứu cnh của cc xu hướng ấy sẽ khng khc g với những thiện hảo thể lý, m một số người gọi l tiền-lun-lý. Lấy đ lm nơi quy chiếu, để tm kiến những chỉ dẫ hữu lý trong cấp trật lun lý, th sẽ rơi vo chủ thuyết duy vật lý hoặc chủ thuyết duy sinh học. Trong bối cảnh ny, c sự đi co giữa tự do với một bản chất tự nhin được quan niệm theo nghĩa giản lược ha, sự đi co ny chuyển thnh một mối chia rẽ ở bn trong chnh con người.

Lý thuyết lun lý ny khng ph hợp với sự thật về con người v về tự do. N mu thuẫn với những gio huấn Gio Hội về sự thống nhất của hữu thể nhn linh m linh hồn c lý tinh vốn tự thn v tự yếu tinh (per se et essentialiter) l m thể của thn xc (86). Linh hồn thing ling v bất tử l nguyn lý thống nhất của hữu thể nhn linh, linh hồn l ci m bởi đ hữu thể nhn linh hiện hữu như một ton thể – corpore et anima urius (87) – với tư cch l ngi vị. Những định nghĩa ny khng chỉ ni ln rằng cả đến thể xc, được hứa cho sống lại, cũng sẽ dự phần vo vinh quang: chng đồng thời nhắc nhở mối lin kết giữa lý tr v ý ch tự do với tất cả những năng lực của cơ thể v của gic quan. Ngi vị con người bao gồm thn xc v được giao ph tan bộ cho chnh con người, chnh trong sự thống nhất hồn xc m ngi vị con người l chủ thể của những hnh vi lun lý. Nhờ nh sng của lý tr v nhờ sự đỡ nng của nhn đức, ngi vị con người khm ph ra nơi thn xc mnh những dấu chỉ tin bo, biểu hiện v lời hứa dng hiến chnh mnh, tương hợp với kế hoạch khn ngoan của Tạo Ha. Nếu lý tr nhận thức được gi trị lun lý đặc loại của một số điều thiện con người nhắm đến một cch tự nhin, đ l dưới nh sng của phẩm gi con người, phẩm gi cần phải được khẳng định v trn trọng. V bởi v khng thể giản lược ngi vị con người thnh một thứ tự do lấy mnh lm đối tượng cho một dự phng, bởi v ngược lại ngi vị con người bao gồm một cấu trc thing ling v thể xc nhất định, sự đi buộc lun lý đầu tin nhằm yu thương v tn trọng con người như l cng đch chớ khng bao giờ như l đơn thuần phương tiện l sự đi buộc vốn tự n bao hm v nhất thiết dẫn đến sự tn trọng đối với một số điều thiện cơ bản m nu thiếu đi người ta sẽ rơi vo chỗ tương đối v v đon.

49. Chủ thuyết no m tch la hnh vi lun lý khỏi những chiều kch thể xc khi n được thực hiện th sẽ đi ngược lại với những gio huấn Thnh Kinh v Thnh Truyền: một chủ thuyết như thế sẽ lm sống lại, bằng những hnh thức mới hơn, một số sai lầm trước đy m Gio Hội đ khng ngững đả ph, bởi chng giản lược ngi vị con người thnh một thứ tự do thing ling chỉ l hnh thức bề ngoi m thi. Giản lược như vậy th c nghĩa l khng hề nhn nhận ý nghĩa lun lý của thn xc v của những hnh vi gắn liền với thn xc (x. 1Cr 6, 19). Thnh Tng Đồ Phaol tuyn bố rằng những người sau đy khng được thừa hưởng Vương Quốc Thin Cha: dm đng, thờ ngẫu thần, ngoại tnh, hư đốn, nghịch với lun thường, trộm cắp, tham lam, say sưa, vu co hay bc lột (1 Cr 6, 9-10). Được Cng Đồng Trent diễn đạt lại một cch chnh xc (88), lời ln ăn ny xếp vo loại tội trọng hoặc tệ đoan một số những hnh vi đặc loại m nếu cố tnh chấo nhận người tn hữu sẽ bị ngăn cản khng được dự phần vo gia nghiệp đ hứa ban. Thật ra, thn xc v linh hồn th bất khả phn ly: trong ngi vị, trong tc nhn hữu ý v trong hnh vi c suy tnh, thn xc v linh hồn hoặc tồn tại hoặc tiu tan cng với nhau.

50. Như vậy, chng ta c thể hiểu được ý nghĩa thật sự của luật tự nhin: luật tự nhin qui chiếu về bản chất đặc th v nguyn sơ của con người, về bản chất của ngi vị nhn linh (89), ngi vi ấy l chnh con người trong sự thống nhất hồn xc, trong sự thống nhất những xu hướng thuộc cấp trật thing ling hoặc cấp trật sự sống v tất cả những tnh chất đặc loại khc cần thiết cho con người theo đuổi cng đch của mnh. Luật lun lý tự nhin diễn đạt, truyền khiến những cứu cnh, quyền lợi v bổn phận vốn đặt nền tảng trn bản chất xc thể v thing ling của con người. Bởi thế khng thể quan niệm luật lun lý tự nhin như l tnh chuẩn mực (normativit) mang chiều kch thuần ty sinh học, nhưng n phải được định nghĩa như l trật tự hợp lý dựa vo đ con người được Tạo Ha mời gọi điều khiển v chỉnh đốn đời sống cũng như hnh vi của mnh v cch ring sử dụng v vận dụng thn xc của mnh (90). Chẳng hạn, nếu muốn xc định nguồn gốc v nền tảng của bổn phận tuyệt đối tn trọng sự sống con người th phải tm kiến ở nơi phẩm chất cao cả đặc trưng của con người, chớ khng phải chỉ tm kiếm ở nơi xu hướng tự nhim nhằm bảo tồn sự sống thể lý. Như vậy sự sống nhn linh, vừa l một sự thiện cơ bản của con người, vừa đồng thời đạt tới một ý nghĩa lun lý trong tương quan với sự thiện của con người, ý nghĩa ny phải lun được nhn nhận như l cng đch: nếu xt theo lun lý, khng bao giờ được php giết người v tội, th lại c điều được php v đng ca ngợi, đ l hiến ban mạng sống mnh (x. Ga 15, 13) v tnh yu tha nhn hoặc v để lm chứng cho chn lý, điều ny cn c thể l một bổn phận. Trong thực tế, chỉ bằng cch tham chiếu vo con người trong ton thể thống nhất, nghĩa l trong một linh hồn biểu hiện nơi thn xc v một thn xc được sinh động nhờ một thần kh bất tử (91), chng ta mới c thể truy nhận được chiều kch đặc biệt nhn linh của thn xc. Qủa vậy, những xu hướng tự nhin chỉ mặc được phẩm chất lun lý với tư cch chng quy về ngi vị con người v quy về sự thể hiện đch thực của con người, l sự thể hiện vốn khng thể no c được nếu diễn ra ở bn ngoi bản chất tự nhin của con người: Đng khc Gio Hội phục vụ con người bằng cch từ chối những thủ thuật no đụng chạm tới thể chất con người m lm tổn hại ý nghĩa nhn linh của n. Gio Hội cũng chỉ dẫn cho con người đường nẻo tnh yu đch thực m chỉ trn đ con người mới gặp được Thin Cha thật.

Hiểu như thế, luật tự nhin khng nhường chỗ cho sự chia cắt giữa tự do v bản tnh tự nhin. Thật vậy, tự do v bản tnh tự nhin nối kết với nhau một cch ha điệu v trộn lẫn vo nhau một cch mật thiết.

Nhưng thoạt đầu th khng như thế (Mt 19,8)

51. Sự xung đột mạo nhận giữa tự do v bản tnh tự nhin cn dội ln cả trong cch giải thch về một số phương diện đặc loại của luật tự nhin, nhất l về tnh phổ qut v tnh bất khả đổi thay của n. Thnh Augustin tự hỏi: Cc qui tắc ấy được viết thnh văn ở đu [] nếu khng phải l trong quyển sch nh sng m người ta gọi l chn lý? Chnh ở đ m mọi điều luật chnh đng được khắc ghi v chnh từ đ mọi điều luật sang đến tận con tim của người thực thi cng chnh, khng phải bằng phương thức in hằn, tựa như hnh th nơi con dấu nằm lại trn chất sp m khng rời xa con dấu (92).

Chnh nhờ vo chn lý ny m luật tự nhin giả thiết tnh phổ qut. Với tnh cch được ghi khắc nơi bản tnh hữu lý của con người, luật tự nhin được đặt định cho mọi hữu thể đ được ph bẩm lý tr v hiện đang sống trong lịch sử. Để tự trau dồi bản thn trong cấp trật của mnh, con người phải lm lnh lnh dữ, phải chăm lo lưu truyền v bảo ton sự sống, phải thần ha v pht huy những ti nguyn của thế giới khả gic, phải vun trồng đời sống x hội, phải tm kiếm chn lý, phải thực thi điều thiện, phải chim ngắm vẻ đẹp (93).

Sự chia cắt giữa tự do của cc c nhn với bản chất chung của mọi người đ do một số người tạo ra cũng như đ l hậu quả pht xuất từ một số triết thuyết vốn mang một tầm ảnh hưởng đng kể trong nền văn ha cận đại, sự chia cắt ny lm cho nhận thức bằng lý tr về tnh phổ qut của luật lun lý bị lu mờ. Thế nhưng, bởi v n biểu lộ phẩm gi của nhn vị cũng như thiết lập nền tảng cho những quyền lợi v bổn phận hng đầu của con người, luật tự nhin mang tnh chất phổ qut trong những mệnh lệnh v thẩm quyền của luật tự nhin lan rộng khắp hết mọi người. Tnh phổ qut ny khng gạt sang một bn tnh ring tư c biệt của cc tn hữu thể nhn linh, v khng đối chọi tnh chất độc nhất v nhị v tnh chất bất khả thay thế của mỗi người: ngược lại, n đem gắn chặt tất cả cc hnh vi tự do của con người vốn chứng nhận cho tnh phổ qut của sự thiện chnh tng, vo trong cội nguồn của chng. Bằng cch tng phục luật chung, cc hnh vi của chng ta xy dựng cộng đon ngi vị đch thực v, nhờ n sủng Thin Cha, thể hiện đức i l mối dy rng buộc sự trọn hảo (Cl 3, 14). Ngược lại, khi bất chấp hoặc thuần ty v tri đối với luật, hoặc hữu trch hoặc khng, cc hnh vi của chng đ thương mối hiệp thng ngi vị, lm phương hại đến tất cả mọi người.

52. Mọi lc v đối với mọi người, phục vụ Thin Cha, thờ phượng Ngi cho đng mức v thảo knh cha mẹ trong chn lý lun l điều chnh đng v tốt lnh. Những mệnh lệnh tch cực ấy b buộc mọi người v l bất biến (94), khi chng truyền khiến lm một số điều v vun trồng một số thi độ: chng qui tụ lại trong cng một sự thiện tất cả mọi người thuộc mọi giai đoạn lịch sử, được tạo dựng cho cng một ơn gọi v cng một vận mệnh thần thing (95). Những điều luật phổ qut v trường tồn ấy tương ứng với điều m lý tr thực tiễn nhận biết, chng được p dụng trong những hnh vi đặc th nhờ phn đon của lương tm. Chủ thể hnh động sẽ tự mnh nhuẫn thấm chn lý hm chứa trong luật tậu lầy cho mnh v biến thnh của mnh chn lý ấy, l chn lý của hữu thể mnh, nhờ những hnh vi v những nhn đức tương ứng của mnh. Cc mệnh lệnh tiu cực của tự nhin th c gi trị phổ qut: chng b buộc mọi người v từng người, mọi lc v trong mọi han cảnh. Quả vậy, chng ngăn cấm một hnh động nhất định lun lun v mi mi về sau (semper et pro semper), khng c trường hợp ngoại lệ, bởi v lựa chon một hnh vi loại ấy th bất kể trong trường hợp no cũng đều bất khả dung hợp với sự tốt lnh nơi ý muốn của con người hnh động, với ơn gọi của người ấy hướng đến sự sống với Thin Cha v hướng đến sự hiệp thng với tha nhn. Tất cả mọi người, trong mọi trường hợp đều khng được vi phạm những mệnh lệnh, khng miễn trừ ai với bất cứ gi no, cấm xc phạm đến điều chung nhất của mọi người l nhn phẩm ở nơi bất cứ ai v trước hết ở nơi chnh mnh.

Đng khc, nếu chỉ c cc giới răn tiu cực mới b buộc mọi lc v trong mọi han cảnh th điều đ khng c nghĩa l trong đời sống lun lý những cấm cản quan trọng hơn bổn phận lm điều thiện, được biểu lộ qua những hnh vi tch cực. Đng ra lý do l như thế ny: trong guồng năng động tch cực của n, giới răn yu mến Thin Cha v yu thương tha nhn khng bao hm bất cứ giới hạn no ở pha trn, nhưng lại c một giới hạn ở pha dưới m nếu vượt qua th n bị vi phạm. Hơn nữa, điều người ta phải lm trong một tnh huống nhất định, th ty thuộc vo những điều kiện chung quanh vốn khng phải tất cả đều c thể tin đon được: ngược lại, c nững hnh vi khng bao giờ v khng một trường hợp no lại c thể l đp số đng, nghĩa l ph hợp với sự cao cả của con người. Sau cng, điều lun c thể xảy ra l con người, do sự cưỡng bức hay trong những điều kiện khc, c thể bị ngăn cản thực thi một số hnh động tốt no đ: thế những khng bao giờ con người bị ngăn cản từ chối lm một số điều no đ, nhất l nếu con người sẵn sng chết hơn l lm điều dữ.

Gio Hội đ lun dạy rằng khng bao giờ được lựa chọn những hnh vi m cc giới răn lun lý cấm cản, được diễn đạt dưới hnh thức tiu cực bởi Cựu Ước v Tn Ước. Như chng ta đ thấy, chnh Đức Gisu cũng lặp lại rằng khng được quyền đo thot khỏi những lệnh cấm ấy: Nếu anh muốn tiến vo sự sống, hy tun giữ cc giới răn []. Chớ giết người, chớ ngoại tnh, chớ trộm cắp, chớ lm chứng gian (Mt 19, 17-18).

53. Con người đương thời rỏ ra rất nhạy cảm đối với chiều kch lịch sử v đối với văn ha, do đ một số người đ đi tới chỗ hoi nghi về tnh bất khả đổi thay của luật tự nhin v bởi đ, về sư tồn tại của những chuẩn mực khch quan trong địa hạt quản lý (96) vốn l những chuẩn mực c gi trị cho mọi người trong hiện tại v tương lai, như chng đ từng c gi trị trong qu khứ: người ta chưa biết được đu l tiến bộ m nhn loại phải đạt tới mai ngy th thử hỏi lm sao c thể quả quyết được rằng một số ấn định hợp lý no đ đ được thiết lập trong qu khứ l c gi trị phổ qut cho mọi người v l trường tồn?

Khng thể no phủ nhận rằng con người lun phải ở trong một nền văn ha đặc th, thế nhưng cũng khng thể no phủ nhận rằng chỉ nền văn ha m thi th chưa đủ để định nghĩa con người cho trọn vẹn. Ngoi ra, đ tiến của cc nền văn ha chứng tỏ c điều g đ nơi con người l siu việt cc nền văn ha. Điều g đ ở đy chnh l bản tnh tự nhin của con người: bản tnh tự nhin ny l thước đo của văn ha v l điều kiện để cho con người khng bị bất cứ nền văn ha no giam hm v để cho con người khẳng định phẩm gi của minh trong một đời sống ph hợp với chn lý thm su của hữu thể nhn linh. Nếu những yếu tố cấu tạo trường tồn của con người, cũng đồng thời l những yếu tố gắn liền với chiều kch thể xc m người ta đem đặt lại vấn đề th chẳng những người ta sẽ đi ngược lại với kinh nghiệm chung nhưng người ta sẽ khng gip hiểu nổi sự qui chiếu m Đức Gisu đ đề xướng về ci thoạt đầu, đng vo lc m bối cảnh x hội v văn ha thời ấu đ lm lũng đoạn ý nghĩa nguyn thủy v vai tr của một số chuẩn mực lun lý (x. Mt 19, 1-9). Trong chiều hướng ny, Gio Hội khẳng định rằng, trải qua mọi đổi thay, rất nhiều điều vẫn cn đ, chng c nền tảng tối hậu ở nơi Đức Kit. Đấng vẫn l một hm qua, hm nay v mi mi (97). Người l Nguyn Lý v một khi đ mặc lấy bản tnh loi người. Người soi sng cho bản tnh ấy một cch dứt khot trong cc yếu tốt cấu thnh con người v trong guồng năng động của tnh yu con người đối với Thin Cha v đối với tha nhn (98).

Chắc hẳn rất nn nghin cứu v tm cho ra lối pht biểu no l thch ứng nhất cho cc chuẩn mực lun lý phổ qut v trường tồn ty theo những bối cảnh văn ha khc nhau, cũng rất cần phải thường xuyn diễn đạt tnh thời sự lịch sử của cc chuẩn mực ấy, gip hiểu được chng v giải thch một cch chnh quy sự thật hm chứa nơi chng. Sự thật của luật lun lý – cũng như sự thật của kho tng đức tin – lan trải đến hắp mọi thời: cc chuẩn mực diễn đạt sự thật ấy vẫn lun c gi trị trong chất thể, thế những chng cần được nu dẫn chnh xc v cần được ấn định sao cho cng một lng v cng một ý ( eodem sensu eademque sententia ) (99) ty theo hon cảnh lịch sử, do Huấn Quyền của Gio Hội m trước khi quyết định v trong khi quyết định cn cần đến nỗ lực tra cứu v pht biểu, được lý tr của cc tn hữu v cng cuộc tư duy thần học cung ứng cho (100).

 

II. LƯƠNG TM V CHN LÝ

Thnh điện của con người.

54. Mối dy lin kết vốn c giữa tự do con người với Luật Thin Cha l mối dy được nối với nhau trong tm khảm con người, nghĩa l trong lương tm lun lý của con người: như Cng Đồng Vatican đ viết: ở nơi đy thẳm lương tm mnh, con người khm ph ra sự hiện diện của một lề luật m khng phải con người tự ban bố cho mnh nhưng c bổn phận phải tun giữ. Tiếng ni ấy khng ngừng thi thc con người yu qu v lm điều thiện, trnh điều dữ, tiếng ni ấy vang vọng vo lc xứng hợp trong ci thm su của con tim con người: Hy lm điều ny, chờ lm điều kia. Bởi chưng đ l Lề Luật Thin Cha đ ghi khắc trong lng người: sự cao cả của con người ở chỗ tun phục lương tm v chnh lương tm sẽ xt xử con người (x. Rm2, 14-16) (101).

Chnh v thế m phương cch tm hiểu mối lin kết giữa tự do với lề luật vốn nối kết chặt chẽ với lối giải thch người ta đưa ra về lương tm lun lý. Do vậy, v đối chọi tự do với lề luật v tch la tự do khỏi lề luật để rồi tn dương tự do theo kiểu sng bi ngẫu thần, những khuynh hướng văn ha chng ta vừa nhắc đến trn đy đều dẫn đến một lối cắt nghĩa chế chẩm về lương tm lun lý, lệch ra ngoi lập trường truyền thồng cảu Gio Hội v của Huấn Quyền Gio Hội.

55. Theo ý kiến của một số thần học gia, t ra vo một vi giai đoạn đ qua, nhiệm vụ của lương tm như thế đ bị giản lược thnh một cng việc p dụng những chuẩn mực lun lý tổng qut vo những trường hợp đặc th diễn ra trong đời sống của một con người. V họ cho rằng những chuẩn mực như thế khng thể no thch ứng để đn nhận v tn trọng tnh đặc loại ton vẹn v độc nhất v nhị nơi mỗi một hnh vi cụ thể của con người: chng c thể một cch no đ gip đnh gi tnh huống cho đng, thế những chng khng thể thay thế cho cc đương sự trong những quyết định tự thn của họ về lối hnh xử cần phải nhận chọn trong những trường hợp nhất định. Từ đ, họ ph lối cắt nghĩa truyền thống về nhn tnh v về tầm quan trọng của nhn tnh đối với đời sống lun lý, v một số người trong họ đ đi tới chỗ khẳng định rằng những chuẩn mực loại ấy th khng phải l một tiu chuẩn khch quan v b buộc đối với những phn đon của lương tm cho bằng l một viễn ảnh chung chung, lc tiếp cận buổi đầu, sẽ gip con người phối tr cuộc sống bản thn v cuộc sống x hội của mnh cho được nhất qun: Cc tc giả ny cn nu dẫn tnh chất phức tạp của hiện tượng lương tm: lương tm phải mật thiết nại tới ton khối tm lý v cảm tnh cũng như nại tới v số những ảnh hưởng của mi trường x hội v văn ha chung quanh của con người. Đng khc, người ta tn dương đến tột đỉnh gi trị của lương tm, m chnh Cng Đồng cũng đ định nghĩa l thnh điện của con người, nơi m c thể nghe được tiếng Cha (102). Người ta cho rằng tiếng ni ấy khng dẫn con người tới chỗ tun thủ cc chuẩn mực phổ qut một cch chi li cho bằng tới chỗ nhận thức một cch c sng tạo v c trch nhiệm về những sứ mệnh bản thn m Thin Cha giao ph.

V muốn nu bật tnh chất sng chế của lương tm, một số tc giả đ gn cho cc hnh vi của lương tm danh từ quyết định chớ khng cn dng danh từ phn đon: chỉ khi đưa ra những quyết định ấy một cch tự lập con người mới c thể đạt tới mức trưởng thnh lun lý. Khng thiếu những người c tr tuệ để thẩm định rằng tiến trnh trưởng thnh ấy rồi sẽ gặp rắc rối khi phải đương đầu với lập trường qu khc chiết về nhiều vấn đề lun lý của Huấn Quyền Gao Hội, với những can thiệp họ sẽ cho rằng lm nảy sinh, nơi cc tn hữu, những xung đột lương tm v ch.

56. Để biện minh cho những lập trường như thế, một số tc giả đ đề nghị mặc cho sự thật lun lý hai thể trạng. Thm vo cấp độ học thuyết v trừu tượng, cn phải nhn nhận tnh chất độc đo của một nhn quan hiện sinh mang chiều kch cụ thể hơn. Nhn quan ny, khng coi thường những hon cảnh v tnh huống, sẽ c thể xy dựng một cch hợp php những trường hợp ngoại lệ đối với qui tắc tổng qut v từ đ sẽ c thể cho php thực hiện điều m luật lun lý xc định l xấu tự n m lương tm vấn được kể l ngay lnh. Bởi đ m trong một số trường hợp người ta tạo lập một sự tch biệt, thậm ch một sự đối khng, giữa học thuyết về mệnh lệnh c gi trị chung chung với chuẩn mực nơi lương tm của mỗi người v mỗi người lc cần kp sẽ quyết định một cch thiết thực về điều thiện điều dữ. Trn nền tảng ny, người ta kỳ vọng tạo được tnh chất hợp php cho những cc giải quyết được coi l mục vụ nghịch lại với những gio huấn của Huấn Quyền, người ta cũng kỳ vọng biện minh cho một ch giải sng chế theo đ trong mọi trường hợp lương tm lun lý sẽ khng hề bị b buộc bởi một mệnh lệnh tiu cực đặc th.

Đương nhin ai ai cũng hiểu được rằng với những lập trường ny người ta đối đầu với sự kiện đặt vấn đề về chnh căn tnh của lương tm lun lý trươc tự do con người v trước Luật Thin Cha. Chỉ nhờ vo những soi dẫn vừa được đề xướng trn đy về mối lin kết giữa tự do v lề luật, th mới c thể thực hiện sự phn định lin quan đến lối cắt nghĩa sng chế về lương tm.

Phn quyết của lương tm

57. Bản văn trong Thư gửi cc tn hữu Rma vừa gip chng ta nắm vững được yếu tnh của luật tự nhin vừa đồng thời nu dẫn chiều kch Kinh Thnh của lương tm, nhất l mối dy đặc loại lin kết lương tm với lề luật: Khi cc lương dn chẳng c Lề Luật m lại thụ ch một cch tự nhin cc chỉ thị của Lề Luật, th họ lấy chnh mnh thay thế cho Lề Luật tuy chưa chiếm hữu Lề Luật; họ chứng minh luật ấy đ thật dự được ghi khắc trong lng họ, với bằng cớ l chứng từ của lương tm họ, đồng thời l những phần đon trch cứ hoặc khen lao trong lng m họ dnh cho nhau (Rm 2, 14 – 15).

Theo kiểu ni của Thnh Phaol, lương tm, hiểu theo một nghĩa no đ, đặt con người trước Lề Luật, đồng thời trở thnh chứng nhn cho con người: chứng nhn về lng trung tn v về sự bất trung của con người đối với Lề Luật, nghĩa l về sự ngay thẳng tự nền tảng hay về mnh lới lun lý của con người. Lương tm l chứng nhn duy nhất: điều xảy ra nơi ci thm su của con người th được che khuất khỏi con mắt của tất cả những người bn ngoi. Lương tm chỉ lm chứng cho chnh con người đương sự m thi. V về pha mnh, chỉ một mnh đương sự l biết được lời đp trả của mnh trước tiếng ni của lương tm.

58. Khng bao giờ người ta c thể đnh gi cho phải lẽ tầm quan trọng của cuộc đối thoạt mật thiết giữa con người với chnh mnh. Thế nhưng, thật ra, vấn đề ở đy l cuộc đối thoại giữa con người với Thin Cha, tc giả của Lề Luật, mẫu mực đệ nhất v cng đch tối hậu của con người. Thnh Bnaventura viết: Lương tm v tựa như thng tin vin v sứ giả của Thin Cha: điều Thin Cha ni, lương tm khng truyền khiển như thể tự mnh nhưng truyền khiển như l đến từ Thin Cha, theo kiểu thng tin vin cng bố sắc chỉ của nh vua. Chnh do vậy m lương tm c quyền bị b buộc (103). Như thế c thể ni rằng lương tm lm chứng cho chnh con người về sự ngay thẳng v về mnh lời của con người, nhưng đồng thời v trn tất cả, lương tm l chứng từ của chnh Thin Cha, tiếng ni v phn quyết của Ngi thấp nhập vo ci thm su của con người cho đến tận cọi rễ linh hồn, mời gọi con người một cch mạnh mẽ v dịu ngọt (fortiter et suaviter) để con người tun phục: Lương tm lun lý khng nhốt kn con người trong một nỗi đơn độc v v phương thẳng vượt v bất khả xm nhập, nhưng mở ngỏ cho con người trước lời mời gọi, trước tiếng ni của Thin Cha. Tất cả mầu nhiệm về phẩm gi của lương tm trong cuộc sống đều nằm ở đ chớ khng phải ở một nơi no khc, nghĩa l ở nơi thnh, tại khng gian thnh, nơi m Thin Cha ni với con người (104).

59. Thnh Phaol khng tự hạn chế mnh ở chỗ nhn nhận lương tm giữ vai tr chứng nhn, thnh nhn cn vn mở cho thấy lương tm thanh thỏa một nhiệm vụ như thế bằng cch no. Ở đy l những lý lẽ hoặc quở trch hoặc khen ngợi cc lương dn ty theo hnh vi ứng xử của họ (x. Rm2, 15). Từ ngữ lý lẽ lm nổi bật tnh chất đặc loại của lương tm, l pht biểu một phn quyết lun lý về con người v về cc hnh vi của con người, phn quyết tha bổng hoặc ln n ty theo cc hnh vi nhn linh c ph hợp hay khng ph hợp với Luật Thin Cha đ ghi khắc trong lng. Cũng chnh về phn quyết lin quan tới cc hnh vi v đồng thời lin quan tới tc giả của cc hnh vi v tới thời buổi hon tất của tc giả m thnh Tng Đồ Phaol đ diễn tả trong cng một bản văn: [Cũng sẽ xảy ra như thế] vo ngy m Thin Cha sẽ xt xử cc tư tưởng thầm kn của con người, dựa theo Tin Mừng ri rao giảng, nhờ Đức Kit Gisu (Rm 2, 16). Phn quyết của lương tm l một phn quyết thực tiễn, một phn quyết mch bảo cho con người điều phải lm v điều khng được lm, hoặc đnh gi một hnh vi con người đ lm. Đ l một phn quyết ứng dụng vo trong hon cảnh cụ thể niềm xc tn của lý tr rằng phải yu mến, phải lm điều thiện v trnh điều dữ. Nguyn lý đầu tin ny của lý tr thực tiễn thuộc về luật tự nhin, n cn l nền tảng của luật tự nhin bởi v n biểu lộ nh sng nguyn thủy về điều thiện v về điều dữ, l nh phản chiếu của sự khn ngoan sng tạo nơi Thin Cha. Đấng tựa như một tia sng bất khả hủy diệt (Scintilla animae) chiếu ln trong lng mọi người. Thế nhưng, trong khi luật tự nhin nu bật những đi buộc khch quan v phổ qut của sự thiện lun lý, lương tm p dụng luật vo trường hợp đặc th, v như thế lương tm trở thnh một mệnh lệnh nội tại cho con người, một lời mời lm điều thiện trong những tnh huống cụ thể. Lương tm diễn đạt sự b buộc lun lý dưới nh sng của luật tự nhin: đ l b buộc phải lm điều m, bằng một động tc của lương tm, con người nhận biết như l một điều thiện được chỉ định ở đy v lc ny. Tnh chất phổ qut của luật v của b buộc khng bị xa bỏ, nhưng đng hơn được cng nhận, khi lý tr ấn định những cch p dụng luật v b buộc vo trong đời sống thường nhật. Xt cho cng phn quyết của lương tm khẳng định sự ph hợp của một hnh vi ứng xử cụ thể với lề luật: n pht biểu chuẩn mực cận kề nhất cho tnh chất lun lý của một hnh vi hữu ý, bằng cch thể hiện sự p dụng luật khch quan vo một trường hợp đặc th (105).

60. Cũng như chnh luật tự nhin v cũng như mọi nhận thức thực tiễn khc, phn quyết của lương tm mang một tnh chất truyền lệnh: con người phải hnh động bằng cch uốn mnh theo n. Nếu con người hnh động ngược lại với phn quyết ny hoặc nếu khng nắm chắc được sự chn chnh hoặc sự tốt lnh của một hnh vi no đ m con người vẫn cứ lm, lc đ con người sẽ bị chnh lương tm mnh ln n, lương tm vốn l chuẩn mực tức khắc cho đời sống lun lý của một con người. Sở dĩ yu cầu thc bch hợp lý ny c thể gi, sở dĩ tiếng ni của tương tm v những phn quyết của n c uy quyền, đ l bởi v chng bắt nguồn từ chn lý về thin dữ lun lý m lương tm được mời gọi đn nghe v by tỏ. Chn lý ny đ được thiết lập bởi Luật Thin Cha, l chuẩn mực phổ qut v khch quan cho đời sống lun lý. Phn quyết của lương tm khng định nghĩa luật nhưng xc nhận uy quyền của luật tự nhin v của lý tr thực tiễn tronng tương quan với Sự Thiện tối cao. Sự Thiện vốn thu ht con người m con người khng khng cự v v vốn bao gồm những giới răn m con người chấp nhận: Bởi vậy lương tm khng phải l nguồn độc lập v độc quyền để quyết định điều no l tốt điều no l xấu: ngược lại, nơi ci thm su của lương tm đ được ghi tạc một nguyn tắc tun phục đối với chuẩn mực khch quan, l chuẩn mực lm nền v tạo điều kiện cho cc quyết định của lương tm được ph hợp với cc giới răn v với cc lệnh cấm vốn l căn bản cho hnh vi ứng xử nhn linh (106).

61. Chn lý về sự thiện lun lý th do luật của lý tr pht biểu, cn phn quyết của lương tm th cng nhận lun lý ấy một cch thực thiễn v cụ thể v lương tm thc đẩy đảm nhận trch nhiệm về điều thiện đ lm v về điều dữ đ phạm: nếu con người phạm điều c, phn quyết cng minh của lương tm vẫn cứ tiếp tục l chứng nhn bn trong con người cho chn lý phổ qut của điều thiện, cũng như cho mnh lới nơi sự lựa chọn đặc th của con người. Thế nhưng bản co trạng của lương tm vẫn cn đ bn trong con người th cũng l để lm bảo chứng cho hy vọng v nhn i: vừa tố gic điều dữ sai phạm, n đồng thời gợi nhắc sự tha thứ cần phải van xin, điều thiện cần phải lm v nhn đức cần phải lun mi truy tm, với n sủng của Thin Cha.

Như thế, trong phn quyết thực tiễn của lương tm, với sự đặt định cho con người b buộc phải thực hiện một hnh vi nhất định no đ, người ta thấy vn mở mối dy lin kết giữa tự do v chn lý. Chnh đy l lý do giải thch tại sao lương tm lại tự tỏ lộ bằng những động tc, phn quyết l những động tc phản chiếu chn lý về điều thiện, chớ khng phải bằng những quyết định v đon. Mức độ trưởng thnh v mức độ trch nhiệm của cc phn quyết ny – v, ni cho cng, của con người vốn l chủ thể của cc phn quyết – được đo lường khng phải bằng tnh cảm giải thot của lương tm đối với chn lý khch quan, nhằm vượt sự tạo lập mạo nhận của cc quyết định tự thn, nhưng ngược lại, bằng cuộc thc bch truy tm chn lý v trong hnh động, bằng việc giao ph chnh mnh cho sự dẫn dắt của lương tm.

Tm kiếm chn lý v sự thiện

62. Đối với lương tm, với tư cch l phn quyết của một hnh vi, sai lầm lun l điều c thể. Cng Đồng đ viết: Lương tm nhiều khi lầm lạc v v tri bất khả khng, nhưng cũng khng v thế m n mất phẩm gi. Đy l điều khng thể ni khi con người t để tm truy tm điều chn điều thiện v khi thi quen phạm tội lm cho lương tm con người dần d trở nn hầu như m qung (107). Với chỉ c mấy hng nầy, Cng Đồng cung cấp cả một tổng luận cho học thuyết về lương tm sai lạc m Gio Hội đ điều nghin hằng bao thế kỷ.

Chắc hẳn để c được lương tm ngay lnh (1 Tm 1, 5) con người phải tm kiếm chn lý v phải phn đon dựa theo chn lý ấy. Như thnh Tng Đồ Phaol đ ni, lương tm phải được Cha Thnh Thần soi sng (x. Rm 9, 1): lương tm phải thuần khiết (2 Tm 1, 3): lương tm khng được dng mnh khe để ngụy tạo Lời Cha nhưng phải tỏ by chn lý một cch minh bạch (x. 2Cr 4, 2). Đng khc, cũng chnh thnh Phaol đ khuyn cc Kit hữu như sau: Anh em chớ uốn mnh theo thế gian ny, nhưng ước chi anh em hằng canh tn phn đon của anh em v nhờ đ anh em được biến đổi, anh em c thể phn định thnh ý Thin Cha, đu l điều tốt lnh, điều no lm đẹp lng Ngi, điều no l trọn hảo (Rm 12, 2).

Lời cảnh bo của thnh Phaol thc đẩy chng ta tỉnh thức, bởi v thnh nhn gip chng ta lưu ý rằng trong cc phn quyết của lương tm chng ta, lun lun c thể ẩn nu một khả thể lầm lạc. Lương tm khng phải l một thẩm phn bất khả ngộ: lương tm c thể sai lầm. Dẫu sao, sai lầm của lương tm c thể do sự v tri bất khả khng m ra, nghĩa l do sự v tri m chủ thể khng ý thức v chủ thể khng tự mnh thot khỏi được.

Cng Đồng nhắc nhở chng ta rằng, trong trường hợp m sự v tri bất khả khng l v tội, lương tm khng mất phẩm gi, bởi v mặc dầu trong thực tế lương tm đang uốn chng ta theo một chiều hướng lệch ra ngoi trật tự lun lý khch quan, n vẫn khng ngừng ln tiếng nhn danh chn lý về điều thiện m chủ thể được mời gọi truy tm một cch chn thnh.

63. Dầu thế no đi nữa, phẩm gi của lương tm vẫn lun lun bắt nguồn từ chn lý: trong trường hợp lương tm ngay thẳng, chn lý l chn lý khch quan được con người tiếp nhận cn trong trường hợp lương tm sai lầm; chng ta c ci m do sai lầm con người cho l đng l thật một cch chủ quan. Điều khng bao giờ c thể chấp nhận, đ l lẫn lộn sai lầm chủ quan về điều thiện lun lý với chn lý khch quan, l chn lý được đề nghị một cch hợp lý cho con người nhn danh cng đch của con người, đ cn l nhận định rằng gi trị lun lý của một hnh vi đ lm với lương tm chn thật v ngay thẳng th cũng ngang bằng với gi trị lun lý của một hnh vi đ lm theo phn quyết của một lương tm sai lạc (108). Điều dữ đ phạm do nguyn nhn l một sự v tri bất khả khng hoặc l một sai lầm v tội về phn quyết th c thể khng bị qui trch cho người vi phạm: thế nhưng, ngay cả trong trường hợp ấy, điều dữ vẫn cứ l điều dữ khng km, vẫn cứ l một sự xo trộn đối với chn lý về điều thiện. Ngoi ra điều thiện m khng được nhận thức th khng gp phần vo sự tiến bộ lun lý của con người thực thi điều thiện ấy: n khng mang lại cho con người một sự trọn hảo no v cũng khng gip con người quay về pha Sự Thiện tuyệt hảo. Bởi vậy, để cho chng ta khỏi cảm thấy mnh dễ dng được thanh minh nhn danh lương tm của mnh, chng ta nn suy niệm lời Thnh Vịnh ny: Nhưng no ai thấy r cc lầm lỗi của mnh? Xin ngi tha cc tội con phạm m chẳng hay (Tv 19/18, 13). C những lầm lỗi m chng ta khng nhận ra thế nhưng khng v vậy m chng bớt l lầm lỗi, bởi v chng ta khng chịu quay về pha nh sng (x. Ga 9, 39-41).

Với tư cch l phn quyết cụ thể tối hậu, lương tm đang tm phản bội phẩm gi của mnh khi n lầm lạc m khng v tội hoặc khi con người t để tm tm kiếm chn lý v sự thiện v khi thi quen phạm tội dần d lm cho lương tm con người trở nn hầu như m qung (109). Đức Gisu đ nhắm đến mối nguy lệch lạc lương tm khi Người đưa ra lời cảnh co ny: Con mắt l đn của thn xc: do đ, nếu mắt ngươi lnh mạnh, ton thn người sẽ rực sng. Cn nếu mắt ngươi bệnh hoạn, ton thn ngươi sẽ mờ tối. Vậy, nếu nh sng trong ngươi m lại l bng tối th hỡi i, sẽ chỉ ton l mờ mịt! (Mt 6, 22-23).

64. Lời Đức Gisu chng ta l vừa mới nhất trn đy cũng gip chng ta nhận ra lời mời đo luyện lương tm, lm cho lương tm trở thnh đối tượng của một cuộc hon cải lin lỉ để quay về pha chn lý v pha sự thiện. Chng ta cũng cần phải đọc bằng một cch thức tương tự lời của thnh phaol khuyn chng ta đừng uốn mnh theo kiểu suy tưởng của thế gian ny nhưng hy tự biến đổi chnh mnh bằng cch canh tn phn đon của chng ta (x. Rm 12, 2). Trong thực tế, chnh con tim hướng về Cha v hướng về sự yu quý điều thiện mới l nguồn mạch của những phn quyết chn thật của lương tm. Thật ra, để c thể phn định thnh ý Thin Cha, đu l điều tốt, điều no đẹp lng Ngi, điều no l trọn hảo (Rm 12, 2), dĩ nhin một cch chung chung sự hiểu biết Lề Luật l cần thiết nhưng chưa đủ: cần phải c một sự tương đồng bản chất giữa con người v sự thiện đch thực (110). Một sự tương đồng như thế bn rễ v pht triển trong những trạng thi nhn đức sẵn c nơi chnh con người: đức cẩn trọng v những nhn đức then chốt khc, v trước hết ba nhn đức đối thần tin cậy mến. Chnh trong chiều hướng ny m Đức Gisu đ ni: kẻ no lm theo chn lý th đến từ nh sng (Ga 3, 21).

Trong việc đo luyện lương tm, người Kit hữu được gip đỡ rất nhiều nhờ Gio Hội v nhờ Huấn Quyền Gio Hội, như Cng Đồng quả quyết: Trong việc huấn luyện lương tm, cc Kit hữu phải lun ch trọng đến gio lý thnh thiện v vững chắc của Gio Hội. Thật vậy, theo ý định của Cha Kit, Gio Hội cng gio l thầy dạy chn lý: nhiệm vụ của Gio Hội cng gio l by tỏ v giảng dạy một cch chnh qui chn lý l Đức Kit, đồng thời cng bố v xc nhận; nhn danh uy quyền của mnh những nguyn tắc thuộc cấp trật lun lý xuất pht từ nơi chnh bản chất của con người (111). Được vận dụng để đưa ra những cng bố về cc vấn đề lun lý, uy quyền của Gio Hội khng lm thiệt hại tự do lương tm của cc Kit hữu cht no: một đng, tự do lương tm khng bao giờ l một tự do được nng ln khỏi chn lý, nhưng tự do lun lun v chỉ ở trong chn lý: đng khc. Huấn Quyền khng cung cấp cho lương tm Kit hữu những chn lý xa lạ với đương sự, m ngược lại nu dẫn những chn lý m lương tm vốn đ sở hữu trước rồi bằng cch ph by những chn lý ấy khởi đi từ hnh vi đầu tin l đức tin. Gio Hội lun hiến thn v chỉ hiến thn để phục vụ lương tm, gip cho lương tm đứng bị chao đảo trước mọi luồng gi chủ thuyết mặc cho sự lừa đảo của người đời (x. Ep 4, 14) v đứng lệch hướng ra khỏi chn lý về sự thiện của con người nhưng, nhất l trong những vấn đề gy cấn nhất, đạt được chn lý một cch chắc chắn v ở lại trong chn lý.

 

III. LỰA CHỌN CƠ BẢN V NHỮNG HNH VI ỨNG XỬ CỤ THỂ

Ước chỉ tự do đừng nn cớ cho người ta thỏa mn xc thịt (Gl 5, 13).

65. Mối quan tm đặc biệt mnh liệt m ngy nay người ta dnh cho tự do đ đưa nhiều chuyn gia, trong cc nh khoa học nhn văn v thần học, đến chỗ pht huy một cng trnh phn tch thấu đo hơn về bản chất của tự do v về những guồng năng động của n. Người ta c lý do chnh đng để nu dẫn rằng tự do khng chỉ hệ tại chỗ lựa chọn hnh động đặc th ny hoặc hnh động đặc th kia; nhưng, ở nơi tm điểm của những lựa chọn, tự do l một quyết định về chnh mnh v l một phương cch để hướng dẫn đời sống mnh theo Sự Thiện hoặc chống lại Sự Thiện, theo Chn Lý hoặc chống lại Chn Lý, v ni cho cng, theo Thin Cha hoặc chống lại Thin Cha Người ta c lý khi nhấn mạnh tầm quan trọng hng đầu của một số lựa chọn đ tạo hnh dạng cho ton bộ đời sống lun lý của một con người v đ lm thnh ci gọi l khun khổ trong đ sẽ được đặt vo v sẽ được pht triển những lựa chọn thường nhật v đặc th khc.

Dầu vậy, một số tc giả đề nghị một cuộc duyệt xt triệt để hơn về mối tương quan giữa con người với những hnh vi của con người. Họ ni tới một thứ tự do cơ bản, su rộng hơn tự do lựa chọn v khc biệt với tự do lựa chọn; nếu khng coi trọng tự do cơ bản ny, người ta sẽ khng hiểu được v sẽ khng đnh gi được cho chuẩn xc những hnh vi nhn linh. Theo cc tc giả ny, trong đời sống lun lý, vai-tr-mấu-chốt sẽ phải qui gn cho một lựa chọn cơ bản, đ được thực hiện do tự do cơ bản l tự do nhờ đ con người quyết định cho chnh mnh một cch bao qut, khng do một lựa chọn chnh xc, c ý thức v c suy nghĩ, nhưng một cch siu nghiệm v phi luận đề (transcendantale, athmatique). Những hnh vi đặc th pht xuất từ sự đối chọi ấy sẽ chỉ l những mưu toan phiến diện v khng bao giờ đủ tnh chất ấn định để diễn đạt tự do cơ bản; chng ta sẽ chỉ l những dấu hiệu hoặc triệu chứng.

Đối tượng trực tiếp của cc hnh vi ny, theo ý kiến họ, khng phải l sự thiện tuyệt đối – đối diện với sự thiện ny l tự do của con người sẽ được biểu lộ trn một cấp độ siu nghiệm – nhưng l những điều thiện đặc th – hoặc cn l những điều thiện quy phạm (catgoriels). Cn nữa, theo ý kiến của một vi thần học gia, khng một điều thiện no trong cc điều thiện ny l phiếm diện tự bản chất, sẽ c thể ấn định tự do của con người xt như l ngi vị ton vẹn cho dẫu con người chỉ c thể biểu lộ lựa chọn cơ bản của mnh bằng cch hoặc thực hiện hoặc từ chối những điều thiện ấy.

Từ đ người ta đi đến chỗ du nhập một sự phn biệt giữa lựa chọn cơ bản với những lựa chọn hnh vi ứng xử cụ thể c suy tnh: nơi một số tc giả, sự phn biệt ny mặc hnh thi của một sự tch la. Khi họ minh thị dnh những khi niệm thiện, dữ lun lý cho chiều kch siu nghiệm vốn chỉ thuộc về lựa chọn cơ bản, khi họ chỉ thẩm định l đng hoặc l sai những lựa chọn hnh vi ứng xử đặc th giữa đời l những lựa chọn lin quan tới cc mối quan hệ giữa con người với chnh mnh, với tha nhn v với thế giới sự vật. Như vậy, dường như ở giữa lng hoạt động nhn linh được phc họa ln một sự nạn rứt giữa hai mức độ lun lý: một đng, cấp trật thiện dữ l cấp trật lệ thuộc vo ý ch v, đng khc, những hnh vi ứng xử nhất định chỉ được phn đon l đng hay sai về mặt lun lý ty theo một php tnh kỹ thuật về mối tương quan giữa những điều thiện v những điều dữ tiền chn lý hoặc vật lý, l những hậu quả thiết thực của hnh động. Người ta cn đi xa hơn đến độ cho rằng một hnh vi ứng xử cụ thể, ngay cả khi được lựa chọn một cch tự do, chẳng qua chỉ l một tiến trnh thuần ty vật lý v khng cần xt hnh vi ấy theo những tiu chuẩn đặc trưng của hnh vi nhn linh. Từ đ, người ta dnh quyền thẩm định con người về mặt lun lý đng nghĩa cho lựa chọn cơ bản, khng p dụng hon ton cũng khng p dụng từng phần sự lựa chọn cơ bản ấy vo trong sự lựa chọn của những hnh vi đặc th v của những ứng xử cụ thể.

66. Khng cn phải nghi ngờ rằng học thuyết lun lý Kit gio với những cội rễ Thnh Kinh khng hề coi nhẹ tầm quan trọng đặc biệt của lựa chọn cơ bản l lựa chọn mặc phẩm chất cho đời sống lun lý v đưa tự do dấn bước một cch triệt để trước mặt Thin Cha. Ở đy l sự lựa chọn của đức tin, của sự tun phục đức tin (x. Rm 16, 26), nhờ đ con người ph thc trọn vẹn chnh mnh một cch tự do cho Thin Cha trong một thi độ bi phục hon ton về cả tr tuệ lẫn ước muốn (112). L đức tin hnh động nhờ đức i (Gl 5, 6), đức tin ny đến từ trung tm con người, đến từ ci lng con người (x. Rm 10, 10), v khởi từ đ n được mời gọi sinh hoa kết tri nơi những việc lm (x. Mt 12, 33-35); Lc 6, 43-45; Rm 8, 5-8; Gl 5, 22). Trong Thập Giới, nơi phần đầu của cc giới răn khc, người ta đọc thấy lời diễn tả cơ bản ny: Ta l Cha v l Thin Cha ngươi (Xh 20, 2): lời diễn tả ấy mặc ý nghĩa chnh tng cho cc mệnh lệnh đặc th, vốn đa tạp v khc nhau, đồng thời tạo cho nền lun lý Giao Ước c được tnh nhất qun, sự thống nhất v chiều su. Lựa chọn cơ bản của t-ra-en lc bấy giờ lin quan tới giới răn cơ bản (x. Gs 24, 14-25; Xh 19, 3-8; Mk 6, 8). Nền lun lý của Tn Ước cũng vậy, cũng được chủ động bởi lời mời cơ bản của Đức Gisu l lời mời nối bước theo Người – như Người đ từng ni với người thanh nin: Nếu anh muốn nn trọn hảo hy đến v hy nối gt theo Ta (Mt 19, 21) –: đp lại lời mời ny, người mn đệ đi vo một quyết định v một lựa chọn triệt để. Cc dụ ngn về kho tng v về vin ngọc quý trong Tin Mừng, với chi tiết kể rằng để đnh đổi người ra bn hết mọi thứ người ta c, l những hnh ảnh hng hồn v sống động về tnh chất triệt để v v điều kiện của sự lựa chọn m Vương Quốc Thin Cha đi buộc. Tnh chất tuyệt đối của lựa chọn theo chn Cha Gisu được Người diễn tả một cch kỳ diệu bằng những lời ny: Ai muốn cứu mạng sống mnh th sẽ mất mạng sống, nhưng ai mấy mạng sống mnh v Thầy v v Tin Mừng th sẽ cứu được mạng sống (Mc 8, 35).

Lời mời hy đến v nối gt theo Ta của Đức Gisu nu r mức độ tự do cao cả được ban cho con người v đồng thời lm chứng cho chn lý v cho sự cần thiết của những hnh vi đức tin v của những quyết định c thể ni xuất pht từ lựa chọn cơ bản. Trong ngn từ của thnh Phaol, chng ta cũng nhận thấy tự do nhn linh được tn dương một cch tương tự: Anh em thn mến, anh em đ được mời gọi bước vo tự do (Gl 5, 13). Nhưng Thnh Tng Đồ đ lập tức thm vo một lời cảnh co nghim nghị: Dầu vậy, ước chi tự do đừng nn cớ cho người ta thỏa mn xc thịt. Ở đy người ta nghe vọng lại điều thnh nhn đ ni trước đ: Chnh v để cho chng ta cứ được mi tự do m Đức Kit đ giải thot chng ta. Vậy anh em hy đứng vững b đứng khp mnh dưới ch n lệ (Gl 5, 1). Thnh Tng Đồ Phaol mời gọi chng ta tỉnh thức: tự do lun phải nhận chịu mối đe dọa trở thnh n lệ. V đy đng l lc dấn bước vo đức tin (faire un acte de foi) – hiểu theo nghĩa lựa chọn cơ bản – hnh vi ny khc biệt với sự lựa chọn những hnh vi đặc th, theo cch ni của những quan điểm đ nu trn đy.

67. Cc quan điểm ny mu thuẫn với gio huấn Thnh Kinh trong đ lựa chọn cơ bản được quan niệm như l một lựa chọn đch thực của tự do v mối dy lin kết chặt chẽ giữa lựa chọn ấy với những hnh vi đặc th được thiết lập. Nhờ lựa chọn cơ bản của mnh, con người c khả năng định hướng cuộc đời mnh v, với sự trợ gip của n sủng, tiến về cng đch của mnh, tun theo lời mời gọi thần thing. Khả năng ny được thể hiện một cch thiết thực trong những lựac chọn đặc th lin quan tới những hnh vi nhất định, những lựa chọn m do đ con người khp mnh một cch sng suốt vo thnh ý, vo sự khn ngoan v vo Lề Luật của Thin Cha. Như vậy cần phải khẳng định rằng điều m người ta gọi l lựa chọn cơ bản lun được khởi động nhờ vo những lựa chọn c ý thức v tự do, trong mức độ m lựa chọn cơ bản ấy khc với một ý hướng chung chung v bởi đ một ý hướng chưa nhất định đủ để bắt tự do phải mặc lấy một hnh thi đi dấn bước. Đch thị l v thế m lựa chọn cơ bản bị phủ quyết khi con người đưa đẩy tự do vo những lựa chọn ý thức đối nghịch với n, trong những điều nghim trọng xt theo lun lý.

Tch rời lựa chọn cơ bản ra khỏi những hnh vi ứng xử cụ thể chẳng khc no chối bỏ tnh ton vẹn bản thể hoặc tnh thống nhất ngi vị tc nhn lun lý, hồn v xc. Nếu một lựa chọn cơ bản m khng cn biết đến những tiềm năng được n đẩy vo hnh động v những hnh thức ẩn định qua đ n được biểu lộ, lựa chọn cơ bản ấy khng cư xử phải lẽ đối với cứu cnh hợp lý nội thuộc trong hnh động con người v trong từng lựa chọn c suy tnh. Thực ra, tnh chất lun lý của cc hnh vi nhn linh khng thể chỉ suy diễn từ ý hướng, từ định hướng hoặc từ lựa chọn cơ bản, hiểu theo nghĩa một ý hướng khng hm chứa những dấn thn ẩn định hẳn hoi hoặc khng được nối tiếp bằng một nỗ lực thiết thực trong cc lnh vực khc nhau của đời sống lun lý. Một khi người ta bỏ qua chớ khng kiểm chứng xem một lựa chọn hnh vi cụ thể sng suốt c ph hợp hoặc tri ngược hay khng với phẩm gi v với ơn gọi ton vẹn của con người, người ta khng thể phn đon về tnh chất lun lý được nữa. Lựa chọn no cũng nhất thiết v lun lun bao hm sự kiện ny l ý ch sau khi suy tnh phải quy chiều về cc điều thiện điều dữ m luật tự nhin để xướng như l những điều thiện phải truy tm v những điều dữ phải trnh. Nếu xem xt cc mệnh lệnh lun lý tch cực, người ta phải thận trọng m lun lun kiểm chứng sự kin vững của chng trong một tnh huống nhất định, trong khi vẫn ch trọng một tnh huống nhất định, trong khi vẫn ch trọng, chẳng hạn, đến những bổn phận khc c thể quan trọng hơn hoặc cấp bch hơn. Cn những mệnh lệnh tiu cực, nghĩa l những mệnh lệnh ngăn cấm một số hnh vi hoặc một số cch ứng xử cụ thể như l xấu tự chng, th khng chấp nhận một trường hợp ngoại lệ no hợp php cả: cc mệnh lệnh tiu cực ny khng chừa lại một khoảng khng gian no l c thể chấp nhận xt theo lun lý để tạo ra một ấn định tri ngược no bất cứ. Một khi đ cng nhận nơi cc sự kiện sự thẩm định lun lý về một hnh động bị ngăn cấm do một qui tắc phổ qut, hnh vi duy nhất tốt lnh về mặt lun lý sẽ hệ tại chỗ tun phục luật lun lý v trnh khng lm điều m luật ấy ngăn cấm.

68. Thiết tưởng nn thm một ghi nhận quan trọng nữa mang chiều kch mục vụ. Cứ theo cch lý giải của những lập trường vừa nu trn đy, con người c thể cậy dựa vo lựa chọn cơ bản để cứ mi trung thnh với Thin Cha, khng ty thuộc vo sự ph hợp hay khng ph hợp của cc lựa chọn khc v của cc hnh vi c suy tnh của mnh với cc chuẩn mực lun lý hoặc với cc quy tắc lun lý đặc loại. Do đ c một sự lựa chọn đức i ngay từ đầu, con người sẽ c thể cứ mi tốt lnh về mặt lun lý, kin tr trong n sủng của Thin Cha, đnh được ơn cứu độ, cho dẫu một số hnh vi hnh xử cụ thể đối nghịch một cch c suy tnh v nghim trọng với cc giới răn của Thin Cha m Gio Hội lun mi giảng dạy.

Thật ra, con người c hư hao th khng phải chỉ v bất trung đối với lựa chọn cơ bản, cho dầu nhờ lựa chọn ny m con người đ ph thc chnh mnh trọn vẹn v tự do cho Thin Cha (113). Với mỗi tội trọng sa vo một cch cố tnh, con người xc phạm Thin Cha l Đấng đ ban tặng Lề Luật v con người biến mnh thnh c tội đối với ton thể Lề Luật (x. Gc 2, 8-11); dầu vẫn ở trong đức tin, con người mất ơn thnh ha, đức i v chn phc vĩnh cửu (114). Cng Đồng Trent dạy: Ơn cng chnh ha sau khi đ lnh nhận vẫn c thể bị đnh mất chẳng những do tội bất trung lm liều tan cả đến đức tin nhưng cn do bất cứ tội trọng no khc (115).

Tội trọng v tội nhẹ

69. Như chng ta vừa nhận xt những ghi nhận về lựa chọn cơ bản đ dẫn một số nh thần học đến chỗ đem cả sự phn biệt cổ truyền giữa tội trọng (pch mortel) với tội nhẹ (pch vniel) ra duyệt xt lại một cch sau xa. Cc nh thần học ấy nhấn mạnh rằng sự chống đối lề luật Thin Cha vốn lam mất ơn thnh ha – v sẽ dẫn đến hnh phạt vĩnh viễn nếu người ta chết trong tnh trạng tội lỗi ny – chỉ c thể l thnh quả do một hnh vi lm cho ton bộ ngi vị con người nhập cuộc, nghĩa l hnh vi lựa chọn cơ bản. Theo họ tội trọng, l tội tch biệt con người khỏi Thin Cha, một sự từ chối nằm trn một lần mức tự do. Khng thể đồng ha với một sự lựa chọn c suy tnh v khng thể thực hiện khi thật sự nhận biết cc sự kiện. Hiểu như thế th cũng theo họ, thật kh chấp nhận, t ra về mặt tm lý, sự kiện một Kit hữu ước muốn lun mi hiệp nhất với Đức Gisu Kit v với Gio Hội Người m lại sa vo cc tội trọng dễ dng v thường xuyn đến như thế, nhe nhiều lc chinh chất thể của cc hnh vi người ấy cho thấy. Đồng thời cũng thật kh chấp nhận rằng trong một hạn kỳ ngắn ngủi như vậy, m con người lại c thể ph vỡ tận cng mối dy hiệp thng của mnh với Thin Cha để rồi sau đ quay trở lại với Người trong tinh thần thống hối chn thnh. V thế, theo họ, cần phải đnh gi mức độ trầm trọng của tội bằng cch nhn vo mức độ nhập cuộc của tự do khi con người thực hiện hnh vi, hơn l để ý tới chất thể của hnh vi ấy.

70. Tng Huấn hậu cng đồng Reconciliatio et poenitentia đ lập lại tầm quan trọng v tnh hiện đại trường tồn của sự phn biệt giữa tội trọng v tội nhẹ, theo truyền thống của Gio Hội, V Thượng Hội Đồng Gim Mục 1983, từ đ pht xuất Tng Huấn ny, đ khng những ti khẳng định điều đ được Cng Đồng Trent cng bố về sự hiện hữu v về bản chất của tội trọng v tội nhẹ, nhưng cn muốn nhắc nhở rằng được kể l tội trọng những tội no c đối tượng l một chất thể nghim trọng v hơn nữa, sai phạm trong tnh trạng ý thức hon ton v với sự ưng thuận c suy tnh (116).

Lời cng bố của Cng Đồng Trent khng chỉ xt đến chất thể nghim trọng của tội trọng, nhưng cn nhắc đến ý thức trn đầy v sự ưng thuận c suy tnh như l điều kiện cần thiết để thnh tội trọng. Lại nữa, trong thần học lun lý cũng như trong thực hnh mục vụ, ai ai cũng nhận thấy c những trường hợp một hnh vi no đ tuy trầm trọng xt theo chất thể nhưng vẫn khng thnh tội trọng v thiếu nhận thức đầy đủ hoặc thiếu ưng thuận c suy tnh của người vi phạm. Đng khc cần phải trnh giản lược tội trọng thnh một hnh vi biểu lộ một lựa chọn cơ bản chống lại Thin Cha, theo kiểu ni thng dụng hiện nay, hiểu l một sự khinh khi Thin Cha v tha nhn bộc lộ ra bn ngoi một cch lộ liễu hoặc l một sự chối từ tnh yu mặc nhin bn trong v khng ý thức. Cứ sự, cn l tội trọng khi con người lựa chọn một điều no xo trộn trầm trọng với ý thức v ước muốn, cho dầu v bất cứ lý do no. Thật ra, một lựa chọn như thế tự n bao gồm một sự khinh khi đối với Luật Thin Cha, một sự chối từ tnh yu m Thin Cha dnh cho nhn loại v cho ton thể cng trnh tạo dựng: con người rời xa Thin Cha v đnh mất lng yu thương. Định hướng cơ bản bởi đ c thể bị biến đổi tận căn do những hnh vi đặc th. Chắc chắn c thể c những tnh huống rất phức tạp v đen tối trn bnh diện tm lý, những tnh huống tạo khng t ảnh hưởng trn trch nhiệm chủ quan của tội nhn. Thế nhưng, từ những ghi nhận thuộc cấp trật tm lý, người ta khng thể chuyển sang việc tạo ra một phạm tr thần học, chẳng hạn gọi đ l lựa chọn cơ bản, hiểu theo một nghĩa m, trn bnh diện khch quan, n sẽ thay đổi quan niệm cổ truyền về tội trọng hoặc sẽ đặt nghi vấn về quan niệm cổ truyền ấy (117).

Như thể tch rời lựa chọn cơ bản ra khỏi những lựa chọn c suy tnh nhắm tới những hnh vi nhất định – tự chng l đảo đin hoặc do những han cảnh ny nọ m bị xảo trộn – l những hnh vi sẽ ko lựa chọn cơ bản vo cuộc, người ta sẽ đi tới hậu quả ny l khinh ch gio lý cng gio về tội trọng: Cng với ton thể truyền thống Gio Hội, chng ti gọi l tội trọng hnh vi m bởi đ một con người, với ý thức v tự do, chối từ Thin Cha, chối từ Lề Luật Thin Cha, chối từ giao ước tnh yu m Thin Cha đề nghị với mnh, v ưa thch quay về với chnh mnh, quay về với thực tại tạo thnh v hữu hạn no đ, quay về với một điều g đ được lại với thnh ý Thin Cha (conversio ad creaturam). Điều ny c thể xảy ra một cch trực tiếp v lộ liễu, như trong những tội sủng bi ngẫu tượng, bội gio, v thần, hoặc, bằng một cch thức rồi cũng qui về đ, như trong tất cả những vụ bất tun đối với cc giới răn Thin Cha lin quan đến chất thể nghim trọng (118).

 

IV. HNH VI LUN LÝ

Cứu cnh luận v thuyết duy cnh

71. Được thể hiện một cch su xa v sống động trong lương tm lun lý, mối tương quan giữa tự do con người v Luật Thin Cha được ph diễn v cụ thể ha trong cc hnh vi nhn linh. Chnh nhờ cc hnh vi của mnh m con người kiện ton chnh mnh với tư cch l người, được mời gọi kiếm tm Tạo Ha của mnh một cch hồn nhin v, một khi tự do gắn b với Ngi, đạt tới sự trọn hảo vin mn v chn phc (119).

Cc hnh vi nhn linh l những hnh vi lun lý bởi v chng biểu lộ v ấn định lng tốt hoặc mnh lới của con người chủ thể cc hnh vi ấy (120). Chng khng chỉ gy nn một sự đổi thay tnh trạng của những yếu tố bn ngoi con người, nhưng, với tnh cch đ được chọn lựa một cch c suy tnh, chng thẩm định con người đ thực hiện chng về mặt lun lý v chng bộc lộ diện mạo thing ling thm su của con người hnh động, như thnh Grgri thnh Nysse đ ghi nhận một cch sắc nt: Tất cả mọi hữu thể lụy phục biến dịch đều khng bao giờ đồng nhất với chnh mnh, chng khng ngừng chuyển từ một tnh trạng ny sang một tnh trạng khc do một sự đổi thay lun dẫn tới hậu quả hoặc tốt hoặc xấu []. Lại nữa, lm mồi cho đổi thay nghĩa l khng ngừng sinh hạ []. Nhưng sinh hạ ở đy khng phải do một sự can thệp từ bn ngoi, như trong trường hợp những hữu thế thể thể lý []. Sinh hạ ở đy l hệ quả của một lựa chọn tự do v do vậy, hiểu theo một nghĩa no đ, chng ta lm cha lm mẹ cho mnh, bởi v chng ta tự tc tạo chnh chng ta nn như chng ta muốn v bởi v nhờ ý ch của chng ta, chng ta khun đc chnh mnh theo mẫu mực m chng ta chọn (121).

72. Tnh chất lun lý của cc hnh vi được định nghĩa bởi mối tương quan giữa tự do con người v sự thiện chnh tng. Sự thiện ấy được thiếp lập như l Luật vĩnh cửu, nhờ Khn Ngoan của Thin Cha, Đấng điều phối mọi hữu thể, theo cng đch của n: Luật vĩnh cửu ny được nhận thức nhờ vo lý tr tự nhin của con người (đy l luật tự nhin). Luật ấy cũng được nhận thức một cch trọn vẹn v hon hảo, nhờ vo mạc khải siu nhin của Thin Cha (by giờ n được gọi l Luật Thin Cha). Hnh động l tốt xt theo lun lý khi những lựa chọn tự do ph hợp với sự thiện đch thực của con người v biểu lộ định hướng hữu ý của con người trn đường tiến về cng đch tối hậu l chnh Thin Cha: Ngi l sự thiện tối thượng, nơi đ con người tm gặp hạnh phc vin mn v ton vẹn. Với cu hỏi mở đầu Ti phải lm điều tốt no để đạt được sự sống vĩnh cửu (Mt 19, 16), cuộc đối thoại giữa người thanh nin v Đức Gisu tức khắc đưa ra nh sng mối lin kết chủ yếu giữa gi trị lun lý của một hnh vi với cng đch tối hậu của con người. Trong lời giải đp. Đức Gisu lấy niềm xc tn của người đối thoại lm bằng chứng: thực hiện những hnh vi tốt theo như đi hỏi của Đấng duy nhất Tốt lnh, đ l điều kiện tất yếu v l đường dẫn tới chn phc vĩnh cửu: Nếu anh muốn tiến vo sự sống, hy tun giữ cc giới răn (Mt 19, 17). Cu trả lời của Đức Gisu v việc nại tới cc giới răn cn tỏ r rằng con đường dẫn đến cng đch được đnh dấu bằng sự tn trọng cc điều luật thần thing l những điều luật bảo ton sự thiện nhn linh. Chỉ c hnh vi ph hợp với sự thiện mới c thể l đường dẫn đến sự sống.

Phối tr hnh vi nhn linh một cch hợp lý hướng về sự thiện trong chn lý của n, truy tm một cch hữu ý sự thiện m lý tr đ thu nhận, đ l những g dệt nn tnh chất lun lý. Từ đ, hnh động nhn linh khng thể được đnh gi l tốt về mặt lun lý chỉ v n thch hợp để đạt tới một mục đch đang theo đuổi no đ, hoặc chỉ v ý hướng của chủ thể l tốt (122). Hnh động l tốt về mặt lun lý khi n nu dẫn v biểu lộ rằng con người, với ý ch của mnh, tự điều phối mnh hướng về cng đch tối hậu v khi hnh động cụ thể ph hợp với sự thiện nhn linh như sự thiện ấy đ được lý tr nhận biết trong chn lý của n. Nếu đối tượng của hnh động cụ thể khng ăn khớp với sự thiện đch thực của con người th sự lựa chọn hnh động ấy sẽ lm cho ước muốn của chng ta v cả hữu thể của chng ta trở nn xấu xt theo lun lý v như thế n sẽ lm cho chng ta nn mu thuẫn với cng đch tối hậu, với Sự Thiện tối cao, l chnh Thin Cha.

73. Nhờ Mạc Khải của Thin Cha v nhờ đức tin, người Kit hữu nghiệm biết tnh chất mới mẻ l tnh chất đnh dấu chiều kch lun lý của cc hnh vi: cc hnh vi được mời gọi diễn đạt sự ph hợp hoặc bất ph hợp với phẩm gi v với ơn gọi đ được ban cho người Kit hữu nhờ n sủng, trong Đức Gisu Kit v trong Thần Tr của Người, người Kit hữu l một tạo vật mới, l con ci Thin Cha v bằng những hnh vi của mnh, người ấy by tỏ sự tương tự hoặc bất tương tự của mnh với hnh ảnh của Cha Con, l anh cả của đn em đng đảo (Rm 8, 29), người ấy sống trong sự trung tn hoặc bất trung với ơn của Cha Thnh Thần, v người ấy đn mở hoặc khp chặt trước sự sống vĩnh cửu, trước mối hiệp thng trong thị kiến, trong tnh yu v trong hạnh phc với Thin Cha l Cha, Con v Thnh Thần (123). Thnh Cyril thnh Alexandria viết: Đức Kit khun đc chng ta theo hnh ảnh Người đến độ lm cho những đường nt đặc biệt nơi bản tnh Thin Cha của Người chi ngời nơi chng ta nhờ sự thnh ha, nhờ sự cng chnh v sự ngay thẳng của một đời sống ph hợp với nhn đức []. Như vậy, vẻ đẹp của hnh ảnh bất khả snh v chiếu rạng rỡ trn chng ta l những kẻ ở trong Đức Kit v l những kẻ nhờ việc lm m trở thnh những con người thiện hảo (124).

Hiểu như thế, đời sống lun lý sở hữu một tnh chất cứu cnh luận cơ bản, bởi v n hệ tại chỗ qui hướng cc hnh vi nhn linh một cch c suy tnh về Thin Cha, Đấng l sự thiện tột bậc v l cng đch (telos) tối hậu của con người. Một lần nữa, cu hỏi của người thanh nin chứng nhận điều đ: Ti phải lm điều tốt no để đạt được sự sống vĩnh cửu? Thế nhưng việc qui hướng về cng đch tối hậu khng phải l một chiều kch chủ quan chỉ ty thuộc vo ý hướng. N giả thiết từ trước rằng cc hnh vi c thể tự chng được phối tr cho cng đch ấy, với tư cch chng ph hợp với sự thiện lun lý chnh tng của con người, l sự thiện được bảo ton nhờ cc giới răn. Đ l điều Đức Gisu nhắc nhở trong cu trả lời của Người cho người thanh nin: Nếu anh muốn tiến vo sự sống, hy tun giữ cc giới răn (Mt 19, 17).

Đy hiển nhin phải l một sự định hướng hợp lý v tự do, c ý thức v c suy tnh, một sự định hướng qua đ con người chịu trch nhiệm về những hnh vi của mnh v phục tng phn quyết của Thin Cha. Đấng l thẩm phn cng chnh v tốt lnh, thưởng điều thiện v phạt điều dữ, như lời Thnh Tng Đồ Phaol nhắc nhở chng ta: Bởi lẽ tất cả chng ta đều phải cng khai trnh diện trước ta n của Đức Kit, để cho mỗi người lnh nhận điều mnh đng hưởng do cng nghiệp đ lm hoặc phc hoặc tội, khi mnh cn ở trong thn xc (2 Cr 5,10).

74. Thế những việc thẩm định hnh động tự do của con người về mặt lun lý ty thuộc vo đu? Do đu m việc định hướng cc hnh vi nhn linh được bảo đảm? Do ý hướng của chủ thể hnh động, do những hon cảnh v cch ring do những hệ quả – chung quanh hnh động, hay do chnh đối tượng của hnh vi?

Đ l điều m người ta c truyền thống gọi l vấn đề nguồn cội của đời sống lun lý. Trong những thập nin vừa qua, đứng trước vấn đề ny, đ c nhiều chiều hướng mới mẻ về văn ha v thần học xuất hiện hoặc lặp đi lặp lại, những chiều hướng ny đi hỏi một phn định nghim minh về pha Huấn Quyền Gio Hội.

Một số lý thuyết lun lý (thories thiques) gọi l thin về cứu cnh luận (tlologiques) tỏ ra quan tm đến sự ph hợp của cc hnh vi nhn linh với những cng đch m tc nhn đeo đuổi v với những gi trị m tc nhn thừa nhận. Những tiu chuẩn để đnh gi sự kin vững của một hnh động về mặt lun lý c được l nhờ thế cn bằng của những điều thiện (la pondration des biens) lun lý hoặc tiền lun lý phải đạt tới v của những gi trị tương ứng phi lun lý hoặc tiền lun lý phải tn trọng. Đối với một số tc giả, hnh vi ứng xử cụ thể sẽ ngay chnh hoặc sai lầm ty theo n c thể hay khng thể dẫn tới một tnh trạng thật sự tốt hơn cho những con người lin hệ: hnh vi ứng xử sẽ ngay chnh trong mức độ n tạo được tối đa điều thiện v gy ra tối thiểu điều dữ.

Đi theo chiều hướng ny, nhiều lun lý gia cng gio chủ trương giữ khoảng cch với khuynh hướng duy lợi ch v khuynh hướng thực dụng l những khuynh hướng cho rằng để phn đon tnh chất lun lý của cc hnh vi nhn linh th khng cần nại tới cng đch tối hậu thực sự của con người. Cc lun lý gia ny ch trọng tới sự cần thiết phải tm ra những cch biện luận hợp lý ngy cng nhất qun hơn để biện minh cho những đi buộc v để lập ra những chuẩn mực cho đời sống lun lý. Cng việc tm ti ny l chnh đng v cần thiết, bởi v cấp trật lun lý m luật tự nhin ấn định l cấp trật, do tự định nghĩa, lý tr con người c thể đạt thấu. Ngoi ra, đ l một cuộc tm ti tương ứng với những đi buộc của sự đối thoại v sự hợp tc với những người khng cng gio v những người khng tin, đặc biệt trong cc x hội đa nguyn.

 75. Thế những, trong khi nỗ lực soạn thảo một nền lun lý ph hợp với lý tr như thế – đi khi v thế m được gọi l lun lý tự lập – người ta gặo phải những giải php sai lầm đặc biệt gắn liền với một sự hiểu biết khng thỏa đng về đối tượng của hnh động lun lý. Một số lun lý gia khng coi trọng cho đủ sự kiện ny l ý ch được hm chứa trong những lựa chọn cụ thể m ý ch tc động: những lựa chọn ny ấn định tnh chất tốt lnh về mặt lun lý của ý ch, ấn định chiều hướng của ý ch trn đường tiến về cng đch tối hậu của con người. C những nh lun lý khc khởi đi từ một quan niệm về một thứ tự do vốn gạt bỏ những điều kiện thiết thực gip cho tự do được thi thố, được qui chiếu một cch khch quan về chn lý của sự thiện v được ấn định do những hnh vi ứng xử cụ thể. Như thế, theo cc lý thuyết ny, ý ch tự do sẽ khng phải lụy phục những b buộc nhất định xt về mặt lun lý, cũng khng được đặc luyện do những lựa chọn, cho dầu vẫn cứ chịu trch nhiệm về những hnh vi của mnh v về những hậu quả do cc hnh vi ấy. Bởi đ, thuyết duy cứu cnh ny, với tư cch l phương php khm ph chuẩn mực lun lý – theo những hạn từ v những tương cận vay mượn nơi cc tro lưu tư tưởng khc nhau – c thể tiếp nhận thm danh hiệu thuyết duy hậu quả hoặc thuyết cn xứng (consquentialisme/proportionalisme). Thuyết duy hậu quả chủ trương định nghĩa cc tiu chuẩn ngay chnh của một hnh vi nhất định bằng cch khởi đi v chỉ cần khởi đi từ một bi tnh về những hậu quả c thể tin liệu của việc thể hiện một lựa chọn. Thuyết cn xứng, trong khi tạo thế cn bằng với nhau giữa gi trị của cc hnh vi v những thiện đeo đuổi, lại đng ra quan tm tới sự cn xứng giữa những hiệu quả tốt với những hiệu quả xấu của cc hnh vi, nhắm tới sự thiện cao cả hơn hoặc sự dữ suy yếu hơn vỗn trong thực tế c thể xảy ra vo một tnh huống đặc th.

Cc lý thuyết lun lý duy cứu cnh thuyết duy hậu quả, thuyết cn xứng một đng cng nhận rằng những gi trị lun lý được lý tr v Mạc Khải chỉ dẫn, đng khc lại cho rằng khng bao giờ c thể pht biểu một lệnh cấm tuyệt đối về những hnh vi ứng xử sẽ đối nghịch lại những gi trị ấy, trong mọi hon cảnh v trong tất cả cc nền văn ha. Chủ thể hnh động, theo cc lý thuyết ấy chắc chắn sẽ c bổn phận đạt tới những gi trị mưu tm, nhưng dưới hai phương tiện: quả thế, cc gi trị hay cc điều thiện đ nhập cuộc trong một hnh vi nhn linh th sẽ một đng thuộc cấp trật lun lý (nếu, xt đến những gi trị thuần lun lý như tnh yu Thin Cha, đức i đối với tha nhn, cng bằng v.v) v đng khc thuộc cấp trật tiền lun lý, cn gọi l phi lun lý, chất thể hay hữu thể (nếu xt đến những lợi ch hay những bất tiện gy nn cho những người hnh động hay cho những người khc lin hệ vo lc ny hoặc lc kia, như chẳng hạn sức khỏe hay sự suy yếu, sự ton vẹn thể lý, sự sống, sự chết, sự mất mt của cải vật chất v.v). Trong một thế giới m điều thiện sẽ lun pha trộn với điều dữ v mọi hiệu quả tốt sẽ lun gắn liền với những hiệu quả xấu khc, tnh chất lun lý của hnh vi sẽ được phn đon một cch biện biệt: sự tốt lnh lun lý của hnh vi sẽ được phn đon khởi từ ý hướng của chủ thể lin quan tới cc điều thiện lun lý v sự ngay thẳng của n, khởi từ sự tnh ton về những hiệu quả hay những hậu quả c thể tin liệu v về những tỉ lệ cn xứng. Từ đ suy ra, những hnh vi ứng xử cụ thể sẽ phải đnh gi l ngay chnh hoặc sai lầm m khng nhất thiết phải c thể thẩm định ý ch của người chọn lựa cc hnh vi ấy l tốt hay l xấu xt theo lun lý. Theo chiều hướng ny, một hnh vi, m v mu thuẫn với một chuẩn mực tiu cực phổ qut, trực tiếp vi phạm đến những điều thiện được coi l tiền lun lý th sẽ c thể đnh gi l chấp nhận được về mặt lun lý nếu ý hướng của chủ thể, ty theo nhịp độ cn bằng c trch nhiệm giữa những điều thiện hm chứa trong hnh động cụ thể, tập trung vo gi trị lun lý được xt l mang tnh chất định đoạt trong cc hon cảnh.

Việc đnh gi cc hậu quả của hnh động, trong tương quan với tỉ lệ cn xứng giữa hnh vi v hiệu quả v tỉ lệ cn xứng giữa cc hiệu quả với nhau, sẽ chỉ lin quan đến cấp trật tiền lun lý. Tnh đặc loại lun lý của cc hnh vi, nghĩa l sự tốt lnh hoặc mnh lới của chng, sẽ được độc quyền ấn định do sự trung thnh của con người đối với những gi trị cao cả nhất của đức i v của sự cẩn trọng, m sự trung thnh ấy khng nhất thiết phải l bất khả dung hợp đối với những lựa chọn tri ngược với một số mệnh lệnh lun lý đặc th. Ngay cả khi chất thể l nghim trọng, cc mệnh lệnh vừa đề cập sẽ phải được coi như l những chuẩn mực dnh cho hnh động, lun tương đối v c khi được miễn trừ.

Cứ theo nhn quan ny, đối với một số hnh vi ứng xử được lun lý truyền thống tuyn bố l khng được php, nếu c sự ưng thuận c suy tnh th cũng khng nhất thiết bao hm một t tm lun lý khch quan.

Đối tượng của hnh vi c suy tnh

76. Cc lý thuyết ny c thể đạt được một sức mạnh thuyết phục no đ nhờ tnh chất tương cận của chng với no trạng khoa học l no trạng chuyn lo phối tr cc hoạt động kỹ thuật v kinh tế trong sự tương ứng với php tnh về cc ti nguyn v lợi nhuận, về cc trnh tự v hiệu quả. Ước muốn của chng l giải tỏa những cưỡng bức của một nền lun lý b buộc, duy ý ch v v đon, một nền lun lý xem ra phi nhn bản.

Tuy nhin, những lý thuyết đại loại như thế khng thể no trung thnh với học thuyết của Gio Hội, bởi v chng cho rằng c thể biện minh cho những lựa chọn c suy tnh nhằm thực hiện những hnh vi ứng xử đối nghịch với cc giới răn của Luật Thin Cha v luật tự nhin rằng những lựa chọn ấy c thể l tốt xt về mặt lun lý. Cc lý thuyết ấy khng thể tự xưng mnh l nằm trong truyền thống lun lý cng gio: nếu như quả thực trong truyền thống lun lý cng gio đ c sự pht triển của một bộ mn vấn nạn lun lý (casuistique) lun ch ý đến việc tạo cn bằng cho những điều kiện no l đng kể nhất để c thể lm điều thiện trong một số hon cảnh cụ thể, th vẫn cn điều khc khng km quan trọng, đ l phương cch giải quyết ấy chỉ lin quan đến những trường hợp c hồ nghi về luật v truyền thống lun lý cng gio khng hề đặt lại vấn đề về sự cng hiệu tuyệt đối (validit absolue) của cc mệnh lệnh lun lý tiu cực vốn c buộc m khng hề miễn trừ. Cc tn hữu c nhiệm vụ nhn nhận v tn trọng những mệnh lệnh lun lý đặc loại m Gio Hội cng bố v giảng dạy nhn danh Thin Cha. Đấng Tạo Ha v Đức Cha (125). Khi thnh Tng Đồ Phaol tm tắt sự chu ton Lề Luật trong mệnh lệnh yu tha nhn như chnh mnh (x. Rm 13, 8-10), thnh nhn khng lm cho cc giới răn ra nhẹ hơn nhưng xc nhận chng, bởi v thnh nhn by tỏ những đi buộc v tnh chất nghim trọng của chng. Tnh yu Thin Cha v tnh yu tha nhn th khng thể tch rời khỏi việc tun giữ cc giới răn của Giao Ước, được ti lập trong mu của Đức Gisu Kit v trong n huệ của Thần Kh. Quả l vinh dự cho người Kit hữu v được vng phục Thin Cha hơn l vng phục người đời (x. Cv 4, 19: 5-29) v bởi đ, được chấp nhận cả đến việc tử đạo, như c những vị thnh nam nữ trong Cựu Ước v Tn Ước đ từng chấp nhận, được mang danh tử đạo v đ trao tặng mạng sống mnh thay v lm hnh vi đặc th ny hoặc cử chỉ đặc th nọ ngược với đức tin v nhn đức.

77. Để đưa ra những tiu chuẩn hợp lý cho một quyết định lun lý ngay chnh, cc lý thuyết nu trn ch trọng tới ý hướng v tới những hậu quả của hnh động nhn linh. Dĩ nhin cần phải đặc biệt coi trọng ý hướng – như Đức Gisu nhăc nhở một cch đặc biệt tha thiết trong một lần cng khai đối chọi với cc luật sĩ v biệt phi v họ truyền dạy tỉ mỉ về một số cng việc bn ngoi m khng ch trọng đến tm hồn (x. Mc 7, 20-21; Mt 15, 19) – v cũng cần phải coi trọng những điều thiện đạt được v những điều dữ trnh khỏi sau một hnh vi đặc th. Ở đy l một đi buộc do trch nhiệm. Thế nhưng để tm tới cc hậu quả ấy – v đồng thời những ý hướng – th khng đủ để đnh gi phẩm chất lun lý của một lựa chọn cụ thể. Sự cn bằng những điều thiện v điều dữ xt như l hậu quả c thể tin đon của một hnh động th khng phải l một phương php thỏa đng để ấn định xem lựa chọn hnh vi ứng xử cụ thể ấy. theo loại của n hoặc tự do chnh n, l tốt hay xấu về mặt lun lý, l được php hay khng được php. Những hậu quả c thể tin đan thuộc về những cảnh ngộ của hnh vi, những cảnh ngộ ny nếu c thể biến cải tnh nghim trọng của một hnh vi xấu th vẫn khng thể thay đổi sắc thi lun lý của hnh vi ấy.

Ngoi ra, mỗi người nghiệm biết rằng kh – hay đng hơn khng thể – m đnh gi được tất cả mọi hệ luận v mọi hiệu quả tốt hoặc xấu – gọi l tiền lun lý – của cc hnh vi mnh: khng thể lm nổi một php tnh hợp lý thấu triệt. Vậy th phải lm sao để thiết lập được những tỷ lệ cn xứng vốn ty thuộc vo một sự đnh gi m cc tiu chuẩn cn m mờ? Bằng cch no c thể lý giải được, một sự b buộc tuyệt đối trn những php tnh khng mấy vững chắc như thế?

78. Trn tất cả v tự nền tảng, tnh chất lun lý của hnh vi nhn linh ty thuộc vo đối tượng đ được ý c suy tnh chọn lựa một cch hợp lý, như Tma đ minh chứng trong phn tch thấu đo v lun mi đng gi của ngi (126). Để c thể nắm vững được đối tượng đng vai phn loại cho một hnh vi về mặt lun lý, cần phải đặt mnh vo trong viễn tượng của con người hnh động. Thật vậy, đối tượng của hnh vi ước muốn l một hnh vi ứng xử đ được lựa chọn một cch tự do. Với tư cch ph hợp với mệnh lệnh của lý tr, đối tượng ấy l nguyn nhn mang lại sự tốt lnh của ý muốn, n kiện ton chng ta về mặt lun lý v chuẩn bị sẵn sng cho chng ta để chng ta nhận ra cng đch tối hậu của mnh trong sự thiện trọn hảo, tnh yu nguyn tuyền. Như vậy, đề cập tới đối tượng của một hnh vi lun lý nhất định, người ta khng thể nghĩ tới một tiến trnh hay một biến cố chỉ thuộc cấp trật vật lý m thi, để rồi lượng gi ty theo n gy nn một tnh trạng sự việc nhất định trong thế giới bn ngoi. Đối tượng ấy l cng đch cận kề của một lựa chọn c suy tnh đnh dấu hnh vi ước muốn của con người hnh động. Hiểu theo chiều hướng ny, như lời giảng dạy trong Sch Gio Lý của Gio Hội Cng Gio, c những hnh vi ứng xử cụ thể m nếu lựa chọn th sẽ lun lun sai lầm bởi v lựa chọn chng l c hỗn loạn về ước muốn, nghĩa l c một điều dữ lun lý (127). Cũng thnh Tma Aquin đ viết: Thng thường con người hnh động với một ý hướng ngay thẳng, nhưng điều ny khng gip được g cho con người bởi v con người cn thiếu ước muốn tốt lnh nữa: như chẳng hạn, một người no đ ăn cắp để nui sống một người ngho, ý hướng của người ấy chắc chắn l ngay thẳng, do vậy m sự ngay thẳng ý hướng khng bao giờ biện minh cho một hnh động xấu. Chả lẽ chng ta phải lm điều dữ để từ đ nảy sinh điều thiện, như bọn người vu khống đ tố co rằng chng ta ni như thế? Bọn người ấy đng phải chịu n phạt (Rm 3,8) (128).

Tại sao ý hướng tốt lnh m thi th chưa đủ v tại sao cần phải chọn lựa cc cng việc một cch ngay chnh,lý do nằm ở sự kiện ny l hnh vi nhn linh lệ thuộc vo đối tượng của n, nghĩa l lệ thuộc vo sự khả thi hay bất khả thi trong việc phối tr hnh vi ny hướng về Thin Cha, hướng về Đấng duy nhất Tốt Lnh, v bởi đ hnh vi thể hiện sự trọn hảo của con người. Do vậy, hnh vi sẽ l tốt nếu đối tượng của n ph hợp với sự thiện của con người đồng thời tn trọng những điều thiện quan trọng đối với con người về mặt lun lý. Đạo đức học Kit gio, mặc dầu đưa mối quan tm vo đối tượng lun lý ln hng biệt đi, vẫn khng từ chối coi trọng cứu cnh luận nội tại của hnh động, xt như l qui hướng về nỗ lực thăng tiến sự thiện đch thực của con người, tuy nhin cn nhn nhận thm rằng chỉ c thể thực sự đeo đuổi sự thiện ấy nếu những yếu tố then chốt của bản tnh tự nhin con người được tn trọng. Nếu l tốt lnh xt theo đối tượng, hnh vi nhn linh cũng c thể được phối tr cho cng đch tối hậu. V hnh vi ấy đạt tới mức trọn hảo tối hậu v dứt khot khi ý ch dng lng mến m phối tr n hướng về Thin Cha một cch thiết thực. Trong chiều hướng ny, Vị Quan Thầy của cc lun lý gia v của cc tiến sĩ dạy rằng: Chỉ lm những cng việc tốt lnh m thi th chưa đủ, cn phải thực hiện chng cho đạt mức. Để cho cc cng việc của chng ta được tốt lnh v hon hảo, cần phải thực hiện chng với mục đch duy nhất l lm đẹp lng Thin Cha (129)

Điều tự n l dữ: khng được php lm điều dữ nhằm mục đch đạt tới điều thiện (x. Rm 3, 8).

79. Như vậy cần phải loại bỏ luận đề của cc lý thuyết duy cứu cnh v duy cn xứng theo đ khng thể dựa vo thể loại – đối tượng – của n để thẩm định một lựa chọn, c suy tnh nhằm thực hiện một số hnh vi ứng xử hoặc một số hnh vi nhất định no đ, l xấu về mặt lun lý, bằng cch tch rời cc hnh vi ấy ra khỏi ý hướng đ dẫn đến lựa chọn hoặc ra khỏi ton bộ những hậu quả c thể tin đon của hnh vi ấy trn tất cả những người lin hệ.

Yếu tố hng đầu v dứt khot đối với phn quyết lun lý l đối tượng của hnh vi con người, chnh đối tượng ny mới đng vai quyết định xem một hnh vi c qui hướng hay khng về sự thiện v về cng đch tối hậu l chnh Thin Cha. Cng việc định hướng ny đ được lý tr vạch ra trong chnh hữu thể của con người, nghĩa l trong chn lý tan vẹn của con người, v bởi đ trong cc xu hướng tự nhin, trong cc guồng năng động, v trong cc động tc hướng về cứu cnh vốn lun mang một chiều kch thing ling: một cch chuẩn xc, đng l nội dung của qui luật tự nhin, v bởi đ, đng l tập hợp hữu cơ những điều thiện dnh cho con người được ứng dụng để phục vụ cho sự thiện của con người cho sự thiện vừa l chnh con người v l sự trọn hảo của con người. Đ chnh l những điều thiện được bảo đảm nhờ cc giới răn, cc giới răn ny theo thnh Tma chứa đựng ton thể luật tự nhin (130).

80. Trong khi đ, lý tr chứng thực rằng c thể c những đối tượng của hnh vi nhn linh m xem ra khng thể phối tr để hướng về Thin Cha, bởi v tự căn rễ chng mu thuẫn với sự thiện của con người xt như l được tạo dựng theo hnh ảnh Thin Cha. Đ chnh l những hnh vi m, trong truyền thống lun lý của Gio Hội, người ta gọi l xấu do tự bn trong hay tự chng l xấu (intrinsece malum): chng l xấu lun lun v do tự nơi chng, nghĩa l do chnh đối tượng của chng, khng ty thuộc vo những ý hướng về sau của người hnh động v của hon cảnh. Do bởi sự kiện ny, dầu khng hề phủ nhận tầm ảnh hưởng của hon cảnh v nhất l do ý hướng. Gio Hội lun dạy rằng c những hnh vi lun lun l khng được php một cch nghim trọng, do bởi đối tượng của chng (131). Trong khun khổ của sự tn trọng nhn vị. Cng Đồng Vatican II đ khai triển một cch rộng ri về vấn đề cc hnh vi ny: Tất cả những g đối chọi lại với chnh sự sống, th như mọi hnh thức giết người diệt chủng, ph thai, giết chết m dịu v kể cả tự tử c suy tnh: tất cả những g xm phạm đến sự ton vẹn ngi vị của con người, như cắt bỏ một phần cơ thể, tra tấn thể lý hoặc tinh thần, cưỡng bức tm lý; tất cả những g xc phạm đến phẩm gi của con người, như những điều kiện sống thấp km, giam cầm v cớ, đy ải, n lệ, mi dm, bun bn phụ nữ v trẻ em; hoặc cn như những điều kiện lao động tồi tệ hạ thấp cc cng nhn xuống ngang hng với cng cụ đổi chc, khng coi trọng nhn cch tự do v hữu trch của họ: tất cả những việc thực hnh ấy v những việc thực hnh tương tự khc hiểu theo nghĩa loại suy đều thật sự l v lun. Chẳng những lm băng hoại nền văn minh, những thực hnh ấy cn lm mất danh gi của những kẻ chủ động hơn l của những người nhận chịu, chng lăng mạ một cch trầm trọng phẩm vị của Tạo ha (132).

Về hnh vi tự chng l xấu v cch ring về những cch thực hnh ngừa thai lm cho hnh vi giao hợp trở thnh v sinh một cch hữu ý. Đức Phaol VI dạy rằng: Qủa thật, nếu một đi khi được php nhn nhượng một điều dữ lun lý nhỏ hơn để trnh một điều dữ lớn hơn hoặc để thăng tiến một điều thiện lớn hơn, th dầu vậy vẫn khng được php, ngay cả khi c lý do nghim trọng, lm điều dữ để từ đ m c được điều thiện (x. Rm 3, 8), nghĩa l khng được php lấy điều tự n l v trật tự v bởi đ l một điều bất xứng với con người để lm đối tượng cho một hnh vi tch cực của ý ch, ngay cả khi c ý hướng bảo ton hoặc cỗ v những điều thiện c nhn, gia đnh v x hội (133).

81. Trong việc minh chứng rằng c những hnh vi tự chng l xấu, Gio Hội lấy lại gio lý của Thnh Kinh. Thnh Phaol quả quyết điều ny một cch rnh rọt. Anh e chớ để mnh bị mắc lừa! Đ l dm đng, thờ ngẫu thần, ngoại tnh, hư đốn, nghịch với lun thường, trộm cắp, tham lam, kể cả say rượu, vu khống hoặc bc lột th khng được thừa hưởng Nước Thin Cha đu (1 Cr 6, 9-10).

Nếu cc hnh vi l xấu do tự chng, tnh chất độc địa của chng c thể giảm thiếu nhờ ý hướng ngay lnh hoặc nhờ những han cảnh đặc th, thế nhưng khng v thế m tnh chất độc địa ny c thể được loại bỏ. Đ l những hnh vi xấu một cch v phương cứu chữa: do chnh chng v tự nơi chng, chng khng thể no được phối tr hướng về Thin Cha v hướng về sự thiện của con người, như thnh Augustin đ từng viết: Cn về những hnh vi chng đ l tội (cum jarn opera ipsa peccata sunt) như trộm cắp, gian dm, lộng ngn, hoặc những hnh vi khc tương tư ai no dm quả quyết rằng, nếu được thực thi v những lý do ngay lnh (causis bonis) chng sẽ khng phải l tội hoặc cn dm kết luận một cch phi lý hơn rằng, chng l tội nhưng đ được biện minh rồi? (134).

Từ đ, han cảnh v ý hướng khng thể no biến đổi một hnh vi tự n l bất lương xt theo khch quan thnh một hnh vi lương thiện hoặc c thể bnh đỡ xt theo chủ quan để từ đ m lựa chọn.

82. Ngai ra, ý hướng l ngay lnh khi n nhắm tới sự thiện đch thực của con người với mục đch đạt tới cứu cnh tối hậu. Thế nhưng cc hnh vi m đối tượng khng thể qui hướng về Thin Cha v l bất xứng đối với nhn vị th lun lun v trong mọi trường hợp đối chọi với sự thiện ấy. Hiểu như thế, đối với những chuẩn mực, ngăn cấm cc hnh vi ấy v b buộc mọi lc v mi mi (semper et pro semper), nghĩa l khng hề miễn trừ, sự tn trọng chẳng những khng hạn chế ý hướng ngay lnh m thật ra cn l một biểu hiện cơ bản của ý hướng ngay lnh.

Học thuyết về đối tượng, nguồn cội của tnh chất lun lý, c thể được coi như l sự minh giải chnh tng về nền lun lý Thnh Kinh l lun lý của Giao Ước v cc giới răn, của đức i v cc nhn đức. Phẩm chất lun lý của hnh động nhn linh ty thuộc vo sự trung thnh đối với cc giới răn, biểu hiện của sự tun phục v tnh yu. Chng ti xin lặp lại rằng: chnh v lý do ấy m cần phải gạt bỏ v coi l sai lạc quan điểm vốn cho rằng khng thể dựa vo thể loại của n để thẩm định l xấu về mặt lun lý một sự lựa chọn c tnh lin quan đến một số hnh vi ứng xử hoặc hnh vi nhất định no đ, bằng cch loại bỏ ý hướng dẫn đến lựa chọn v loại bỏ ton bộ những hậu quả c thể tin đon trn tất cả những người lin hệ. Nếu khng c sự ấn định hợp lý về tnh chấy lun lý của hnh động nhn linh như thế, người ta sẽ khng thể no quả quyết rằng c một cấp trật lun lý khch quan (135) v khng thể no thiết lập bất cứ một chuẩn mực nhất định no, xt theo quan điểm nội dung, l b buộc m khng miễn trừ: v như thế th chỉ l ph hoại tnh huynh đệ nhn loại v ph hủy chn lý về điều thiện, cũng như gy tổn thất cho mối hiệp thng Gio Hội.

83. Như chng ta thấy, trong vấn đề tnh chất lun lý của cc hnh vi nhn linh v cch ring trong vấn dề sự hiện hữu của những hnh vi tự chng l xấu, như thế c sự kết tụ của chnh vấn nạn về con người, về chn lý của con người v về những hậu quả của lun lý pht xuất từ đ. Trong việc nhn nhận v giảng dạy rằng c điều tự n l dữ trong cc hnh vi nhn linh nhất định. Gio Hội vẫn lun trung thnh với chn lý ton vẹn về con người, v bởi đ Gio Hội tn trọng con người v thăng tiến con người trong phẩm gi v ơn gọi. Từ đ Gio Hội phải gạt bỏ những lý thuyết trnh by trn đy v chng tự đặt mnh vo thế đối lập với chn lý ấy.

Tuy nhim, Chư Huynh thn mến trong hng gim mục, chng ta khng được bằng lng đứng lại ở chỗ chỉ gio cho cc tn hữu về những lầm lạc v về những mối nguy do một số lý thuyết lun lý. Trn tất cả, chng ta cần phải lm sao cho chiếu tỏa ln nh rạng ngời đầy sức hấp dẫn của chn lý ấy l chnh Đức Gisu Kit. Nơi Người, Đấng l Chn Lý (x. Ga 14, 6). Con người c thể hiểu một cch trn đầy v c thể nhờ những hnh vi tốt của mnh m sống một cch han hảo ơn gọi dấn bước vo tự do trong sự tun phục Luật Thin Cha được gồm tm trong giới răn yu mến Thin Cha v yu thương tha nhn. Những điều ny được thực hiện nhờ n huệ của Cha Thnh Thần, l Thnh Thần Chn Lý, tự do v tnh yu: nơi Người, chng ta được ban tặng khả năng nội tm ha Lề Luật, cảm nhận Lề Luật v sống Lề Luật như l guồng năng động của tự do ngi vị đch thực: Luật ở đy l Luật trọn hảo của tự do (Gc 1, 25). 

 

 

CHƯƠNG III

 

SAO CHO THẬP GI CỦA ĐỨC KIT

KHNG BỊ GIẢN LƯỢC THNH HƯ V

(1 Cr 1, 17)

SỰ THIỆN LUN LÝ

ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG CỦA GIO HỘI V CỦA THẾ GIỚI

 

Chnh v để cho chng ta được mi tự do m Đức Kit đ giải thot chng ta (Gl 5,1)

84. Vấn đề cơ bản được nhấn mạnh hơn cả trong số những vấn đề m cc chủ thuyết lun lý trn đy nu ra, đ l mối tương quan giữa tự do của con người với Lề Luật của Thin Cha: ni cho cng, đ l vấn đề tương quan giữa tự do với chn lý.

Theo đức tin Kit gio v theo học thuyết của Gio Hội, chỉ c tự do tun phục Chn Lý mới dẫn con người tới sự thiện đch thực của con người. Sự thiện của con người, đ l ở trong chn lý v l lm theo Chn Lý (136).

Đem lập trường của Gio Hội đối chiếu với tnh huống x hội văn ha hiện nay, chng ta thấy tức khắc nổi bật ln mối cấp bch ny đối với chnh Gio Hội, đ l phải bắt tay vo một cng việc mục vụ gay cấn lin quan đến chnh vấn nạn cơ bản ny: Mối lin kết thiết yếu giữa chn lý – sự thiện – tự do hầu như đ bị nền văn ha đương thời đnh mất: bởi thế, dẫn dắt con người ngy nay đến chỗ khm ph ra lại mỗi lin kết ấy l một trong những đi buộc đặc trưng trong sứ vụ của Gio Hội, để cho thế giới được cứu độ. Chn lý l g?, cu hỏi của Philat ngy nay cũng bung ra từ mi miệng của một con người hụt hẫng yếm thế khng cn biết mnh ai, mnh từ đu đến v mnh đi về đu. V thế l chng ta thường chứng kiến cảnh nho ng khủng khiếp của con người trong những tnh huống tự hủy diệt lần hồi. Người ta muốn nghe theo một số tiếng ni no đ, v thế l người ta khng cn cảm thấy mnh phải cng nhận tnh chất tuyệt đối v bất khả hủy diệt của một gi trị lun lý no nữa cả. Mở mắt ra l mọi người đều nhn thấy tnh trạng khinh miệt sự sống đ thnh hnh (l bo thai) nhưng chưa sinh hạ: tnh trạng xm phạm lin lỉ những quyền lợi cơ bản của con người: tnh trạng hủy hoại một cch bất cng những ti sản cần thiết cho cuộc sống chỉ đơn thuần ở mức độ của một con người. Hơn thế nữa cn c điều đ xảy ra trầm trọng hơn: con người khng cn thm tn rằng chỉ trong chn lý, mnh mới tm gặp ơn cứu độ. Sức mạnh cứu độ của sự thật nay bị phản bc, người ta giao nhượng cho tự do, một tự do đ bị nhổ tung khỏi mọi cội rễ khch quan, trch nhiệm quyết định một cch tự lập đu l điều thiện đu l điều dữ. Trong địa hạt thần học, chủ nghĩa tương đối ny trở thnh tnh trạng thiếu tin cậy đối với sự khn ngoan của Thin Cha l Đấng đng lề luật lun lý để hướng dẫn con người. Để đối chọi với những g m luật lun lý truyền khiển, người ta đưa ra ci m người ta gọi l những tnh huống cụ thể, v trong thm tm người ta khng cn tin rằng Luật Thin Cha th lun mi l sự thiện chn thật duy nhất của con người (137).

85. Cng việc phn định cc chủ thuyết lun lý ny đối với Gio Hội, khng chỉ dừng lại ở chỗ tố co hoặc bi xch nhưng, một cch tch cực, nhằm nng đỡ một cch hết mực yu thương tất cả mọi tn hữu để lương tm họ được huấn luyện, biết đưa ra những phn đon v dẫn tới những quyết định theo đng với chn lý, như lời khuyn nhủ của thnh Phaol: Anh em chớ uốn mnh theo thế gian ny, nhưng ước chi nhờ đổi mới phn đon anh em được biến đổi v biết phn định đu l điều tốt, điều no lm đẹp lng Người v điều no l trọn hảo (Rm 12, 2). Để thio hnh trch vụ ny – đy l chnh l b quyết gp phần, cấu tạo Gio Hội – Gio Hội chẳng những cậy dựa vo những biểu thức trong gio thuyết v vo những lời ku gọi trong mục vụ nhắm đến sự tỉnh thức, nhưng đng hơn vo nh mắt khng ngừng di theo Đức Gisu l Cha của mnh. Cũng như người thanh nin trong Tin Mừng, hằng ngy Gio hội quay mặt nhn ln Đức Kit với một tnh yu khng nhm chn, ý thức trn đầy rằng chỉ c thể tm gặp lời giải đp đch thực v dứt khot cho vấn đề lun lý ở nơi Người m thi.

Một cch đặc biệt, chnh nơi Đức Gisu chịu đng đinh m Gio Hội tm gặp lời giải đp cho vấn nank hằng gy khắc khoải cho biết bao người thời đại: tun phục những chuẩn mực lun lý phổ qut v bất biến th lm sao cn c thể tn trọng tnh chất độc nhất v bất khả thay thế của con người, lm sao lại khng xm phạm tự do v phẩm gi của con người được? Gio Hội mang lấy cho mnh niềm ý thức m thnh Phaol c được về sứ vụ của ngi: Đức Kit đ sai ti đi loan bo Tin Mừng, khng phải bằng cch vận dụng sự khn kho của ngn từ, nhưng để lm sao cho Thập Ga của Đức Kit khng bị giản lược thnh hư v Phần chng ti, chng ti cng bố một Đức Kit chịu đng đinh, l cớ vấp phạm đối với người Do Thi, l sự đin rồ đối với dn ngoại, nhưng đối với những ai được ku gọi, dầu l Do thi hay Hi lạp, l chnh Đức Kit, l quyền năng v l khn ngoan của Thin Cha (1 Cr 1. 17. 23-24). Đức Kit chịu đng đinh mạc khải ý nghĩa chnh tng của tự do. Người sống tự do một cch vin mn nhờ tự hiến han ton chnh mnh v Người ku mời cc mn đệ cng thng phần vo tự do của Người.

86. Việc suy nghĩ bằng lý tr v kinh nghiệm thường nhật cho thấy rằng tự do con người khng trnh khỏi tnh trạng yếu đuối mỏng manh. Đ l tự do thật, nhưng l tự do hữu hạn: một tự do khng c cội nguồn tuyệt đối v v điều kiện ở nơi chnh mnh nhưng ở nơi cuộc hiện hữu trong đ n chiếm chỗ đứng v đồng thời nhận chịu những giới hạn v những năng quyền. Đ l tự do của một thụ tạo, nghĩa l một mn qu cần phải đn nhận như một hạt mầm v phải lm triển nở với tinh thần trch nhiệm. Tự do l yếu tố cấu thnh con người với tư cch l hnh ảnh của hữu thể được tạo thnh vốn l nền tảng của phẩm gi con người: trong đ chất chứa ơn gọi l nguyn sơ m Đấng Tạo Ha ngỏ với con người để ku mời con người đạt tới Sự Thiện đch thực, v hơn nữa, nhờ mạc khải của Đức Kit, cn ku mời con người dấn bước vo trong tnh bằng hữu với Ngi bằng cch thng phần vo chnh sự sống thần linh của Ngi. Tự do l sự chiếm hữu chnh mnh một cch bất khả vong thn v đồng thời l sự mở rộng một cch phổ qut trước tất cả những g hiện hữu bằng cuộc xuất du ra khỏi chnh mnh để tiến đến sự nhận thức v tnh yu đối với tha nhn (138). Như thế tự do bm rễ trong chn lý của con người v lấy sự hiệp thng lm cng đch.

Lý tr v kinh nghiệm khng những ni ln sự mỏng manh của tự do nhưng cn ni ln tnh trạng bi thảm của tự do. Con người khm ph ra rằng một cch b nhiệm, tự do như thể bị đưa đẩy đến chỗ phản bội sự hướng mở của con người trước ci Chn v ci Thiện v rằng, điều rất thường xảy ra l tự do, trong thực tế, lại nghing chiều về việc chọn lựa những sự thiện hữu hạn, vắn vỏi v ph phiếm. Hơn thế nữa, trong những lầm lạc v những lựa chọn tiu cực, con người cảm nhận một sự nổi loạn tận căn x đẩy con người từ chối Chn Lý v Sự Thiện để tự đặt mnh ln lm nguyn lý tuyệt đối cho chnh mnh: Cc ngươi sẽ nn giống như Thin Cha (St 3, 5). Như vậy, tự do cần được giải thot. Đức Kit l Đấng giải thot tự do: Người đ giải thot chng ta để cho chng ta được mi tự do (Gl 5,1).

87. Trn tất cả Đức Kit mạc khải cho chng ta rằng thn phận của tự do chnh tng l phải nhn nhận chn lý một cch lim khiết v với tinh thần rộng mở: Anh em sẽ nhận biết chn lý v chn lý sẽ giải thot anh em (Ga 8, 32) (139). Chnh chn lý mang lại tự do cho con người khi phải đối đầu với quyền bnh v tạo sức mạnh đến độ đổ mu đo để minh chứng. Đ chnh l điều đ xảy ra với Đức Gisu khi Người đối diện với Philat: Ti đ sinh ra v đ đến trong thế gian ny l chỉ để lm chứng cho chn lý (Ga 18, 37). Cũng vậy, những ai thờ lạy Thin Cha một cch chn chnh th phải thờ lạy Ngi trong tinh thần v chn lý (Ga 4, 23): nhờ thờ lạy như thế m những người ny được nn tự do. Nơi Đức Gisu Kit, người ta nhận ra rằng sự gắn b với chn lý v sự thờ lạy Thin Cha l những cội rễ thm su nhất của tự do.

Ngoi ra, bằng chnh đời sống của Người chớ khng phải chỉ bằng lời ni. Đức Gisu mạc khải rằng tự do được han ton trong tnh yu, nghĩa l trong việc tự hiến chnh mnh. Chnh Người đ ni: Khng ai c tnh yu no lớn hơn tnh yu ny: l hiến mạng sống mnh v bạn hữu (Ga 15, 13). Người tự do tiến bước để đi vo Khổ Nạn (x. Mt 26, 46). V, trong sự tun phục Cha Cha, Người đ giao nộp mạng sống mnh trn Thập Ga v tất cả nhn loại (Phl 2, 6-11). Bởi thế, chim ngắm Đức Gisu chịu đng đinh chnh l con đường vương giả m Gio Hội phải mỗi ngy đặt chn ln v tiến bước nếu Gio Hội muốn thấu hiểu ton vẹn ý nghĩa của tự do: tự hiến nhằm phục vụ Thin Cha v anh em. Đồng thời hiệp thng với Cha Kit chịu đng đinh v phục sinh chnh l nguồn mạch khng hề vơi m Gio Hội khng ngừng kn mc để sống một cch tự do, để tự hiến v phục vụ khi ch giải cu hy phụng thờ Cha với niềm hoan hỉ trong thnh vịnh 100/99. Thnh Augustin pht biểu: Trong nh Cha, lm n lệ th cũng l tự do. N dịch l tự do khi đ khng phải l cưỡng bức nhưng l tnh yu dấn bước phục vụ Ước mong tnh yu biến ngươi thnh n lệ, bỡi lẽ chn lý đ lm cho ngươi nn tự do. Ngươi vừa l n lệ vừa l người tự do: n lệ, bởi v ngươi đ trở nn như thế: ngươi tự do, bởi v ngươi được Thin Cha l Đấng Tạo Ha của ngươi yu mến Đấng Tạo Ha của ngươi Ngươi l n lệ của Cha, l người được Cha phng thch. Đừng v tm cch để được giải thot m lạc xa nh của Đấng giải thot ngươi! (140). Như thế, Gio Hội v hết cc Kit hữu trong Gio Hội đều được mời gọi thng phần vo chức vụ vương gi (munus regale) của Đức Kit trn Thập Gi (x. Ga 12, 32), vo n sủng v vo trch nhiệm của Con Người, Đấng đ đến khng phải để được phục vụ, nhưng để phục vụ v để hiến ban mạng sống mnh lm gi cứu chuộc mun người (Mt 20, 28) (141).

Như vậy Đức Gisu tổng hợp một cch sống động v tự thn tất cả mọi yếu tố của tự do trọn hảo trong sự tun phục hon ton đối với thnh ý Thin Cha. Thn Thể chịu đng đinh của Người l sự mạc khải trn đầy về mối dy lin kết bất khả phn ly giữa tự do v chn lý, cũng như cuộc phục sinh của Người từ ci chết l sự tuyn dương tột bậc về tnh chất sai nở v về sức mạnh cứu độ của một tự do được thi thố trong chn lý.

Bước đi trong nh sng (x. 1 Ga 1. 7)

88. Tự do v chn lý đối chọi nhau v thậm ch bị tch biệt khỏi nhau một cch triệt để: đ l hệ luận, l biểu hiện v l hiệu quả của một luận cứ nhị phn cn nghim trọng hơn v tai hại hơn, luận cứ cắt rời đức tin ra khỏi lun lý.

Tnh trạng tch la ny l một trong những mối bận tm mục vụ mnh liệt nhất của Gio hội trước tiến trnh trần tục ha hiện nay, l tiến trnh m v đ nhiều người v phải ni rất nhiều người, suy nghĩ v sống như thế Thin Cha khng hiện hữu. Chng ta đứng trước một lề lối suy tưởng hiện đang tc động một cch su xa, rộng ri v rất phổ biến đến những thi độ v những hnh vi ứng xử của chnh cc Kit hữu vốn đang bị suy yếu về đức tin v vốn đ đnh mất tnh chất độc đo của đức tin tiềm ẩn nơi tiu chuẩn mới để giải thch v hnh động trong đời sống bản thn, gia đnh v x hội. Thật ra, trong bối cảnh của một nền văn ha đ phi Kit ha một cch su rộng, những tiu chuẩn phn đon v lựa chọn m cc tn hữu cn lưu giữ lại thường l xa lạ hoặc đối nghịch với những tiu chuẩn của Tin Mừng.

Bởi thế, điều cấp bch l cc Kit hữu phải ti khm ph tnh chất mới mẻ của đức tin v sức mạnh m đức tin mang lại cho phn đon trong tương quan với nền văn ha chủ động v xm lấn, như lời thnh Tng Đồ Phaol cảnh co chng ta: Xưa kia anh em m muội v u tối nhưng hiện nay anh em đ nn nh sng trong Cha: anh em hy ăn ở như con ci sự sng; bởi lẽ hoa quả của nh sng l ở nơi lng nhn hậu, sự cng chnh v chn lý. Anh em hy phn định xem đu l điu đẹp lng Cha, anh em chớ can dự vo những sự việc v sinh của chốn tối tăm; đng hơn hy tố gic những sự việc ấy... Bởi đ, anh em hy canh chừng cch ăn nết ở của anh em; ước chi cch ăn nếp ở của anh em khng l của những kẻ dại khờ nhưng l của những người khn ngoan biết vận dụng tốt đẹp thời buổi hiện tại; bởi lẽ chng ta đang ở vo thời buổi xấu (Ep 5, 8-11. 15-16; x. 1 Tx 5, 4-8).

Cần phải tm lại v trnh by một lần nữa khun mặc đch thực của đức tin Kit gio vốn khng chỉ l một tập hợp những mệnh đề đi tr tuệ phải chấp nhận v tn đồng. Ngược lại, đ l một sự nhận thức v l một kinh nghiệm của Đức Kit, một ký ức sống động về cc giới răn của Người, một chn lý phải thể hiện bằng cuộc sống. Ngoi ra, một lời ni chỉ thực sự được đn nhận khi n được p dụng vo trong cc hnh vi, khi n được đem ra thực hnh. Đức tin l một quyết định đem trọn cả cuộc sống vo nhập cuộc. Đức tin l một cuộc gặp gỡ, một cuộc đối thoại, một sự hiệp thng tnh yu v đời sống giữa người tn hữu với Đức Gisu Kit, l Đường, Sự Thật v Sự Sống (x. Ga 14, 6). Đức tin bao hm hnh vi tin cậy v ph thc đối với Đức Kit, v nhờ đức tin m chng ta c thể sống như Người đ sống (x. Gl 2, 20), nghĩa l với một tnh yu cao cả nhất dnh cho Thin Cha v tha nhn.

89. Đức tin cn c một nội dung lun lý: đức tin khơi nguồn v đi buộc mọi sự dấn thn nhất qun trong đời sống: đức tin vừa bao gồm v vừa kiện ton sự đn nhận cũng như sự tun giữ cc giới răn của Thin Cha. Như thnh Gioan tc giả Tin Mừng đ viết, Thin Cha l nh Sng, nơi Ngi chẳng hề c u tối. Nếu chng ta ni rằng chng ta hiệp thng với Ngi m chng ta lại bước đi trong u tối, th chng ta ni dối, chng ta khng thực thi chn lý Căn cứ vo điều ny m chng ta nghiệm ra được chng ta nhận biết Ngi: đ l nếu chng ta vng giữ cc giới răn của Ngi. Ai bảo rằng Ti nhận biết Ngi m lại khng tun giữ cc giới răn của Ngi, người ấy l kẻ ni dối, v chn lý khng ở nơi người ấy. nhưng người no tun giữ lời Ngi th quả thực nơi người ấy tnh yu Thin Cha đ được thể hiện. Chnh nơi điều ấy m chng ta nghiệm biết chng ta ở trong Ngi. Kẻ no tự ho ở trong ngi th đến lượt mnh cũng phải xử sự như người kia đ xử sự (1 Ga 1, 5-6; 2, 3-6).

Nhờ đời sống lun lý, đức tin trở thnh tuyn xưng chẳng những trước mặt Thin Cha, nhưng cn cả trước mặt loi người nữa: đức tin chuyển thnh chứng từ. Đức Gisu đ ni: Anh em l nh sng thế gian. Một thnh phố th khng thể ẩn np bởi lẽ đ tọa lạc trn đỉnh ni. Người ta cũng khng thắp đn rồi nht vo dưới hộc nhưng đặt trn gi cao để từ đ chiếu sng cho tất cả mọi người trong nh. nh sng của anh em cũng phải chiếu sng như thế trước mặt mọi người để họ xem thấy những cng việc tốt đẹp của anh em v họ tn knh Cha Cha của anh em trn trời (Mt 5, 14-16). Những cng việc ny đặc biệt l cng việc của đức i (x. Mt 25, 31-46) v của tự do chnh tng tỏ lộ ra v thể hiện trong cuộc sống bằng việc tự hiến chnh mnh. Đến độ tự hiến hon ton, như Đức Gisu trn Thập Gi đ yu mến Gio Hội v đ ph nộp chnh mnh cho Gio Hội (Ep 5, 25). Được ku gọi bước đi trn cng một đường lộ, người mn đệ nu chứng từ bằng cch lấy chứng từ của Đức Kit lm nguồn cội, mẫu mực v nơi nương tựa: Nếu ai muốn nối bước theo Thầy, hy từ bỏ mnh đi, hy vc lấy thập gi của mnh mỗi ngy v hy theo Thầy (Lc 9, 23). Cứ theo những đi hỏi mang tnh triệt để của Tin Mừng, đức i c thể đưa dẫn người tn hữu đến chỗ nếu chứng từ tột bực l tử v đạo. Cả trong trường hợp ny th cũng l noi gương Đức Gisu. Đấng phải chết trn Thập Gi, như lời thnh Phaol đ viết cho cc Kit hữu ở phx: Anh em hy cố gắng bắt chước Thin Cha, như những người con dấu i v hy bước theo con đường tnh yu theo gương Đức Kit. Đấng đ yu thương chng ta v đ ph nộp chnh mnh cho chng ta, tự hiến chnh mnh ln Thin Cha lm của lễ ngt tỏa hương thơm (Ep 5, 12).

Tử đạo, một hnh thức tn dương sự thnh thiện bất khả xm phạm của Luật Thin Cha.

90. Mỗi tương quan giữa đức tin v lun lý rực ln nh sng chi ngời qua sự tn trọng v điều kiện đối với những đi buộc tuyệt đối do nơi phẩm gi của mỗi một con người, những đi buộc được bảo vệ nhờ những chuẩn mực lun lý vốn ấn định sự cấm cản khng miễn trừ đối với những hnh vi tự chng l xấu. Tnh phổ qut v tnh bất di bất dịch của chuẩn mực lun lý biểu lộ v đồng thời che chở phẩm gi con người, nghĩa l che chở tnh bất khả xm phạm của con người, nơi dọi chiếu nh rạng ngời của Thin Cha (x. St 9, 5-6).

Sự kiện người Kit tử đạo, l sự kiện đ lun đi km v vẫn cn đi km với đời sống Gio Hội, xc nhận một cch hết sức hng hồn về tnh chất bất khả chấp nhận của những chủ thuyết lun lý no l từ chối sự tồn tại của những chuẩn mực lun lý nhất định, c gi trị v khng miễn trừ.

91. Trong Cựu Ước, chng ta đ từng gặp được những chứng từ tuyệt vời về sự trung tn đối với Lề Luật thnh thiện của Thin Cha, một sự trung tn đẩy mạnh đến chỗ tự nguyện chấp nhận ci chết. Cu chuyện Xu-dan-na l điển hnh về phương diện ny: chị đ trả lời như sau với hai vị phn quan bất chnh đ đe dọa kết liễu cuộc đời chị nu như chị khng chịu nhượng bộ trước lng thm kht nhơ uế của họ: Ti quả đang bị dồn p tư bề: nếu ti nhượng bộ th đối với ti chẳng khc no đi vo ci chết, cn nếu ti khng cự ti sẽ khng thot khỏi tay cc ng. Thế nhưng ti th rơi vo tay cc ng m v tội cn hơn l phạm tội trước mặt Thin Cha! (Đn 13, 22-23). V đ lựa chọn v tội dầu phải sa vo tay cc vị phn quan. Xu-dan-ba chẳng những nu chứng từ về đức tin v về lng tin cậy của mnh ở nơi Thin Cha nhưng cn nu chứng từ về sự tun phục của mnh đối với chn lý v đối với đi hỏi tuyệt đối của mệnh lệnh lun lý: do bởi tư thế ứng trực sẵn sng chịu tử đạo, chỉ cng bố rằng điều m Luật Thin Cha thẩm định l xấu m nếu cử lm th chắc chắn khng hợp lẽ cho dầu l để từ đ m nt ra bất cứ điều thiện no. Chị lựa chọn cho chnh chị phần tốt nhất: một chứng từ hết mực trong sng, khng mảu may thoi nhượng, trước chn lý về điều thiện v trước Thin Cha của t-ra-en: như thế chị đ dng hnh vi để minh chứng sự thnh thiện của Thin Cha.

Nơi ngưỡng của Tn Ước, nhất định khng để cho Luật của Cha bị lặng cm v nhất định khng thỏa hiệp với sự dữ. Gioan Tẩy Giả đ hiến mạng sống mnh cho cng chnh v chn lý (142), v bởi đ ngi đ l vị tiền h của Đấng Msia cho đến tử v đạo (x. Mc 6, 17-29). Chnh v thế, ngi đ bị nhốt trong bng đm của t ngục, trong khi ngi l kẻ đ đến để lm chứng cho nh sng v đ xứng đng mang danh hiệu l ngọn đuốc rực ln nh sng do bởi chnh nh Sng l Đức Kit []. Nếu ngi được diễm phc lm php rửa cho Đấng Cứu Chuộc trần gian th ngi cũng được rửa bằng chnh mu của ngi (143).

Trong Tn Ước, người ta gặp thấy nhiều chứng từ do cc mn đệ của Đức Kit – trước hết phải kể đến ph tế Stphan (x. Cv 6, 8: 7, 60) v Tng Đồ Giacb (x. Cv 12, 1-2) – cc vị ny đ chết tử đạo để tuyn xưng đức tin v tnh yu của họ đối với Thầy v để nhất quyết khng chối Thầy. Như vậy l họ đ noi theo Cha Gisu Đấng đ nu chứng từ tuyệt mỹ (1 Tm 6, 13), lấy mạng sống mnh hiến ban để xc nhận chn lý của sứ điệp mnh. Rất nhiều những vị tử đạo khc đ chấp nhận bị bch hại v chấp nhận ci chết hơn l khp mnh vo thi độ sng bi ngẫu tượng bằng cch đốt hương trước tượng của hong đế (x. Kh 13, 7-10). Họ cn tiến xa đến chỗ nhất quyết khng giả vờ thực hnh nghi thức thờ phượng ấy, v bằng cch đ nu gương về bổn phận phải trnh bất cứ hnh vi cụ thể no l nghịch với tnh yu Thin Cha v nghịch với chứng từ đức tin. Với sự tun phục, như chnh Đức Kit, họ đ trao gởi v ph thc mạng sống họ trong tay Cha Cha, cho Đầng c thể cứu họ khỏi chết (x. Dt 5, 7).

Gio Hội nu gương rất nhiều những thnh nam thnh nữ đ lm chứng cho sự thật lun lý v đ bnh vực sự thật ấy cho đến độ tử đạo, th chết hơn l phạm bất cức một tội trọng no. Khi nng cc ngi ln hng vinh dự trn cc bn thờ, Gio Hội đ liệt chứng từ của cc ngi vo hng qui điển v đ cng bố rằng phn đon của cc ngi l đng, v cc ngi đ cho rằng tnh yu Thin Cha nhất thiết bao hm sự tun thủ cc giới răn, ngay cả trong những trường hợp nghim trọng nhất, v nhất thiết bao hm sự từ chối vi phạm, ngay cả khi c ý hướng cứu vn mạng sống mnh.

92. Trong chứng từ tử đạo được sống như l sự khẳng định về tnh bất khả xm phạm của cấp trật lun lý, cng một lc ngời chiếu ln sự thnh thiện của Luật Thin Cha v tnh bất khả dụng chạm của phẩm gi con người được tạo dựng theo hnh ảnh Thin Cha v giống với Thin Cha: khng bao giờ được php triệt hạ phẩm gi hoặc sống mu thuẫn với phẩm gi, cho dầu ý hướng c thể ngay lnh v bất kể cc kh khăn c thế no chăng nữa. Đức Gisu cảnh co chng ta về điều ny một cch hết sức nghim khắc: Lời li cả thế gian no ch g cho con người nếu như con người ph hoại đời sống của chnh mnh? (Mc 8, 36).

Mọi ý nghĩa nhn bản m ngay cả trong những trường hợp ngoại lệ người ta kỳ vọng gn cho hnh vi tự-n-l-xấu đều bị chứng từ tử đạo tố co l giả tạo v sai lầm: hơn thế nữa, chứng từ tử đạo cn vn mở r rệt bộ mặt đch thực của hnh vi ấy, một bộ mặt của tnh trạng xm phạm nhn tnh con người, nơi người chủ động hơn l hơi kẻ nhận chịu (144). Bởi thế tử đạo cn l hnh thức tn dương nhn linh trọn hảo v tn dương sự sống đch thực của con người, như Thnh Inhaxi thnh Antikia đ minh chứng khi ngỏ lời với cc Kit hữu ở Rma, nơi ngi chịu tử đạo: Anh em thn mến, anh em hy tha lỗi cho ti: anh em đừng cản ngăn ti sống, anh em đừng mong ti chết... Xin hy để cho ti đn nhận nh sng tinh tuyền: khi ti tới nơi ấy, ti sẽ thật sự l một con người. Xin hy cho php ti được nn người bắt chước cuộc khổ nạn của Thin Cha ti (145).

93. Sau hết, tử đạo l dấu chỉ rực rỡ cho sự thnh thiện của Gio Hội: trung thnh với Lề Luật thnh thiện của Thin Cha đến độ trở thnh chứng từ cho Lề Luật ấy với gi ci chết, đ chnh l một sự cng bố long trọng v l một cuộc dấn thn thừa sai đến độ đổ mu đo (usque ad sanguinem) để cho nh rạng ngời của sự thật lun lý khng bị lu mờ trong phong ha v no trạng của cc c nhn v của x hội. Một chứng từ như thế mang lại một gi trị phi thường xt về phương diện gp phn, chẳng những trong x hội dn sự m cả trong nội bộ những cộng đon Gio Hội, vo việc trnh khỏi bị vi dập trong cơn khủng hoảng nguy hiểm nhất c thể tc hại con người: đ l tnh trạng lẫn lộn về điều thiện v điều dữ lm cho khng thể no thiết lập v duy tr một cấp trật lun lý cho cc c nhn v cc cộng đon. Nhờ gương mẫu hng hồn v li cuốn với một đời sống hon tan hiển dung do bởi nh rạng ngời của sự thật lun lý, cc thnh tử đạo v cch chung, tất cả cc thnh trong Gao hội chiếu dọi nh sng vo hết thảy cc giai đoạn lịch sử v lay gọi ở đ cảm thức lun lý. Lm chứng cho điều thiện khng cht đễ giữ, cc ngi trở thnh lời quở trch sinh động đối với những ai vi phạm lề luật (x. Kn 2, 12) v cc ngi mang lại cho lời của ngn sức Isaia tnh chất hiện đại thường rằng: V phc cho những ai gọi điều dữ l thiện v gọi điều thiện l dữ, cho những ai lấy bng tối lm nh sng v lấy nh sng lm bng tối, cho những ai lấy đắng cay lm dịu ngọt v lấy dịu ngọt lm đắng cay (Is 5, 20).

Nếu tử đạo l chp đỉnh trong việc lm chứng cho sự thật lun lý, một hnh thức lm chứng m số người được mời gọi tương đối t, th dầu vậy vẫn cn c một hnh thức lm chứng khc cũng nhất qun m tất cả mọi Kit hữu đều phải sẵn sng dấn bước mỗi ngy, ngay cả với gi của những khổ đau v những hy sinh cam go. Thật vậy, đối diện với rất nhiều kh khăn m sự trung thnh với cấp trật lun lý đi phải đương đầu ngay cả trong những han cảnh thường tnh nhất, người Kit hữu được ku mời để cng với n sủng Thin Cha đ van ni trong kinh nguyện đi vo một cuộc dấn thn đi lc can trường, nhờ sức nng đỡ của nhn đức mạnh dạn – như lời thnh Grgri Cả đ dạy – thậm ch gip người Kit hữu đạt tới chỗ quý chuộng những gian kh ở đời ny để được những phần thưởng vĩnh cửu (146).

94. Cc Kit hữu khng phải l đơn phương trong lĩnh vực lm chứng cho tnh chất tuyệt đối của sự thiện lun lý: chứng từ của họ được củng cố nhờ vo cảm thức lun lý của cc dn tộc v của cc truyền thống tn gio v minh triết lớn bn Ty phương v Đng phương, trong đ chắc hẳn c sự hoạt động huyền nhiệm của Thần Kh Thin Cha. C thể đem suy tư của nh thơ latinh l Juvnal ra p dụng cho mọi người: Bạn hy coi như l tội c lớn lao nhất nếu bạn đặt mạng sống mnh ln trn danh dự v nếu, v quý trọng sự sống thể lý, bạn đnh để mất lẽ sống (147). Tiếng ni lương tm lun lun nhắc nhở khng cht mập mờ rằng c những sự thật v những gi trị lun lý đi người ta phải ứng ph đến độ dm hy sinh mạng sống. Qua những lời lẽ được pht biểu nhằm bnh vực cc gi trị lun lý v nhất l nơi nghĩa cử hy sinh mạng sống v những gi trị lun lý. Gio Hội nhn nhận chứng từ nu ln v chn lý, một chn lý đ hiện diện trong cng trnh tạo dựng nhưng chiếu tỏa một cch rực rỡ trn dung nhan Đức Kit, như thnh Giustin đ viết: Cứ mỗi lần cc đồ đệ của những học thuyết khắc kỷ [] diễn giải về lun lý v chứng tỏ sự khn ngoan do bởi hạt mầm Ngi Lời tiềm tng nơi ton thể giống dng nhn loại, chng ta biết rằng họ đều đ bị ght bỏ v giết hại (148).

Những chuẩn mực lun lý phổ qut v bất biến nhằm phục vụ con người v x hội.

95. Đ biết bao lần người ta hiểu lệch lạc về học thuyết của Gio Hội v cch ring về lập trường kin quyết của Gio Hội trong việc bảo vệ hiệu lực phổ qut v trường tồn của những mệnh lệnh ngăn cấm v cc hnh vi tự chng l xấu, coi đ l dấu chỉ của một thi độ gắt gao bất khoan nhượng, nhất l trong những tnh huống tối ư phức tạp v xung khắc trong đời sống lun lý của con người v x hội ngy nay, một thi độ gắt gao khng thể khng tương phản với tnh chất từ mẫu của Gio Hội. Người ta cho rằng Gio Hội thiếu thng hiểu v thiếu đồng cảm. Thế nhưng, thực ra tnh chất từ mẫu của Gio Hội khng thể tch rời khỏi sứ mệnh giảng dạy m Gio Hội lun phải chu ton với tư cch l Hiền Th trung tn của Đức Kit Đấng tự thn l chn lý: L nh gio dục, Gio Hội cng bố chuẩn mực lun lý m khng biết nhm chn Gio hội khng phải l tc giả cũng khng phải l trọng ti đng vai phn xử trước một chuẩn mực như thế. V vng phục chn lý l Đức Kit, Đấng phản chiếu hnh ảnh trong bản tnh v trong phẩm gi của con người Gio Hội diễn giải chuẩn mực lun lý v đề nghị chuẩn mực lun lý ấy cho hết thảy mọi người thiện ch m khng hề che dấu những đi buộc về tnh triệt để v về sự ton bch pht xuất từ đ (149).

Thật vậy, sự thng hiểu đng nghĩa v sự đồng cảm tự nhin phải ni ln tnh yu đối với con người, đối với sự thiện đch thực v đối với tự do chnh tng của con người. Một tnh yu như thế chắc hẳn khng thể sống bằng cch che dấu hoặc tiết giảm sự thật lun lý với nhưng bằng cch đề nghị sự thật lun lý với ý nghĩa thm su của n l sự tỏa chiếu Khn Ngoan vĩnh cửu của Thin Cha, đạt thấu chng ta nơi Đức Kit, với tầm vc của n về việc phục vụ con người, về sự tăng trưởng tự do của con người v về việc truy tầm hạnh phc của con người (150).

Đồng thời việc trnh by sự thật lun lý một cch minh bạch v st sao khng thể bỏ qua thi độ tn trọng su xa v chn thnh bắt nguồn từ một tnh yu kin nhẫn v tn thc, m con người lun lun cần c trn suốt lộ trnh lun lý thường phải cực nhọc v những kh khăn, những yếu đuối v những tnh huống xt xa. Khng bao giờ được thoi thc nguyn tắc chn lý v nhất qun, do đ Gio Hội khng chấp nhận gọi điều dữ l thiện v gọi điều thiện l dữ (151). Gio Hội cn phải lun lun để tm sao cho khng bẻ nt cy sậy bị gy v khng dập tắt tim đn cn khi (x. Is 42, 3). Đức Phaol VI đ viết: Khng giảm bớt học thuyết mang tnh cứu độ của Đức Kit một cht no, đ l hnh thức bc i lớn lao đối với cc linh hồn nhưng đồng thời lun km theo đức kin nhẫn v lng nhn hậu như chnh Đức Gisu đ nu gương khi đối xử với con người. Vốn đ đến khng phải để xt đon nhưng để cứu độ (x. Ga 3, 17), chắc hẳn Người cư xử gắt gao đối với điều dữ, nhưng từ i đối với mọi người (152).

96. Thi độ kin quyết của Gio Hội trong việc bảo vệ những chuẩn mực lun lý phổ qut v bất biến khng hề gy nhục nh. Thi độ ấy chỉ nhằm phục vụ tự do thật sự của con người: bởi v khng thể c tự do ở bn ngoi chn lý hoặc đối nghịch lại với chn lý, việc bảo vệ quyết liệt nghĩa l khng ỡm ờ v khng khoan nhượng, những đi buộc tuyệt đối khng thể thoi thc của phẩm gi con người phải được coi như l điều kiện v l phương thế để c được tự do.

Cng việc phục vụ ny của Gio hội nhắm đến mỗi người, xt theo hữu thể v cuộc sống hon ton độc đo của từng người: chỉ bằng cch tun phục những chuẩn mực lun lý phổ qut m con người đạt được sự xc quyết trn đầy về tnh thống nhất của mnh với tư cch l ngi vị v về triển vọng c thể thật sự tấn tới trn bnh diện lun lý. Cũng chnh v nguyn do ny m cng việc phục vụ của Gio Hội nhắm đến tất cả mọi người, đến cc c nhn nhưng cn đến cộng đon v tập thể với tư cch l tập thể. Thật ra, cc chuẩn mực ny tạo thnh nền mng khng chuyển lay v nguồn bảo đảm vững chắc cho sự chung sống cng bằng v ha bnh của nhn loại, v bởi đ cho một nền dn chủ đch thực c thể nảy sinh v triển nở khởi từ sự bnh đẳng của hết mọi thnh phần, với quyền lợi v bổn phận ngang bằng nhau. Đối với cc chuẩn mực lun lý no l ngăn cấm điều dữ tự n l dữ, khng c đặc quyền cũng khng c ngoại lệ cho bất cứ một ai cả. Cho dầu người ta l chủ nhn ng của thế giới hay người ta l kẻ cng đinh trong số những người khốn khổ trn mặt đất ny, vẫn khng hề c sự khc biệt no: trước những đi buộc lun lý, tất cả chng ta đều tuyệt đối bnh đẳng với nhau.

97. Bởi thế chng ta nhận ra ý nghĩa sức mạnh vừa mang chiều kch bản thn vừa mang chiều kch x hội của cc chuẩn mực lun lý v trn tất cả, của cc chuẩn mực lun lý tiu cực nhằm ngăn cấm điều dữ: trong khi bnh vực phẩm gi bất khả xm phạm của mỗi người: cc chuẩn mực lun lý cn gip bảo ton nền mng x hội nhn loại, gip cho sự pht triển của x hội được thẳng đường ngay lối v được sai nở. Cch ring, cc giới răn trong bảng Thập Giới thứ hai, m Đức Gisu gợi nhắc cho người thanh nin trong Tin Mừng (x. Mt 19, 18), lm thnh những qui tắc đầu tin cho bất cứ đời sống x hội no.

Cc giới răn ny được pht biểu bằng những từ ngữ khi qut. Nhưng nhờ vo sự kiện con người [] vốn l v phải l nguyn lý, chủ thể v cng đch của tất cả mọi định chế x hội (153), chng ta c thể xc định cc giới răn ấy v c thể minh giải chng trong một bộ luật ứng xử chi tiết hơn. Hiểu như thế, cc qui tắc lun lý cơ bản của đời sống x hội bao gồm những đi buộc nhất định m cả cc chức quyền cng cộng lẫn cc cng dn đều phải tun hnh. Bất kể những ý hướng, đi khi ngay lnh, v những hon cảnh, thường thường gay go, cc nh cầm quyền dn sự v cc c nhn ring rẽ khng bao giờ được php vi phạm những quyền lợi cơ bản bất khả thay thế của con người. Chnh v thế m chỉ một nền lun lý biết nhn nhận cc chuẩn mực c gi trị trong hết mọi thời v cho hết mọi người, khng bao giờ miễn trừ, mới c thể bảo đảm cho những nền mng lun lý của cảnh sống lin đới ha hợp, trn bnh diện quốc gia hoặc quốc tế.

Lun lý v cuộc canh tn đời sống x hội v chnh trị

98. Đứng trước những hnh thức nghim trọng gồm tệ nạn bất cng x hội v kinh tế hoặc tệ nạn tham nhũng chnh trị m nạn nhn l cả những dn tộc v những quốc gia trong ton thể, c một phản ứng bất mn đang trổi dậy từ rất đng những người bị vi dập v bị miệt thị trong những nhn quyền cơ bản v c một niềm xc tn ngy cng lan rộng một cch mnh liệt hơn về sự cần thiết phải c một cuộc canh tn triệt để v đặc trưng trn bnh diện bản thn v x hội hầu chắc chắn mang lại sự cng bằng, tnh lin đới, đức lim khiết v sự trong suốt.

Con đường phải trải qua chắc hẳn lu di v cam go: những nỗ lực phải thực thi cn nhiều v đng kể mới c thể khởi động cuộc canh tn ny, nguyn chỉ v những nguyn nhn đa phức v trầm trọng đang gy nn v ko di những tnh cảnh bất cng hiện nay trn thế giới. Thế nhưng, như lịch sử v kinh nghiệm của mỗi người dạy cho biết, chng ta khng phải kh khăn mới tm ra được những nguyn nhn thuần ty văn ha, nghĩa l những nguyn nhn gắn liền với một số quan niệm về nhn sinh, x hội v thế giới. Thật ra, nơi tm điểm của vấn đề văn ha, c ci gọi l cảm thức lun lý vốn, đến lượt mnh, đặt nền tảng trn cảm thức tn gio v được thể hiện trong đ (154).

99. Chỉ một mnh Thin Cha, Sự Thiện tối thượng, mới l nền tảng bất khả chuyển lay v l điều kiện bất khả thay thế của đời sống lun lý, tức của cc giới răn v đặc biệt của cc giới răn tiu cực vốn lun lun v trong mọi trường hợp ngăn cấm những hnh vi bất khả dung hợp với phẩm gi của mỗi một con người. Như thế Sự Thin tối thượng v điều thiện lun lý giao nhau trong chn lý, chn lý của Thin Cha Tạo Ha v Cứu Chuộc, chn lý của con người được Thin Cha tạo dựng v được Thin Cha cứu chuộc. Chỉ trn chn lý ấy mới c thể xy dựng một x hội đổi mới v mới giải quyết được những vấn đề phức tạp v gay cấn đang lm cho x hội lung lay m vấn đề số một l lm sao thắng vượt cc thứ hnh thức chuyn chế chủ nghĩa bị diệt mở lối cho tự do chnh tng của con người. Chủ nghĩa chuyn chế pht sinh từ hnh động phủ nhận chn lý hiểu theo nghĩa khch quan: nếu khng c chn lý siu việt m nhờ tun phục n con người c thể đạt tới căn tnh trn đầy của mnh th trong những tnh cảnh ny khng ti no c được một nguyn lý vững chắc để bảo đảm cho những mối quan hệ cng bằng giữa con người với nhau. Những lợi ch của họ xt theo giới lớp, theo nhm hoặc theo quốc gia khng thể no khng đưa họ đến chỗ đối nghịch với nhau. Nếu chn lý siu việt khng được cng nhận, sức mạnh của quyền lực sẽ thắng thế, v mỗi người sẽ c khuynh hướng sử dụng tận mức cc phương tiện trong tầm tay, đẩy mạnh những lợi ch hoặc những quan điểm của mnh, bất chấp quyền lợi của tha nhn Như vậy phải xc định vị tr cho cội rễ của chủ nghĩa chuyn chế hiện đại ở nơi hnh vi phủ nhận phẩm gi siu việt của con người, l hnh ảnh hữu hnh của Thin Cha v hnh v để l như thế, do bởi chnh bản chất của mnh, l chủ thể của những quyền lợi m con người khng được quyền xm phạm, cho dầu với tư cch c nhn, nhm, giới lớp, quốc gia hay Nh Nước. Cũng khng nhn danh đa số của một bộ phậm x hội no đ để lm điều ấy như thể dấy ln chống lại thiểu số để rồi loại họ ra ngoi lề, p bức, khai thc hoặc tm cch hủy diệt họ (155).

Chnh v thế, mối lin kết khng thể tch la giữa chn lý v tự do – l phản ảnh của mối lin kết thiết yếu giữa sự khn ngoan v thnh ý của Thin Cha – mang một ý nghĩa v cng quan trọng đối với đời sống con người trong khun khổ x-hội-kinh-tế v x-hội-chnh-trị đng như tinh thần học thuyết x hội của Gio Hội – học thuyết ny đi vo lnh vực thần học v đặc biệt thần học lun lý (156) – v đng như những g m học thuyết trnh by về cc giới răn gip điều chỉnh đời sống x hội, kinh tế v chnh trị, chẳng những trong những g lin quan đến cc thi độ tổng qut, nhưng cả trong những cch ứng xử v những hnh vi cụ thể chnh xc v nhất định.

100. Cũng vậy, Sch Gio Lý của Gio Hội Cng gio khẳng định rằng trong địa hạt kinh tế, sự tn trọng phẩm gi con người đi buộc phải thực hnh nhn đức tiết độ, để điều ha sự gắn b đối với của cải trần thế: nhn đức cng bằng, để bảo ton quyền lợi của tha nhn v để giao nhượng cho tha nhn những g tha nhn đng được hưởng: tnh lin đới, hợp với lời chỉ dẫn của luật vng v theo như sự ho phng của Cha l Đấng vốn giu sang đ ha nn ngho kh để lấy sự ngho kh của Người m lm giu cho chng ta (2 Cr 8, 9) (157): tiếp đ, sch Gio Lý trnh by một loạt những cch ứng xử v những hnh vi lm tổn hại phẩm gi con người như: trộm cắp, cố tnh cất giữ những của cải vay mượn hoặc những vật dụng thất thot, gian lận trong thương mại (x. Đnl 25, 13-16), trả lương khng cng bằng (x. Đnl 24, 14-15; Gc 5,4), tăng gi với thi độ nhẫn tm trn sự v tri hoặc trn nỗi cơ cực của người khc (x. Am 8, 4-6), chiếm dụng v lấy lm của ring những ti sản x hội của một cng trnh no đ, lm việc khng đng mức, gian lận thuế m, tro trở trong những ngn phiếu v ha đơn, chi tiu thi qu, phung ph v.v. (158). V cn nữa: Giới răn thứ bảy nghim cấm những hnh vi hoặc những cng trnh, v bất cứ lý do no hoặc ch kỷ hoặc ý thức hệ hoặc hm lợi hoặc chuyn chế, dẫn đến chỗ biến con người thnh n lệ, khng mng tới phẩm gi con người, mua bn v hon đổi con người như những mặt hng. Đ l tội chống lại phẩm gi con người v chống lại những quyền lợi cơ bản của con người v dng bạo lực m giản lược phẩm gi v những quyền lợi ấy thnh gi trị để hưởng dng hoặc thnh đầu mối để trục lợi. Thnh Phaol truyền lệnh cho người chủ Kit hữu phải đối xử với n lệ Kit hữu của mnh khng phải như người n lệ, nhưng như người anh em, như một con người trong Cha (Plm 16) (159).

101. Trong địa hạt chnh trị, cần phải ghi nhận rằng tất cả những yếu tố như chn lý trong cc mối quan hệ giữa những người bị trị với những người cai trị, sự trong suốt trong việc quản trị cng cộng, thi độ ch cng v tư, sự tn trọng đối với quyền lợi của cc đối thủ chnh trị, việc bảo ton quyền lợi cho những người bị ln n trước những vụ xt xử hay những n lệnh sơ thẩm, việc sử dụng cng bằng v lim khiết những nguồn vốn cng cộng, sự từ chối những phương tiện mờ m hoặc bất hợp lệ hng chiếm đoạt, gn giữ v gia tăng quyền bnh của mnh, đều l những nguyn tắc thoạt tin c cội rễ – cũng như, ngoi ra, mang tnh khẩn thiết đặc biệt – ở nơi gi trị siu việt của con người v ở nơi những đi buộc lun lý khch quan của việc điều hnh cc Nh Nước (160). Một khi người ta khng tun giữ những yếu tố trn, chnh nền tảng của sự chung sống chnh trị sẽ bị lung lay v dần d ton bộ đời sống x hội sẽ bị lũng đoạn, đe dọa v suy thoi (x. Tv 14/13, 3-4; Kh 18, 2-3. 9-24). Trong nhiều quốc gia, sau sự sụp đổ của cc ý thưc hệ nối liền chnh trị với một quan niệm chuyn chế về thế giới – m ý thức hệ đầu tin l chủ nghĩa mc-xt – c một mối nguy khng km quan trọng hiện đang hnh thnh do tnh trạng chối bỏ những nhn quyền cơ bản v do sự kiện nuốt trửng kht vọng tn gio trong khun khổ chnh trị, một kht vọng tiềm tng trong lng mỗi người: đ l mối nguy c sự lin minh giữa nền dn chủ với chủ nghĩa tương đối về lun lý, một chủ nghĩa lm cho tnh trạng chung sống giữa người dn với người dn chẳng cn một qui chiếu no vững chắc về mặt lun lý v một cch triệt để hơn, bị tước đoạt mất khả năng đn nhận chn lý. Thật ra, nếu khng c một chn lý tột cng no để dẫn đường v định hướng cho hoạt động chnh trị, cc tư tưởng v cc niềm xc tn sẽ dễ dng bị khai thc nhằm phục vụ cho quyền bnh. Một nền dn chủ m thiếu những gi trị th sẽ dễ dng biến thnh một chủ nghĩa chuyn chế cng khai hoặc ngấm ngầm, như lịch sử từng minh chứng (161).

Trong tất cả mọi lnh vực của đời sống bản thn, gia đnh, x hội v chnh trị, nền lun lý – vốn đặt nền tảng trn chn ý v trong chn lý, mở rộng cửa đn nhận tự do chnh tng – c thể ni, cung ứng một nguồn phục vụ độc đo, bất khả thay thế, rất cao về gi trị, chẳng những cho c nhn ng hầu con người tấn tới trong sự thiện, m cn cho x hội ng hầu x hội thực sự pht triển.

n sủng v sự tun phục Luật Thin Cha

102. Ngay cả trong những tnh huống gay cấn nhất, con người cũng phải tun giữ những chuẩn mực lun lý bằng cch tun phục những giới răn thnh thiện của Thin Cha v sao cho ph hợp với phẩm gi của mnh. Chắc hẳn sự ha điệu giữa tự do v chn lý đi khi đi hỏi những hy sinh vượt mức bnh thường v chỉ đạt được bằng một gi đắt đỏ, c khi đến độ tử đạo. Thế nhưng, đng như kinh nghiệm thường nhật v phổ qut xc nhận, con người bị cm dỗ ph vỡ sự ha điệu ấy: Điều ti muốn th ti khng lm, cn điều ti ght th ti lại lm Điều thiện m ti ao ước th ti khng lm v điều dữ m ti khng muốn th ti lại sai phạm (Rm 7, 15-19).

Xt cho cng, tnh trạng chia rẽ nội tại của con người như thế do đu m c? Con người khai mo lịch sử tội nhn của mnh khi con người khng cn nhn nhận Cha l Đấng Tạo Ha của mnh, v khi con người muốn tự mnh quyết định lấy đu l điều thiện v đu l điều dữ, với một sự độc lập hon tan. Cc ngươi sẽ nn giống Thin Cha, biết được điều thiện v điều dữ (St 3, 5), mỗi cm dỗ đầu tin l ở đ v từ đ vang vọng tất cả mọi cm dỗ khc, trong khi con người lại dễ nghing chiều hơn nữa về pha nhượng bộ do bởi những thương tch của cuộc sa ng ban đầu.

Thế nhưng người ta c thể thắng vượt cc mối cm dỗ v người ta c thể xa trnh cc tội, bởi v, cng với cc giới răn. Cha Kit ban cho chng ta khả năng tun giữ cc giới răn: Người đưa mắt nhn về pha những kẻ kinh sợ Người. Người tự mnh biết được tất cả mọi cng nghiệp của loi người. Người đ khng truyền lệnh cho một ai sống bất lương. Người đ khng ban cho bất cứ ai quyền được phạm tội (Hc 15, 19-20). Trong một số tnh huống, tun giữ Luật Thin Cha c thể l kh, rất kh, nhưng dầu vậy khng bao giờ l khng thể tun giữ. Đ chnh l gio huấn thường rằng trong truyền thống Gio hội m Cng Đồng Trent diễn tả như sau: Ngay cả khi đ được cng chnh ha, khng được tưởng rằng mnh đ được phng thch để khỏi phải tun giữ cc giới răn. Khng ai được dng cng thức to bạo v bị cấm chỉ sau đy, nếu dng sẽ bị vạ tuyệt thng do cc Đức Thnh Cha: con người đ được cng chnh ha khng thể no tun giữ nổi cc giới răn của Thin Cha. Bởi lẽ Thin Cha khng truyền dạy những điều bất khả thi, ngược lại khi truyền dạy, Ngi mời bạn lm điều bạn c thể lm v cầu xin điều bạn khng thể lm v Ngi gip bạn để bạn c thể lm. Cc giới răn của Ngi khng đ nặng (1 Ga 5, 3), ҇ch của Ngi th m i v gnh của Ngi th nhẹ nhng (x. Mt 11, 30) (162).

103. Khoảng khng gian thing ling của niềm hy vọng lun rộng mở đối với con người, với sự trợ gip của n sủng Thin Cha v sự cộng tc của tự do nhn linh.

Chnh ở nơi Thập gi cứu độ của Đức Gisu, ở nơi n huệ của Cha Thnh Thần, ở nơi cc b tch nảy sinh từ cạnh sườn bị đm thủng của Đấng Cứu Chuộc (x. Ga 19, 34) m người tn hữu tm gặp được n sủng v sức mạnh để lun tun giữ Lề Luật thnh thiện của Thin Cha, ngay cả trong những kh khăn nghim trọng nhất. Như Thnh An-r thnh Crte đ ni: Bằng cch dng n sủng để lm cho Lề Luật nn sống động, Thin Cha đ bắt lề luật phải phục vụ n sủng, với một sự ăn khớp hi ha v sai nở, khng trộn lẫn vo bn ny những g thuộc về bn kia, nhưng biến đổi một cch thật sự thần thing những g l cơ cực, đọa đầy v khng thể chịu nổi để lm cho chng nn nhẹ nhng v c khả năng giải thot (163).

Những khả năng cụ thể của con người chỉ c được ở trong mầu nhiệm Cứu Chuộc của Đức Kit. Thật l một sai lầm hết sức nghim trọng nếu từ đ m kết luận rằng qui luật m Gio Hội giảng dạy tự n chỉ l một lý tưởng , về sau cn cần phải thch nghi, sửa lại cho cn, xc định cấp độ, theo như người ta ni, ty thuộc vo những khả năng cụ thể của con người, theo như một sự cn bằng những điều thiện khc nhau được đặt ra. Thế nhưng đu l những khả năng cụ thể của con người? v người ta đang đề cập đến những con người no đy? Tới con người bị chế ngự bởi lng dục hay tới con người đ được Đức Kit cứu chuộc? Bởi v đ chnh l điều cần phải xt đến: thực thể của sự Cứu Chuộc do Đức Kit. Đức Kit đ cứu chuộc chng ta! Điều ny c nghĩa l: Người đ tặng ban cho chng ta khả năng thể hiện trọn vẹn sự thật của hữu thể chng ta: Người đ giải thot tự do của chng ta khỏi ch thống trị của lng dục. V nếu như một khi đ được cứu chuộc con người vẫn cn phạm tội, th đ khng phải do hnh vi cứu chuộc của Đức Kit l bất ton, nhưng do con người c ý muốn tch mnh ra khỏi dng n sủng pht sinh từ hnh vi ấy. Giới răn của Thin Cha chắc chắn cn xứng với những năng lực của con người, nhưng với những năng lực của con người đ được ban tặng Thnh Thần, của một con người nếu như c vấp ng trong tội th vẫn lun c thể đạt được ơn tha thứ v vẫn lun c thể hưởng nhờ sự hiện diện của Thần Kh (164).

104. Chnh trong bối cảnh ny c sự mở ng đng mức vo lượng từ i của Thin Cha dnh cho tội nhn biết hon cải vo niềm thng hiểu đối với sự yếu đuối của con người. Niềm thng hiểu ny khng bao giờ c nghĩa l thoi nhượng hoặc cn đo một cch sai lạc điều thiện v điều dữ để thch nghi với cc hon cảnh. Được kể l thi độ nhn bản nếu con người sau khi phạm tội biết nhn nhận sự yếu đuối của mnh v cấu xin lượng từ i đối với lỗi phạm của mnh, trong khi đ th ngược lại, khng thể no l thi độ c thể chấp nhận nếu con người lấy sự yếu đuối của mnh để dng lm tiu chuẩn đo lường chn lý về điều thiện, sao cho c thể cảm thấy mnh biện minh cho mnh l đủ, khng cn cần phải nại đến Thin Cha v lượng từ i của Ngi. Thi độ thứ hai ny lm băng hoại nền lun lý của ton thể x hội, bởi v n dạy phải nghi ngờ về tnh khch quan của lề luật lun lý ni chung v phải từ chối tnh chất tuyệt đối của những lệnh cấm lun lý lin quan tới những hnh vi nhn linh nhất định, v cuối cng n sẽ xo trộn hết mọi phn đon về gi trị.

Ngược hẳn với thi độ trn, chng ta phải đn nhận sứ điệp được chuyển đến cho chng ta qua dự ngn người biệt phi v người thu thuế trong Tin Mừng (x. Lc 18, 9-14). Người thu thuế c lẽ cũng biện minh đi điều về những tội mnh đ phạm, nhằm giảm bớt trch nhiệm của mnh. Dầu vậy người ny khng dừng lại ở những lời biện minh ấy trong khi cầu nguyện, nhưng đ dừng lại ở nơi tnh trạng bất xứng của mnh trước sự thnh thiện v bin của Thin Cha: Lạy Thin Cha ti, xin dủ lng thương ti l kẻ c tội! (Lc 18, 13). Cn người biệt phi th ngược lại đ tự mnh biện minh cho mnh v hẳn đ tm đủ lý lẽ để bo chữa cho từng sai st của mnh. Như vậy chng ta đối đầu với hai thi độ khc nhau nơi lương tm lun lý của con người thuộc mọi thời đại. Người thu thuế nu dẫn cho chng ta một lương tm thống hối với ý thức trn đầy về bản tnh mỏng manh của mnh v với sự nhn nhận nơi những sai st của mnh, bất kể những biện minh chủ quan, niềm xc quyết về sự kiện ny l mnh cần ơn cứu chuộc. Người biệt phi nu dẫn một lương tm thỏa mn về chnh mnh, với ảo tuởng rằng mnh c thể tun giữ lề luật m khng cần sự trợ gip của n sủng v với niềm thm tn rằng mnh chẳng cần đến lượng từ i.

105. Mọi người đều được yu cầu phải cảnh gic cao độ để khng bị thấm nhiễm thi độ biệt phi l thi độ tự ho loại bỏ tm tnh về giới hạn của mnh v về tội của mnh, thi độ ấy ngy nay được biểu lộ một cch đặc biệt bằng tham vọng đem chuẩn mực lun lý thch nghi với những năng lực của mnh, với những lợi ch ring của mnh, thậm ch đến chỗ từ bỏ lun cả khi niệm chuẩn mực. Ngược lại, chấp nhận tnh trạng bất cn xứng giữa lề luật với những năng lực của con người, nghĩa l những năng lực chỉ bao gồm những sức mạnh lun lý của con người một khi bị bỏ mặc tự mnh, th sẽ khơi dậy lng khao kht n sủng v sẽ ứng ph sẵn sng để đn n sủng. Thnh Phaol tự hỏi: Ai sẽ giải thot ti cho khỏi thn xc bằng x đẩy ti vo ci chết ny?. Thnh nhn trả lời bằng một cu tuyn xưng vui tươi v tri n: Xin tạ ơn Thin Cha nhờ Đức Gisu Kit Cha chng ta! (Rm 7, 24-25).

Chng ta gặp lại cng một tm thi ấy trong lời cầu nguyện của thnh Ambrsi thnh Milan:
Con người l chi nếu Người khng thăm viếng? Xin Người đừng qun kẻ yếu đuối. Lạy Cha, xin Người nhớ lại Người đ dựng nn con yếu đuối: xin Người nhớ lại Người đ tc tạo nn con từ tro bụi. Lm sao con c thể đứng vững nếu Người khng lun để tm lm cho bn đất l chnh con được nn cứng cp, nếu Người khng để cho dung nhan Người mang lại sức mạnh cho con? Cha ẩn mật đi, chng con rụng rời kinh hi (Tv 104/ 103, 29): con thật khốn khổ nếu Người đưa mắt nhn con! Người sẽ chỉ thấy nơi con ton l những hậu quả của lỗi lầm con: bị Thin Cha bỏ rơi th đ đnh rồi nhưng được Ngi ngắm nhn cũng chẳng ch lợi chi, bởi v chng con xc phạm đến Ngi. Dầu vậy, chng con c quyền tin rằng Ngi khng ruồng rẫy những kẻ Ngi xem thấy v Ngi thanh tẩy những kẻ Ngi đưa mắt nhn. Trước mặt Người, bừng chy ln ngọn lửa c sức thiu đốt tội lỗi (x. Ge 2, 3) (165).

Lun lý v cng cuộc phc m ha mới

106. Cng cuộc phc m ha được kể l thch đố mnh liệt nhất v ho hng nhất m Gio Hội được ku mời đảm nhận ngay tự buổi đầu. Thật ra, thch đố ny khng do nơi những tnh huống x hội v văn ha m Gio Hội gặp phải theo dng lịch sử cho bằng do nơi mệnh lệnh của Đức Gisu Kit phục sinh l mệnh lệnh xc định ngay cả lý do hiện hữu cho Gio hội: Anh em hy đi khắp thế giới, hy cng bố Tin Mừng cho hết mọi tạo vật (Mc 16, 15).

Thế nhưng thời đại chng ta đang sống, t ra nơi nhiều dn tộc, đng hơn phải ni l thời đại của một thch đố dữ dội đối với cng cuộc phc m ha mới, nghĩa l đối với việc loan bo Tin Mừng ngy cng mới mẻ hơn v ngy cng cưu mang nhiều tnh chất mới mẻ hơn, một cng cuộc phc m ha phải l mới về mặt kh thế, về những phương php, về lề lối diễn đạt (166). Hiện tượng phi Kit ha vốn đang tc hại đến những cộng đon v những dn tộc xưa kia dạt do đức tin v trn đầy sức sống Kit hữu chẳng những đương nhin dẫn đến tnh trạng mất đức tin hoặc, t nhất, tnh trạng đức tin trở thnh v nghĩa trong cuộc sống, nhưng cn dẫn đến, một cch nhất thiết, tnh trạng suy thoi v lu mờ của cảm thức lun lý: sở dĩ như thế l bởi v tnh chất độc đo của nền lun lý Tin Mừng khng cn được cảm nhận nữa, hay bởi v cc gi trị v cả cc nguyn tắc lun lý cơ bản đều bị xa bỏ. Những tro lưu duy chủ quan, duy lợi ch v duy tương đối, hiện nay đ phổ biến một cch rộng ri, khng cn được coi một cch đơn giản như l những lập trường thực dụng, như l những nt phong ha, nhưng như l những quan điểm chắc nịch về phương diện lý thuyết v đi phải được mặc cho tnh chất hợp php trọn vẹn về mặt văn ha v x hội.

107. Cng cuộc phc m ha – v ở đy l cng cuộc phc m ha mới – vừa bao gồm sự loan bo lẫn sự đề nghị về lun lý. Chnh Đức Gisu, trong khi rao giảng về Nước Thin Cha v về tnh yu cứu độ, đ ging tiếng ku mời niềm tin v sự hon cải (x. Mc 1, 15). Cn Thnh Phr, cng với cc Tng Đồ khc, khi loan bo sự phục sinh từ ci chết của Đức Gisu Nazaret, th đề nghị một đời sống mới, một con đường phải theo đuổi để lm mn đệ của Đấng Phục Sinh (x. Cv 2, 37-41: 3. 17-20).

Cũng như đối với cc chn lý đức tin v cn hơn thế nữa, cng cuộc phc m ha mới, trong khi đề nghị những nền mng v nội dung của nền lun lý Kit gio, lun chứng tỏ tnh chnh tng của mnh v đồng thời thi thố hết tất cả sức mạnh truyền gio của mnh v chẳng những được thực hiện nhờ vo ơn cng bố lời nhưng cn nhờ vo lời được p dụng bằng cuộc sống. Một cch đặc biệt, chnh nhờ cuộc sống trong sự thnh thiện vốn chi ngời nơi nhiều thnh phần dn Cha, những thnh phần khim hạ v thường ẩn khuất dưới con mắt người đời, m chng ta c được phương thế đơn giản nhất v li cuốn nhất để nhờ đ m c thể tức khắc cảm nhận vẻ đẹp của chn lý, cảm nhận sức mạnh giải thot của tnh yu Thin Cha, cảm nhận gi trị của sự trung thnh v điều kiện đối với tất cả những đi buộc của Luật Cha, ngay cả trong những trường hợp gay go nhất. Chnh v thế m, với sự khn ngoan trong lnh vực sư phạm lun lý. Gio Hội đ lun mời gọi cc tn hữu hy kiếm tm v gặp thấy nơi cc thnh nam v thnh nữ, trước hết nơi Đức Trinh Nữ Mẹ Thin Cha, mẫu mực, sức mạnh v niềm vui để sống một cuộc đời trung thnh với cc giới răn của Thin Cha v với cc Mối Phc Thật của Tin Mừng.

Đời sống của cc thnh, phản ảnh lng Thin Cha nhn hậu – Đấng duy nhất Tốt Lnh – chẳng khc no một lời tuyn xưng đức tin thực sự v một động cơ khch lệ để đức tin được truyền đạt cho người khc, đồng thời chẳng khc no một sự tn vinh Thin Cha v tn vinh sự thnh thiện v bin của Ngi. Như thế nhờ đời sống thnh thiện, bộ ba chức vụ ngn sứ, tư tế v vua lm thnh một khối duy nhất được ban cho mỗi một Kit hữu vo ngy ti sinh bởi nước v Thnh Thần đạt tới mức biểu hiện v ứng dụng một cch trọn vẹn (Ga 3, 5). Đời sống lun lý của Kit hữu mang gi trị của một phượng tự thing ling (Rm 12, 1: x. Ph 3, 3), được kn mc v nui dưỡng nơi nguồn mạch v tn vinh khn vời của Thin Cha, l cc b tch, đặc biệt b tch Thnh Thể; quả vậy, khi thng phần vo hy lễ của Thập Ga, người Kit hữu kết hợp với tnh yu hiến dng của Đức Kit, người Kit hữu đủ sức v được nhập cuộc để sống cng một tnh yu ấy qua mọi thi độ v mọi hnh vi ứng xử trong đời mnh. Trong đời sống lun lý, người ta cn nhận thấy việc phục vụ của Kit hữu với tư cch l vua được thi thố: cng tun phục Luật mới của Thnh Thần với sự trợ gip của n sủng, người Kit hữu cng lớn ln trong tự do m mnh vốn đ được mời gọi tiến vo khi phục vụ lun lý, bc i v cng bằng.

108. Nơi nguồn cội của cng cuộc phc m ha mới v của đời sống lun lý mới m cng cuộc phc m ha đề nghị v khơi dậy với những hoa tri của sinh hoạt truyền gio v của sự thnh thin, c Thần Kh của Đức Kit, nguyn lý v sức mạnh cho sự sai nở của Mẹ Thnh Gio Hội như Đức Phaol VI gợi nhắc cho chng ta:Cng cuộc phc m ha sẽ khng bao giờ l khả thi nếu khng c hoạt động của Cha Thnh Thần (167). Như thế, chnh do bởi Thần Kh của Thin Cha, được đn nhận trong con tim khim hạ v ngoan ngy của người tn hữu, m chng ta c được sự triển nở của đời sống lun lý v c được chứng từ cho sự thnh thiện trong những ơn gọi rất dị biệt, những ti năng, những trch nhiệm v những điều kiện sinh sống hoặc tnh huống: như Novatian đ từng gip nhận xt đồng thời biểu lộ qua đ đức tin chnh tng của Gio Hội, đ chnh l Cha Thnh Thần. Đấng đ củng cố tm hồn v tr c của cc mn đệ, đ vn mở cho họ những mầu nhiệm Tin Mừng, đ lm rực sng ln nơi họ nh sng của những sự việc thần thing, được tăng cường sức mạnh như thế, họ đ v danh Cha m khng sợ t ngục v xiềng xch: ngược lại, họ cn khinh ch cả những quyền lực v những kiểu tra tấn ở đời ny, v từ nay đ được trang bị v được bổ sức nhờ Ngi: họ c được nơi chnh mnh những ơn m cng một Thần Kh ấy phn phối v trao gởi cho Gio Hội, Hiền Th của Đức Kit, tựa như những hạt ngọc. Qủa vậy, chnh Ngi l Đấng, trong Gio Hội, cắt đặt cc ngn sức, dạy dỗ cc tiến sĩ, hướng dẫn lời, lm những dấu lạ v chữa bệnh, thực hiện những điều kỳ diệu, ban cho ơn phn định cc thần linh, qui gn những trọng trch cai quản gợi hứng cho những quyết định, đặt vo đng chỗ v điều hnh tất cả mọi đặc sủng khc, v bằng cch ấy mang lại cho Gio Hội của Cha mức trọn hảo v thnh ton khắp mọi nơi v về mọi phương diện (168).

Giờ đy, ty thuộc vo hoạt động của Cha Thnh Thần v trong khun khổ của cng cuộc phc m ha mời vốn nhắm mục tiu lm trổ sinh v dưỡng nui đức tin tc động nhờ đức i (Gl 5, 6), chng ta c thể hiểu được, trong Gio Hội, cộng đon cc tn hữu, đu l vị thế xứng hợp dnh cho cng cuộc tư duy về đời sống lun lý m thần học cần phải hướng dẫn, cũng như chng ta c thể giới thiệu về sứ mệnh v trch nhiệm đặc th của cc nh thần học lun lý.

Dịch vụ của cc nh thần học lun lý

109. Ton thể Gio Hội đều được mời gọi bắt tay vo cng cuộc phc m ha v vo việc lm chứng cho một đời sống đức tin, bởi lẽ Gio hội thng chia chức vụ ngn sứ (munus propheticum) của Cha Gisu nhờ ơn của Thần Kh Người. Nhờ vo sự hiện diện lin lỉ của Thnh Thần chn lý trong Gio hội (x. Ga 14, 16-17), tập hợp cc tn hữu, vốn đ lnh nhận việc xức dầu từ nơi Đấng Thnh (x. 1Ga 2, 20-27), khng thể no sai lầm trong đức tin: ơn ring m họ sở hữu ny, họ biểu lộ bằng phương thế cảm thức siu nhin về đức tin l cảm thức của dn Cha trong ton thể, mỗi khi. từ cc gim mục cho ch cc tn hữu gio dn rốt cng, họ dnh cho cc ch lý lin quan đến đức tin v phong ha một sự đồng tnh phổ qut (169).

Để chu ton sứ mệnh ngn sứ, Gio Hội phải khng ngừng kch thch v khơi thắm lại đời sống đức tin của mnh (x. 2Tm 1, 6), đặc biệt bằng một cng cuộc tư duy ngy cng thm su hơn, dưới sự hướng dẫn của Cha Thnh Thần, về nội dung của chnh đức tin. Một cch đặc loại, ơn gọi của thần học gia trong Gio Hội l nhằm phục vụ việc người tn hữu truy tm sự hiểu biết cho đức tin: Trong số những ơn gọi được Thần Kh khơi dậy như thế trong Gio Hội – đy l điều chng ta đọc thấy trong Huấn Thị Donum veritatis – ơn gọi của thần học gia c phần nổi bật v thần học gia, một cch đặc biệt, c nhiệm vụ cng hiệp thng với Huấn Quyền để đạt tới một sự hiểu biết ngy cng su rộng hơn về Lời Cha chứa đựng trong Kinh Thnh đ được linh ứng v đ được Truyền Thống sống động của Gio Hội lưu truyền. Do tự bản chất của n, đức tin hướng đến sự hiểu biết, bởi v đức tin mở cửa của cho con người bước vo chn lý lin quan đến vận mệnh của mnh v bước vo con đường để đạt tới vận mệnh ấy. Cho dẫu lun lý mạc khải vượt ln trn lời lẽ của chng ta, v cho dầu mọi khi niệm của chng ta đều bất ton trước sự cao cả của chn lý với tầm vc vin mn mun trng (x. Ep 3, 19), chn lý vẫn mời gọi lý tr chng ta – lý tr chng ta l ơn Thin Cha ban để nhận thức lun lý – tiến bước vo trong nh sng của n v nhờ đ trở nn đủ sức hiểu được trong một mức độ no đ điều m mnh tin. Với cng việc truy tm sự hiểu biết cho đức tin để đp lại tiếng của Chn lý hằng cất ln gọi mời, khoa học thần học gip cho dn Cha, dựa theo giới răn tng truyền (x. 1Pr 3, 15), by tỏ niềm trng cậy của mnh cho những ai yu cầu (170).

Để xc định căn tnh v, do đ, để khởi động sứ mệnh đặc th của thần học, điều cốt yếu l phải nhn nhận mối dy lin kết mật thiết v sống động giữa thần học với Gio Hội, với mầu nhiệm của Gio Hội, với đời sống v sứ vụ của Gio Hội: Thần học l một khoa học mang chiều kch Gio Hội, bởi v thần học tăng trưởng trong Gio Hội v tc động trn Gio Hội Thần học nhằm phục vụ Gio Hội v như thế thần học phải tự cảm thấy mnh được lồng vo trong sứ vụ của Gio Hội một cch năng động, đặc biệt trong sứ vụ ngn sứ (171). Với bản chất v với guồng năng động như trn, thần học chnh tng chỉ c thể triển nở v pht huy nhờ vo sự thng phần với v thuộc về Gio Hội xt như l cộng đon đức tin với một thi độ thm tn v c trch nhiệm, cũng như chnh Gio Hội v đời sống Gio Hội trong đức tin được hưởng nhờ những thnh quả của cng trnh nghin cứu v đo su thần học.

110. Điều đ được pht biểu về thần học ni chung th cũng c thể v phải được lặp lại đối với thần học lun lý, được xt đến trong tnh chất chuyn biệt của n l tư duy một cch khoa học về Tin Mừng xt như l hồng n v l mệnh lệnh sống đời sống mới, về đời sống dựa theo chn lý v trong đức i (Ep 4, 15), về đời sống nn thnh của Gio Hội, trong đ chi ngời chn lý về điều thiện được đẩy mạnh tới mức trọn hảo. Trong lnh vực đức tin, v một cch khng thể tch rời, cả trong lnh vực lun lý. Huấn Quyền của Gio Hội can thiệp vo với trch vụ nhờ những phn đon mang tnh chuẩn mực hầu gip cho lương tm cc tn hữu, phn định xem đu l những hnh vi tự chnh ph hợp với những đi buộc của đức tin v đu l những hnh vi thăng tiến sự biểu hiện đức tin trong cuộc sống v đu l những hnh vi ngược lại, do bởi mnh lực xấu nội tại, khng thể dung hợp với những đi buộc ấy (172). Trong khi rao giảng những giới răn của Thin Cha v đức i của Cha Kit. Huấn Quyền của Gio Hội cũng dạy dỗ cho cc tn hữu những mệnh lệnh đặc th v chuyn biệt, v Huấn Quyền của Gio Hội yu cầu cc tn hữu phải lấy lương tm m coi cc giới răn v mệnh lệnh ấy l b buộc về mặt lun lý. Ngoi ra Huấn Quyền nắm giữ một vai tr quan trọng về mặt cảnh gic, để rồi ku gọi cc tn hữu phải canh chừng trước sự hiện diện của nhiều sai lầm c nguy cơ xẩy đến ngay cả khi đ chỉ l những sai lầm mặc nhin, khi m lương tm của cc tn hữu khng đủ tấm mức để nhận ra sự chuẩn xc v chn lý của cc qui tắc lun lý m Huấn Quyền giảng dạy.

Chnh trong địa hạt ny m c can dự vai tr chuyn biệt của những người giảng dạy thần học lun lý trong cc chủng viện v trong cc phn khoa thần học do sự ủy thc của cc mục tử hợp php. Họ c bổn phận nghim trọng l phải gio huấn cc tn hữu – đặc biệt cc mục tử tương lai – về tất cả những giới răn v tất cả cc chuẩn mực thực hnh m Gio Hội dng quyền để xướng (173). Mặc cho những giới hạn c thể c trong những chứng minh mang chiều kch nhn linh m Huấn Quyền trnh by, cc nh thần học lun lý vẫn được mời gọi đo su những hnh động lực đ dẫn đến cc lời gio huấn của Huấn Quyền, nu bật những nền mng của cc mệnh lệnh Huấn Quyền đưa ra v nu bật tnh chất b buộc của cc mệnh lệnh ấy bằng cch dẫn giải về những mối dy lin kết cc mệnh lệnh ấy lại với nhau v về mối tương quan giữa cc mệnh lệnh ấy với cng đch tối hậu của con người (174). Bổn phận của cc nh thần học lun lý l phải trnh by học thuyết của Gio Hội v trong khi thi hnh thừa tc vụ, phải nu gương về một thi độ qui phục chn thnh, bn trong v bn ngoi, đối với gio huấn của Huấn Quyền trong lnh vực tin lý v trong lnh vực lun lý (175). Vận dụng ton bộ năng lực của mnh để cộng tc với Huấn Quyền phẩm trật, cc nh thần học phải quyết tm ngy cng lm sng tỏ hơn những nền tảng Thnh Kinh, những ý nghĩa lun lý v những động cơ về mặt nhn học, l những yếu tố chống đỡ học thuyết lun lý v nhn sinh quan m Gio Hội đề nghị.

111. Những dịch vụ m cc nh thần học lun lý được mời gọi cung ứng vo thời buổi hiện nay mang tầm quan trọng hng đầu, chẳng những đối với đời sống v sứ vụ của Gio Hội, m cn đối với x hội v đối với nền văn ha nhn linh. Trong một mối lin kết chặt chẽ v sống cn với thần học Thnh Kinh v thần học tin lý, cc nh thần học lun lý c trch nhiệm dng tư duy khoa học của mnh để nu r kha cạnh năng động l kha cạnh của lời đp trả m con người phải thực thi trước lời mời gọi của Thin Cha bằng cch tấn tới trong tnh yu giữa lng cộng đon cứu độ. Nhờ đ thần học lun lý sẽ đạt được chiều kch thing ling nội tại hợp với đi hỏi của sự pht huy trọn vẹn hnh ảnh Thin Cha (imago Del) vốn cư tr trong con người v sẽ đạt được tiến bộ thing ling m ngng khổ chế v ngnh thần b Kit gio m tả (176).

Ngy nay, chắc hẳn thần học lun lý v gio huấn của thần học lun lý đang phải đối đầu với nhiều kh khăn đặc biệt. Bởi lẽ lun lý của Gio Hội nhất thiết bao gồm một chiều kch chuẩn mực, người ta khng thể no giản lược thần học lun lý thnh một thứ kiến thức được dồi mi trong một khun khổ duy nhất gọi l cc khoa học nhn văn. Trong khi cc khoa học nhn văn đề cập tới hiện tượng đời sống lun lý như l một dữ kiện lịch sử v x hội, thần học lun lý tuy vẫn phải sử dụng những khoa học về con người v về thin nhin vẫn khng v thế m phải lụy phục cc hệ quả của cng việc quan st duy nghiệm v duy hnh thức hoặc của cng việc ch giải theo hiện tượng luận. Thật ra, sự thch ứng của cc khoa học nhn văn trong thần học lun lý phải lun được thẩm định ty theo vấn nạn chủ chốt ny: điều thiện hoặc điều dữ l g? Phải lm g để đạt được sự sống vĩnh cửu?

112. Bởi thế nh thần học lun lý phải thực hiện một cuộc phn định chăm ch trong khun khổ của nền văn ha hiện đại vốn cốt yếu mang chiều kch khoa học v kỹ thuật, một nền văn ha rất dễ rơi vo những nguy cơ của chủ nghĩa tương đối, chủ nghĩa thực dụng v chủ nghĩa duy nhiệm. Về phương diện thần học, cc nguyn tắc lun lý khng lệ thuộc vo thời khắc lịch sử m chng được khm ph. Lại nữa, nếu như c một số tn hữu hnh động m khng tun theo gio huấn của Huấn Quyền hoặc nếu như một lối xử sự đ được cc vị mục tử của họ tuyn bố l ngược với Luật Thin Cha m họ lại lầm lạc m cho l chnh đng xt theo lun lý, sự kiện ấy vẫn khng thể no l một lý chứng c gi trị để bc bỏ chn lý của cc chuẩn mực lun lý m Gio Hội dạy. Sự khẳng định những nguyn tắc lun lý khng pht sinh từ những phương php duy nghiệm v duy hnh thức. Khng bi xch hiệu năng của cc phương php ấy, nhưng cũng khng giới hạn tầm nhn của mnh ở những phương php ấy, thần học lun lý, lun trung hnh với cảm thức siu nhin của đức tin, sẽ đề cao trước hết chiều kch thing ling của tri tim nhn linh ơn gọi của tri tim ấy trước tnh yu thần thing.

Quả vậy, trong khi cc khoa học nhn văn, cũng như tất cả mọi khoa học thực nghiệm, khai triển một quan niệm duy nghiệm v cố định về mực độ thng thường (normalit), đức tin dạy rằng mực độ thng thường ấy lại mang lấy nơi chnh mnh những vết tch do cuộc sa ng của con người so với tnh trạng nguyn thủy của n, nghĩa l mực độ thng thường đ bị tội đả thương. Chỉ c đức tin Kit gio mới chỉ dẫn cho con người lối nẻo để quay về với nguyn thủy (x. Mt 19, 8), một lối nẻo thường rất khc với lối nẻo của mực độ thng thường duy nghiệm. Hiểu như thế, mặc dầu những nhận thức m cc khoa học nhn văn mang lại c gi trị rất cao, cc nh khoa học nhn văn vẫn khng thể no được coi l đng vai chỉ dẫn r rệt cho cc chuẩn mực lun lý. Chnh Tin Mừng vn mở chn lý ton vẹn về con người v về lộ trnh lun lý của con người, v chnh Tin Mừng nhờ đ soi sng v cảnh tỉnh cc tội nhn bằng cch loan bo cho cc tội nhn lượng từ i của Thin Cha. Đấng khng ngừng hoạt động để gn giữ họ khỏi nỗi thất vọng v khng thể hiểu biết v tun giữ Luật Thin Cha v cũng để gn giữ họ khỏi cao vọng cho rằng mnh c thể tự cứu thot m khng cần cng nghiệp. Tin Mừng cũng đồng thời nhắc nhở cho cc tội nhn về niềm vui được ơn tha thứ v chỉ c ơn tha thứ mới mang lại sức mạnh để nhận ra ở nơi lề luật lun lý một chn lý c sức giải thot một n phc cưu mang hy vọng, một đường nẻo dẫn đến sự sống.

113. Khi được đem ra giảng dạy, học thuyết lun lý giả thiết rằng cc trch nhiệm tr thức, thing ling v mục vụ đều đang được đảm nhận một cch c ý thức. Chnh v thế khi chấp nhận trọng trch giảng dạy học thuyết của Gio Hội cc nh thần học lun lý c bổn phận nghim trọng phải huấn luyện cho cc tn hữu biết phn định lun lý, biết dấn thn cho sự thiện đch thực v biết chạy đến n sủng của Thin Cha với lng tn thc.

Nếu như những đồng qui v những xung khắc về quan niệm c thể l những biểu hiện bnh thường của đời sống cng cộng trong khun khổ của một nền dn chủ gồm những đại biểu, học thuyết lun lý chắc chắn khng thể no chỉ ty thuộc vo một tiến trnh dn xếp: thật ra, học thuyết lun lý khng hề được thiết lập bằng cch p dụng những qui luật v những thể thức của một cuộc trưng cầu ý dn theo kiểu dn chủ. Nếu được dệt nn do những bi xch c suy tnh v do những cuộc bt chiến, nếu được by tỏ bằng cch sử dụng những phương tiện truyền thng x hội, thi độ bất đồng sẽ đi ngược lại với mối dy hiệp thng Gio Hội v sẽ chứng tỏ rẳng khng c sự hiểu biết ngay chnh về hiến chế phẩm trật của Dn Cha. Khng thể no cng nhận nơi sự đối khng chống lại gio huấn của cc mục tử một hnh thức biểu lộ chnh đng của tự do Kit hữu hoặc của tnh chất dị biệt nơi cc ơn của Thần Kh. Trong trường hợp ny, cc mục tử c bổn phận hnh động sao cho ph hợp với sứ mệnh tng đồ của mnh, phải đi hỏi cho lun c được sự tn trọng đối với quyền của cc tn hữu, l quyền được lnh nhận học thuyết cng gio một cch tinh tuyền v ton vẹn: Khng bao giờ qun rằng mnh cũng l thnh phần của Dn Cha, thần học gia phải tn trọng dn Cha v phải để tm cống hiến cho dn Cha một nền gio huấn khng lm tổn hại cht no đến học thuyết đức tin (177).

Trch nhiệm mục tử của chng ta

114. Chnh cc mục tử, với một tước hiệu ring biệt, được giao ph trch nhiệm đối với đức tin của Dn Cha v đối với đời sống Kit hữu của Dn Cha, theo như Cng Đồng Vatican II nhắc nhở: Trong số những trch vụ chnh yếu của cc gim mục,. trch vụ rao giảng Tin Mừng nằm ở hng đầu. Cc gim mục thật ra l những pht ngn vin của đức tin vốn lm cng việc dẫn đến với Cha Kit những mn đồ mới; cc ngi l những tiến sĩ chnh tng, nghĩa l được trao tặng quyền uy của Cha Kit, v cc ngi rao giảng cho đon dn được ký thc cho mnh về đức tin vốn chỉnh đốn tư tưởng v hạnh kiểm của chnh cc ngi, cc ngi lm cho đức tin ấy tỏa chiếu dưới nh sng của Cha Thnh Thần, cc ngi rt tỉa ci mới v ci cũ ra từ kho tng Mạc Khải (x. Mt 13, 52), lm cho đức tin trổ sinh hoa tri, ch tm gạt bỏ những sai lầm đang đe dọa đon chin của cc ngi (x. 2Tm 4, 1-4) (178).

Bổn phận chung của chng ta v hơn nữa, n sủng chung của chng ta, đ l giảng dạy cho tn hữu, với tư cch l mục tử v gim mục trong Gio Hội, về những g đưa dẫn họ tiến đến Thin Cha, như ngy no Cha Gisu đ thực hnh với người thanh nin trong Tin Mừng. Để đp lại cu hỏi của người thanh nin: Ti phải lm điều tốt no để đạt được sự sống vĩnh cửu?. Đức Gisu đ đưa người thanh nin quay về với Thin Cha, Đấng l Chủ Tế của cng trnh tạo dựng v của Giao Ước; Đức Gisu đ nhắc lại cho người thanh nin những giới răn lun lý đ c sẵn trong Cựu Ước: Người đ nu ln tinh thần v tnh chất triệt để của cc giới răn bằng cch mới người thanh thin cất bước theo người trong sự ngho kh, khim nhượng v yu thương: Hy đến v hy nối gt theo Ta!. Chn lý của học thuyết ny đ được đng ấn trong mu của Đức Kit trn Thập Ga: chn lý ấy, trong Cha Thnh Thần, đ trở thnh Luật mới của Gio Hội v của mỗi một Kit hữu.

Lời giải đp như trn trước vấn nạn lun lý, Đức Gisu Kit giao ph cch ring cho chng ta l những mục tử trong Gio Hội, l những kẻ được ku mời lấy lời giải đp ấy lm chất liệu giảng dạy, trong khi chng ta thực thi chức vụ ngn sứ (munus propheticum). Cng một lc, về những g lin quan tới lun lý Kit gio, trch nhiệm mục tử của chng ta cũng phải được thực thi thố dưới hnh thức của chức vụ tư tế (munus sacerdotale): đ chnh l điều được thể hiện khi chng ta phn pht cho cc tn hữu những ơn thnh sủng v thnh ha đẻ nhờ đ cc tn hữu c thể tun phục Lề Luật thnh thiện của Thin Cha, v khi chng ta nng đỡ cc tn hữu bằng việc cầu nguyện lin lỉ v tn thc của chng ta ng hầu cc tn hữu biết trung thnh với những đi buộc của đức tin v biết sống theo Tin Mừng (x. Cl 1, 9-12). Học thuyết lun lý Kit gio, nhất l ngy nay, phải l một trong những lnh vực được biệt đi bằng thi độ cảnh gic mục vụ của chng ta, trong khi chng ta thi hnh chức vụ vương giả (munus regale).

115. Kỳ thực, đy l lần đầu tin m Huấn Quyền Gio Hội đưa ra một bản văn diễn giải kh su rộng về cc yếu tố cơ bản của học thuyết lun lý, v cũng l lần đầu tin m Huấn Quyền trnh by những lý lẽ của cng việc phn định mục vụ l cng việc phải ni rất cần thiết trong những tnh huống thực tiễn v những điều kiện văn ha phức tạp v lắm gay cấn như hiện nay.

Dưới nh sng Mạc Khải v gio huấn thường hằng của Gio Hội, đặc biệt dưới nh sng Cng Đồng Vatican II. Ti đ nhắc nhở một cch tm lược những đường nt cốt yếu của tự do, những gi trị cơ bản hắn liền với phẩm gi con người v với chn lý của cc hnh vi con người, sao cho nhờ đ người ta c thể nhận ra rằng tun phục lề luật lun lý th chnh l n phc v l dấu chỉ cho việc chng ta được nhận lm dưỡng tử trong Con duy nhất (x. Ep 1, 4-6). Cch ring, bức thng điệp ny cung cấp những thẩm định về những g lin quan tới một số khuynh hướng đương đại của thần học lun lý. Giờ đy. Ti xin chia sẻ những thẩm định ny cho chư huynh, với tinh thần tun phục lời Cha đ ni khi giao ph cho Phr trch nhiệm củng cố cc anh em (x. Lc 22, 32) nhằm mục đch soi sng v tạo điều kiện dễ dng cho cuộc phn định chung của chng ta.

Ai trong chng ta cũng ý thức tầm quan trọng của học thuyết đang lm thnh cốt li cho vưc thng điệp ny v hiện đang được nhắc lại hm nay với quyền của Vị Kế Nhiệm thnh Phr. Ai trong chng ta cũng c thể lường được mức độ nghim trọng của vấn đề đang được đặt ra, khng những chỉ ring cho cc c nhn m cn cho ton thể x hội, cng với việc ti khẳng định về tnh phổ qut tnh bất biến của cc giới răn lun lý, v một cch đặc biệt về những giới răn nghim cấm những hnh vi tự chng l xấu trong mọi trường hợp v khng hề miễn trừ.

Khi nhn nhận cc giới răn ny, con tim Kit hữu v đức i phục vụ của chng ta như nghe ra lời ku mời của Đấng đ yu chng ta trước (1 Ga 4, 19). Thin Cha yu cầu chng ta phải nn thnh như chnh Ngi l thnh (x. Lc 19, 2), phải nn hon hảo, trong Đức Kit, như chnh Ngi l hon hảo (x. Mt 5, 48): tnh chất khe khắt của giới răn vốn đặt nền tảng trn tnh yu từ i v khn vơi của Thin Cha (x. Lc 6, 36) v mục đch của giới răn l dẫn dắt chng ta, cng với n sủng của Đức Kit, trn con đường tiến đến sự sống vin mn vốn dnh ring cho những người lm con Thin Cha.

116. Với tư cch l gim mục, chng ta c bổn phận phải canh chừng để cho Lời Cha được giảng dạy một cch trung thnh. Chư Huynh trong Hng Gim Mục thn mến, một trong những trch nhiệm thuộc về thừa tc vụ mục tử của chng ta, đ l phải chăm lo sao cho gio huấn lun lý ny được truyền đạt một cch trung thnh v phải đưa ra những biện php thch hợp để gn giữ cc tn hữu khỏi mọi chủ nghĩa v mọi lý thuyết đối nghịch với gio huấn ny. Trong trọng trch ny tất cả chng ta đều c được sự gip đỡ của cc thần học gia. Tuy nhim những quan điểm thần học khng phải l qui tắc cũng khng phải l chuẩn mực cho cng việc gio huấn của chng ta, trong khi quyền bnh của chng ta, với sự trợ gip của Cha Thnh Thần v trong sự hiệp thng với thnh Phr v dưới thnh Phr (cum Petro et sub Petro), vốn bắt nguồn từ lng trung tn của chng ta đối với đức tin cng gio lnh nhận từ nơi cc Tng Đồ. L gim mục, bổn phận nghim trọng của chng ta l phải đch thn chăm lo sao cho đạo lý lnh mạnh (1 Tin 1, 10) về đức tin v về lun lý được giảng dạy trong cc gio phận của chng ta.

Đối với cc định chế cng gio, cc gim mục được qui gn một trch nhiệm ring biệt. Đ c thể l những tổ chức nhắm tới mục vụ gia đnh, hoặc mục vụ x hội, hay đ c thể l những định chế dấn thn vo việc giảng dạy hay vo hoạt động bảo vệ sức khỏe, trong mọi trường hợp, cc gim mục c thể thnh lập hoặc cng nhận những cơ cấu ấy v ủy thc trch nhiệm cho cc cơ cấu ấy: dầu vậy, cc ngi vẫn khng bao giờ được miễn trừ khỏi những b buộc thuộc về ring mnh. Bổn phận của cc ngi, trong mối hiệp thng với Ta Thnh, l phải cng nhận hoặc rt lại, trong những trường hợp, thiếu nhất qun trầm trọng, tước hiệu cng gio của cc học đường (179), cc viện đại học (180), cc bệnh viện hoặc cc dịch vụ y tế x hội tự xưng mnh l của Gio Hội.

117. Trong con tim Kit hữu, tận nơi thm su nhất của mỗi một con người, lun lun vang vọng ln vấn nạn m một ngy kia người thanh nin trong Tin Mừng đ ngỏ với Đức Gisu: Thưa Thầy, ti phải lm điều tốt no để đạt được sự sống vĩnh cửu? (Mt 19, 16). Thế nhưng vấn nạn ấy cần phải đem ngỏ với thầy tốt lnh, bởi v chỉ c Người mới c thể giải đp trong sự vin mn của chn lý, vo mọi trường hợp, trong những tnh huống dị biệt nhất. V một khi cc Kit hữu đem vấn nạn pht xuất từ ci lương tm ấy ra ngỏ với Cha. Người đp lại bằng những lời của Giao Ước Mới đ được ký thc cho Gio Hội. V rồi, như lời thnh Tng Đồ Phaol đ ni về chnh ngi, chng ta được sai đi loan bo Tin Mừng, khng phải với sự khn ngoan nơi miệng lưỡi v ngn từ, sao cho Thập Ga của Đức Kit khng bị giản lược thnh hư v (1Cr 1, 17). Chnh v lý do ấy m lời giải đp của Gao hội trước vấn nạn của con người c được sự khn ngoan v quyền năng của Đức Kit chịu đng đinh, Đấng l Chn Lý tự trao hiến.

Khi người đời by tỏ với Gio hội những vấn nạn của lương tm họ, khi trong nội bộ Gio Hội cc tn hữu ngỏ lời với cc gim mục v cc mục tử của mnh, đng l tiếng ni của Đức Gisu Kit, tiếng ni của chn lý về điều thiện v điều dữ m người ta nghe được trong lời giải đp của Gio Hội. Trong lời lẽ m Gio Hội tuyn xướng, ta nghe vang vọng, đến tận ci thm su của hữu thể, tiếng ni của Thin Cha. Đấng duy nhất Tốt Lnh (Mt 19, 17), Đấng duy nhất l Tnh Yu (1Ga 4, 8-16).

Nhờ được Thnh Thần xức dầu, lời lẽ dịu ngọt v đi buộc ấy trở thnh nh sng v sức sống cho con người. Cũng thnh Phaol mời chng ta mở lng tn thc, bởi v năng lực của chng ta từ Thin Cha m đến: chnh Ngi đ lm cho chng ta nn đủ khả năng lm thừa tc vin của Giao Ước Mới, một Giao Ước khng phải ty thuộc vo mặt chữ của Lề Luật nhưng ty thuộc vo Thần Kh Đức Cha l Thần Kh v nơi no Thần Kh Đức Cha hiện diện th nơi ấy c tự do. V tất cả chng ta với khun mặt để trấn, chng ta phản chiếu như thế trong gương vinh quang của Cha, chng ta được biến đổi thnh chnh hnh ảnh phản chiếu ấy, mỗi ngu một thm vinh quang, nhờ hoạt động của Đức Cha l Thần Kh (2Cr 3, 5-6.17-18).

 

KẾT LUẬN

 

Đức Maria, Mẹ Từ i

118. Vo chặng cuối của những suy niệm ny, chng ta hy ph thc cho Đức Maria. Mẹ Thin Cha v Mẹ Từ i, bản thn chng ta, những thử thch v những niềm vui của cuộc đời chng ta, đời sống lun lý của cc tn hữu v của những người thnh tm thiện ch cũng như những cng trnh nghin cứu của cc nh lun lý.

Đức Maria l Mẹ Từ i bởi v Đức Gisu Kit. Con Mẹ được Cha Cha sai đến để trở thnh mạc khải về Lượng Từ i của Thin Cha (x. Ga 3, 16-18). Người đ đến khng phải để kết n nhưng để tha thứ, để đem lượng từ i ra phn pht (x Mt 9, 13). Lượng Từ i lớn lao nhất đối với Người, đ l ở giữa chng ta v cất tiếng mời gọi chng ta đến với Người v, cng hiệp nhất với thnh Phr, nhận ra Người l Con Thin Cha hằng sống (Mt 16, 16). Khng c tội no do con người phạm m lại triệt tiu được Lượng Từ i của Thin Cha, m lại c thể cản ngăn khng để cho Lượng Từ i của Thin Cha th thổ ton bộ quyền năng hiển thắng của Ngi ngay tức khắc một khi chng ta ku cầu. Ngược lại, chnh lỗi phạm cn lm rực chiếu hơn nữa tnh yu của Cha Cha, Đấng đ hiến tế Con Ngi để cứu chuộc n lệ (181): lượng từ i của Ngi đối với chng ta, đố l cng trnh Cứu Chuộc. Lượng từ i đấy đạt tới tầm vc vin mn nhờ ơn của Thần Kh, Đấng tc sinh sự sống mới v ku mời sống đời sống mới. Cho dầu những trở ngại do sự yếu đuối v do tội lỗi con người gieo rắc c nhiều đến mấy v c lớn lao đến đu đi nữa. Cha Thnh Thấn, Đấng canh tn bộ mặt tri đt (x. Tv 104/103, 30), vẫn lm cho php lạ c thể thnh hiện thực, đ l sự thiện được chu ton một cch trọn hảo. Vốn mang lại khả năng lm điều tốt, điều cao thượng,điều diễm lệ, điều đẹp lng Thin Cha về ph hợp với thnh ý Ngi, một cuộc canh tn như thế c thể được coi như l tnh trạng triển nở của phc lộc tứ i, nhờ đ m ch n lệ đ được giải thot v sức mạnh được tặng ban để khng cn phạm tội nữa. Nhờ hồng n sống đời sống mới, Đức Gisu lm cho chng ta được thng chia tnh yu của Người v dẫn chng ta đến Cha Cha trong Cha Thnh Thần.

119. Đ chnh l xc quyết đầy khch lệ của đức tin Kit gio, mang lại cho đức tin Kit gio một chiều kch nhn linh su xa v một tnh chất đơn giản phi thường. Một đi khi, trong những cuộc tranh luận về cc vấn đề mới mẻ v phức tạp trong địa hạt lun lý, c thể lun lý Kit gio xem ra qu kh, qu gay go để c thể hiểu v hầu như khng thể no đem ra p dụng được. Nghĩ như vậy l sai, bởi v, nếu đem ra diễn tả một cch đơn sơ bằng ngn ngữ Tin Mừng, lun lý Kit gio hệ tại chỗ nối gt theo Đức Kit, ph thc chnh mnh cho Người, để cho mnh được biến đổi v được canh tn nhờ vo n sủng của Người v nhờ vo lượng từ i của Người, n sủng v lượng từ i vốn đạt thấu chng ta trong đời sống thng hiệp với Gio Hội Người. Thnh Augustin gợi nhắc cho chng ta rằng: Người no muốn sống th cũng biết sống ở đu v đặt nền mng cho cuộc sống nơi no. Người ấu hy cứ tiến lại gần, cứ tin tưởng, cứ để cho mnh được nhập hầu được tăng cường sức sống! Mong sao người ấy khng e ngại phải cng st cnh với cc anh em mnh! (182). Với nh sng của Cha Thnh Thần, tất cả mọi người, ngay cả người km thng thi nhất, v nhất l người biết giữ cho mnh một tấm lng đơn thnh (Tv 86/85), đều c thể nắm bắt được chất thể trn đầy sức sống của lun lý Kit gio. Đng khc, sự đơn thnh Tin Mừng ấy khng miễn trừ cho khỏi phải đương đầu với sự phức tạp của hiện thực, tuy nhin c thể đưa dẫn tới chỗ hiểu được hiện thực với nhiều chn lý hơn, bởi v cứ tiến bước theo Đức Kit th dần d những đường nt của lun lý Kit gio chnh tng sẽ được đưa ra nh sng v đồng thời cha kha sống cn để thực hnh lun lý ấy sẽ được ban tặng. Bổn phận của Huấn Quyền Gio Hội l phải chăm lo sao cho đ năng động nơi việc đp trả lại lời mời của Đức Kit được pht triển một cch hữu cơ m cc đi buộc chn lý, cng với mọi hệ quả của chng, khng hề bị bp mo hoặc bị che dấu. Ai yu mến Đức Kit th tun giữ cc giới răn của Người (x. Ga 14, 15).

120. Đức Maria cũng đồng thời l Mẹ Từ i bởi v Đức Gisu đ giao ph Gio Hội của Người v ton thể nhn loại cho chnh Đức Maria. Dưới chn Thập Ga, khi đn nhận Gioan lm con mnh, khi cng với Đức Kit cầu xin Cha Cha tha thứ cho những người khng hiểu biết việc họ lm (x. Lc 23, 34), Đức Maria, hon ton ngoan ngy đối với Thần Kh, đ lm một cuộc th nghiệm về nguồn phong ph v về tầm mức phổ qut của tnh yu Thin Cha, một tnh yu đ lm gin nở con tim của Mẹ v lm cho Mẹ nn đủ sức m lấy ton thể nhn loại. Bởi thế, Đức Maria trở thnh Mẹ của tất cả mọi người, v của từng người trong chng ta, một người Mẹ đoạt lấy Lượng Từ i của Thin Cha cho chng ta.

Đức Maria l một dấu chỉ sng ngời v l một gương mẫu cuốn ht cho đời sống lun lý: Nguyn chỉ đời sống của Mẹ thi đ l một gio huấn dnh cho mọi người, thnh Ambrsi đ viết như thế (183) v, khi ngỏ lời cch ring với cc trinh nữ, trong một nhn quan mở rộng cho hết mọi người, thnh nhn tuyn bố: Niềm khao kht học hỏi nồng nhiệt ban đầu, đ l do sự cao thượng của người thầy mang lại cho bạn... Hỏi cn c ai cao thượng hơn Mẹ Thin Cha? No c ai rạng rỡ hơn người nữ đ được chnh nh Rạng Ngời tuyển chọn? (184). Đức Maria cưu mang trong cung lng trinh nữ của mnh Con Thin Cha lm người cho đến khi Người hạ sinh, nui nấng Người, lm cho Người lớn ln v cng st cnh với Người trong hnh vi tự do tột cng l hon ton hy sinh mạng sống. Nhờ hiến dng chnh mnh. Đức Maria gia nhập trọn vẹn vo trong kế hoạch của Thin Cha l Đấng tự hiến cho nhn loại. Khi đn nhận v suy niệm trong lng những biến cố m khng phải lc no mnh cũng hiểu (x. Lc 2, 19), Đức Maria trở thnh mẫu mực cho tất cả những ai lắng nghe v tun giữ Lời Cha (x. Lc 11, 28), xứng đng mang tước hiệu l Ngai Ta Khn Ngoan. Khn Ngoan ở đy l chnh Đức Kit, Ngi Lời vĩnh cửu của Thin Cha, Đấng mạc khải v thi hnh thnh ý Cha Cha một cch trọn hảo (x. Dt 10, 5-10). Đức Maria mời gọi mọi người đn nhận Khn Ngoan ấy. Mệnh lệnh đ ban hnh cho những người gip việc tại Cana ở Galil trong bữa tiệc cưới, Đức Maria cũng đang ngở với chng ta đ: Ngi bảo sao th hy lm y như vậy (Ga 2, 5).

Đức Maria chia sẻ với chng ta thn phận lm người, nhưng với một sự xuyn thấu hon ton đối với n sủng của Thin Cha. Mặc dầu khng phạm tội. Đức Maria đủ sức đồng cảm với mọi nỗi yếu đuối. Đức Maria thấu hiểu con người tội nhn v yu thương tội nhn bằng một mối tnh từ mẫu. Đ chnh l lý do tại sao Đức Maria đứng về pha chn lý v chia sớt gnh nặng của Gio Hội trong khi Gio Hội nhắc nhở những đi buộc lun lý cho hết thảy mọi người trong khắp mọi thời đại. Cũng v cng một lý do ấy, Đức Maria khng chấp nhận để cho con người tội nhn bị lọc lừa bởi bất cứ ai tự ho yu mến tội nhn bằng cch thanh minh tội lỗi cho người ấy, bởi lẽ Đức Maria ý thức rằng nếu như thế th hy lễ của Đức Kit, Con Mẹ, sẽ ra v ch. Cho dầu l do những chủ thuyết triết học hoặc thần học đầy cảm kch tuyn xướng, khng c một sự tha bổng no c thể lm cho con người nn hạnh phc thật sự: chỉ c Thập Ga v vinh quang của Đức Kit Phục Sinh mới c thể mang lại bnh an cho lương tm con người v cứu thot sự sống con người m thi.

i Maria, Mẹ Từ i.

Xin hy để tm tới hết mọi người, 

sao cho Thập Ga của Đức Kit

đừng trở thnh ho huyền, 

sao cho con người đừng lạc bước

ra khỏi lối nẻo của điều thiện,

sao cho con người đừng đnh mất cảm thức về tội,

sao cho con người tăng trưởng

trong niềm cậy trng vo Thin Cha,

Đấng giu lng từ i (Ep 2, 4),

sao cho con người biết tự ý

tự nguyện thực thi những cng trnh tốt đẹp

m chnh Thin Cha đ chuẩn bị trước

(x. Ep 2, 10)

v sao cho con người

nhờ đ m dng ton thể đời sống mnh

để trở nn lời ca ngợi vinh quang Ngi (Ep 1, 12).

 

Ban hnh tại Rma, gần đền thờ Thnh Phr,

Ngy 6 thng 8 năm 1993, nhn dịp lễ Cha Hiển Dung,

Vo năm thứ mười lăm trong chức vụ Gio Hong của Ti.

 Joannes Paulus II

 

 


[1]. Hiến Chế Mục Vụ về Gio Hội trong thế giới ngy nay, Gaudium et spes, MV 22.

[2]. x. Cđ Vat. II. Hiến Chế Tn Lý về Gio Hội, Lumen Gentium, GH, 1.

[3]. x. nt, s.9.

[4]. Cđ Vat II, Hiến Chế Mục Vụ Gaudium et spes, MV, s.4.

[5]. Huấn Từ của Đức Phaol VI nhn dịp Hội Nghị khong đại của Lin Hiệp Quốc (4-10-1965) s.1: AAS 57 (1965), tr. 878. x. Tđ Populorum Progressio (26-3-1967), s.13: AAS 59 (1967). Tr.263-264.

[6]. x. Cđ Vat.II, Hiến Chế Mục Vụ Gaudium et spes. MV, s.33.

[7]. Hiến Chế Tn Lý Lumen gentium, GH, s.16.

[8]. Đức Pi XII đ từng nu bật phần khai triển gio thuyết ny. X. Sứ điệp truyền thanh nhn dịp kỷ niệm 50 năm Thng Điệp Rerum novarum của Đức L XIII (1/6/1941): AAS 33 (1941), tr. 195-205. Xem thm Đức Gioan XXIII. Tđ Mater et magistra (15-5-1961): AAS 53 (1961)tr. 410-413.

[9]. Tng thư Spiritus Domini (1-8-1987): AAS 79 (1987), tr. 1374.

[10]. Sch Gio Lý của Gio Hội Cng gio, s. 1692.

[11]. Tng Hiến Pidel dpositum (11-10-1992), s. 4.

[12]. x. Cđ Vat. II, Hiến Chế Tn Lý về Mạc Khải Dei Verbum. MK. S. 10.

[13]. x. Tng Thư Parati semper gởi cho tất cả những người trẻ trn thế giới nhn dịp Năm Quốc Tế Giới Trẻ (31-3-1985), s. 2-8: AAS 71 (1985), tr. 581-600.

[14]. x. Sắc lệnh Optatam totius. ĐT. S. 16.

[15]. Tđ Redemptor hominis (4-3-1979) s. 13: AAS 71 (1979), tr. 282.

[16]. nt. S. 10: 1.c.. tr. 274.

[17]. Hexameron, ngy thứ VI, bi giảng số IX, 8, 50: CSEL 32, 241.

[18]. Thnh L Cả, Bi giảng XCII, ch. 3: PL 54, 454.

[19]. Thnh Tma Aquin, In duo praecepta caritatis et in decem legis praecepta. Prologus: Opuscula theologica. II., s.1129, Turin, Marietti (1954), tr.245:x. Tổng luận thần học, I-II. q. 91,a.2: Gio Lý của Gio Hội cng gio, s.1955.

[20]. x. Thnh Tiến sĩ Maxim. Quaestiones ad Thalassium, q. 64: PG 90, 723-728.

[21]. Cđ Vat. II, Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, MV, s.24.

[22]. Gio Lý của Gio Hội Cng gio, s.2070.

[23] In Iohannis Evangelicum Tractatus, 41, 10: CCL 36, 363.

[24]. x. Thnh Augustin, De Sermone Domini in Monte, 1, 1, 1: CCL 35, 1-2.

[25]. In Psalmum CXVIII Expositio, bi giảng 18, 37: PL 15, 1541; x. Thnh Chrmaxi Aquila. Tractatus in Matthaeum, XX, 1, 1-4: CCL 9/A 291-292.

[26]. x.Gio Lý của Gio Hội cng gio, s.1717.

[27]. In Iohannis Evangelium Tractatus, 41, 10: CCL 36, 363.

[28]. In Iohannis Evangelium Tractatus, 21, 8: CCL 35, 216.

[29]. nt, 82, 3: CCL 36, 533.

[30]. De spritu et littera, 19, 34: CSEL 60, 187.

[31]. Confessions, X. 29, 40: CLL 27, 176; x. De gratia et libero arbitrio, XV: PL 44, 899.

[32]. x. De spiritu et littera, 21, 36; 26, 46: CSEL 60. 189-190; 200-201.

[33]. x. Tổng luận thần học, I-II. Q. 106, a-1, concl. Et ad 2.

[34]. In Matthaeum, hom. 1, 1: PG 57, 15.

[35]. x. Thnh Irn, Adversus haereses, IV, 26. 2-5: SC 100/2, tr. 718-729.

[36]. x. Thnh Giustin. Biện gio (Apologie). 1, 66: PG 6, 427-430.

[37]. x. 1 Pr 2, 12-13. 17: Didach. II, 2: SC 248. tr. 148-149; Clment thnh Alexandria, Nh Sư Phạm (Le Pdagogue), I, 10: II, 10: PG 8, 355-364: 497-536: SC 70, tr. 268-279; SC 108, tr. 165-219: Tertullian, Apologtique, IX, 8: CSEL, 69, 24.

[38] . x. Thnh Inhaxi thnh Antikia, Aux Magnsiens, VI, 1-2: SC 10 bis, tr. 82-85; Thnh Irn, Adversus haereses. IV, 33, 1.6.7: SC 100/2, tr. 802-805; 814-815; 816-819.

[39] . Hiến Chế Tn Lý Del Verbum, MK, s.8.

[40]. x. nt.

[41]. nt, s.10.

[42]. Bộ Gio Luật, khoản 747. $ 2.

[43]. Hiến Chế Tn Lý Del Verbum, MK, s.7.

[44]. Cđ Vat. II, Hiến Chế Mục Vụ Gaudium et spes, MV s.22.

[45]. Sắc lệnh Optatam totius. ĐT, s. 16.

[46]. Cđ Vat. II, Hiến Chế Mục Vụ Gaudium et spes, MV s.62.

[47]. nt.

[48]. x. Cđ Vat. II, Hiến chế tn lý Del Verbum, MK, s.10.

[49]. x. Cđ Vat. I, Hiến chế tn lý về đức tin cng gio Del Filius, ch. 4: DS, s.3018.

[50]. Cđ Vat. II, tuyn ngn về cc mối quan hệ giữa Gio Hội với cc tn gio ngoi Kit gio Nostra aetate, NK, s.1.

[51]. X. Cđ Vat. II, Hiến chế mục vụ Gaudium et spes. MV, s. 43-44.

[52]. Cđ Vat. II, Tuyn ngn Dignitatis Humanae, TD, s.1, tham chiếu Đức Gioan XXIII, Tđ Pacem in terris (11-4-1963): AAS 55 (1963), tr. 279: nt, tr.265, v Đức Pi XII, Sứ điệp truyền thanh (24-12-1944): AAS 37 (1945), tr. 14.

[53]. Tuyn ngn Dignitatis Humanae, TD, s.1.

[54]. x. Tđ Redemptor hominis (4-3-1979), s.17: AAS 71 (1979), tr.295-300: Diễn văn ngỏ với cc tham dự vin kha Hội Thảo Quốc Tế lần thứ 5 về những Nghin Cứu php luật (10-3-1984), s.4: Insegnamenti VII, 1 (1984), tr. 656: Thnh Bộ Gio Lý Đức Tin, Huấn Thị về tự do tn gio v về giải phng Libertatis conscientia (22-3-1986), s. 19: AAS 79 (1978), tr. 561.

[55]. X. Vat. II, Hiến chế mục vụ Gaudium et spes. MV, s.11.

[56]. nt, s.17.

[57]. nt.

[58]. x. Cđ Vat. II, Tuyn ngn Dignitatis humanae, s.2; x. thm Grgri XVI. Tđ Mirari vos arbitramur (15-8-1832): Acta Gregorii Papae XVI, I, tr.169-174; Pi IX, Tđ Quanta cura (8-12-1864): Pii IX P.. Acta, I, 3, tr.687-700: Le XIII, Tđ Libertas praestantissimum (20-6-1888): Leonis XIII P.M. Acta, VIII, Rma (1889), tr.212-246.

[59] A letter Addressed to His Grace the Duke of Nerfolk: Certain difficulties felt by Anglicans in Catholic teaching (Uniform Edition: Longman, Green and Company, London, 1868-1881, tập 2, tr.250.

[60]. X. Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, MV, số 40 v 43.

[61]. X. Thnh Tma Aquin, Tổng luận thần học, I-II, q.71, a.6, xem thm ad 5.

[62]. x. Đức Pio XII, Tđ Humani generis (12-8-1950): AAS 42 (1950), tr 561-562.

[63]. x. Cđ Trent, kha VI, sắc lệnh về sự cng chnh ha Cum hoc tempore, gio luật khoản 19-21: DS. S. 1569-1571.

[64]. Hiến Chế mục vụ Gaudium et spes, MV s.17.

[65]. De hominis opificio, ch. 4: PG 44, 135-136.

[66]. Hiến Chế mục vụ Gaudium et spes. MV, s.36.

[67]. nt

[68]. nt

[69]. Thnh Tma Aquin, Tổng luận thần học. I II, q. 93, a.3, ad 2 do Đức Gioan XXIII trung dẫn. Tđ Pacem in terris (11-4-1963): AAS 55 (1963), tr.271.

[70]. Cđ Vat II, Hiến Chế mục vụ Gaudium et spes. MV, s. 41.

[71]. Thnh Tma Aquin, In duo praecepta caritatis et in decem legis praecepta Prologus: Opuscula theologica, II, s. 1129, Turin, Marietti (1954), tr. 245.

[72]. x. Diễn văn ngỏ với một nhm gim mục Hoa Kỳ nhn dịp cc vị viếng thăm ad limina (15-10-1988), s.6: Insegnamenti, XI, 3 (1988), tr. 1228.

[73]. x. Cđ Vat II, Hiến chế mục vụ Gaudium et spes. MV, s. 47.

[74]. Thnh Augustin, Enarratio in psalmum LXII, 16: CCL 39, 804.

[75]. Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, MV, s.17.

[76]. Tổng luận thần học, I-II, q. 91. a.2.

[77]. x. Gio Lý của Gio Hội Cng gio, s. 1955.

[78]. Tuyn ngn Dignitatis humanae, TD. S.3.

[79]. Contra Faustum, XXII, 27: PL 42, 418.

[80]. Tổng luận thần học. I-II, q. 93, a. 1.

[81]. X. nt, I-II, q.90, a.4 ad.1.

[82]. nt, q. 91, a.2.

[83]. Tđ Libertas praestantissimum (20-6-1888): Leonis XIII P.M. Acta, VIII, Roma (1889), tr. 219.

[84]. In Epistulam ad Romanos, ch. VIII, lect. 1.

[85]. Kha VI, Sắc Lệnh Cum hoc tempore, ch. 1: DS. S. 1521.

[86]. Cđ Vienne, Hiến chế Fidel catholicae: DS, s.902: Cđ Latran V, Sắc chỉ Apostolici regimints: DS. S.1440.

[87]. Cđ Vat II, Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, MV, s.14.

[88]. X. Kha VI, Sắc lệnh Cum hoc tempore, ch. 15: DS, s. 1544. Tng huấn hậu thượng hội đồng Reconciliatio et paenitentia trưng dẫn nhiều văn bản khc trong Cựu Ước, những bản văn ny loại bỏ v ln n như l tội trọng một số hnh vi ứng xử lin hệ với thn xc (x. Tng Huấn hậu thượng hội đồng Reconciliatio et paenitentia (2-12-1984), số 17: AAS 77 (1985), tr.218-223).

[89]. X. Cđ Vat II, Hiến Chế mục vụ Gaudium et spes, MV, s.51.

[90]. Thnh Bộ Gio Lý Đức Tin. Huấn thị về sự sống con người đang hnh thnh v về sự cao cả của việc truyền sinh Donum vitae (22-2-1987), nhập đề, số 3: AAS 80 (1988), tr.74; x. Đức Phaol VI, Tđ Humanae vitae (25-7-1968), số 10: AAS 60 (1968), tr.487-488.

[91]. Tng Huấn Familiaris consortio (22-11-1981), s.11: AAS 74 (1982), tr.92.

[92]. De Trinitate, XIV, 15, 21: CCL 50/A, 451.

[93]. X. Thnh Tma Aquin, Tổng luận thần học, I-II. q.94, a.2.

[94]. x. Cđ Vat II. Hiến Chế mục vụ Gaudium et spes, MV, s.10: x. Thnh Bộ Gio Lý Đức Tin, Tuyn ngn về một số vấn đề thuộc lun lý tnh dục Persona humana (29-12-1975), s.4: AAS 68 (1976), tr.80: Trong thực tế, Mạc Khải Thin Cha v, trong cấp trật ring biệt của mnh, sự khn ngoan triết học, khi nu bật những đi buộc chnh tng của bản tnh nhn linh, th cũng bởi đ m nhất thiết biểu lộ sự hiện hữu của những lề luật bất biến được ghi khắc trong những yếu tố cấu thnh bản tnh con người vốn l những lề luật đồng nhất nơi tất cả những hữu thể được ph bẩm lý tr.

[95]. Cđ Vat II, Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, MV, s. 29.

[96]. nt. s.16.

[97]. nt. s.10.

[98]. x. Thnh Tma Aquin. Tổng luận thần học, I-II, q.108, a.I. Thnh Tma thiếp lập tnh chất cho những chuẩn mực lun lý, được ấn định chẳng những trong hnh thức m cả trong nội dung, kể cả trong khun khổ của Luật mới, do bởi sự kiện ny l Ngi Lời mặc lấy bản tnh nhn loại.

[99]. Thnh Vincent thnh Lrins, Commonitorium primum, ch.23: PL 50, 668.

[100]. Phần khai triểm học thuyết lun lý của Gio Hội cũng giống như phần khai triẻn của học thuyết đức tin: x. Cđ Vat I, Hiến chế tn lý về đức tin cng gio Dei Filius, ch.4: DS, s. 3020: v gio luật khoản 4: DS, s.3024. Những lời Đức Gioan XXIII tuyn xướng nhn dịp khai mạc Cng Đồng Vatican II cũng p dụng cho học thuyết lun lý (11-10-1962): Vốn đi phải tun giữ một cch trung thnh, học thuyết ny, vững chắc v bất biến [ = học thuyết Kit gio với tầm vc vin mn] cần phải được đo su v được trnh by bằng phương cch khả dĩ đp lại những đi hỏi của thời đại chng ta. Thật ra, chnh kho tng đức tin l một vấn đề, kho tng đức tin ở đy tức l những chn lý hm chứa trong học thuyết khả knh của chng ta, cn dng hnh thức no để pht biểu những chn lý ấy m vẫn duy tr cng một ý nghĩa v cng một mức độ th lại l một vấn đề khc. AAS 54 (1962), tr.792: x. LOsservatore Rornano. 12-10-1962, tr.2.

[101]. Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, MV, s.16.

[102]. nt.

[103]. In II Librum Sentent, dist. 39, 1.1. q.3, concl. Ad claras Aquas, II, 907 b.

[104]. Buổi Tiếp Kiến Chung (17-8-1983), 2: Insegnamenti. VI, 2(1983), tr.256.

[105]. Tối Cao Quốc Vụ Viện (Suprme S. Congrgration du Saint-Office). Huấn Thị về lun lý ty tnh huống. Contra doctrinam (2-2-1956): AAS 48 (1956), tr. 144.

[106]. Tđ Dominum et vivificantern (18-5-1986), s.43: AAS 78 (1986), tr. 859-860: x. Cđ Vat II, Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, MV, s.16: Tuyn ngn Dignitatis humana. TD. s.3.

[107]. Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, MV, s.16.

[108]. x. Thnh Tma Aquin. De Veritate, q.17, a.4.

[109]. Cđ Vat II, Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, MV, s.16.

[110]. x. Thnh Tma. Tổng luận thần học. II-II, q.45. a.2.

[111]. Tuyn ngn Dignitatis humanae, s.14.

[112]. Cđ Vat II. Hiến chế tn lý Dei Verbum, MK s.5: x. Cđ Vat I. Hiến chế tn lý Dei Filius ch. 3: DS, s.3008.

[113]. Cđ Vat II, Hiến chế tn lý Dei Verbum, MK, s.5; x. Thnh Bộ Gio Lý Đức Tin. Tuyn ngn Persona humana (29-12-1975), s.10: AAS 68 (1976), tr. 88-90.

[114]. X. Tng Huấn hậu thượng hội đồng Reconciliatio et paenitentia (2-12-1984), s.17: AAS 77 (1985), tr.218-223.

[115]. Kha VI. Sắc lệnh Cum hoc tempore. Ch.15: DS s.1544: gio luật khoản 19: DS, s.1569.

[116]. Tng Huấn hậu thượng hội đồng Reconciliatio et paenitentia (2-12-1984), s.17: AAS 77 (1985), tr.221.

[117]. nt: 1.c., tr.223.

[118]. nt: 1.c., tr.222.

[119]. x. Cđ Vat II. Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, MV, s.17.

[120]. x. Thnh Tma Aquin. Tổng luận thần học. I-II, q.1. a.3: Iden\m sunt actes morales et actus humani.

[121]. Cuộc đời Ms (Vie de Moise), II, 2-3: PC 44, 327-328: SC 1 ter, tr.106-109.

[122]. x. Thnh Tma Aquin, Tổng luận thần học. II-II, q.148. a.3.

[123]. Trong Hiến chế mục vụ Gaudium et spes. MV Cng Đồng Vatican II xc định: Điều ni trn khng chỉ c gi trị cho những ai tin vo Đức Kit nhưng cho tất cả những người thiện ch vốn c n sủng hoạt động một cch v tnh trong lng. Thật vậy, bởi v Đức Kit đ chết cho mọi người v bởi v ơn gọi cuối cng của con người thực ra l độc nhất v nhị v l ơn gọi thần thing, cho nn chng ta phải vững tin rằng Cha Thnh Thần ban tặng cho mọi người khả năng tham dự vo mầu nhiệm vượt qua, bằng cch thức m chỉ c Thin Cha biết m thi (s.22).

[124]. Tractatus ad Tiberium Diaconum II. Responsiones ad Tiberium Diaconum sociosque suos: Thnh Cyrill thnh Alexandria, In D. Johannis Evangelium, III.Ed. Philip Edward Pusey, Bruxelles, Văn ha v Văn minh (1965), tr.590.

[125]. x. Cđ Trent, Kha VI, Sắc lệnh Cum hoc tempore gio luật 19: DS, s.1569. Xem thm: Clment XI. Hiến chế Unigenitus Dei Filius (8-9-1713) chống lại những sai lầm của Pasquier Quesnel. s.53-56: DS, s.2453-2456.

[126]. x. Tổng luận thần học, I-II, q.18, a.6.

[127]. Gio lý của Gio Hội cng gio, s.1761.

[128]. In duo praecepta caritatis et in decem legis praecepta. De dilectione Dei: Opuscula theologica.II.s.1168: Turin, Marietti (1954), tr.250.

[129]. Thnh Alphongs Maria Liguori, Cch thức yu mến Đức Gisu Kit (Manire daimer Jsus Christ). VII. 3. (130) x. Tổng luận thần học. I-II, q.100. a.1.

[131]. Tng Huấn hậu thượng hội đồng Reconciliatio et paenitentia (2-12-1984), s.17: AAS 77 (1983), tr.221.x. Đức Phaol VI, Huấn từ ngỏ với cc thnh vin Tổng Cng Hội Dng Cha Cứu Thế (thng 9 năm 1967): AAS 59 (1967), tr.962: Cần phải trnh đẩy cc tn hữu tới chỗ suy nghĩ cch khc, như thể sau Cng Đồng c một số hnh vi ứng xử m trước đy Gio Hội cng bố l xấu tự chng nay lại được php lm. Ai m lại khng nhận ra rằng lm như vậy l dẫn tới một chủ nghĩa tương đối đng tiếc về lun lý, để rồi ton bộ di sản học thuyết của Gio Hội sẽ dễ dng bị đưa ra tranh ci? .

[132]. Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, MV, s.27.

[133]. Tđ Humanae vitae (25-7-1968), s.14: AAS 60 (1968), tr.490-491.

[134]. Contra mendacium, VII, 18: PL 40M 528; x. Thnh Tma Aquin, Quaestiones quodlibetales. IX, q.7, a.2: Gio lý của Gao Hội cng gio, s.1753-1755.

[135]. Cđ Vat II. Tuyn ngn Dignitatis humanae. TD, s.7.

[136]. Diễn văn ngỏ với cc tham dự vin Hội Nghị Quốc Tế về Thần học lun lý (10-4-1986), s.1: Insegnamenti IX, 1 (1986), tr.970;

[137]. nt. s.2: 1.c., tr.970-971.

[138]. x. Cđ Vat II, Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, MV, s.24.

[139]. x. Tđ Redemptor hominis (4-3-1979), s.12: AAS 71 (1979), tr.280-281.

[140]. Enarratio in Psalmum XCIX, 7: CCL 39. 1397.

[141]. x. Cđ Vat II, Hiến chế tn lý Lumen gentium. GH, s.36: x. Tđ Redemptor hominis (4-3-1979), s.21: AAS 71 (1979), tr.316-317.

[142]. Missale Romanum lời nguyện ngy lễ thnh Gioan Tẩy Giả tử đạo, lễ nhớ, 29-8.

[143]. Thnh Bđa khả knh. Homeliarum Evangelii Libri, II, 23: CCL 122, 556-557.

[144]. x. Cđ Vat II, Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, MV, s.27.

[145]. Gởi tn hữu Rma, VI, 2-3: SC 10 (1969), tr.115.

[146]. Moralia in Job. VII, 21, 24: PL 75, 778.

[147]. Summum crede nefas animam praeferre pudori / et propter vitam vivendi perdere causas: Satires. VIII, 83-84.

[148]. Apologie II, 8: PG 6, 457-458.

[149]. Tng Huấn Familiaris consortio (22-11-1981). s.33: AAS 74 (1982), tr.120.

[150]. x. nt, s. 34: 1.c.. tr.123-125.

[151]. Tng Huấn hậu thượng hội đồng Reconciliatio et paenitentia (2-12-1984), s.34: AAS 77 (185), tr.272.

[152]. Tđ Humanae vitae (25-7-1968). S.29: AAS 60 (1968), tr.501.

[153]. Cđ Vat II, Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, MV, s.25.

[154]. x. Tđ Centesimus annus (1-5-1991), s.24: AAS 83 (1991), tr.821-822.

[155]. nt. s.44: 1.c.. tr.848-849. x. Đức L XIII. Tđ Libertas praestantissimum (20-6-1888): Leonis XIII P.M. Acta. VIII, Roma (1889), tr.224-226.

[156]. Tđ Sollicitudo rei socialis (30-12-1987), s.41: AAS 80 (1988), tr.571.

[157]. Gio lý của Gio Hội cng gio. s.2407.

[158]. x. nt. s.2408-2413.

[159]. nt.s.2414.

[160]. x. Tng Huấn hậu thượng hội đồng Christifideles laici (30-12-1988), s.42: AAS 81 (1989), tr.472-476.

[161]. Tđ Centesimus annus (1-5-1991), s.46: AAS 83 (1991), tr.850.

[162]. Kha VI. Sắc lệnh Cum hoc tempore, ch.11: DS, s.1536; x. gio luật khoản 18: DS, s. 1568. Đoạn văn nổi tiếng của thnh Augustin, do Cng Đồng trưng dẫn trong bi thuật lại ở đy, được rt ra từ De natura et gratia, 43. 50: CSEL 60, 270.

[163]. Oratio I: PG 97, 805-806.

[164]. Diễn văn ngỏ với cc tham dự vin kha học hỏi về việc sinh sản c trch nhiệm (1-3-1984), s.4: Insegnamenti VII, 1 (1984), tr.583.

[165]. De interpellatione David IV, 6, 22: CSEL 32/2, 283-284.

[166]. Diễn văn ngỏ với cc Gim mục CELAM (9-3-1983), III: Insegnamenti. VI, 1 (1983), tr.698.

[167]. Tng Huấn Evangelii nuntiandi (8-12-1975), s.75: AAS 68 (1976), tr.64.

[168]. De Trinitate, XXIX. 9-10: CCL 4, 70.

[169]. Cđ Vat II, Hiến chế tn lý Lumen gentium, GH. 12.

[170]. Thnh Bộ Gio Lý Đức Tin. Huấn thị về ơn gọi mang chiều kch Gio Hội của thần học gia. Donum veritatis (24-5-1990), s.6: AAS 82 (1990), tr. 1552.

[171]. Huấn từ ngỏ với cc gio sư v sinh vin thuộc Đại Học Gio Hong Grgri (15-12-1979), s.6: Insegnamenti II, 2 (1979), tr.1424.

[172]. Thnh Bộ Gao Lý Đức Tin, Huấn thị Donum veritatis (24-5-1990), s.16: AAS 82 (1990), tr.1557.

[173]. x. C.I.C., Gio Luật, khoản 252, 1; 659, 3.

[174]. x. Cđ Vat I, Hiến chế tn lý Dei Filius, ch.4: DS, S.3016.

[175]. x. Đức Phaol VI, Tđ Humanae vitae (25-7-1968). S.28: AAS 60 (1968), tr.501.

[176]. Thnh Bộ Gio Dục, Đo tạo thần học cho cc linh mục tương lai (22-2-1976), s.100. Documentation catholique. 1698 (1976), tr.472. Xem cc số 95-101 trong đ c trnh by những viễn tượng v những điều kiện để cho cng cuộc canh tn thần học v lun lý được sai nở: 1.c., tr.471-472.

[177]. Thnh Bộ Gio Lý Đức Tin, Huấn thị Donum veritatis (24-5-1990), s.11: AAS 82 (1990), tr. 1554; đặc biệt xem cc số 32-39 dnh cho vấn đề bất đồng: nt. 1.c., tr.1562-1568.

[178]. Hiến chế tn lý Lumen gentium. GH. S.25.

[179]. x. C.I.C., Gio Luật, khoản 802, 3.

[180]. x. C.I.C., Gio Luật, khoản 808.

[181]. O inaestimabilis dilectio caritatis: ut servum redimeres. Filium tradidisti!: Missale Romanum, in Resurrectione Domini. Praeconium paschale.

[182]. In Iohannis Evangelium Tractatus, 26, 13: CCL, 36, 266.

[183]. De Virginibus, II, 2, 15: Pl 16, 222.

[184]. nt, II, 2, 7: PL 16, 220.

 

 

Trang chủ